b.Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi k
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
Khái quát chung 2
Khái niệm 2
Những trường hợp trả lại đơn khởi kiện 3
Hậu quả pháp lí khi trả lại đơn khởi kiện 6
4.Khiếu nại , kiến nghị và giải quyết khiếu nại kiến nghị về việc trả lại đơn kiện .7
II.Đánh giá quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về trả lại đơn kiện 9
quy trình nghiệp vụ này đã phần nào đáp ứng được yêu cầu công tác, giúp triển khai hiệu quả Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 10
KẾT LUẬN 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 2MỞ ĐẦU
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 ra đời đã đánh dấu nhiều thay đổi cơ bản, khắc phục được nhiều điểm bất cập, thiếu sót trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 Đối với hoạt động trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã
bổ sung thêm một số nội dung rất tiến bộ.Khi xem xét thụ lí vụ án , nếu thấy việc khởi kiện chưa đáp ứng đủ các điều kiện khởi kiện cho người khởi kiện Vấn đề này ảnh hưởng rất lớn đến quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia
Tiểu luận dưới đây xin trình bày vấn đề “Phân tích , đánh giá quy định của BLTTDS năm 2015 về trả lại đơn kiện vụ án dân sự”
NỘI DUNG I.Khái quát chung
1.Khái niệm
Trả lại đơn kiện là hành vi tố tụng của Tòa án, theo đó Tòa án từ chối quyền khởi kiện vụ án dân sự của người khởi kiện khi có căn cứ trả lại đơn khởi kiện
mà BLTTDS năm 2015 quy định Kể từ thời điểm Tòa án ban hành văn bản trả lại đơn khởi kiện thì mọi trách nhiệm về mặt tố tụng dân sự đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện cũng chấm dứt
Khi xem xét thụ lí vụ án, nếu thấy việc khởi kiện chưa đáp ứng đủ các điều kiện khởi kiện nên không thể thụ lí vụ án thì tòa án trả lại đơn kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo cho người khởi kiện Khi trả lại đơn khởi kiện, tòa án phải có văn bản kèm theo ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện
2.Những trường hợp trả lại đơn khởi kiện
Theo điều 192 BLTTDS 2015 quy định những trường hợp sau thì thẩm phán trả lại đơn khởi kiện:
Trang 3a Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự
Theo Bộ luật TTDS 2015 thì những người được quy định tại điều 186 và 187 là những người có quyền khởi kiện vụ án dân sự Năng lực hành vi tố tụng dân sự
được quy định tại điều 69 BLTTDS 2015 “Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền,nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự”.Nếu người khởi kiện không có đủ điều
kiện này thì tòa án trả lại đơn khởi kiện
b.Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật
Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.Chẳng hạn như theo quy định của Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành các tranh chấp đất đai phải thông qua hòa giải ở cơ sở.Như vậy,trước khi khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp đất đai thì người khởi kiện phải chủ động gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân cấp xã đề nghỉ giải quyết và hòa giải ở cơ sở.Nếu chưa qua thủ tục hòa giải ở cơ sở thì tòa án trả lại đơn khởi kiện với căn cứ chưa đủ điều kiện khởi kiện
c.Sự việc đã được giải quyết
Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu li hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng,mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản
lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản,thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại
Trang 4d.Hết thời hạn quy định
Hết thời hạn quy định khoản 2 Điều 195 của BTTDS năm 2015 mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng Đây là những trường hợp Thẩm phán được phân công xem xét đơn đã chấp nhận đơn khởi kiện và thông báo cho người khởi kiện nộp tạm ứng án phí nhưng quá thời hạn 7 ngày kể từ ngày thông báo hợp lệ, người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án
mà không thuộc trường hợp có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng e.Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Vụ án không thuộc thẩm quyền của tòa án là trường hợp nội dung đơn yêu cầu khởi kiện không thuộc một trong các tranh chấp quy định tại điều 26,28,30 và
32 BLTTDS năm 2015 Đối với những việc pháp luật quy định phải yêu cầu cơ quan giải quyết trước thì chủ thể khởi kiện chỉ được khởi kiện vụ án khi cơ quan hữu quan đã giải quyết mà họ không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan đó Theo quy định pháp luật hiện hành những việc này gồm:
- Các tranh chấp về sử dụng đất
- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra
- Tranh chấp lao động, trừ trường hợp pharp luật có quy định khác
Chẳng hạn như đương sự nộp đơn khởi kiện đến tòa án yêu cầu phải xử lý hành
vi thiếu trách nhiệm, cố ý làm trái các quy định của pháp luật của một số cán bộ
Uỷ ban nhân dân xã X, huyện T Trường hợp này không thuộc thẩm quyền giải quyết theo loại việc của Tòa án mà thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp trên về và cơ quan công an nếu có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự Tòa án
Trang 5trả lại đơn khởi kiện và hướng dẫn họ gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết
f.Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán
Người khởi kiện không sửa đổi , bổ sung đơn khởi kiện là trường hợp đã nhận được đơn yêu cầu và bổ sung đơn khởi kiện của Thẩm phán nhưng họ không tiến hành sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu trong thời hạn quy định tại khoản 2 điều
193 BLTTDS năm 2015 Theo quy định tại khoản 1 điều 189 BLTTDS thì cá nhân,cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính quy định tại khoản 4 điều 189 BLTTDS năm 2015, nếu thiếu một trong các nội dung chính này thì thẩm phán yêu cầu họ phải sửa đổi, bổ sung đơn kiện.Nếu không sửa đổi, bổ sung đơn kiện theo yêu cầu thì thẩm phán trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 2 điều 193 BLTTDS năm 2015 Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú , trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung
g.Người khởi kiện rút đơn khởi kiện
Người khởi kiện rút đơn kiện trước khi tòa án thụ lí vụ án Đây là trường hợp người khởi kiện đã nộp đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp, tuy nhiên trong thời hạn
07 ngày, kể từ ngày nhận đơn khởi kiện, Thẩm phán được phân công đang kiểm tra các điều kiện khởi kiện và chưa đến ngày thụ lí vụ án thì người khởi kiện đã
Trang 6đến Tòa án đề nghị được lấy lại hồ sơ khởi kiện và không khởi kiện nữa.Tòa án phải lập biên bản trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho họ Đây là căn cứ mới được bổ sung trong BLTTDS năm 2015 trên nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự vì họ là người có quyền phát đơn khởi kiện thì
họ cũng có quyền dừng việc khởi kiện bất cứ lúc nào
3.Hậu quả pháp lí khi trả lại đơn khởi kiện
Khi trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, thẩm phán phải có văn bản nêu rõ lí do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao chụp và lưu tại tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu
Khoản 1 điều 168 của BLTTDS đã bỏ căn cứ trả lại đơn khởi kiện vì lí do thời hiệu đã , vì vậy tòa án không được lấy lí do thời hiệu để trả lại đơn khởi kiện Trường hợp trước đây, Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện vì lí do thời hiệu khởi kiện đã hết mà đương sự có yêu cầu khởi kiện lại, thì Tòa án thụ lí vụ việc và đương sự phải nộp tiền tạm án ứng án phí nếu không thuộc diện được miễn theo quy định pháp luật.Trường hợp đã có bản án, quyết đinh của Tòa án bác yêu cầu hoặc đình chỉ vì lý do thời hiệu khởi kiện đã hết,thì tòa án căn cứ điểm b khoản
1 điều 168 của BLTTDS để trả lại đơn khởi kiện và giải thích cho họ biết họ có quyền làm đơn đề nghị xem xét vụ việc theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định nêu trên
Người khởi kiện có quyền nộp lại đơn khởi kiện lại khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 điều 192, điểm c khoản 1điều 217 của BLTTDS và các văn bản pháp luật có quy định Đối với những vụ án dân sự trước ngày 1/1/2017 Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án vì lí do thời hiệu khởi kiện đãhết nhưng theo quy định tại khoản 1 điều 623, điểm d khoản 1 điều 688
Bộ luật dân sự 2015 thì thời hiệu khởi kiện vụ án đó vẫn còn Trường hợp này
Trang 7người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án theo quy định tại điểm d khoản 1 điều 688 Bộ luật dân sự 2015 và điểm d khoản 3 điều 192 của Bộ luật
tố tụng dân sự
Đối với những vụ án dân sự yêu cầu chia tài sản chung là di sản thừa kế đã hết thời hiệu mà trước ngày 1/1/2017 tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án vì lí do chưa đủ điều kiện nay người khởi kiện cầu chia di sản thừa kế thì Tòa án xem xét, thụ lí theo thủ tục chung
4.Khiếu nại , kiến nghị và giải quyết khiếu nại kiến nghị về việc trả lại đơn kiện
Việc trả lại đơn kiện của thẩm phán là một hoạt động tố tụng dân sự có ảnh hưởng trực tiếp đến việc đảm bảo quyền khởi kiện của đương sự Nếu việc trả lại đơn khởi kiện không đúng sẽ dẫn đến hậu quả bất lợi cho người khởi kiện,làm cho người có quyền và lợi ích bị xâm phạm không thực hiện được quyền khởi kiện của mình.Do đó, để đảm bảo chắc chắn việc trả lại đơn là đúng,điều luật quy định về quyền khiếu nại của người khởi kiện và quyền kiến nghị của Viện Kiểm sát đối với việc trả lại đơn kiện của Tòa án,án dân sự tại tòa án,thể hiện nguyên tắc người dân có quyền quản lí nhà nước,giám sát hoạt động của cơ quan có thẩm quyền
Để quyền khiếu nại ,quyền kiến nghị của Viện kiểm sát về việc trả lại đơn khởi kiện được thực hiện một cách thống nhất,không bị sử dụng vào mục đích gây khó khăn cho tòa án trong việc giải quyết đơn khiếu nại,đồng thời để xác định
cụ thể trách nhiệm giải quyết của tòa án, điều luật quy định về thời hạn khiếu nại,kiến nghị, thời hạn giải quyết khiếu nại, kiến nghi, trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại,kiến nghị
Về thời hạn khiếu nại của người khởi kiện và kiến nghị của Viện kiểm sát cùng cấp, theo quy định tại khoản 1 của Điều luật này thì thời hạn này tối đa là 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện Hết thời hạn
Trang 8này,người khởi kiện mất quyền khiếu nại So với quy định tại khoản 1 điều 170 BLTTDS năm 2011 thì thời hạn này đã được sửa đổi từ 3 ngày thành 7 ngày bao gồm cả ngày làm việc và ngày nghỉ Quy định này giúp cho người khởi kiện và viện kiểm sát có đủ thời gian để nghiên cứu, xem xét việc trả lại đơn kiện của tòa án có đúng quy định hay không.Điều luật này cũng quy định thẩm quyền giải quyết khiếu nại, kiến nghị thuộc Thẩm phán khác được Chánh án phân công Theo khoản 3 của điều luật thì trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày được phân công, thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại Phiên họp phải có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có khiếu nại
Về quyền và thời hạn khiếu nại, kiến nghị lần hai , Khoản 4 Điều 194 BLTTDS
2015 quy định , nếu không đồng ý với quyết định trả lời khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của thẩm phán, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiếm sát có quyền kiến nghị với chánh án tòa án cấp trên một cấp trực tiếp xem xét, giải quyết Đây được gọi là quyền khiếu nại, kiến nghị lần hai và thời hạn thực hiện quyền này là 10 ngày,kể từ ngày nhận được quyết định trả lời khiếu nại, kiến nghị Mặc dù được quy định dài hơn so với thời hạn khiếu nại,kiến nghị lần hai tại điều 170 BLTTDS năm 2011 là 3 ngày nhưng trên thực
tế không hẳn như vậy, bởi lẽ khoản 3 điều 170 BLTTDS năm 2011 quy định là 7 ngày làm việc, còn điều 194 BLTTDS quy định là 10 ngày
Về thời hạn, thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần 2 tại khoản 4 điều 170 BLTTDS năm 2011 cơ bản được kế thừa, có sửa đổi một chút về thời hạn giải quyết từ 7 ngày thành 10 ngày bao gồm cả ngày nghỉ Trong thời hạn trên, nếu thấy việc trả lại đơn khởi kiện của Tòa án là đúng thì Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp phải ra quyết định giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện Nếu thấy việc trả lại đơn của Tòa án là trái pháp luật thì Chánh án tòa án cấp trên trực tiếp phải yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lí vụ án Quyết định giải quyết khiêu nại, kiến nghị
Trang 9của Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp có hiệu lực thi hành và phải được gửi ngay cho người khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát đã kiến nghị
và Tòa án đã ra quyết định trả lại đơn khởi kiện.Như vậy, khác với quy định tại khoản 4 điều 170 BLTTDS năm 2011 quy định quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp là quyết định giải quyết khiếu nại,kiến nghị cuối cùng thì điều luật chỉ quy định của Chánh án có hiệu lực thi hành mà chưa phải quyết định cuối cùng.Vì tại khoản 7 điều 194 BLTTDS quy định được Viện kiểm sát còn có quyền khiếu nại kiến nghị lần ba Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án cấp cao và quyết định giải quyết khiếu nại mới là quyết định giải quyết cuối cùng
II.Đánh giá quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về trả lại đơn kiện
Bộ luật tố tụng dân sự 2015 ra đời đã đánh dấu nhiều thay đổi cơ bản, khắc phục được nhiều điểm bất cập,thiếu sót trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 Đối với hoạt động trả lại đơn kiện của tòa án Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đã bổ sung nhiều điểm tiến bộ, mở ra hành lang pháp lí cho Viện kiệm sát nhân dân trong
việc thực hiện hoạt động này.Khoản 2 Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự 2004
sửa đổi bổ sung 2011 quy định “Khi trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Tòa án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp” Văn bản ghi
rõ lý do trả lại đơn khởi kiện trên thực tế chính là Thông báo trả lại đơn khởi kiện của Tòa án Tuy nhiên, theo quy định này, hoạt động kiểm sát Thông báo trả lại đơn khởi kiện của Tòa án chỉ dừng lại ở mức độ kiểm tra
về hình thức của hoạt động trả lại đơn, tức là kiểm tra xem Tòa án có ra văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện không? Còn thực chất, với cách quy định này, Viện kiểm sát không có cơ sở pháp lý để kiểm tra xem lý do trả lại đơn được nêu trong văn bản của Tòa án có đúng căn cứ, quy định pháp luật không? Bởi vì, thực tế khi Tòa án trả lại đơn khởi kiện thì cũng trả lại toàn bộ tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện Muốn biết
Trang 10được lý do trả lại đơn có đúng quy định hay không, Kiểm sát viên phải nghiên cứu toàn bộ tài liệu, chứng cứ gửi kèm theo đơn khởi kiện Nhưng khi nhận được Thông báo trả lại đơn khởi kiện, Kiểm sát viên dẫu có muốn cũng không thể nghiên cứu được vì tòa án không còn lưu giữ những tài liệu
đó Vì vậy, không thể đánh giá được, hoạt động trả lại đơn khởi kiện của Tòa án có chính xác, có căn cứ pháp luật hay không Do đó, phải nhìn nhận một cách khách quan là trước khi Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, việc kiểm sát hoạt động trả lại đơn khởi kiện của Tòa án vẫn
Khắc phục được bất cập lớn nhất của Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2004 sửa đổi bổ sung 2011, khoản 2 Điều 194 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm
2015 đã bổ sung thêm thủ tục mới: “Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao chụp và lưu tại Tòa án
để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu”.
Theo quy định này, Thẩm phán buộc phải sao chụp và lưu tại Tòa án toàn
bộ đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ đã trả lại cho người khởi kiện Như
đã phân tích ở trên, toàn bộ khó khăn vướng mắc do thiếu cơ sở pháp lý để Viện kiểm sát nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động trả lại đơn khởi kiện của Tòa án đã được tháo gỡ Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát hoàn toàn có thể nghiên cứu hồ sơ lưu tại Tòa án để xem xét, đánh giá tính hợp pháp, có căn cứ của việc Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện Chỉ có như vậy, Viện kiểm sát mới thực hiện được một cách hiệu quả và thực chất quyền năng kiến nghị của mình để hoạt động trả lại đơn khởi kiện của Tòa
án được thẩm định, kiểm tra lại một lần nữa, bảo đảm tính minh bạch rõ ràng.
Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 mở ra hành lang pháp lý để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát Trên cơ sở quy định của pháp luật, quy chế nghiệp vụ của ngành kiểm sát, nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động kiểm sát trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, trên