1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

bài tập lớn môn tố tụng hình sự

14 1,9K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 88,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NỘI DUNG I.Cơ sở lý thuyết 1.Khái niệm Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan và những người có thẩm quyền áp dụng đối với những người bị bắt trong trường hợp kh

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 2

I.Cơ sở lý thuyết 2

1.Khái niệm 2

2.Mục đích tạm giữ 2

3.Về đối tượng tạm giữ 3

4.Thẩm quyền ra lệnh tạm giữ 4

5.Về thời hạn tạm giữ 4

6.Thủ tục tạm giữ 5

II.Nhận xét, đánh giá các quy định của luật tố tụng hình sự về tạm giữ 6

1 Ưu điểm 6

III.Thực tiễn và hoàn thiện các quy định về tạm giữ 7

1.Một số hạn chế về quy định tạm giữ trong tố tụng hình sự 7

2.Nguyên nhân của những hạn chế trong việc áp dụng biện pháp tạm giữ 9

3.Các biện pháp khắc phục những nguyên nhân thiếu sót và hoàn thiện các quy định về tạm giữ 10

KẾT LUẬN 12

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 2

MỞ ĐẦU

Quy định và áp dụng những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự không chỉ đơn thuần là tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan nhà nước có thầm quyền thực hiện tốt nhiệm vụ theo chức năng của mình mà còn nhằm đảm bảo

sự tôn trọng và thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định trong hiến pháp Việc đảm bảo quy định của tố tụng hình sự được

áp dụng một cách nghiêm chỉnh là sự thể hiện tấp trung rõ nét nhát sự dân chủ, tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa nước ta Tạm giữ là một trong những biện pháp ngăn chặn được quy định trong luật tố tụng hình sự để các cơ quan thẩm quyền áp dụng trong các trường hợp cần thiết Quy định về tạm giữ đã ngày càng hoàn thiện , tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều bất cập khi áp dụng trong

thực tiễn Tiểu luận này xin trình bày vấn đề “Quy định của bộ luật tố tụng hình

sự về tạm giữ và hoàn thiện quy định này”.

NỘI DUNG

I.Cơ sở lý thuyết

1.Khái niệm

Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan và những người có thẩm quyền áp dụng đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo lệnh truy nã

2.Mục đích tạm giữ

Mục đích của tạm giữ đối với người đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp , phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú là ngăn chặn hành vi phạm tội , hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở hoạt động điều tra của người phạm tội, tạo điều kiện cho cơ quan điều tra thu thập chứng cứ, tài liệu, bước đầu xác định tính chât hành vi của người tạm giữ Tạm giữ đối với người bị bắt theo lệnh truy nã để có thời gian cho cơ quan đã ra quyết định truy nã đến nhận người bị bắt

Trang 3

3.Về đối tượng tạm giữ

Theo Điều 86 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 thì đối tượng có thể

bị áp dụng biện pháp tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khần cấp hoặc phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo lệnh truy nã

Trong trường hợp người bị bắt phạm tội quả tang nhưng sự việc phạm tội nhỏ, tính chất ít nghiêm trọng, người bị bắt có nơi cư trú rõ ràng và không có hành động, biểu hiện sẽ cản trở công việc điều tra thì sẽ không cần tạm giữ Nguwoif

bị bắt trong trường hợp khẩn cấp thường phải bị tạm giữ Người bị bẳ theo lệnh truy nã chỉ bị tạm giữ khi cơ quan đã ra lệnh truy nã không thể đến ngay để nhận

người bị bắt

Việc tạm giữ đối với người chưa thành niên phạm tội phải tuân theo quy định tại Điều 303 BLTTHS năm 2003: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị tạm giữ nếu có căn cứ tại Điều 86 BLTTHS năm 2003 nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng Người từ

đủ 16 đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giữ nếu có đủ căn cứ tại Điều 86 BLTTHS năm 2003 nhưng chỉ trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.”

Tuy nhiên, người chưa thành niên phạm tội bị bắt theo quyết định truy nã có thể

là người trước đây đã có lệnh bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam thậm chí đang thi hành án phạt tù thì bỏ trốn Họ có thể là bị can, bị cáo tại ngoại nhưng trốn tránh hoạt động điều tra, xét xử của viện kiểm sát, tòa án Đối với họ, cơ quan điều tra

đã tự mình hoặc theo yêu cầu của viện kiểm sát quyết định truy nã Do vậy, việc tạm giữ họ không nên phụ thuộc vào loại tội mà họ thực hiện, nghĩa là nếu họ thực hiện tội ít nghiêm trọng nhưng ra tự thú, đầu thú hoặc bị bắt theo quyết định truy nã thì vẫn có thể bị tạm giữ

Trang 4

4.Thẩm quyền ra lệnh tạm giữ

Người có thẩm quyền ra lệnh tạm giữ là thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điểu tra các cấp, người chỉ huy quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giờ, người chỉ huy tàu bay, tày biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng, chỉ huy trưởng vùng cảng sát biển

Như vậy, theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì cơ quan điều tra cấp huyện trở lên có quyền ra lệnh tạm giữ Theo quy định này, khi nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì ủy ban nhân dân phường,

xã, thị trấn phải tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, biên bản bắt người đang bị truy nã và giải ngay người bị bắt đến cơ quan có thẩm quyền

5.Về thời hạn tạm giữ

Thời hạn tạm giữ được quy định tại Điều 87 BLTTHS năm 2003 như sau: “Thời hạn tạm giữ không được quá 3 ngày kể từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt”

Thời điểm tính thời hạn tạm giữ được tính từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt Thời điểm cơ quan điều tra nhận người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp tính từ khi bị bắt giải tới trụ sở cơ quan điều tra Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi

ra lệnh tạm giữ , lệnh tạm giữ phải được gửi cho viện kiểm sát cùng cấp để viện kiểm sát cùng cấp áp dụng biện pháp ngăn chặn Khi kiểm sát việc tạm giữ, nếu thấy việc tạm giữ không đúng pháp luật hoặc không cần thiết, viện kiểm sát yêu cầu cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ hoặc trực tiếp hủy

bỏ lệnh tạm giữ và yêu cầu cơ quan điều tra đã ra lệnh tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ

Thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày kể từ khi cơ quan điều tra nhận người

bị bắt.Để đạt được mục đích của tạm giữ, thời điểm tính thời hạn tạm giữ không phải là thời điểm bắt người Mặt khác, để hạn chế việc giữ người trái pháp luật , thời điểm tính thời hạn tạm giữ cũng không được tính từ khi ra lệnh tạm giữ mà

Trang 5

được tính kể từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt Thời điểm cơ quan điều tra nhận được người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp từ khi người bị bắt được giải tới trụ sở của cơ quan điều tra Trong trường hợp người phạm tội của tang hoặc truy nã tính từ thời điểm cá nhân , tổ chức giao người bị bắt cho cơ quan điều tra

Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn Nếu viện kiểm sát không phê chuẩn thì cơ quan ra lệnh tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ khi hết thời hạn tạm trước đó Trong thời hạn 12 giờ

kể từ khi nhận được đề nghị gia hạn và tài liệu liên quan đến việc gia hạn tạm giữ, viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn Khi hết thời hạn tạm giữ mà không có đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải tự do ngay cho người bị tạm giữu Thời hạn tạm giữ được tính trừ vào thời hạn tạm giam

6.Thủ tục tạm giữ

Theo quy định tại khoản 3 điều 86 BLTTHS 2003, việc tạm giữ phải có lệnh viết của người có thẩm quyền Lệnh tạm giữ phải ghi rõ lý do tạm giữ, thời hạn tạm giữ, ngày hết hạn tạm giữ và giao cho người bị tạm giữ một bản Nếu việc tạm giữ không có lệnh của người có thẩm quyền, người bị tạm giữ có quyền yêu cầu trả tự do cho họ

Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi ra lệnh tạm giữ, lệnh tạm giữ phải được gửi cho viện kiểm sát cùng cấp để viện kiểm sát áp dụng biện pháp ngăn chặn Khi kiểm sát việc tạm giữ nếu thấy việc tạm giữ không đúng pháp luật hoặc không cần thiết phải tạm giữ thì Viện kiểm sát ra quyết điịnh hủy bỏ lệnh tạm giữ và cơ quan ra lệnh tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ

Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ lệnh tạm giữ trong các trường hợp sau đây:

- Người bị tạm giữ không phải là người bị bắt quả tang trong trường hợp khẩn cấp, trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã và không phải là người phạm tội tự thú, đầu thú

Trang 6

- Người bị tạm giữ chỉ có những vi phạm nhỉ, tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự

- Người bị tạm giữ trong trường hợp phạm tội quả tang nhưng sự việc phạm tội nhỏ, tính chất ít nghiêm trọng, người bị tạm giữ có nơi cư trú rõ ràng

và không có biểu hiện sẽ trốn hoặc cản trở công việc điều tra

II.Nhận xét, đánh giá các quy định của luật tố tụng hình sự về tạm giữ

1 Ưu điểm

Pháp luật tố tụng đã chỉ ra một cách cụ thể các đối tượng có thể bị áp dụng biện tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn hoặc phạm tội quả tang, phạm tội

tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo lệnh truy nã Chính vì quy định một cách cụ thể các trường hợp áp dụng như trên tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định đúng đối tượng cần tiến hành bắt giữ trên thực tế, tránh nhầm lẫn (khoản 1 điều 86 BLTTHS 2003)

Nhà nước đã thể hiện sự quan tâm đến việc tạm giữ người chưa thành niên khi đưa ra các quy định chi tiết, rõ ràng sau “Người từ đủ 14 đến duới 16 tuổi có thể

bị tạm giữ nếu có đủ căn cứ tại điều 86 BLTTHS 2003 nhưng chỉ trong trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng Người từ đủ

16 đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giữ nếu có căn cứ tại điều 86 BLTTHS 2003 nhưng chỉ trong trường hợp phạm tội nghiêm trong do cố ý, phạm tối rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” (Điều 303 BLTTHS 2003)

Trong khi tạm giữ nếu không đủ căn cứ để khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ Đây là một ưu điểm vì bảo vệ quyền bất khả xâm phạm thân thể của công dân, quy định chặt chẽ hơn việc tạm giữ người, hạn chế việc phải bồi thường thiệt hại cho nguwoif bị bắt oan

Khi người tạm giữ có con chưa thành niên hoặc duới 14 tuổi hoặc có người thân thích là người bệnh tật, già yếu không có người chăm sóc thì ra cơ quan có thẩm quyền quyết định tạm giữ có trách nhiệm đối với họ Trong trường hợp người bị tạm giữ có nhà hoặc tài sản không có người trông nom, bảo quản thì cơ quan có

Trang 7

thẩm quyền ra quyết định tạm giữ có nhiệm vụ trông nom, bảo quản Quy định này thể hiện tính nhân đạo trong chính sách hình sự của nhà nước ta và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của nguời bị tạm giữ

Về thẩm quyền ra lệnh tạm giữ , quy định của pháp luật tố tụng hình sự đã chỉ ra một cách cụ thể về thẩm quyền ra lệnh tạm giữ thuộc về cơ quan nào và trách nhiệm của họ khi thi hành quyết định tạm giữ (khoản 2 điều 86 BLTTHS năm 2003) Đó là: Những nguwofi có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp quy định khoản 2 điều 81 của BLTTHS 2003 và chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biết có quyền ra quyết định tạm giữ

Về thời hạn tạm giữ, BLTTHS 2003 đã quy định rõ thời hạn tạm giữu và cách tính thời gian tạm giữ(điều 87) Quy định này đã thể hiện sự tôn trọng các quyền nhân thân quan trọng của công dân cụ thể đó là quyền tự do thân thế

III.Thực tiễn và hoàn thiện các quy định về tạm giữ

1.Một số hạn chế về quy định tạm giữ trong tố tụng hình sự

Trong thực tế, tình trạng tạm giữ không đúng đối tượng còn diễn ra, tạm giữ ngay cả trường hợp bị bắt khi phạm tội quả tang những sự việc phạm tội nhỏ, tính chất ít nghiêm trọng hay tạm giữ cả những người bị bắt có nơi cư trú rõ ràng

và không có hành động, biểu hiện sẽ cản trở việc điều tra

Về thẩm quyền tạm giữ, trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật về thẩm quyền ra lệnh bắ người trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ, theo quy định tại khoản 2 điều 81 BLTTHS những người có thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp không quy định cho chỉ huy trưởng cảnh sát mà trong thẩm quyền ra quyết định tạm giữ lại quy định cho chỉ huy trưởng cảnh sát biển

có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ trong trường hợp nào? Với những đối tượng nào? Thì pháp luật chưa quy định cụ thể Chính vì vậy, về mặt lí luận cũng như trên thực tế vẫn còn vướng mặc, cần có những sửa đổi và bổ sung cần thiết

Trang 8

Về thời hạn tạm giữ khi áp dụng quy định trong thực tiễn còn một số vướng mắc sau:

Một là theo quy định tại khoản 1 điều 87 BLTTHS thời hạn tạm giữ không được quá 3 ngày kể từ ngày cơ quan điều tra nhận người bị bắt Có nghĩa là thời hạn tạm giữ được tính từ thời điểm cơ quan điều tra nhận người bị bắt mà theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 81 BLTTHS thì người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng mới có quyền ra lệnh bắt trong trường hợp khẩn cấp và có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ theo khoản 2 điều

86 BLTTHS Trong trường hợp tàu bay thì có thể về kịp thời hạn để giao cho cơ quan điều tra nhưng trong một số trường hợp tàu biển khó có thể về kịp thời hạn

để giao cho cơ quan điều tra thì thời hạn tạm giữ được tính với người bị bắt như thế nào Pháp luật vẫn chưa quy định cụ thể ở điểm này

Hai là, cũng theo quy định tại khoản 1 điều 87 bltths thời hạn tạm giữ được tính

từ khi cơ quan điều tra nhận được người bị bắt theo quy định tại khoản điều 86 , tạm giữ có thể áp dụng đối với người phạm tội tự thú hoặc đầu thú và như chúng

ta đã biết , người phạm tội tự thú, đầu thú không phải là người phạm tội bị bắt

mà họ tự nguyện ra trình diện, khai báo hành vi phạm tội Họ không phải là người bị bắt vậy thì thời hạn tạm giữ đối với họ được tính từ thời điểm nào, pháp luật còn chưa đưa ra quy định cụ thể

Ba là theo khoản 2 điều 87 BLTTHS có quy định : “Trong trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ lần 2 nhưng không quá 3 ngày”, vậy “trường hợp đặc biệt” trong điều luật là những trường hợp nào? Mức độ cụ thể ra sao? Thì pháp luật cũng chưa quy định rõ ràng và cụ thể, có thể dẫn tới sự áp dụng không thống nhất quy định và cụ thể, có thể dẫn tới áp dụng không thống nhất trong việc gia hạn tạm giữ

Về người bào chữa trong tạm giữ, theo quy định tại khoản 1 điều 58 BLTTHS

2003 thì người bào chữa có thể tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ trong trường hợp tại điều 81, 82 Như vậy người bào chữa chỉ có thể tham gia tố

Trang 9

tụng khi có quyết định tạm giữ trong trường hợp bắt người vậy đối với trường hợp tự thú, đầu thú thì người bào chữa được tham gia từ giai đoạn tố tụng nào? Mặc dù được tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ nhưng trong tình huống đó người bào chữa rất khó để có thể gặp được người đang bị tạm giữ bởi khó khăn trong khâu thủ tục đặc biệt trong hai khâu “cấp giấy chưng nhận bảo chữa” và gặp người đang bị tạm giữ

2.Nguyên nhân của những hạn chế trong việc áp dụng biện pháp tạm giữ

Các quy định về đối tượng, căn cứ, điều kiện áp dụng, trình tự, thủ tục, thời hạn, thẩm quyền áp ra lệnh cũng như độ đối với tạm giữ được pháp luật tố tụng hình

sự quy định khá chặt chẽ nhưng trên thực tế, do một số nguyên nhân khách quan, cũng như các nguyên nhân chủ quan mà việc thực thi các biện pháp ngăn chặn còn vi phạm, không những làm ảnh đến quá trình giải quyết vụ án hình sự

mà qua đó ít nhiều xâm phạm, làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của các đối tượng áp dụng vì những lí do khác nhau

Do nhận thức của cơ quan, đơn vị và những những người có trách nhiệm, quyền hạn trong việc bắt, ra lệnh tạm giam, người thi hành lệnh tạm giam còn những hạn chế

Trình độ cán bộ công tác tạm giữ, tạm giam không đều, nhiều cán bộ công an trực tiếp làm công tác tạm giam không nắm vững, không đầy đủ các kiến thức cần thiết, do vậy các quy định tạm giam không được chấp hành một cách triệt để

Công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại các nơi tạm giữ, tạm giam ở nhiều địa phương không được tiến hành một cách thường xuyên và đều khắp, vì vậy

mà các vi phạm chưa được khắc phục kịp thời, cho nên viện kiểm sát chưa phát huy được vai trò , trách nhiệm của mình trong công tác tạm giam Điều kiện cơ

sở vật chất không được đảm bảo

Trang 10

3.Các biện pháp khắc phục những nguyên nhân thiếu sót và hoàn thiện các quy định về tạm giữ

Những nguyên nhân chủ quan đều là những nguyên nhân thuộc về con người, nên để thiết lập trật tự, tăng cường pháp chế trong lĩnh vực tạm giữ, đảm bảo cho công dân không bị tạm giữ một cách trái pháp luật, việc đầu tiên phải chủ trọng vần là yếu tố con người Cần chấp hành nghiêm túc các tiêu chuẩn đối với người có thẩm quyền giữ chức danh quan trọng như:

-Tiêu chuẩn hóa trình độ cán bộ

- Tổ chức thường xuyên các lớp tập huấn ngắn ngày về từng chuyên đề tố tụng, nâng cao trình độ của các chức danh có thẩm quyền trong lĩnh vực tạm giữ

- Cần sớm hướng dẫn cụ thể và có biện pháp khắc phục tình trạng tạm giữ tràn lan, không đúng đối tượng, chỉ tạm giữ những đối tượng có hành vi phạm tội và

có đầy đủ các điều kiện luật định, kiên quyết tránh tình trạng tạm giữ trái pháp luật

- Kiện toàn hệ thống bảo vệ, tăng cường chế độ quản lý, giám sát người bị tạm giữ, có đầu tư thích đáng để xây dựng hệ thống nhà tạm giữ cấp quận, huyện và các trại giam giữ đảm bảo các yêu cầu đủ về số lượng, an toàn về chất lượng và đúng các quy định về chế độ tạm giữ;

- Duy trì việc kiểm tra thường xuyên, tăng cường điều tra đột xuất theo ngành dọc, tăng cường và nâng cao hơn nữa chất lượng công tác kiểm tra việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực giam giữ nhằm phát hiện kịp thời những biểu hiện

vi phạm để sớm có biện pháp khắc phục

-Rà soát để đảm bảo chất lượng nhân viên và công việc tạm giữ

-Có hình thức kỉ luật, khen thưởng xứng đáng đối với từng đối tượng cụ thể

- Có chính sách, chế độ đãi ngộ phù hợp với những người làm công tác tạm giữ

Từ thực tiễn áp dụng còn xảy ra nhiều vi phạm và những nguyên nhân dẫn đến

vi phạm, nhằm làm cho các biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp tạm giữ

Ngày đăng: 12/09/2017, 00:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w