CÂU 1: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức ? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này ? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân ? 1. Khái niệm: - Vật chất: Là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác. - Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan của bộ óc con người; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Trang 1THẢO LUẬN BÀI 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG CÂU 1: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức ? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này ? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân ?
1 Khái niệm:
- Vật chất: Là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
- Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan của bộ óc con người; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
2 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:
Triết học Mác – Lê nin khẳng định trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức quyết định ý thức và ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người
a Vai trò của vật chất đối với ý thức:
Trong mối quan hệ với ý thức, vật chất là cái có trước,ý thức là cái có sau; vật chất là nguồn gốc của ý thức; vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh đối với vật chất
- Vật chất là tiền đề, nguồn gốc cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của ý thức
- Điều kiện vật chất như thế nào thì ý thức như thếđó
- Vật chất biến đổi thì ý thức biến đổi theo
- Vật chất là điều kiện để biến ý thức thành hiện thực
b Vai trò của ý thức đối với vật chất
- Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người Nhờ có ý thức con người nhận thức được quy luật vận động, phát triển của thế giới khách quan
- Ý thức tác động lại vật chất theo hai chiều hướng:
+ Tích cực: ý thức có thể trở thành động lực phát triển của vật chất
+ Tiêu cực: Ý thức có thể là lực cản phá vỡ sự vận động và phát triển của vật chất khi ý thức phản ánh sai, phản ánh xuyên tạc các quy luật vận động khách quan của vật chất
2.Ý nghĩa phương pháp luận
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, song ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người; vì vậy con người phải tôn trọng tính khách quan, đồng thời phát huy tính năng động, chủ quan của mình
- Ý thức có thể quyết định làm cho con người hoạt động đúng và thành công khi phản ánh đúng đắn, sâu sắc thế giới khách quan Ngược lại, ý thức, tư tưởng có thể làm cho con người hoạt động sai và thất bại khi con người phản ánh sai thế giới khách quan
Vì vậy, phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức đồng thời khắc phục bệnh bảo thủ trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động, ỷ lại hoặc bệnh chủ quan duy ýchí
Trang 2- Đảng ta đã chỉ rõ: Mọi đường lối chủ chương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan
* Đối với hoạt động thực tiễn của bản thân:
- Phát huy năng động, sáng tạo của ý thức trong quá trình học tập và công tác
- Chống bệnh chủ quan duy ý chí, có thái độ tích cực trong học tập và công tác
CÂU 2: Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển ? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân ?
a Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến Ý nghĩa phương pháp luận
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Phép biện chứng duy vật khẳng định mọi sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan đều tồn tại trong mối quan hệ phổ biến Liên hệ là khách quan, phổ biến, đa dạng, phong phú, muôn vẻ
- Mối liên hệ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa sự vật và hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, một hiện tượng trong thế giới
- Mọi mối liên hệ của các sự vật và hiện tượng là khách quan, là vốn có của chúng Mối liên
hệ là phổ biến, hiện thực, là cái vốn có của sự vật, hiện tượng, thể hiện tính khách quan, tính thống nhất của thế giới vật chất
- Mối liên hệ không chỉ mang tính khách quan, mà còn mang tính phổ biến bởi vì nó tồn tại trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng ở tất cả lĩnh vực tự nhiên xã hội và tư duy Tồn tại ở mọi thời điểm trong qua khứ hiện tại và cả trong tương lai
Mối liên hệ phổ biến là hiện thực, là cái vốn có của mọi sự vật hiện tượng nó thể hiện tính thống nhất vật chất của thế giới trong quá trình tự nhiên cũng như trong xã hội loài người
Do mối liên hệ là phổ biến, nên có tính đa dạng phong phú, các sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất là đa dạng nên mối liên hệ giữa chúng cũng đa dạng, vì thế khi nghiên cứu các
sự vật hiện tượng cần phải phân loại mối liên hệ một cách cụ thể Căn cứ vào tính chất, phạm vi, trình độ, vai trò của các mối liên hệ, chúng ta có thể phân chia ra thành một số loại mối liên hệ như: mối liên hệ bên trong và bên ngoài; mối liên hệ của bản chất và không bản chất; mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp; mối liên hệ tất nhiên và ngẫu nhiên
- Sự phân loại các mối liên hệ cũng chỉ có ý nghĩa tương đối Mỗi loại mối liên hệ trong từng cặp có thể chuyên hóa lẫn nhau tùy theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoạc do kết quả của sự vận động và phát triển của chính các sự vật, hiện tượng Các mối liên hệ có vai trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng
Ý nghĩa phương pháp luận.- Nếu trong thế giới khách quan mọi sự vật hiện tượng đều tồn
tại trong mối liên hệ biện chứng phổ biến, đa dạng thì muốn phản ánh và nhận thức đúng về
sự vật để hành động có hiệu quả Chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tránh lối xem xét phiến diện một chiều để không đi đến những kết luận sai lầm
- Quan điểm toàn diện có ý nghĩa khi xem xét sự vật phải nghiên cứu tất cả mối liên hệ sự tác động qua lại của sự vật ấy với sự vật khác của các mặt, các yếu tố cấu thành sự vật đó phải đặt nó trong những điều kiện không gian và thế giới nhất định, phải nghiên cứu quá trình vận động của nó trong quá khứ, hiện tại và phán đoán cả tương lai
- Quan điểm toàn diện không có nghĩa là cầu toàn mà phải xem cụ thể theo từng loại mối liên hệ để có nhận thức và có tác động khác nhau của các mặt, các yếu tố Do đó ngoài quan điểm toàn diện phải có quan điểm lịch sử cụ thể Quan điểm lịch sử cụ thể là phải biết được cách giải quyết những vấn đề có tính chất trọng tâm trọng điểm, những vấn đề phải nổi lên
Trang 3hàng đầu trong từng lúc, từng giai đoạn Muốn vậy, phải học tập để không ngừng nâng cao trình độ nhận thức
Với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận trong hoạt động thực tiễn, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi để cải tạo được sự vật, chúng ta phải bằng hoạt động thực tiễn của mình, biến đổi những mối liên hệ nội tại của sự vật cũng như những mối liên hệ qua lại giữa
sự vật đó với những sự vật khác Muốn vậy, phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp, phương tiện khác nhau để tác động nhằm thay đổi những liên hệ tương ứng
b Nguyên lý về sự phát triển, ý nghĩa PP luận và vận dụng
Cùng với nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật sẽ giúp chúng ta hiểu được bản chất của sự vật, làm cho nhận thức phản ánh đúng đắn về sự vật và hoạt động thực tiễn có hiệu quả cao
- Phát triển là một phạm trù triết học khái quát hoá quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện Như vậy, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển có mối quan hệ biện chứng với nhau vì nhờ có mối liên hệ thì sự vật mới có vận động và không có vận động thì không thể có sự phát triển của các sự vật và hiện tượng
Cần phải phân biệt khái niệm vận động với khái niệm phát triển Vận động là mọi sự biến đổi nói chung bao gồm cả biến đổi theo chiều hướng tiến lên, biến đổi vòng tròn, biến đổi thụt lùi tan rã, tức là sự biến đổi không phụ thuộc vào tính chất, khuynh hướng hay kết quả của nó
Nội dung nguyên lý về sự phát triển được thể hiện:
- Phát triển là thuộc tính vốn có của mọi sự vật hiện tượng, là khuynh hướng chung của thế giới
Tính chất của sự phát triển là tiến lên trình độ cao hơn, nó phủ định cái cũ nhưng có kế thừa những yếu tố tích cực của cái cũ trên cơ sở cái mới hoàn thiện hơn
Đặc trưng của sự phát triển là xuất hiện cái mới Cái mới ra đời trong đấu tranh cho nên sự phát triển thường diễn ra quanh co phức tạp, phải trải qua những khâu trung gian Cái mới xuất hiện không xuôi chiều thẳng tắp, có lúc có sự thụt lùi tạm thời
Phát triển là sự thay đổi về chất của sự vật Nguồn gốc của sự phát triển là do đấu tranh của mới đối lập trong bản thân sự vật Cách thức của sự phát triển là do lượng đổi dẫn đến chất đổi và ngược lại
Quan điểm biện chứng và siêu hình về sự phát triển có sự khác nhau về căn bản Quan điểm siêu hình nói chung là phủ định sự phát triển vì học thường tuyệt đối hoá mặt ổn định của sự vật, hiện tượng Sau này khi khoa học đã chứng minh sự vận động và phát triển của sự vật buộc họ phải nói đến sự phát triển, song đối với họ sự phát triển chỉ là tăng hay giảm về lượng, không có sự thay đổi về chất và nguồn gốc của vận động và phát triển là ở bên ngoài sự vật, hiện tượng
Sự phát triển là hiện tượng diễn ra không ngừng trong tự nhiên, XH và tư duy Xét trong phạm vi hẹp và ở trong trường hợp cá biệt thì có những vận động đi lên, đi xuống, vòng tròn, nhưng xét trong tổng thể không gian rộng lớn thì vận động đi lên là khuynh hường chủ đạo Khái quát tình hình đó triết học Mác-Lênin đã khẳng định: Phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vận động của các sự vật , hiện tượng
Ý nghĩa phương pháp luận:
Nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển giúp chúng ta khẳng định lập trường duy vật Thừa nhận phát triển là khuynh hướng vốn có của các sự vật hiện tượng Nếu khuynh hướng chung của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan là vận động đi lên thì trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần phải có quan điểm khi xem xét, nghiên cứu các sự vật
Trang 4Quan điểm phát triển đòi hỏi khi phân tích sự vật đặt nó trong sự vận động đi lên, phát hiện được xu hướng biến đổi và chuyển hoá của chúng Phải có nhận thức nhanh để sớm phát hiện ra cái mới ủng hộ cái mới, bảo vệ và tạo điều kiện cho cái mới ra đời Phải tìm nguồn gốc của sự biến đổi và phát triển trong bản thân sự vật
Quan điểm biện chứng về sự phát triển trang bị cho chúng ta tinh thần lạc quan các mặt, khắc phục được tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, lối nhìn sự vật một cách tĩnh tại không phát triển Vận dụng quan điểm phát triển với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận của họat động thực tiễn nhằm thúc đẩy sự vật phát triển theo quy luật vốn có của nó đỏi hỏi chúng ta phải phát hiện ra mâu thuẫn và tổ chức để các mâu thuẫn đó được giải quyết
- Cần đấu tranh khắc phục và chống lại mọi biểu hiện của trì trệ, bảo thủ, không dám đổi mới để phát triển; đồng thời phải chống lại thái độ nóng vội, chủ quan muốn đốt cháy giai đoạn
Vận dụng nguyên lý về sự phát triển
Vận dụng quan điểm về sự phát triển vào hoạt động thực tiễn nhằm thúc đẩy các sự vật phát triển theo đúng quy luật vốn có của nó đòi hỏi chúng ta phải tìm ra mâu thuẫn của sự vật và bằng hoạt động thực tiễn mà giải quyết mâu thuẫn, phải thấy được sự phát triển là quá trình khó khăn, phức tạp Do đó vận dụng quan điểm về sự phát triển vào thực tiễn xây dựng CNXH ở nước ta hiện nay, trong điều kiện CNXH đã thoái trào và sụp đổ; CNĐQ và các thế lực thù địch không ngừng chống phá các nước XHCN còn lại thì quan điểm của Đảng CSVN là kiên quyết chống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ, bệnh giáo điều, định kiến và nhận định: Chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn thử thách, lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng nhất định tiến tới chủ nghĩa xã hội vì
đó là quy luật phát triển tất yếu của lịch sử
CÂU 3: Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập ? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân ?
1 Nội dung:
- Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập hay còn gọi là quy luật mâu thuẫn là
một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật và là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác - Lênin, là hạt nhân của phép biện chứng Quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển, theo đó nguồn gốc của sự phát triển chính là mâu thuẫn và việc giải quyết mâu thuẫn nội tại trong bản thân mỗi
sự vật, hiện tượng
- Mâu thuẫn biện chứng: là một khái niệm dùng để chỉ sự liên hệ và tác động lẫn nhau giữa các mặt đối lập, đó là những mặt có khuynh hướng phát triển trái ngược nhau cùng tồn tại trong một sự vật, mâu thuẫn là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Các mặt đối lập liên hệ với nhau, thâm nhập vào nhau, tác động qua lại lẫn nhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau, nhưng lại bài trừ phủ định lẫn nhau
- Mặt đối lập: là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những yếu tố có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy Sự tồn tại các mặt đối lập là khách quan và là phổ biến trong thế giới Theo triết học duy vật biện chứng của Engels thì tất cả các sự vật, hiện tượng trên thế giới đều chứa đựng những mặt trái ngược nhau
Ví dụ:
+ Trong nguyên tử có điện tử và hạt nhân hay trong sinh vật thì có sự đồng hoá và dị hoá, trong kinh tế thị trường có cung và cầu, hàng và tiền Những mặt trái ngược nhau đó trong phép biện chứng duy vật gọi là mặt đối lập
Trang 5- Sự thống nhất của các mặt đối lập:
Theo nghĩa rộng: Sự thống nhất của các mặt đối lập được hiểu là cùng sự tồn tại của hai mặt đối lập, các mặt đối lập đòi hỏi có nhau, là tiền đề tồn tại của nhau, nếu không có mặt đối lập này thì không có mặt đối lập kia
Theo nghĩa hẹp: Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự đồng nhất phù hợp tác động ngang nhau của các mặt đối lập
- Sự đấu tranh của các mặt đối lập: là sự tác động qua lại theo hướng bài trừ phủ định lẫn nhau giữa các mặt đối lập
- Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến
Mâu thuẫn có tính khách quan là vì mâu thuẫn là cái vốn có trong mọi sự vật, hiện tượng chứ không phải do ý muốn chủ quan của cong người áp đặt
Mâu thuẫn có tính phổ biến là vì mâu thuẫn tồn tại trong mọi sự vật, hiện tượng trên tất cả mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy
- Mâu thuẫn biện chứng là nguồn gốc của sự vận động và phát triển
Chính sự liên hệ tác động đấu tranh giữa các mặt, các thuộc tính, khuynh hướng đối lập nhau đã làm cho sự vật vận động, biến đổi, phát triển
Đấu tranh giữa các mặt đối lập là quá trình diễn ra rất phức tạp, lúc đầu xuất hiện mâu thuẫn để thẻ hiện sự khác biệt, sau đó phát triển thành hai mặt đối lập Khi hai mặt đối lập xung đột với nhau gay gắt và có điều kiện thì giữa chúng có sự chuyển hóa mâu thuẫn được giải quyết, mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới được hình thành và lại xuất hiện quá trình mới làm cho sự vật không ngừng vận động phát triển
- Phân loại:
Mâu thuẫn bên trong: là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập nhau của cùng một sự vật
Mâu thuẫn bên ngoài: là mâu thuẫn giữa sự vật này với sự vật khác
Mâu thuẫn cơ bản: Xuất phát từ bản chất của sự vật nó quy định quá trình tồn tại và phát triển của sự vật và là cơ sở nảy sinh các mâu thuẫn khác
Mâu thuẫn không cơ bản: là mâu thuẫn đặc trưng cho một phương diện nào đó của
sự vật nên chịu sự tác động ảnh hưởng đến sự phát triển một mặt nào đó của sự vật
Mâu thuẫn chủ yếu: là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất định ở sự vật, nó chi phối mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó
Mâu thuẫn thứ yếu: là mâu thuẫn tồn tại trong sự phát triển của sự vật nhưng không giữ vai trò quyết định trong giai đoạn đó
Mâu thuẫn đối kháng: là những mâu thuẫn giữa những giai cấp, tập đoàn người có khuynh hướng đối lập nhau về lợi ích cơ bản
Mâu thuẫn không đối kháng: là mâu thuẫn giữa những giai cấp, tầng lớp xã hội có sự đối lập lợi ích không cơ bản, cục bộ, tạm thời
2 Ý nghĩa phương pháp luận:
- Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và phát triển nên muốn nhận thức và cải tạo sự vật đều quan trọng là phải nắm được mâu thuẫn của nó
- Sự vật khác nhau thì mâu thuẫn khác nhau và trong mỗi sự vật lại có nhiều mâu thuẫn, khi nghiên cứu giải quyết mâu thuẫn phải có quan điểm cụ thể cho phù hợp, mâu thuẫn chỉ được
Trang 6giải quyết khi có điều kiện chín muồi và chỉ giải quyết bằng con đường đấu tranh, bằng hình thức, biện pháp khác nhau
CÂU 4: Phân tích nội dung và phương pháp luận của quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại ? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân ?
Mỗi sự vật và hiện tượng trong thế giới đều là một thể thống nhất giũa lượng và chất Hai mặt này có mối quan hệ và sự tác động nhau theo một qui luật nhất định: lượng đổi dẩn tới chất đổi và ngược lại Qui luật này là một trong ba qui luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, có chức năng khái quát cách thức vận động và phát triển củua các sự vật, hiện tượng trong thế giới
Khái niệm chất và lượng:
1 K/niệm chất: theo quan điểm DVBC thì bất kỳ 1 sự vật nào của hiện thực khách quan và
kể cả tư duy của con người đều là những chất cụ thể khác nhau Tdụ: chất của đồng khác với chất của muối, Fe… Chất là tính qui định vốn có của sự vật để khẳng định sự vật đó là
gì và qua đó để phân biệt nó với cái khác
Tính quy định về chất của sự vật là sự thống nhất hũu cơ giữa các thuộc tính vốn có của sự vật Tdụ: tính qui định về chất của TG là tính chất bao gồm: tính khách quan, không gian, thời gian, tính vận động, tính phản ánh, vĩnh cửu và vô tận Chất biểu hiện tính ổn định tương đối của sự vật., khẳng định sự vật là gì đồng thời là tiêu chuẩn để phân biệt nó với cái khác Nhưng sự vật vừa là 1 chất vừa là nhiều chất cụ thể khác nhau, tuỳ theo những mối liên hệ cụ thể khác nhau
Sự phân biệt giữa chất và thuộc tính chỉ mang tính tương đối cũng được xét theo những mối liên hệ cụ thể khác nhau
2 Khái niệm lượng: là khái niệm chỉ tính qui định vốn có của sự vật biểu thị số lượng, qui
mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật cũng như các thuộc tính của
nó Nhưng lượng không có nghĩa là khẳng định sự vật đó là gì đồng thời cũng không là tiêu chuẩn để phân biệt nó với cái khác Tdụ: vận tốc ánh sáng là 300.000hm/s, 1 phân tử nước gồm 2 nguyên tử hydro và 1 nguyên tử oxy…
Tính qui định về lượng cũng thể hiện thông qua các thuộc tính vốn có của sự vật nhưng không phải là sự thống nhất hữu cơ qui định về chất mà chỉ biểu thị ở những thuộc tính riêng lẻ nhất định như: số lượng, đại lượng, trình độ, qui mô của sự vật Sự vật càng phức tạp bao nhiêu thì thông số về lượng càng phức tạp bấy nhiêu
Tính qui định về lượng khác với tính qui định về chỗ nó không có ý nhgĩa khẳng định sự vật
đó là gì, không là tiêu chuẩn để phân biệt nó với cái khác,
Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng:
1 Sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất:
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có chất và lượng Trong quá trình vận động và phát triển, chất và lượng của sự vật cũng biến đổi Sự thay đổi của lượng và của chất không diễn
ra độc lập với nhau, trái lại chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau Nhưng không phải bất kỳ
sự thay đổi nào của lượng cũng ngay lập tức làm thay đổi căn bản chất của sự vật Lượng của sự vật có thể thay đổi trong một giới hạn nhất định mà không làm thay đổi căn bản chất của sự vật đó Chẳng hạn, khi xem xét các trạng thái tồn tại khác nhau của nước với tư cách
là những chất khác nhau, ứng với chất – trạng thái đó, lượng ở đây là nhiệt độ, thì dù lượng
có thay đổi phạm vi khá lớn, nước vẫn ở trạng thái lỏng Sự thay đổi của lượng chưa dẫn tới
sự thay đổi của chất trong những giới hạn nhất định Vượt quá giới hạn đó sẽ làm cho sự vật không còn là nó, chất cũ mất đi, chất mới ra đời
Trang 7Khuôn khổ mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi về chất của sự vật, được gọi là độ
Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, nó là khỏang giới hạn, mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật
Sự thay đổi về chất do những sự thay đổi về lượng trước đó gâ ra gọi là bước nhảy Nói cách khác, bước nhảy là một phạm trù triết học dùng để chỉ giai đọan chuyển hóa về chất của sự vật do những thay đổi về lượng trước đó gây ra
Sự thay đổi về chất của sự vật hết sức đa dạng, với nhiều hình thức bước nhảy khác nhau Tính chất của các bước nhảy được quyết định bởi tính chất của bản thân sự vật, bởi những mâu thuẫn vốn có của nó, bởi điều kiện trong đó diễn ra sự thay đổi về chất Nhìn chung, có một số lọai bước nhảy cơ bản như: bước nhảy đội biến và bước nhảy dần dần, bước nhảy tòan bộ và bước nhảy cục bộ…
Sự phân chia ra bước nhảy đội biến và bước nhảy dần dần vừa dựa trên thời gian của sự thay đổi về chất, vừa dựa trên tính chất của bản thân sự thay đổi đó Những bước nhảy được gọi là đột biến khi chất của sự vật biến đổi một cách nhanh chóng ở tất cả các bộ phận cơ bản cấu thành của nó Những bước nhảy được thực hiện một cách dần dần là quá trình thay đổi về chất diễn ra bằng con đường tích lũy dần dần những nhân tố của chất mới và mất đ dần dần những nhân tố của chất cũ Quá trình cách mạng đưa nước ta vốn là nước kinh tế lạc hậu quá độ lên CNXH là một bước nhảy như thế
Bước nhảy tòan bộ là lọai bước nhảy làm thay đổi về chất tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố cấu thành sự vật Bước nhảy cục bộ là lọai bước nhảy làm thay đổi một số mặt, một
số yếu tố, một số bộ phận của sự vật đó Đối với các sự vật phức tạp về tính chất, về những yếu tố cấu trúc, về những bộ phận cấu thành thì bước nhảy thường diễn ra bằng con đường
từ những thay đổi về chất cục bộ đến thay đổi về chất tòan bộ Sự quá độ lên CNXH ở nước
ta đang diễn ra từ những thay đổi cục bộ để đi đến thay đổi tòan bộ Khi xem xét sự thay đổi
về chất của xã hội, người ta còn chia sự thay đổi đó ra thành thay đổi cách mạng và thay đổi
có tính chất tiến hóa Trong trường hợp này, cách mạng là sự thay đổi mà trong quá trình đó diễn ra sự cải tạo căn bản về chất của sự vật, không phụ thuộc vào sự cải tạo đó được diễn ra như thế nào -dưới hình thức đột biến hay dần dần Tiến hóa là sự thay đổi về lượng cùng với những biến đổi nhất định về chất, nhưng là chất không căn bản của sự vật
Do vậy, cách mạng là một khái niệm có ngoại diên hẹp hơn so với phạm trù bước nhảy Bước nhảy là phạm trù dùng để chỉ mọi sự thay đổi về chất, cách mạng là sự cải tạo chất căn bản của nó Hơn nữa, không phải bất kỳ sự thay đổi căn bản nào về chất cũng là cách mạng Chỉ những thay đổi mang tính tiến bộ, tiến lên, chỉ có sự chuyển hóa từ nấc thang phát triển thấp sang nấc thang phát triển cao mới là cách mạng Nếu do thay đổi về chất căn bản mà diễn ra bước thụt lùi của xã hội thì đó là phản cách mạng
Khâu trung gian là thời kỳ đang chuyển đổi về chất của sự vật, nó không còn là sự vật cũ mà cũng chưa là sự vật mới Tdụ: bây giờ chúng ta ở khâu trung gian đi lên CNXH mà CNXH lại là khâu trung gian đi lên CNCS
2 Chiều ngược lại của qui luật:
Qui luật lượng chất chỉ nói lên một chiều là sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất mà còn có chiều ngược lại Đó là quá trình hình thành sự vật mới, chất mới và chất mới qui định lượng mới của nó Nghĩa là khi sự vật mới ra đời bao hàm chất mới, nó tạo ra một lượng mới phù hợp với nó để có sự thống nhất giữa chất và lượng tdụ: nước từ trạng thái lỏng chuyển sang trạng thái hơi thì tốc độ vận động của các phân tử hơi nước sẽ nhanh hơn, thể tích lớn hơn và độ hoà tan cũng khác trước
Từ sự phân tích trên, có thể phát biểu nội dung cơ bản của qui luật lượng chất như sau:
Trang 8Qui luật lượng chất là qui luật về sự tác động boiện chứng qua lại giữa chất và lượng Bất kỳ
sự vật nào cũng là sự thống nhất giữa chất và lương Sự thay đổi dần dần về lượng qua giới hạn độ sẽ dẫn tới thay đổi căn bản về chất thông qua bước nhảy, sự vật cũ mất đi làm xuất hiện chất mới, sự vật mới, chất mới qui định lượng mới Lượng mới lại tiếp tục biến đổi đến một giai đoạn nhất định phá vỡ chất cũ, sự vật cũ… tiến trình được lặp lại và diễn ra 1 cách liên tục và vô tận như vậy được coi là cách thức của sự phát triển
Ý nghĩa phương pháp luận đối với nhận thức và thực tiễn:
Nhận thức đúng đắn mối quan hệ biện chứng giũa thay đổi về lượng và thay đổi về chất chúng ta sẽ rút ra được ý nghĩa phương pháp luận quan trọng cho họat động nhận thức và thực tiễn
Để có tri thức đầy đủ về sự vật, ta phải nhận thức cả mặt lượng và mặt chất của nó Những nhận thức ban đầu về chất (thấy sự khác nhau) của các sự vật chỉ trở nên đúng đắn và được làm sâu sắc thêm, khi đạt tới tri thức về sự thống nhất giữa chất và lượng của sự vật đó
Vì sự thay đổi về lượng và thay đổi về chất có mối quan hệ biện chứng với nhau cho nên trong họat động thực tiễn phải dựa trên việc hiểu đúng đắn vị trí, vai trò và ý nghĩa của mỗi lọai thay đổi nói trên trong sự phát triển xã hội, phải biết kịp thời chuyển từ sự thay đổi về lượng thành nhưng thay đổi về chất, từ những thay đổi mang tính tiến hóa sang thay đổi mang tính cách mạng
Xem xét tiến hóa và cách mạng trong mối quan hệ biện chứng của chúng là một trong những nguyên tắc phương pháp luận trong việc xây dựng chiến lược và sách lược cách mạng Hiểu đúng đắn mối quan hệ đó là cơ sở để chống lại chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa xét lại hữu khuynh cũng như chủ nghĩa tả khuynh
Việc nắm vững nội dung của qui luật về mối quan hệ biện chứng giữa thay đổi về lượng và thay đổi về chất cũng như ý nghĩa phương pháp luận của nó có vai trò to lớn trong việc xem xét và giải quyết những vấn đề do công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN hiện nay ở ta đặt ra Thật vậy, theo tính chất, ý nghĩa và phạm vi bao quát của nó, đổi mới có ý nghĩa như
là một quá trình mang tính cách mạng Việc thực hiện thành công quá trình đổi mới trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội sẽ tạo ra bước nhảy về chất ở đó, và tạo điều kiện để thực hiện thành công quá trình đổi mới toàn diện tất cả các mặt của đời sống xã hội nhằm tạo ra bước nhảu về chất của tòan bộ xã hội nói chung Như bất kỳ một sự thay đổi về chất nào khác, những bước nhảy trong quá trình đổi mới hiện nay cũng chỉ có thể là kết quả của quá trình thay đổi về lượng thích hợp Ở đây, bất kỳ một sự nôn nóng, chủ quan, ảo tưởng nào đều có thể gây ra tổn thất cho cách mạng, cản trở sự nghiệp đổi mới đất nước
Qui luật này được vận dụng trong thực tiễn CM ở VN rất sinh động
Trong cách mạng chống thực dân đế quốc cũng như cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng là 1 quá trình biến đổi về lượng Từ chiến thắng chiến tranh đặc biệt đến chiến tranh cục bộ Từ chiến tranh CB We đã chiến thắng chiến lược VNHCT và Đông Dương hóa của
đế quốc Mỹ và cuối cùng We ta….mà đỉnh cao là chiến dịch…
- Ngày nay, trong công cuộc đổi mới, XD nền kinh tế đất nước, chúng ta cũng ứng dụng
PP luận của qui luật lượng chất
- Quá trình PT nền KT đất nước trong giai đoạn hiện nay không thể nóng vội Phải XD
cơ sở vật chất từ đầu, phải tích lũy và tận dụng sức mạnh của các thành phần kinh tế, phát động sức mạnh của toàn dân, của các nguồn lực kinh tế của đất nước, nông, cong, thủy, năng, dầu, du, dịch… tất cả tạo nên sức mạnh to lớn của nền kinh tề quốc dân Chính vì vậy, nền kinh tế nước ta hiện nay đã đạt được những thành tựu to lớn Tông thu nhập GDP đã đạt chỉ tiêu kế hoạch
Trang 9CÂU 5: Phân tích mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn ? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu này ? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân ?
Sự gắn kết giữa nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn luôn là một đòi hỏi cấp bách và là một cách để mang đến thành công cho hoạt động của mỗi cá nhân, của tổ chức và của một chính đảng Nhận thức đúng và giải quyết hợp lý mối quan hệ biện chứng tác động qua lại của lý luận và thực tiễn, dùng lý luận làm kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn, tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận, thực tiễn phải là cơ sở, động lực của nhận thức và tiêu chuẩn của chân lý luôn là chìa khóa để để giải quyết mọi vướng mắc trên con đường đi đến mục tiêu đã định Ngược lại, nhận thức không đúng và giải quyết không tốt mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa giáo điều, kinh viện và chủ nghĩa kinh nghiệm hay chủ quan duy ý chí, tất nhiên sẽ dẫn đến những thất bại mà đối với một chính đảng, sự thất bại đó có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng
Trước hết, ta đi vào các khái niệm cơ bản:
1- Thực tiễn là gì?
Thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản không chỉ của lý luận nhận thức mácxít mà còn của toàn bộ triết học Mác – Lênin nói chung
* Quan điểm của triết học trước Mác:
- Điđơrô (nhà triết học Pháp): hiểu chưa đầy đủ về thực tiễn, cho rằng thực tiễn là hoạt động thực nghiệm khoa học trong phòng thí nghiệm
- Phoiơbắc (nhà triết học duy vật siêu hình người Đức): thực tiễn chỉ là những hoạt động bẩn thỉu của các con buôn
- Hêghen (nhà triết học duy tâm khách quan người Đức): thực tiễn chỉ là khái niệm, tư tưởng thực tiễn chứ không phải bản thân thực tiễn với tư cách là hoạt động vật chất
* Quan điểm triết học mácxít:
Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội
Hoạt động thực tiễn không phải bao gồm toàn bộ hoạt động vật chất của con người mà chỉ là những hoạt động vật chất (để phân biệt với hoạt động tinh thần, hoạt động lý luận), hay nói theo thuật ngữ của Mác là hoạt động vật chất "cảm tính" của con người Hoạt động thực tiễn là hoạt động đặc trưng và bản chất của con người, được thực hiện một cách tất yếu khách quan và được tiến hành trong các quan hệ xã hội, là hoạt động mang chức năng động, sáng tạo, là cách tồn tại cơ bản của con người và xa hội loài người Hoạt động thực tiễn có ba dạng cơ bản, đó là:
+ Hoạt động sản xuất vật chất: là hình thức hoạt động cơ bản đầu tiên của thực tiễn, có vai trò quyết định đối với các dạng hoạt động khác của thực tiễn Vì: nó là hoạt động nguyên thủy nhất và tồn tại một cách khách quan, thường xuyên nhất trong đời sống con người và
nó tạo ra những điều kiện, của cải thiết yếu có tính quyết định đến sự sinh tồn và phát triển của con người và xã hội loài người
+ Hoạt động chính trị - xã hội: là hoạt động của các cộng đồng người khác nhau trong xã hội nhằm cải biến những mối quan hệ xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển + Hoạt động thực nghiệm khoa học: là một hình thức đặc biệt của thực tiễn, được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra gần giống hay lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định các qui luật biến đổi và phát triển của đối tượng nghiên cứu 2- Lý luận là gì?
Trang 10Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lý luận là sự tổng kết kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử Xét về bản chất: lý luận là một hệ thống tri thức chặt chẽ mang tính trừu tượng khái quát, đúc kết từ thực tiễn, được diễn đạt thông qua các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật phản ánh bản chất của sự vận động, biến đổi, phát triển của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan
Lý luận là sản phẩm của sự phát triển cao của nhận thức, được hình thành trong mối quan hệ với thực tiễn
3 – Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn:
Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ với nhau, tác động qua lại nhau, trong đó thực tiễn giữ vai trò quyết định
• Vai trò quyết định của thực tiễn đối với lý luận:
Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức, của lý luận đồng thời là tiêu chuẩn để kiểm tra nhận thực, lý luận Thực tiễn là nguồn gốc cơ sở sinh ra lý luận, nến không có thực tiễn thì không có lý luận, thực tiễn cao hơn lý luận không những ở tính phổ biến mà còn ở tính hiện thực trực tiếp
Sự phản ánh vượt trước của lý luận qua nỗ lực sáng tạo của những thiên tài ở những giai đoạn lịch sử nhất định xét cho đến cùng thì cái làm nên sự vượt trước ấy cũng đã được nảy mầm từ mảnh đất thực tiễn sinh động, đều do thực tiễn gợi ý mách bảo Chỉ có thông qua thực tiễn con người mới vật chất hóa dược lý luận vào đời sống hiện thực
Lý luận không có sức mạnh tự thân mà chỉ có thông qua thực tiễn thì lý luận mới phát huy tác dụng, mới tham gia vào quá trình biến đổi hiện thực
Đánh giá vai trò của thực tiễn đối với lý luận, Lênin viết: "Thực tiễn cao hơn nhận thức, lý luận Vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến mà còn của tính hiện thực trực tiếp"
• Vai trò tác động trở lại của lý luận đối với thực tiễn:
Lý luận có thể thúc đẩy tiến trình phát triển của thực tiễn nếu đó là lý luận khoa học và ngược lại có thể kìm hãm sự phát triển của thực tiễn nếu đó là lý luận phản khoa học, , lạc hậu
Lý luận khoa học sẽ trở thành kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn Nó hướng dẫn, chỉ đạo, soi sáng cho thực tiễn, vạch ra phương pháp giúp hoạt động thực tiễn đi tới thành công Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: "Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi" Lý luận đem lại cho thực tiễn những tri thức đúng đắn về những quy luật vận động và phát triển của thế giới khách quan, giúp con người xác định đúng mục tiêu để hành động có hiệu quả hơn, tránh được những sai lầm, vấp váp
Lý luận khoa học thâm nhập vào hoạt động của quần chúng tạo nên sức mạnh vật chất, điều chỉnh hoạt động thực tiễn, giúp cho hoạt động của con người trở nên tự giác, chủ động, tiết kiệm được thời gian, công sức, hạn chế những mò mẫm, tự phát
Lý luận khoa học dự kiến sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng trong tương lai, từ
đó chỉ ra phương hướng mới cho sự phát triển Con người ngày càng đi sâu khám phá giới
tự nhiên vô cùng vô tận bằng những phương tiện khoa học hiện đại thì càng cần có những
dự báo đúng đắn Nếu dự báo không đúng sẽ dẫn đến những sai lầm, hậu quả xấu không thể lường được trong thực tiễn Vì thế, chức năng dự báo tương lai là chức năng quan trọng của
lý luận
Lý luận cách mạng có vai trò to lớn đối với thực tiễn cách mạng Lênin cho rằng: "Không có
lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng" Mác thì nhấn mạnh: "Lý luận khi thâm nhập vào quần chúng thì nó biến thành lực lượng vật chất"