1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Môn pháp luật thương mại hàng hóa và dịch vụ buổi thảo luận lần 1

27 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Môn pháp luật thương mại hàng hóa và dịch vụ buổi thảo luận lần 1
Tác giả Nhóm 3
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Pháp luật thương mại hàng hóa và dịch vụ
Thể loại Buổi thảo luận
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 240,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA QUẢN TRỊ LỚP 119 – QUẢN TRỊ LUẬT 45 B1 MÔN PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA VÀ DỊCH VỤ BUỔI THẢO LUẬN LẦN 1 NHÓM 3 Số thứ tự Họ và tên MSSV 1 Đoàn Thị Hương[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA QUẢN TRỊ LỚP: 119 – QUẢN TRỊ - LUẬT 45 B1

MÔN: PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA VÀ DỊCH VỤ

BUỔI THẢO LUẬN LẦN 1

Trang 3

MỤC LỤC

VẤN ĐỀ 01 61.1 Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền? 61.2 Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ? 61.3 Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện côngviệc không có ủy quyền" 71.4 Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền" theoBLDS 2015? Phân tích từng điều kiện 81.5 Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêu cầuchủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiệncông việc không có ủy quyền” trong BLDS 2015 không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khitrả lời 11VẤN ĐỀ 02 132.1 Thông tư trên [Thông tư liên tịch 01/TTLT của Tòa án nhân dân tối cao - Việnkiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp - Bộ Tài chính Hướng dẫn việc xét xử và thihành án về tài sản] cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Quatrung gian là tài sản gì? 132.2 Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụthể là bao nhiêu? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 132.3 Thông tư trên có điều chỉnh trong việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyểnnhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không? Vì sao? 142.4 Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất đượcxác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dâncấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hương phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là baonhiêu? Vì sao? 142.5 Hướng như trên tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa? Nêu mộttiền lệ (nếu có)? 15VẤN ĐỀ 03 173.1 Điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giaonghĩa vụ theo thỏa thuận? 173.2 Thông tin nào của bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tú? 183.3 Đoạn nào của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được chuyển sangcho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh? 183.4 Suy nghĩ của anh/chị về đánh giá trên của Tòa án? 18

Trang 4

3.5 Nhìn từ góc độ văn bản, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối vớingười có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyểngiao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 193.6 Nhìn từ góc độ quan điểm các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu có còn tráchnhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụđược chuyển giao? Nêu rõ quan điểm của các tác giả mà anh/chị biết 193.7 Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án theo hướng người có nghĩa vụ ban đầu khôngcòn trách nhiệm đối với người có quyền? 203.8 Kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài đối với quan hệ giữa người có nghĩa vụ banđầu và người có quyền 203.9 Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên của Tòa án 213.10 Trong trường hợp nghĩa vụ của bà Phượng đối với bà Tú có biện pháp bảo lãnh củangười thứ ba thì, khi nghĩa vụ được chuyển giao, biện pháp bảo lãnh có chấm dứtkhông? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời 22

Trang 5

I - Mục tiêu đánh giá

- Sinh viên hiểu và biết vận dụng một số kiến thức liên quan đến nghĩa vụ dân sự;

- Sinh viên làm quen và phát huy làm việc nhóm Do đó bài tập thảo luận thứ nhấtđược tiến hành theo bài tập nhóm (khoảng 10 sinh viên/nhóm);

- Rèn luyện kỹ năng viết Do đó, sinh viên phải chuẩn bị bài viết ở nhà và đến buổithảo luận nộp cho giảng viên phụ trách một bản để giảng viên đánh giá;

- Rèn luyện kỹ năng thuyết trình Vì vậy, trong buổi thảo luận, một nhóm trình bàybài tập đã chuẩn bị ở nhà và các nhóm khác phản biện;

- Rèn luyện kỹ năng tự đọc tài liệu, văn bản pháp luật để giải quyết một số vấn đềpháp lý;

- Rèn luyện kỹ năng phân tích để hiểu, đánh giá một quyết định của Tòa án, nhất làđối với những vấn đề mà văn bản không rõ ràng hay không đầy đủ

II- Cấu trúc bài tập (03 bài tập)

Vấn đề 1: Thực hiện công việc không có ủy quyền

Nghiên cứu:

- Khoản 3 Điều 275, Điều 574 đến Điều 578 BLDS 2015 (khoản 3 Điều 281, Điều

594 đến 598 BLDS 2005) và các quy định liên quan (nếu có);

- Tình huống: Chủ đầu tư A lập Ban quản lý dự án B để tiến hành xây dựng một côngtrình công cộng Khi triển khai, B đã ký hợp đồng với nhà thầu C mà không nêu rõtrong hợp đồng B đại diện A và cũng không có ủy quyền của A trong khi đó, theo quyđịnh, B không được tự ký hợp đồng với C vì đây là công việc của chủ đầu tư A (thực tếBan quản lý dự án B không có nhiều tài sản để thanh toán cho C)

Trang 6

Đức-Xem: https://www.youtube.com/watch?v=4YepPrCIlvU&list=PLy3fk_j5LJA4xqs1oy1oSSJiE5fPovU9g

Và cho biết:

1.1 Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền?

1.2 Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ?

1.3 Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiệncông việc không có ủy quyền"

1.4 Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền" theoBLDS 2015? Phân tích từng điều kiện

1.5 Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu C có thể yêucầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thựchiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS 2015 không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp

- Tình huống: Ngày 15/11/1973, ông Quới cho bà Cô thuê nhà và nhận tiền thế châncủa bà Cô 50.000đ Nay, ông Quới yêu cầu bà Cô trả nhà Bà Cô đồng ý trả nhà và yêucầu ông Quới hoàn trả tiền thế chân (Lưu ý: giá gạo trung bình vào năm 1973 là137đ/kg và giá gạo trung bình hiện nay theo Sở tài chính Tp HCM là 15.000đ/kg)

- Quyết định số 15/2018/DS-GĐT ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại HàNội

Trang 7

2.1 Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Quatrung gian là tài sản gì?

2.2 Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụthể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời

2.3 Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượngbất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không? Vì sao?

2.4 Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất đượcxác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dâncấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là baonhiêu? Vì sao?

2.5 Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa? Nêu mộttiền lệ (nếu có)?

Vấn đề 3: Chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận

Trang 8

3.3 Đoạn nào của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được chuyển sangcho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh?

3.4 Suy nghĩ của anh/chị về đánh giá trên của Tòa án?

3.5 Nhìn từ góc độ văn bản, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối vớingười có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyểngiao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời

3.6 Nhìn từ góc độ quan điểm các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu có còn tráchnhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụđược chuyển giao? Nêu rõ quan điểm của các tác giả mà anh/chị biết

3.7 Đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án theo hướng người có nghĩa vụ ban đầukhông còn trách nhiệm đối với người có quyền?

3.8 Kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài đối với quan hệ giữa người có nghĩa vụ banđầu và người có quyền

3.9 Suy nghĩ của anh chị về hướng giải quyết trên của Tòa án

3.10 Trong trường hợp nghĩa vụ của bà Phượng đối với bà Tú có biện pháp bảo lãnhcủa người thứ ba thì, khi nghĩa vụ được chuyển giao, biện pháp bảo lãnh có chấm dứtkhông? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời

III- Tiêu chí đánh giá

*Về hình thức (1 điểm), yêu cầu

- Viết ngắn gọn; diễn đạt chặt chẽ, mạch lạc;

- Không có lỗi soạn thảo (không có khoảng cách trước dấu chấm, dấu phẩy hay saudấu chấm phải viết hoa )

* Về tài liệu tham khảo (1 điểm), yêu cầu

- Sinh viên phải khai thác tài liệu mà đề cương yêu cầu;

- Việc khai thác tài liệu được yêu cầu trong đề cương chỉ được tính điểm khi đượctrích dẫn ít nhất một lần trong nội dung của bài tập

* Về nội dung (8 điểm):

- Bài tập 1: 2 điểm;

- Bài tập 2: 3 điểm;

- Bài tập 3: 3 điểm

Trang 9

IV-Thời hạn nộp bài

- Thời điểm: Vào đầu buổi thảo luận thứ nhất;

- Chế tài: Nhóm không nộp bài đúng thời hạn thì cũng coi như không nộp bài và

không có điểm đối với buổi thảo luận

Trang 10

VẤN ĐỀ 01

THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ ỦY QUYỀN

1.1 Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền?

Để xác định việc thực hiện công việc không có ủy quyền thì cần phải dựa vào các yếu

Đồng thời theo Điều 274 BLDS 2015 quy định khái niệm về nghĩa vụ cụ thể là:

“Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”.

Trang 11

Có thể thấy, thực hiện công việc không có ủy quyền cũng là việc một bên thực hiệncông việc của người khác, vì lợi ích của họ và nếu không thực hiện thì có thể sẽ gây ramột số thiệt hại nhất định đối với người có công việc Chung quy lại mục đích cuối cùngcủa việc thực hiện công việc không có ủy quyền là nhằm hướng tới mang lại lợi ích chongười có công việc Nên là quá trình này là căn cứ phát sinh nghĩa vụ của cả hai bên

Trong trường hợp này, công việc không có ủy quyền xuất phát từ việc tự nguyện, phápluật cũng không có quy định bắt buộc người thực hiện tạo ra lợi ích thực tế, nhưng buộcngười có công việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền thù lao, thanh toán các chi phí hợp lý màngười thực hiện công việc đã bỏ ra, ngay cả khi kết quả công việc được thực hiện đókhông như ý muốn và việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán của người có công việc thựchiện được pháp luật quy định cụ thể tại Điều 576 BLDS 2015

Bên cạnh đó, thực hiện công việc không có ủy quyền còn làm phát sinh nghĩa vụ thựchiện và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho chính người thực hiện công việc Bằng việc tự ý,

tự nguyện thực hiện phần việc của người khác, người thực hiện công việc sẽ có nhữngnghĩa vụ nhất định đối với chính công việc mình thực hiện, cũng như với người có côngviệc được thực hiện (theo Điều 575, 577 BLDS 2015) Tuy không bắt buộc phải tạo ra kếtquả mà đối phương mong muốn đạt được, bản thân người thực hiện công việc phải cốgắng thực hiện tốt nhất có thể, cũng như chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, v.v đểtránh trường hợp những quy định này bị lợi dụng nhằm mục đích tiêu cực riêng

1.3 Cho biết điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền".

Trả lời:

Nhìn chung, chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” ở BLDS 2015 so với

Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS 2005) có hai điểm mới nổi bật như sau:

Thứ nhất, BLDS 2015 đã bỏ đi từ “hoàn toàn” khi quy định về khái niệm “thực hiện

công việc không có ủy quyền” BLDS 2005 yêu cầu công việc được thực hiện phải “hoàntoàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện” (Điều 594 BLDS 2005) Cách quyđịnh này có thể được hiểu theo hai nghĩa: “Nghĩa thứ nhất là người thực hiện công việchoàn toàn không có lợi ích trong công việc mà họ thực hiện và tất cả phải vì lợi ích củangười có công việc được thực hiện.”1 hoặc “Nghĩa thứ hai là việc thực hiện công việchoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện không ngoại trừ khả năngngười tiến hành công việc cũng có lợi ích từ việc thực hiện.”2

Trong thực tiễn xét xử, đã có nhiều trường hợp người có công việc được thực hiện dựavào hai chữ “hoàn toàn” này để lý giải theo nghĩa thứ nhất, đưa ra cơ sở rằng việc thực

1 Đỗ Văn Đại (2017), Luật Nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việt Nam – Bản án và Bình luận bản án (Sách chuyên khảo, xuất

Trang 12

hiện không có ủy quyền đó vẫn có yếu tố vì lợi ích của người thực hiện công việc Đây làcách giúp người có công việc chối bỏ nghĩa vụ thanh toán của mình, tạo nên bất cập lẫnthiệt thòi cho người thực hiện công việc trong quá trình xét xử.

Chính vì vậy, việc BLDS 2015 bỏ đi hai chữ “hoàn toàn” là để củng cố cho cách hiểuthứ hai, nhằm tăng cường bảo đảm quyền lợi cho người thực hiện công việc Đồng thời,đây cũng là cơ sở để Tòa án linh hoạt hơn trong việc xét xử các vụ việc liên quan đến

“thực hiện công việc không có ủy quyền”, hạn chế tranh cãi, nhập nhằng trong quá trìnhxét xử

Thứ hai, BLDS 2015 đã phân định rõ đối tượng thực hiện công việc có ủy quyền có thể

là cá nhân hoặc pháp nhân Tại khoản 4 Điều 575 quy định về “nghĩa vụ thực hiện côngviệc” (Điều 595 BLDS 2005) và khoản 4 Điều 578 về “chấm dứt thực hiện nghĩa vụ”(Điều 598 BLDS 2005), với sự xuất hiện của “cá nhân” và “pháp nhân” (làm rõ các đốitượng “người thực hiện nghĩa vụ”) Việc bổ sung này góp phần tăng thêm tính cụ thể, chitiết của Bộ luật Dân sự, giúp cho quá trình xét xử được diễn ra thuận lợi, chính xác vànhanh chóng hơn

Như vậy, tuy không có nhiều điểm mới so với BLDS 2005, BLDS 2015 đã thành côngkhắc phục điểm hạn chế (lỗ hổng) khi quy định về chế định “thực hiện nghĩa vụ không có

ủy quyền” Từ đó, BLDS 2015 đã củng cố bảo vệ quyền lợi cho người thực hiện côngviệc, giúp Tòa án có cơ sở giải quyết tranh chấp một cách hợp lý, đưa pháp luật dân sựViệt Nam phát triển bắt kịp xu hướng với luật pháp các nước tiến bộ trên thế giới

1.4 Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền" theo BLDS 2015? Phân tích từng điều kiện.

Trả lời:

BLDS 2015 không có điều khoản riêng để quy định về điều kiện áp dụng chế định

“thực hiện công việc không có ủy quyền” Tuy nhiên, từ khái niệm được nêu ra ở Điều

574 BLDS 2015, chúng ta có thể suy ra những điều kiện cơ bản sau đây:

a Đối với người thực hiện công việc:

- Người thực hiện công việc không có nghĩa vụ:

Khi quy định người thực hiện công việc không có ủy quyền là “người không có nghĩa

vụ thực hiện công việc”, BLDS 2015 đã tạo ra hai hướng giải thích khác nhau.

Có quan điểm cho rằng, quy định này nói đến “người hoàn toàn không có nghĩa vụphải thực hiện công việc đó những đã thực hiện công việc đó Nghĩa vụ ở đây là nghĩa vụpháp lý hoặc nghĩa vụ do các bên thỏa thuận”3

3

Trang 13

Song, cách hiểu này lại dẫn đến những bất cập nhất định trong thực tiễn xét xử Đơn

cử như trường hợp “công việc được thực hiện theo yêu cầu của người thứ ba hay theo thỏathuận của người thứ ba, hay theo luật định”, thì chúng ta có được áp dụng chế định nàyhay không?4 Trong nhiều vụ việc xảy ra trong thực tế, khi xảy ra trường hợp như trên,Tòa án vẫn áp dụng chế định này để tiến hành xét xử Như vậy, cách hiểu phù hợp nhấtcho điều kiện này phải là không có nghĩa vụ thực hiện “giữa người thực hiện công việc vàngười có công việc được thực hiện”5 mà không xét đến sự tồn tại nghĩa vụ giữa ngườithực hiện với bên thứ ba hay theo luật định (nếu có)

Mặt khác, chúng ta cũng cần làm rõ rằng, nếu trong một số trường hợp người thựchiện nghĩa vụ có căn cứ pháp luật, nhưng không biết về quy định pháp luật tương ứng màlàm vì sự tự nguyện, lòng nhân ái, thì điều kiện “không có nghĩa vụ” này còn được đảmbảo hay không? Có ý kiến cho rằng, BLDS 2015 đã có quy định về bồi thường thiệt hại dotình thế cấp thiết để “tạo cơ chế ràng buộc người gây ra thiệt hại phải bồi thường cho thiệthại mà họ gây ra.”6 (ở đây là người có công việc được thực hiện với người thực hiện côngviệc) Song, giả sử như không thể chứng minh được yếu tố “tình huống cấp thiết”, và thựchiện công việc đó vẫn được xem là nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, thì trong khi tổchức, thực hiện công việc nếu có tốn kém chi phí, việc đơn phương tạm ứng tiền riêng củamình để trả chi phí cũng có thể coi được là thực hiện công việc không có ủy quyền.7

- Thực hiện công việc một cách tự nguyện:

Một trong những điều kiện chủ chốt để xác định có nghĩa vụ phát sinh từ thực hiệncông việc không ủy quyền, là khi một chủ thể thực hiện công việc của người khác Xéttrong tương quan với hành vi pháp lý đơn phương (cùng là hành động xuất phát từ mộtphía), BLDS 2015 không đặt ra yêu cầu về năng lực chủ thể cho người thực hiện côngviệc không có ủy quyền Trong khi đó, để hành vi pháp lý đơn phương được pháp luậtcông nhận, nó phải đảm bảo thỏa điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự (điểm akhoản 1 Điều 117 BLDS 2015) Như vậy, “ai cũng có thể là người thực hiện công việckhông có ủy quyền”8

Mặt khác, thực hiện công việc không có ủy quyền lại đòi hỏi về tính “tự nguyện”,tương tự như quy định tại điểm b khoản 1 Điều 117 BLDS 2015 về điều kiện có hiệu lựccủa giao dịch dân sự: “chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện” Điểm cầnlưu ý ở đây là, nếu người thực hiện công việc một cách “ngẫu nhiên, không có chủ ý, hoặcthiếu tự nguyện (ví dụ do bị ép buộc hay nhầm lẫn)”9 thì sẽ không được xem là thực hiệncông việc không có ủy quyền Trong trường hợp đó, nghĩa vụ thanh toán của người có

Ngày đăng: 12/03/2023, 21:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w