Lênin đã định nghĩa “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại kh.
Trang 1Câu 1 Định nghĩa vật chất của Lênin
1 Định nghĩa Vật chất của V.I.Lênin
Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
2 Phân tích định nghĩa vật chất
Vật chất với tính cách là 1 phạm trù TH tức là vật chất đã được khái quát từ tất cả các sinh vật cụ thể Do đó, nó tồn tại vô cùng vô tận, không có khởi đầu, không có kết thúc, không được sinh ra, không bị mất đi; đây là phạm trù rộng nhất, vì thế không thể quy nó vào các vật cụ thể để hiểu nó
- Thuộc tính chung nhất của vật chất là thực tại khách quan, nghĩa là tồn tại thực và không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Nghĩa là vật chất là tất cả những gì tồn tại thực, tồn tại khách quan ở bên ngoài, độc lập với cảm giác, ý thức con người, không lệ thuộc vào cảm giác, ý thức Đây là thuộc tính quan trọng nhất của vật chất, là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không là vật chất Điều đó khẳng định vật chất có trước, cảm giác ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc khách quan của cảm giác, của ý thức Định nghĩa của Lênin về chật chất đã khảng định tư duy của con người có thể nhận thức được vật chất Rõ rang định nghĩa về vật chất của Lênin đã khắc phục được những hạn chế của quan niệm siêu hình, máy móc về vật chất của các nhà duy vật trước đó, đồng thời bác bỏ được thuyết không thể biết cũng như mọi biểu hiện của quan niệm duy tâm về vật chất
Trang 2Câu 2: Quy luật QHXS và LLSX Liên hệ thực tế Việt Nam.
1 Nội dung quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của LLSX
1.1 Khái niệm:- Lực lượng sản xuất là sự thống nhất hữu cơ giữa người lao động với tư
liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động
- QHSX là quan hệ giữa người với người trong sản xuất vật chất Quan hệ sản xuất được cấu thành từ các quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức quản lý và trao đổi hoạt động với nhau, quan hệ phân phối sản phẩm lao động, trong đó quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định
1.2 Nội dung quy luật
- Biện chứng giữa LLSX và QHSX là mối quan hệ khách quan, vốn có của mọi quá
trình sản xuất vật chất Nói cách khác, để tiến hành sản xuất vật chất con người phải thực hiện mối quan hệ “đôi”, quan hệ “kép”, quan hệ song trùng này Thiếu một trong hai quan hệ
đó, quá trình sản xuất vật chất không thể thực hiện được
- Trong mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thì lực lượng sản
xuất giữ vai trò quyết định
+ Lực lượng sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định sẽ làm cho quan hệ sản xuất phải biến đổi theo phù hợp với nó
+ Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó QHSX là “hình thức phát triển” tất yếu của lực lượng sản xuất Nghĩa là trạng thái mà ở đó QHSX, các yếu tố cấu thành của nó “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển
+ Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là sự phù hợp biện chứng, sự phù hợp bao hàm mâu thuẫn
+ sự phù hợp - không phù hợp - phù hợp là biểu hiện khách quan của quá trình tương tác giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất của mọi phương thức sản xuất trong lịch sử
- Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với sự phát triển lực lượng sản xuất
+ QHSX quy định mục đích của sản xuất, quy định hình thức tổ chức, quản lý sản xuất, quy định khuynh hướng phát triển của các nhu cầu về lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, từ đó hình thành hệ thống những yếu tố tác động trở lại đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất
+ Nếu QHSX phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nó sẽ tạo địa bàn phát triển lực lượng sản xuất, trở thành một trong những động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
+ nếu QHSX không phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
2 Liên hệ thực tế Việt Nam: Trước thời kỳ đổi mới, trong nhận thức và vận dụng quy
luật này ở các nước xã hội chủ nghĩa nói chung và ở những nước mà xuất phát điểm đi lên chủ nghĩa xã hội thấp như nước ta nói riêng đã mắc phải những lệch lạc sai lầm chủ quan đó là:
+ xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất một cách ồ ạt, trong khi đó nó đang
tạo địa bàn cho sự phát triển lực lượng sản xuất
+ xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất một cách tràn lan, trong khi trình độ lực
lượng sản xuất còn thấp kém và phát triển không đồng đều
Nước ta lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa từ một nước từ một nước nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, với LLSX đậm chất nông nghiệp với quan hệ làm chung, chia đều nên đã gặp phải những khó khăn lớn
Trước thời kì đổi mới nước ta nước đã thiết lập một chế độ công hữu về tư liệu sản xuất một cách ào ạt, Đồng thời, trong quá trình cải tạo nền sản xuất chỉ tập trung cải tạo QHSX, chủ trương xây dựng QHSX tiến bộ mở đường cho LLSX phát triển (đi ngược lại với quy luật QHSX phù hợp với phát triển của LLSX)
Trang 3Thực tế vận dụng quy luật này cho thấy chúng ta đã quá coi trọng vai trò của QHSX và cho rằng có thể đưa QHSX đi trước để mở đường, thúc đẩy LLSX cùng phát triển Việc áp dụng quan niệm ấy là hoàn toàn sai lầm, minh chứng cho điều đó là LLSX trong thời gian qua thấp kém, QHSX được duy trì ở trình độ quá cao Từ đó làm mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển LLSX với hình thức kinh tế - xã hội được áp đặt một cách chủ quan trên đất nước ta Mâu thuẫn đó đã để lại nhiều hậu quả nặng nề cho nền kinh tế nước nhà: kinh tế chậm phát triển, sản xuất trì trệ, tăng trưởng chỉ đạt 0,4% (trong khi chỉ tiêu đặt ra là 13-14%), tình trạng thiếu lương thực diễn ra gay gắt, VN là nước nông nghiệp nhưng lại đi nhập khẩu gạo năm 1980 phải nhập khẩu 1,576 triệu tấn lương thực, ngân sách thiếu hụt, giá cả hàng năm tăng 20%, nhập khẩu chiếm 4-5 phần xuất khẩu Nhà nước thiếu vốn đầu tư cho nền kinh tế, hàng tiêu dùng thiếu trầm trọng, lạm phát về kinh tế 747,7% , Qua đó, ta có thể thấy một thực tế của việc làm trái quy luật đã gây ra hậu quả nặng nề cho nền kinh tế đất nước là rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng Như vậy, QHSX không phù hợp với trình
độ LLSX sẽ kìm hãm sự phát triển của LLSX
- Từ 1986 đến nay: Ý thức được điều đó, bước vào thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đảng
ta đã chủ trương chuyển từ một nền kinh tế thuần nhất XHCN sang nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN Sau đổi mới LLSX ngày càng phát triển, QHSX cũng đa dạng
+ Chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta là sự vận dụng một cách đúng đắn và sáng tạo quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Chủ trương đó trước hết bắt nguồn từ thực trạng trình độ phát triển lực lượng sản xuất: còn thấp kém và phát triển không đồng đều (đa dạng trình độ) Để khai thác, phát huy được mọi năng lực, lực lượng sản xuất phải tạo lập nhiều loại hình quan hệ sản xuất thì mới phù hợp
+ Sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kỳ đổi mới đã làm cho nền kinh tế nước ta
có những bước phát triển vượt bậc Nền kinh tế thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, tạo đà cho
sự phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao thể hiện:
Kết quả 30 năm đổi mới : Sau 30 năm đổi mới, nước ta đã đạt được tựu quan trọng từ
một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH, tạo ra môi trường thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển Diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên (đạt ngưỡng thu nhập trung bình); đời sống nhân dân từng bước được cải thiện; đồng thời tạo ra nhu cầu và động lực phát triển cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, cụ thể:
- Về tăng trưởng kinh tế đã đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn hẳn thời kỳ trước đổi mới Sau giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990), với mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm chỉ đạt 4,4%, giai đoạn 1991-1995, GDP bình quân tăng 8,2%/năm; giai đoạn 1996-2000 vẫn duy trì tăng 7,6%/năm; giai đoạn 2001-2005, GDP tăng bình quân 7,34% giai đoạn 2011-2015 của Việt Nam tuy đã chậm lại nhưng vẫn đạt 5,9%/năm, là mức cao của khu vực và thế giới
- Quy mô nền kinh tế tăng nhanh đạt khoảng 204 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt gần 2.300 USD Lực lượng sản xuất có nhiều tiến bộ cả về số lượng và chất lượng Chất lượng tăng trưởng có mặt được cải thiện, trình độ công nghệ sản xuất có bước được nâng lên yếu tố năng suất tổng hợp TFP vào tăng trưởng tăng đến 2011-2015 đã đạt 28,94% Kinh tế
vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát
- Những nỗ lực đổi mới trong 30 năm qua đã giúp môi trường đầu tư liên tục được cải thiện, nhờ đó thu hút ngày càng nhiều hơn vốn đầu tư cho phát triển Cơ cấu kinh tế của Việt Nam bước đầu chuyển dịch theo hướng hiện đại Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm khu vực nông nghiệp, tăng khu vực dịch vụ và công nghiệp .Kim ngạch xuất khẩu thường xuyên tăng với tốc độ hai con số, giai đoạn 2011-2015 tăng đến 18%/năm
Trang 4- Các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá Ngành công nghiệp và xây dựng duy trì tốc độ tăng trưởng khá liên tục, tốc độ triển khai ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ được cải thiện Sản phẩm công nghiệp phát triển ngày càng đa dạng
và chất lượng, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh, bảo đảm cung cầu của nền kinh tế, giữ vững thị trường trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu
- Khu vực nông nghiệp phát triển khá ổn định từ lúc cả nuớc còn thiếu ăn nay đã trở thành nước xuất khẩu gạo với khối lượng lớn, đứng thứ hai thế giới; xuất khẩu càphê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, thủy sản với khối lượng lớn đứng thứ hạng cao trên thế giới
- Các ngành dịch vụ du lịch, bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý
đã phát triển đa dạng hơn, phát triển theo hướng tiến bộ, hiệu quả
- Kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội phát triển, đặc biệt là hạ tầng giao thông, điện, thông tin, viễn thông, thủy lợi, hạ tầng đô thị, giáo dục, y tế Việc ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao, đã tạo những tiền đề để bước đầu chuyển sang xây dựng kinh tế tri thức
- Hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã được thể chế hóa thành pháp luật (ban hành hiến pháp, bộ Luật, Pháp lệnh ), tạo hành lang pháp lý cho nền kinh tế vận hành có hiệu quả thúc đẩy việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN khẳng định nguyên tắc nền kinh tế có chế độ đa sở hữu, đa thành phần, nhiều hình thức phân phối; khẳng định nguyên tắc Nhà nước quản lý nền kinh tế theo theo các nguyên tắc của cơ chế thị trường; các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, tự do kinh doanh và cạnh tranh theo quy định của pháp luật Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; Kinh
tế tập thể bước đầu được đổi mới, Kinh tế tư nhân tăng nhanh về số lượng, từng bước nâng cao hiệu quả kinh doanh, giải quyết việc làm, đóng góp ngày càng lớn vào GDP Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã có những đóng góp quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh
tế-xã hội, giải quyết việc làm và xuất khẩu
- Qua 30 năm đổi mới, Việt Nam đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế Tích cực xây dựng Cộng đồng ASEAN 2015 và hoàn thiện thị trường trong nước đầy
đủ hơn theo cam kết WTO
- Những thành tựu đạt được là kết quả của con đường đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo Nó là kết quả của nhận thức đúng đắn quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển LLSX để phát triển kinh tế - xã hội hiện nay
Một số phương hướng để tiếp tục vận dụng đúng đắn quy luật này ở Việt Nam
- Không ngừng phát triển LLSX thông qua việc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, phát triển khoa học công nghệ, giáo dục, đào tạo
- Không ngừng xây dựng và phát triển các QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX thông qua việc xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế nhiều thành phần kinh tế theo định hướng XHCN
- Giữ vững định hướng XHCN nền kinh tế thị trường - Phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường.- Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Mối quan hệ mật thiết giữa phát triển LLSX với xây dựng hoàn thiện từng bước QHSX trong thời kì quá độ là mối quan hệ biện chứng, không tách dời nhau Qua đó, đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh việc phát triển mạnh mẽ LLSX với một trình độ khoa học công nghệ ngày càng cao làm cơ sở cho việc lựa chọn, vận dụng quy luật QHSX phù hợp với trình độ của LLSX Góp phần đưa nền kinh tế nước ta phát triển với tốc độ nhanh, bền vững, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân cả nước
Trang 5Câu 3: Phân biệt lượng giá trị hàng hóa trong công nghiệp và nông nghiệp:
Thước đo lượng giá trị hàng hóa là thời gian lao động xã hội cần thiết Thời gian lao động
xã hội cần thiết thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định Nó trùng với thời gian lao động cá biệt của những người cung cấp đại bộ phận loại hàng hoá nào đó trên thị trường và nó quyết định lượng giá trị xã hội của hàng hoá
* Phân biệt sự khác nhau lượng giá trị của hàng hóa trong hai ngành nông nghiệp và
công nghiệp
- Lượng giá trị của hàng hóa trong công nghiệp được xác định bằng thời gian lao động xã hội cần thiết hay thời gian hao phí của người sản xuất và cung cấp đại bộ phận khối lượng sản phẩm cung cấp trên thị trường
- Lượng giá trị của hàng hóa nông nghiệp được xác định căn cứ vào lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra trên ruộng đất xấu nhất, vì trong nông nghiệp ruộng đất là tư liệu
sx đặc biệt chỉ có hạn là do tư bản độc quyền tư hữu và độc quyền kinh doanh ruộng đất nhưng trên ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi thì đã được đưa vào sản xuất kinh doanh Nhu cầu lương thực của xã hội ngày càng tăng, để đáp ứng nhu cầu đó thì phải huy động cả vùng đất khó khăn tham gia vào sản xuất Để đảm bảo tái sản xuất trên những vùng đất khó khăn đó trước hết phải đảm bảo đủ bù đắp được chi phí sản xuất và có lãi cho nên lượng giá trị của nông sản phẩm được hình thành trên ruộng đất xấu nhất
Trang 6Câu 4: Khái niệm sản xuất hàng hóa, điều kiện ra đời, ưu thế, hạn chế của sản xuất hàng hóa, Liên hệ Lào Cai
1 Khái niệm: Sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức sản xuất trong đó sản phẩm làm ra
không phải để đáp ứng nhu cầu của người trực tiếp sản xuất mà đáp ứng nhu cầu của xã hội thông qua trao đổi mua bán
2 Trình bày điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa
- Điều kiện 1: Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hoá sản xuất, phân chia lao
động xã hội vào các ngành, các vùng, các lĩnh vực sản xuất khác nhau
- Kết quả của phân công lao động xã hội: vì có sự phân công lao động xã hội nên mỗi người, nhóm người chỉ sản xuất một hoặc một số sản phẩm khác nhau → nhu cầu phải trao đổi sản phẩm với nhau
Điều kiện 2: Có sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất
Khi sản xuất mang tính chất tư nhân, thì người sản xuất là người chủ sở hữu tư liệu sản xuất (TLSX) có quyền quyết định việc sử dụng TLSX, họ là những chủ thể sản xuất độc lập với nhau do đó sản phẩm họ làm ra thuộc quyền sở hữu của họ hoặc do họ chi phối Trong điều kiện đó, khi muốn tiêu dùng sản phẩm của nhau thì những người sx phải mua bán sản phẩm, tức là trao đổi dưới hình thái hàng hoá Phân công lao động xã hội làm cho lao động sản xuất hàng hoá mang tính chất lao động xã hội vì sản phẩm sx ra là để đáp ứng nhu cầu của xã hội Nhưng sự tách biệt tương đối về kinh tế khiến cho lao động của họ mang tính chất là lao động tư nhân, vì việc sản xuất cái gì, như thế nào lại là công việc riêng, mang tính độc lập của mỗi người Lao động tư nhân đó có thể phù hợp hoặc không phù hợp với lao động xã hội Mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá là mâu thuẫn giữa lao đông tư nhân và lao động xã hội là cơ sở, mầm mống của khủng hoảng sản xuất thừa
3 Ưu thế SX hàng hóa so với sản xuất tự cung, tự cấp:
Thứ nhất: Sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở của phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất Do đó, nó khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở sản xuất cũng như từng vùng, từng địa phương Đồng thời, sự phát triển của sản xuất hàng hóa lại có tác động trở lại, thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã hội, làm cho chuyên môn hóa lao động ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành,
các vùng ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc Từ đó, nó phá vỡ tính tự cấp tự túc, bảo thủ,
trì trệ, lạc hậu của mỗi ngành, mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của xã hội được đáp ứng đầy đủ hơn Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa mở rộng giữa các quốc gia, thì nó còn khai thác được lợi thế của các quốc gia với nhau.
Thứ hai: Trong nền sản xuất hàng hóa, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn lực mang tính hạn hẹp của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng, mỗi địa phương, mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực của xã hội Điều đó lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất thúc đẩy sản xuất phát triển
Thứ ba: Trong nền sản xuất hàng hóa, sự tác động của quy luật vốn có của sản xuất và trao đổi hàng hóa là quy luật giá trị, cung - cầu, cạnh tranh buộc người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn năng động, nhạy bén, biết tính toán, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, cải tiến hình thức, quy cách và chủng loại hàng hóa, làm cho chi phí sản xuất hạ xuống đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng cao hơn
Thứ tư: Trong nền sản xuất hàng hóa, sự phát triển của sản xuất, sự mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa các nước không chỉ làm cho đời sống vật chất
mà cả đời sống văn hóa, tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn
Trang 74 Hạn chế của SX hàng hóa: Bên cạnh mặt tích cực, sản xuất hàng hóa cũng có những
mặt trái của nó như phân hóa giàu - nghèo giữa những người sản xuất hàng hóa, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng, phá hoại môi trường sinh thái, xã hội, v.v
5 Liên hệ tại Lào Cai:
Lào Cai nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, là tỉnh biên giới, luôn giữ vị trí trọng yếu trong xây dựng và bảo vệ đất nước Ngay từ buổi bình minh dựng nước, Lào Cai đã là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa quan trọng ở vùng thượng lưu sông Hồng Việc phát triển, sản xuất hàng hóa có những thuận lợi và khó khăn như sau:
1 Thuận lợi: Lào Cai có điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi, nguồn tài nguyên phong
phú, quý hiếm (khoáng sản, thủy năng, rừng, tài nguyên du lịch…) Được xác định là “cầu nối”, “cửa ngõ” trên trên tuyến HLKT Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng
Ninh; là trung tâm chuyển tiếp giữa các tỉnh Đông Bắc và Tây Bắc của Việt Nam thông qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai Liền kề thị trường lớn Trung Quốc Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển thương mại từng bước được đầu tư và cải thiện Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Lào Cai đạt khá cao (trung bình 12,51%/năm thời kỳ 2001-2011); cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ; các mặt xã hội đều có bước phát triển, tạo thuận lợi cho phát triển thị trường và thương mại nội địa
2 Khó khăn: Phần lớn địa hình bị chia cắt mạnh, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội yếu
kém gây khó khăn cho việc tổ chức sản xuất, đặc biệt là lưu thông, tiêu thụ hàng hóa Quy
mô nền kinh tế còn nhỏ bé; GDP bình quân đầu người, chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp; hiệu quả kinh tế chưa cao; chưa có khả năng tự cân đối thu, chi ngân sách Cơ cấu kinh
tế chuyển dịch còn chậm, tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp và thủy sản trong cơ cấu kinh tế của Tỉnh còn cao Mặt bằng chung về trình độ dân trí thấp Khó khăn, thách thức việc tham gia ACFTA (cạnh tranh về thị trường tiêu thụ hàng hóa gia tăng, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại trên tuyến biên giới…) Khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu trên thị trường trong nước và quốc tế còn yếu Số lượng, chất lượng và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh còn rất hạn chế
3 Nhận thức được điều đó cấp ủy, chính quyền đưa ra chủ trương, định hướng cho việc
sản xuất hàng hóa cụ thể Đến năm 2017 kết quả đạt được:
Kinh tế Lào Cai phát triển toàn diện, tăng trưởng nhanh cả về quy mô và tốc độ, năng lực nội sinh của kinh tế từng bước được nâng lên Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được nâng cấp Tuyến đường cao tốc Hà Nội Lào Cai vận hành đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế
-xã hội của tỉnh và các tỉnh Tây Bắc Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), cải cách hành chính luôn được đánh giá trong tốp đầu toàn quốc Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của tỉnh Lào Cai trong hơn 25 năm qua đạt 10,5%/năm Quy mô GDP ngày càng lớn, năm 2010 gấp 6,1 lần năm 1991, năm 2016 gấp 1,8 lần năm 2010 kinh tế tỉnh Lào Cai được duy trì ổn định, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong điều kiện tình hình quốc tế và trong nước có nhiều biến động; tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm của tỉnh (GRDP) năm
2017 đạt 10,15% , duy trì cơ cấu kinh tế tích cực, hợp lý (tỷ trọng trong tổng GRDP: Ngành công nghiệp – xây dựng 43,2%; dịch vụ chiếm 42,56%; nông nghiệp 14,24%); GRDP bình
quân đầu người đạt 51,2 triệu đồng, tăng 11,3% so năm 2016; Môi trường đầu tư kinh doanh không ngừng được cải thiện, phong trào khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp được đẩy mạnh Xuất nhập khẩu hàng hóa đạt kết quả ấn tượng Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm
2017 đạt 213,77 tỷ USD tăng 21,1 % so với năm 2016
Trang 8Sự tăng trưởng giúp Lào Cai dần thoát khỏi tỉnh nghèo, trở thành tỉnh phát triển của vùng Tây Bắc Cơ cấu và quy mô nền kinh tế chuyển dịch theo hướng: Giảm tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản; tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ Nông thôn Lào Cai có bước phát triển với 100% xã có đường ô tô và điện lưới đến trung tâm xã; 100% thôn, bản có đường giao thông liên thôn Đến năm 2016 có 28 xã đạt chuẩn nông thôn mới Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư, nâng cấp Các mặt của đời sống xã hội của tỉnh Lào Cai có chuyển biến tích cực, đời sống vật chất của nhân dân được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, an sinh xã hội, Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ngày càng phong phú, bản sắc văn hóa được giữ gìn, phát huy An sinh xã hội ngày càng được bảo đảm
Bộ mặt nông thôn thay đổi theo hướng văn minh Tiềm lực quốc phòng, an ninh được củng
cố và tăng cường, quan hệ đối ngoại được mở rộng
4 Những hạn chế: Mặc dù đạt được nhiều kết quả quan trọng Quy mô sản xuất hàng hóa và
thị trường nội Tỉnh còn nhỏ, phát triển không đồng đều, hiệu quả chưa cao Hệ thống kết cấu
hạ tầng cho sản xuất hàng hóa trên địa bàn mặc dù đã được quan tâm đầu tư nhưng vẫn thiếu
về số lượng, kém về chất lượng, phần lớn chưa đáp ứng được yêu cầu hoạt động hiện nay Hoạt động kinh doanh XNK qua các cửa khẩu của Tỉnh phát triển khá nhưng không ổn định, lúc tăng lúc giảm Quy mô xuất khẩu của Tỉnh còn nhỏ, chất lượng tăng trưởng và hiệu quả thấp Hoạt động TMBG còn bất cập, chưa được kiểm soát chặt chẽ
5 Các giải pháp: - Nâng cao nhận thức và vai trò của sản xuất hàng hóa đối với phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lào Cai và cả nước: - Xây dựng Chiến lược phát triển về sản xuất hàng hóa của Tỉnh - Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển sản xuất hàng hóa về chính sách đầu tư, chính sách xuất nhập khẩu, hoàn thiện chính sách phát triển thị trường nội địa: Đối với khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa: Đảm bảo cung ứng hàng hoá, vật tư phục
vụ sản xuất, tiêu dùng của nhân dân và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá sản xuất trên địa bàn Nhà nước cần có biện pháp giải quyết các khó khăn về vốn, tài chính cho các doanh nghiệp hoạt
động ở thị trường nông thôn, miền núi - Hoàn thiện chính sách khoa học và công nghệ: Tích
cực thúc đẩy và hỗ trợ việc áp dụng kỹ thuật quản lý kinh doanh, phân phối hiện đại trong các DN thương mại, dịch vụ trên địa bàn
6 Một số kiến nghị
Với Chính phủ: Nghiên cứu, xây dựng Chiến lược phát triển sản xuất hàng hóa với Trung Quốc Với Bộ Công Thương: Chủ trì nghiên cứu đồng bộ hóa chính sách sản xuất,
tiêu thụ, XNK hàng hóa Đẩy mạnh triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại biên giới
Với UBND tỉnh Lào Cai: Sớm triển khai xây dựng và phê duyệt Chiến lược, Quy hoạch
phát triển về sản xuất hàng hóa trên địa bàn Tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Trang 9Câu 5: Những nhiệm vụ kinh tế cơ bản của thời kỳ quá độ lên cnxh ở Việt Nam
Một là, thực hiện phát triển lực lượng sản xuất
Vận dụng quan điểm của CN Mác-Lênin, TTHCM, Đảng ta khẳng định chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp ; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới
Về nhiệm vụ phát triển lực lượng sản xuất thông qua công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân
Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường; xây dụng cơ cấu
kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ
Coi trọng phát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo có tính nền tảng
và các ngành công nghiệp có lợi thế; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công nghệ cao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới Bảo đảm phát triển hài hòa giữa các vùng, miền; thúc đẩy phát triển nhanh các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời tạo điều kiện phát triển các vùng có nhiều khó khăn Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đồng th i ch đ ng, tích c c h i nh p kinh t qu c t ờ ủ ộ ự ộ ậ ế ố ế
Hai là, từng bước xây dựng quan hệ sản xuất mới tiến hộ, phù hợp với yêu cầu phát triển trình độ lực lượng sản xuất mới
Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, về nhiệm vụ từng bước xây dụng quan hệ sản xuất mới, Đảng chủ trương thực hiện phát triển kinh tế nhiều thành phần thông qua phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh
tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối
Phân định rõ quyền của người sở hữu, quyền của người sử dụng tư liệu sản xuất và quyền quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, bảo đảm mọi tư liệu sản xuất đều có người làm chủ, mọi đơn vị kinh tế đều tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình
Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội
Nhà nước quản lý nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh tế …
xã hội bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất
Ba là, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao
vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới
Trang 10Câu 6: Liên minh văn hóa ? Liên hệ Lào Cai:
1 Nội dung văn hóa, xã hội của liên minh công – nông – trí thức trong thời kì quá
độ lên chủ nghĩa xã hội
- Nội dung văn hóa, xã hội của liên minh thực chất là sự đoàn kết, hợp lực của công nhân, nông dân, trí thức nhằm xây dựng nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa
- Nội dung văn hóa, xã hội của liên minh đòi hỏi phải đảm bảo kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, tiến bộ và công bằng xã hội; xây dựng nền văn hóa mới
xã hội chủ nghĩa; bảo vệ môi trường sinh thái; xây dựng nông thôn mới; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong đó công nhân, nông dân, trí thức là nguồn nhân lực quan trọng và cơ bản nhất của quốc gia
- Liên minh trên lĩnh vực văn hóa, xã hội đòi hỏi
+ Phải thực hiện xóa đói giảm nghèo
+ Thực hiện tốt các chính sách xã hội đối với công nhân, nông dân, trí thứ
+ Chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất lượng sống cho nhân dân; nâng cao dân trí + Phải phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao trình độ khoa học và công nghệ
+ Chống các biểu hiện tiêu cực và tệ nạn xã hội
+ Xây dựng quy hoạch tổng thể về phát triển khu công nghiệp, khu đô thị phải gắn với đảm bảo phát triển nông thôn và nông nghiệp bền vững
Đây là nội dung cơ bản, lâu dài tạo điều kiện cho liên minh phát triển bền vững Do vậy, phát triển giao dục và đào tạo, đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ hiện đại; chống các biểu hiện tiêu cực và tệ nạn xã hội Xây dựng quy hoạch tổng thể về phát triển khu công nghiệp, khu đô thị phải gắn với đảm bảo phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới bền vững
2 Liên hệ với thực tế
Lào Cai nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, là tỉnh biên giới, luôn giữ vị trí trọng yếu trong xây dựng và bảo vệ đất nước Ngay từ buổi bình minh dựng nước, Lào Cai đã là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa quan trọng ở vùng thượng lưu sông Hồng, với 9 đơn vị hành chính (8 huyện, 01 thành phố) 25 thành phần dân tộc, dân số 674 nghìn người, diện tích 6.383km2
- Những tác động đến liên minh công nông trí về văn hóa như sau:
- Thuận lợi: Lào Cai có điều kiện tự nhiên, khí hậu thuận lợi, nguồn tài nguyên phong phú, quý hiếm (khoáng sản, thủy năng, rừng, tài nguyên du lịch…) Được xác định là “cầu nối”, “cửa ngõ” trên trên tuyến HLKT Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng
Ninh; là trung tâm chuyển tiếp giữa các tỉnh Đông Bắc và Tây Bắc của Việt Nam thông qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai Liền kề thị trường lớn Trung Quốc Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển thương mại từng bước được đầu tư và cải thiện Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Lào Cai đạt khá cao (trung bình 12,51%/năm thời kỳ 2001-2011); Dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng và Chính phủ; Đảng bộ và chính quyền, nhân dân trong tỉnh Lào Cai đã có nhiều chính sách để phát triển nông nghiệp, xây dựng NTM, nâng cao đời sống của người nông dân dựa trên sự kế thừa, phát huy vai trò sức mạnh có khối liên minh công - nông - trí thức và vận dụng linh hoạt các nguồn lực sẵn có, tận dụng sự ủng hộ từ các nguồn lực bên ngoài (vốn vay ODA, vay ưu đãi, viện trợ không hoàn lại, các doanh nghiệp, doanh nhân…)
để triển khai thực hiện thành công Chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững
- Khó khăn: Lào Cai là một tỉnh vùng núi, biên giới, vùng nghèo, đồng bào dân tộc thiểu
số ở phía Bắc của Việt Nam, dân tộc thiểu số chiếm 80%, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh trên 14%, trong đó riêng vùng nông thôn tỷ lệ hộ nghèo đa chiều còn ở ngưỡng cao, đặc biệt có những
xã lên tới 80-90% Với hơn 70% dân cư sống ở vùng nông thôn,