Lạm phát tăng cao, kéo theo nhiềubất lợi cho nền kinh tế; lãi suất gia tăng có thể ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởngkinh tế và kéo theo đó là giá cả bất ổn, đời sống của nhân dân bị ảnh h
Trang 1CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, lạm phát là một trong những vấn đề quan trọng có tác động lớnđến sự phát triển nền kinh tế Việt Nam Theo thống kê thì từ năm 2004 trở lạiđây, lạm phát bắt đầu tăng mạnh trở lại, đạt đỉnh điểm trong năm 2008 ở mức20%, giảm xuống 7% trong năm 2009, tăng trở lại gần 12 % trong năm 2010 vàvẫn tăng mạnh trong 4 tháng đầu năm 2011 Lạm phát tăng cao, kéo theo nhiềubất lợi cho nền kinh tế; lãi suất gia tăng có thể ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởngkinh tế và kéo theo đó là giá cả bất ổn, đời sống của nhân dân bị ảnh hưởng, đặcbiệt là những người có thu nhập thấp
Tuy nhiên, sự hiểu biết về tình hình lạm phát và ảnh hưởng của nó đối vớinhiều người còn rất mơ hồ, chưa thấy rõ được bản chất
Do vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài này để thực hiện
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Những ảnh hưởng của lạm phát tới người thu nhập thấp
- Những giải pháp khắc phục hậu quả của lạm phát
3 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài
- Khái niệm, diễn biến, hậu quả, nguyên nhân của lạm phát là gì?
Trang 2- Tình hình lạm phát ở Việt Nam các năm gần đây như thế nào?
- Ảnh hưởng của lạm phát tới người thu nhập thấp ra sao?
- Những biện pháp nào để khắc phục hậu quả của lạm phát?
4 Giới hạn nghiên cứu
4.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu (Chủ điểm nghiên cứu)
Tình hình lạm phát ở Việt Nam và những ảnh hưởng của nó tới người thunhập thấp
4.2 Giới hạn không gian nghiên cứu: ở Việt Nam
4.3 Giới hạn thời gian nghiên cứu: những năm gần đây (2004-2011)
5 Ý nghĩa nghiên cứu
- Đề tài giúp có cái nhìn khái quát về tình hình lạm phát ở Việt Nam vànhững ảnh hưởng của nó tới người thu nhập thấp hiện nay
- Đưa ra các giải pháp để khắc phục hậu quả của lạm phát
- Là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm tới vấn đề này
Trang 3CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trong kinh tế học, lạm phát (inflation) là sự tăng lên theo thời gian của mứcgiá chung của nền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thịtrường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thìlạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác.Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệtrong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người tahiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu Phạm viảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa các nhàkinh tế học vĩ mô
Trong bộ sách Tư Bản của mình, Các Mác viết: "Việc phát hành tiền giấyphải được giới hạn số lượng vàng hoặc bạc thực sự lưu thông nhờ các đại diệntiền giấy của mình" Điều này có nghĩa là khi khối lượng tiền giấy do nhà nướcphát hành lưu thông vướt quá số lượng vàng mà nó đại diện thì giá trị của tiềngiấy giảm xuống, giá cả tăng vọt và tình trạng lạm phát xuất hiện Từ đây, ôngcho rằng lạm phát là "bạn dường" của chủ nghĩa tư bản Không những CNTBbóc lột người lao động bằng giá trị thặng dư mà còn gây ra lạm phát làm giảmtiền lương của người lao động
Nhà kinh tế học Samuelson cho rằng : " Lạm phát xảy ra khi mức chung củagiá cả và chi phí tăng - giá bánh mì, dầu xăng, xe ô tô tăng, tiền lương, giá đất,tiền thuê tư liệu sản xuất tăng" Ông thấy rằng lạm phát chính là biểu thị sự tănglên của giá cả
Milton Friedman lại quan niệm khác: "Lạm phát là việc giá cả tăng nhanh
và kéo dài" Ông cho rằng lạm phát là một hiện tượng tiền tệ phát triển, ảnhhưởng đến nền kinh tế quốc dân của mỗi nước thì lạm phát có thể xảy ra bất kỳthời điểm nào Nó chính là một hiện tượng tất yếu của tài chính - tiền tệ
Một định nghĩa nữa về lạm phát do các nhà kinh tế học hiện đại đặt ra và nóđược sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường:"Lạm phát là sự tănglên của mức giá trung bình theo thời gian"
Đo lường lạm phát:
Trang 4Lạm phát 1 được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả củamột lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tế Không tồn tại mộtphép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì giá trị của chỉ số này phụ thuộcvào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hóa trong chỉ số, cũng như phụ thuộcvào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện Các phép đo phổ biến củachỉ số lạm phát bao gồm:
1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
2 Chỉ số giá sinh hoạt (CLI)
3 Chỉ số giá sản xuất (Producer Price Index - PPI)
1 Thiểu phát: Mức lạm phát gần bằng không hoặc âm
2 Lạm phát thấp: Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá từ 0.3đến dưới 10 phần trăm một năm
3 Lạm phát cao (Lạm phát phi mã): Mức lạm phát tương ứng với tốc
độ tăng giá trong phạm vi hai hoặc ba chữ số một năm
4 Siêu lạm phát: Siêu lạm phát là lạm phát "mất kiểm soát", một tìnhtrạng giá cả tăng nhanh chóng khi tiền tệ mất giá trị Không có định nghĩa chínhxác về siêu lạm phát được chấp nhận phổ quát Một định nghĩa cổ điển về siêulạm phát do nhà kinh tế người Mỹ Phillip Cagan đưa ra là mức lạm phát hàngtháng từ 50% trở lên (nghĩa là cứ 31 ngày thì giá cả lại tăng gấp đôi) Theo địnhnghĩa này thì cho đến nay thế giới mới trải qua 15 cuộc siêu lạm phát
Trang 5Nguyên nhân gây ra lạm phát:
Các nguyên nhân khác của lạm phát:
Lạm phát do cầu thay đổi
P3
P2
P1
Yn Yt
Trang 6Những người theo học thuyết Keynes nhấn mạnh việc giảm cầu nói chung,thông thường là thông qua các chính sách tài chính để giảm nhu cầu Họ cũnglưu ý đến vai trò của chính sách tiền tệ, cụ thể là đối với lạm phát của các hànghóa cơ bản từ các công trình nghiên cứu của Robert Solow Các nhà kinh tế họctrọng cung chủ trương kiềm chế lạm phát bằng cách ấn định tỷ giá hối đoái giữatiền tệ và một số đơn vị tiền tệ tham chiếu ổn định như vàng, hay bằng cách giảmthuế suất giới hạn trong chế độ tỷ giá thả nổi để khuyến khích tích lũy vốn Tất
cả các chính sách này đã được thực hiện trong thực tế thông qua các tiến trình
Trang 7CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong bài viết này người viết sử dụng các phương pháp: trích dẫn, thống
kê và đối sánh phối hợp với phương pháp qui nạp và suy diễn
Trích dẫn tài liệu là phương pháp được chuẩn hóa trong việc ghi nhậnnhững nguồn tin và ý tưởng mà người viết đã sử dụng trong bài viết của mìnhtrong đó người đọc có thể xác định rõ từng tài liệu được trích dẫn, tham khảo.Các trích dẫn nguyên văn, các số liệu và thực tế, cũng như các ý tưởng và lýthuyết lấy từ các nguồn đã được xuất bản hoặc chưa được xuất bản đều cầnphải được trích dẫn Khi làm bài Người viết đã sử dụng phương pháp này đểtrích tư liệu, để bài viết có thông tin xác đáng hơn
Ví dụ : nhờ có trích dẫn tài liệu như “Trong kinh tế học; hoặc theo quanđiểm của Milton Friedman; Nhà kinh tế học Samuelson; Các Mác; các nhàkinh tế học hiện đại … chúng ta hiểu rõ hơn khái niệm về lạmphát (inflation)
Hay từ các chỉ số đo lường lạm phát: Chỉ số giá tiêu dùng (CPI); Chỉ số giásinh hoạt (CLI); Chỉ số giá sản xuất (Producer Price Index - PPI); Chỉ số giá bánbuôn;Chỉ số giá hàng hóa; Chỉ số giảm phát GDP; Chỉ số giá chi phí tiêu dùng
cá nhân (PCEPI)… Chúng ta hiểu rõ hơn về các nguyên nhân gây ra sự lạmphát (inflation) Từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục…
Ngoài ra, đề tài tìm hiểu về “Lạm phát ở Việt Nam và những ảnh hưởng của nó tới đời sống cuả người thu nhập thấp trong những năm gần đây” còn sử dụng nhiều phương pháp khác là thống kê và đối sánh Bởi
vì đọc tài liệu, trích dẫn tài liệu rồi thống kê số liệu cụ thể và đối sánh lại, đểtìm ra những các nguyên nhân gây ra sự lạm phát (inflation), sự ảnh hưởng
Trang 8của lạm phát tới đời sống của người dân Việt Nam nói chung và những người
có thu nhập thấp nói riêng
Phương pháp qui nạp, suy diễn được phối hợp trong quá trình vận dụng phân tích khái quát chung về lạm phát, tình hình lạm phát ở Việt Nam, những ảnh hưởng của lạm phát tới người thu nhập thấp, và lựa chọn những giải phápkhắc phục hậu quả của lạm phát nhằm nâng cao mức sống của người dân
Trang 9là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác Thôngthường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trongphạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu
là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu Phạm vi ảnhhưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh
tế học vĩ mô Ngược lại với lạm phát là giảm phát Một chỉ số lạm phát bằng 0hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự "ổn định giá cả"
1.2 Diễn biến:
Biểu hiện của lạm phát là tiền giấy bị mất giá, giá cả hàng hóa tăng
Lúc đầu giá vàng tăng, sau đó lan rộng ra đối với giá cả các hàng hóa khác,nhưng giá cả các loại hàng hóa tăng không giống nhau Đối với hàng tư liệu tiêudùng thiết yếu (lương thực, thực phẩm, hàng may mặc), giá cả tăng cao so vớicác hàng tiêu dùng khác Đối với tư liệu sản xuất thì giá cả tăng nhanh nhất lànhững vật tư nguyên liệu quan trọng (sắt, thép, kim loại…)
Giá cả hàng hóa tăng lên làm cho đời sống người lao động ngày càng khókhăn, vì vậy cơ cấu tiêu dùng của người lao động sẽ bị thay đổi theo chiều
hướng giảm tiêu dùng xa xỉ, lâu dài, tập trung cho tiêu dùng trước mắt Điều đókhiến cho chỉ số lạm phát của từng nhóm mặt hàng có thể không giống nhau,thậm chí có những mặt hàng giảm giá, nhưng chỉ số giá chung thì vẫn tăng
1 Theo http://vi.wikipedia.org
Trang 10Ngoài những biểu hiện nói trên, lạm phát còn biểu hiện là tỷ giá ngoại tệ tăngliên tục, tức là tiền trong nước bị giảm giá còn ngoại tệ thì tăng giá.
Thông thường trong nước có lạm phát, tiền giấy bị mất giá so với vàng, giávàng trong nước tăng thì nó cũng sẽ làm tỷ giá ngoại tệ tăng Điều này đối vớinước có lạm phát cũng có lợi thế là có thể đẩy mạnh được xuất khẩu hàng hóa
Tại Việt Nam, từ năm 1990 trở về trước, tỷ lệ tăng giá (lạm phát) cao hơn tỷ
lệ tăng trưởng tiền tệ, chứng tỏ lạm phát rất nghiêm trọng
Lạm phát có ba mức độ khác nhau:
- Lạm phát vừa phải: (Reasonable Inflation): đó là lạm phát mà tỷ lệ tănggiá cả hàng hóa trong khoảng 10% trở lại Mới đầu lạm phát này còn đượcgọi là lạm phát một con số, người ta cho rằng lạm phát một con số là lạmphát có thể chấp nhận được, nhiều nước coi lạm phát một con số như là mộtchính sách của nhà nước để phát triển kinh tế
- Lạm phát cao: là lạm phát mà chỉ số tăng của giá cả là tương đối cao Đó
là mức lạm phát ở hai con số (dưới 100%), còn gọi là lạm phát thực sự
- Siêu lạm phát: đó là lạm phát với cường độ lớn từ 100% lên vài ba trămphần trăm mỗi năm Với mức độ lạm phát này thì nó ảnh hưởng ghê gớmđến đời sống kinh tế xã hội
1.3 Hậu quả:
Trang 11Ngoài trường hợp lạm phát nhỏ, lạm phát vừa phải có tác dụng tích cực đến
sự phát triển của nền kinh tế xã hội, còn lại nói chung lạm phát đều gây ảnhhưởng xấu đến quá trình phát triển đi lên của nền kinh tế xã hội Lạm phát gây
ra một số hậu quả như:2
- Tác hại thứ nhất: là làm cho tiền tệ không còn giữ được chức năng thước
đo giá trị hay nói đúng hơn là thước đo này co dãn thất thường, do đó xã hộikhông thể tính toán hiệu quả, điều chỉnh các hoạt động kinh doanh của mình
-Thứ hai, tiền tệ và thuế là 2 công cụ quan trọng nhất để nhà nước điều tiếtnền kinh tế đã bị vô hiệu hóa, vì tiền tệ bị mất giá 3 tin vào đồng tiền nữa, cácbiểu thuế không thể điều chỉnh kịp với mức độ tăng bất ngờ của lạm phát và
do vậy tác dụng điều chỉnh của thuế bị hạn chế, ngay cả trong trường hợp nhànước có thể chỉ số hóa luật thuế thích hợp với mức lạm phát, thì tác dụng điềuchỉnh của thuế cũng vẫn bị hạn chế
-Thứ ba, phân phối lại thu nhập, làm cho một số người nắm giữ các hànghóa có giá trị tăng đột biến giàu lên nhanh chóng và những người có các hànghóa mà giá cả của chúng không tăng hoặc tăng chậm và người giữ tiền bịnghèo đi
-Thứ tư, kích thích tâm lý đầu cơ tích trữ hàng hóa, bất động sản, vàngbạc…gây ra tình trạng khan hiếm hàng hóa không bình thường và lãng phí
-Thứ năm, xuyên tạc bóp méo các yếu tố của thị trường làm cho các điềukiện của thị trường bị biến dạng Hầu hết các thông tin kinh tế đều thể hiệntrên giá cả hàng hóa, giá cả tiền tệ, giá cả lao động…Một khi những giá cả nàytăng hay giảm đột biến và liên tục thì các yếu tố của thị trường không thể tránhkhỏi bị thổi phồng hoặc bóp méo
2 Theo http://ngocngoctan.wordpress.com
Trang 12-Thứ sáu, sản xuất phát triển không đều, vốn chạy vào những ngành nào cólợi nhuận cao.
-Thứ bảy, ngân sách bội chi ngày càng tăng trong khi các khoản thu ngàycàng giảm về mặt giá trị
-Thứ tám, đối với ngân hàng, lạm phát làm cho hoạt động bình thường củangân hàng bị phá vỡ, ngân hàng không thu hút được các khoản tiền nhàn rỗitrong xã hội
-Thứ chín, đối với tiêu dùng: làm giảm sức mua thực tế của nhân dân vềhàng tiêu dùng và buộc nhân dân phải giảm khối lượng hàng tiêu dùng, đặcbiệt là đời sống cán bộ công nhân viên ngày càng khó khăn Mặt khác lạmphát cũng làm thay đổi nhu cầu tiêu dùng, khi lạm phát gay gắt sẽ gây nênhiện tượng là tìm cách tháo chạy ra khỏi đồng tiền và tìm mua bất cứ hàng hóa
dù không có nhu cầu Từ đó làm giàu cho những người đầu cơ tích trữ
Tóm lại: Hậu quả của lạm phát rất nặng nề và nghiêm trọng Lạm phát gây
ra hậu quả đến toàn bộ đời sống kinh tế xã hội của môi nước Lạm phát làmcho việc phân phối lại sản phẩm xã hội và thu nhập trong nền kinh tế qua giá
cả đều khiến quá trình phân hóa giàu nghèo nghiêm trọng hơn Lạm phát làmcho một nhóm này nhiều lợi nhuận trong khi nhóm khác bị thiệt hại nặng nề.Nhưng suy cho cùng, gánh nặng của lạm phát lại đè lên vai của người laođộng, chính người lao động là người gánh chịu mọi hậu quả của lạm phát.Chính vì các tác hại trên, việc kiểm soát lạm phát, giữ lạm phát ở mức độhợp lý và tỷ lệ lạm phát thấp (Tỷ lệ lạm phát phù hợp với nhịp độ tăng trưởngkinh tế) trở thành một trong những mục tiêu lớn của kinh tế vĩ mô Tuy nhiên,mục tiêu kiềm chế lạm phát không đồng nghĩa với việc đưa tỷ lệ lạm phátbằng không Bởi lẽ, lạm phát không hoàn toàn tiêu cực, nếu duy trì lạm phát ở
Trang 13một mức độ vừa phải, kiềm chế điều tiết được mức lạm phát đó thì có lợi cho
sự phát triển kinh tế, lạm phát đó không còn là một căn bệnh nguy hiểm nữa
mà nó lại trở thành một công cụ điều tiết kinh tế
1.4 Nguyên nhân:
Mỗi một loại lạm phát có những nguyên nhân của nó, nguyên nhân của lạmphát vừa phải có điều tiết khác với nguyên nhân của siêu lạm phát; nguyên nhânlạm phát của một nền kinh tế phát triển có hiệu quả khác với nguyên nhân lạmphát của một nền kinh tế suy thoái không có hiệu quả Song dù có những sựkhác nhau như thế nào đi nữa, các cuộc lạm phát đều có những nguyên nhân cótính chất chung Những nguyên nhân đó cụ thể là:
- Những nguyên nhân do phương pháp tính hay nói chung là nhữngnguyên nhân này liên quan đến các chủ thể kinh doanh: việc thay đổi giá nhâncông, giá nguyên vật liệu…ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm, từ đó dẫn đếngiá của sản phẩm trên thị trường tăng cao, đây cũng có thể là nguyên nhân gây
ra lạm phát
- Những nguyên nhân có liên quan đến chính sách của nhà nước: việc thayđổi, ban hành mới các chính sách của Nhà nước ví dụ như chính sách Thuế,chính sách ưu tiên phát triển cho một số ngành nghề, lĩnh vực, thay đổi cơ cấukinh tế…có thể là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự phát triển mất cânđối giữa các ngành nghề và dẫn đến lạm phát
- Những nguyên nhân có liên quan đến các điều kiện quốc tế: giá xăng dầutrên thế giới tăng, giá vàng tăng…có thể gây ra lạm phát ở một nước
- Những nguyên nhân có liên quan đến các điều kiện tự nhiên: bão lụt, hạnhán…
Trang 14- Những nguyên nhân bắt nguồn từ tâm lý của dân chúng: Khi thị trườngbất động sản ở Việt Nam đang rối loạn, giá cả một số mặt hàng đang leo thanghàng ngày, gây tâm lý bất ổn trong dân chúng thì tiếp đó (đầu năm 2004) BộNội vụ công bố dự kiến tăng lương mới (thực tế tăng từ 1/10/2004) đã kíchthích tâm lý tăng tiêu dùng của dân chúng, làm cho giá cả các mặt hàng tiêudùng tăng nhanh từ đầu năm (thông thường là tăng vào cuối năm) Mặt khác khidân chúng đang lo sợ sự sụt giá của đồng tiền Việt Nam thì NHNN Việt Nam lạiphát hành thêm loại tiền mệnh giá 100.000 đồng mới vào lưu thông (gấp đôimệnh giá lớn nhất trước đó) Vào cuối năm 2003, NHNN Việt Nam lại đưa tiếploại tiền polyme mới với các mệnh giá 50.000, 500.000, 100.000 vào lưu thông.Đặc biệt là đồng tiền với mệnh giá 500.000 (lớn gấp 10 lần so với đồng tiền cómệnh giá lớn nhất trước đó) đã tiếp tục tác động xấu đến tâm lý của dân chúng.Dân chúng cho rằng NHNN Việt Nam đang đưa thêm vào lưu thông một khốilượng tiền rất lớn và vì vậy giá trị đồng tiền Việt Nam sẽ giảm mạnh Do đó dânchúng càng có xu hướng chuyển từ tài sản tiền tệ VNĐ sang các tài sản tài chínhkhác và càng khuyến khích tâm lý tiêu dùng Kết quả là giá cả các mặt hàngtrong nền kinh tế tiếp tục gia tăng.3
Tuỳ theo các điều kiện cụ thể, mà có thể có những cuộc lạm phát bắt nguồn từmột, hoặc nhiều nguyên nhân
3 Theo www.dayconlamgiau.com “Lạm phát ở Việt Nam hiện nay – Nguyên nhân và giải pháp khắc phục”
Trang 152 Tình hình lạm phát ở Việt Nam những năm gần đây
Như chúng ta đã biết, lạm phát là một trong bốn yếu tố quan trọng nhất củamọi quốc gia (tăng trưởng cao, lạm phát thấp, thất nghiệp ít, cán cân thanh toán
có số dư) Tình hình lạm phát hiện nay ở Việt Nam lên tới mức báo động là 2con số, vượt qua ngưỡng lạm phát cho phép tối đa là 9% của mỗi quốc gia Điềunày sẽ dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống kinh tế của chính phủ: làm suyvong nền kinh tế quốc gia Bên cạnh đó là sự tác động mạnh tới đời sống củangười dân, nhất là dân nghèo khi vật giá ngày càng leo thang Vậy nhữngnguyên nhân này là do đâu?
Lạm phát là sự tăng lên của mức giá chung của nền kinh tế trong một thời hạnnhất định Trong mỗi giai đoạn có thể có giá mặt hàng này tăng, mặt hàng kiagiảm, và giá các mặt hàng khác không thay đổi Nhưng nếu mức giá chung tănglên, ta có lạm phát Ngược lại, nếu mức giá chung giảm xuống, ta có giảm phát.Lạm phát có thể được đo lường bằng nhiều cách khác nhau Tuy vậy, ở nước ta,cách phổ biến cho đến nay là chỉ số giá tiêu dùng (CPI), phản ánh biến động vềgiá cả chung qua thời gian của một số lượng (hay còn gọi là “rổ”) hàng hóa, dịch
vụ đại diện cho tiêu dùng cuối cùng phục vụ đời sống bình thường của ngườidân 4
Nhìn chung, lạm phát ở nước ta từ năm 2004 đến nay luôn ở mức khá cao Từ
năm 2007 đến nay, lạm phát luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế Chỉ số tăng
trưởng GDP hiện nay rất thấp, chỉ còn 6,7% mặc dù tốc độ tăng trưởng của Việt
Nam năm 2007 cao nhất trong 10 năm qua Mục tiêu tăng trưởng GDP năm
2008 do Quốc hội đề ra từ kỳ họp cuối năm trước là 8,5- 9%, Thủ tướng Chínhphủ chỉ đạo phấn đấu đạt trên 9% Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế quý 1/2008 đã
chậm lại so với tốc độ của quý 1/2007 Lạm phát vượt qua mức tối đa cho phép
4 TS Nguyễn Đình Cung – Phó Viện trưởng, Viện Quản lý kinh tế Trung ương “Lạm phát ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp", 20-8-2011
Trang 169% và lạm phát năm 2008 tình đến nay là 22,3% Lạm phát năm 2007 đã ở mứchai chữ số (12,63%), 3 tháng 2008 tiếp tục lồng lên đến mức 9,19%, cao gấp balần cùng kỳ và bằng gần ba phần tư mức cả năm 2007, đã vượt qua mức theomục tiêu đã đề ra cho cả năm 2008; nhập siêu gia tăng cả về kim ngạch tuyệt đối(3.366 triệu USD so với 1.933 triệu USD), cả về tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu(56,5% so với 18,2%) 5
Mức lạm phát nói trên ở nước ta cũng cao hơn nhiều so với lạm phát của cácnước trong khu vực Ví dụ, lạm phát bình quân hàng năm ở Trung Quốc giaiđoạn 2006-2009 khoảng 3%, ở Indonesia khoảng 8,4%, Thái Lan khoảng 3,1%,Malaysia khoảng 2,7% và Philipine khoảng 5,8%,v.v… Bốn tháng đầu năm
2011, lạm phát ở nước ta vẫn ở mức cao và diễn biến phức tạp
Lạm phát cuối tháng 4 năm 2011 so với tháng 12 năm 2010 đã tăng 9,64%;tăng 17,51% so với tháng 4 năm 2010; lạm phát 4 tháng đầu năm 2011 so vớicùng kỹ năm 2010 đã tăng 13,95% Như vậy, lạm phát 4 tháng đầu năm (so vớicác kỳ gốc khác nhau của năm 2010) đều đã cao hơn nhiều so với chỉ tiêu lạmphát của năm 2011 đã được Quốc hội thông qua
Lạm phát 4 tháng đầu năm 2011 ở nước ta cũng cao hơn nhiều so với các nướckhác trong khu vực Ví dụ, lạm phát tháng 3 năm 2011 ở Trung Quốc là 5,4% sovới cùng kỳ năm 2010; còn lạm phát quý I năm 2011 ở Indonesia có thể tăng lên7,1%, ở Phillipine là 4,9%, Thái Lan là 4% và Malaysia là khoảng 2,8% so vớicùng kỳ năm 2010.Lạm phát cao, kéo dài trong nhiều năm liên tục đã gây nhiềutác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống của người dân Lạm phát cao là mộttrong các biểu hiện của bất ổn kinh tế vĩ mô
5 TS Nguyễn Đình Cung – Phó Viện trưởng, Viện Quản lý kinh tế Trung ương “Lạm phát ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp", 20-8-2011
Trang 17Lạm phát cao và bất ổn kinh tế vĩ mô là bất lợi lớn đối với khuyến khích vàthu hút đầu tư; làm cho môi trường kinh doanh ở nước ta kém cạnh tranh hơn sovới các nước khác Lạm phát cao, biến động liên tục đã làm gia tăng chi phí sảnxuất, giảm lợi nhuận; làm cho các kế hoạch đầu tư trung và dài hạn trở nên rủi rohơn và không dự tính được một cách chắc chắn Hệ quả là, các doanh nghiệp nóichung không những phải cắt giảm đầu tư phát triển, mà có thể phải cắt giảm cảquy mô sản xuất hiện hành để đối phó với lạm phát cao.
Thực tế cho thấy, lượng vốn FDI đăng ký bốn tháng đầu năm 2011 chỉ bằng52% của cùng kỳ năm 2010 Lần đầu tiên trong hơn 10 năm qua, số doanhnghiệp đăng ký mới và số vốn đăng ký đã giảm xuống, chỉ bằng khoảng 75% củacùng kỳ năm ngoái Điều tra của Hiệp hội doanh nghiệp châu Âu cũng cho thấychỉ số lạc quan kinh doanh của các doanh nghiệp thành viên ở Việt Nam trongquý I/2011 đã giảm đáng kể Lạm phát cao (nhưng tiền lương và thu nhập bằngtiền khác của người lao động không tăng lên tương ứng) đã làm cho thu nhậpthực tế của họ giảm xuống Ví dụ, trong hai năm qua, lạm phát đã làm cho thunhập thực tế của người lao động mất hơn 20%; từ đó, đời sống của đa số dân cư
đã trở nên khó khăn hơn nhiều so với trước đây Lạm phát cao làm giảm giá trịthực của đồng tiền nội tệ, làm xói mòn giá trị số tiền tiết kiệm của dân chúng;làm giảm lòng tin và mức độ ưa chuộng của người dân trong việc nắm giữ và sửdụng đồng nội tệ Điều đó vừa gây áp lực thêm đối với lạm phát, bất ổn kinh tế
vĩ mô trước mắt, vừa làm xói mòn nền tảng phát triển lâu dài trong trung và dàihạn
Thực trạng lạm phát ở nước ta như trình bày trên đây có nhiều nguyên nhân,
do sự tác động tổ hợp của cả ba dạng thức lạm phát: lạm phát tiền tệ (đây là dạngthức chủ yếu) lạm phát cầu kéo và lạm phát chi phí đẩy
Trang 18Lạm phát tiền tệ: Đây là dạng thức lạm phát lộ diện khá rõ Năm 2007, với
việc tung một khối lượng lớn tiền đông để mua ngoại tệ từ các nguồn đổ vàonước ta đã làm tăng lượng tiền trong lưu thông với mức tăng trên 30%, hạn mứctín dụng cũng tăng cao, mức tăng 38% Ấy là chưa kể sự tăng tín dụng trong cácnăm trước đã tạo nên hiện tượng tích phát tác động đến năm 2007 và có thể cảnhững năm sau, trên 20% trong suốt 10 năm vừa qua, đôi khi lên đến 50.2% vào
2007 và 45.6% vào năm 2009 6 Theo Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN), mức tíndụng tăng 27% trong năm 2010, vượt quá mục tiêu 25% Mức tín dụng chỉ tiêucho năm 2011 là 23% Nay mới hạ xuống dưới 20% 7 Ngoài ra, phần lớn nhữngtín dụng này lại được ưu tiên dành cho những DNNN, thường hoạt động kémhiệu quả, với những điều kiện thuận lợi
Lạm phát cầu kéo: Do đầu tư bao gồm đầu tư công và đầu tư của các doanh
nghiệp tăng, làm nhu cầu về nguyên liệu, nhiên liệu và thiết bị công nghệ tăng;thu nhập dân cư, kể cả thu nhập do xuất khẩu lao động và người thân từ nướcngoài gửi về không được tính vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cũng tăng, làmxuất hiện trong một bộ phận dân cư những nhu cầu mới cao hơn Biểu hiện rõnhất của lạm phát cầu kéo là nhu cầu nhập khẩu lương thực trên thị trường thếgiới tăng, làm giá xuất khẩu tăng (giá xuất khẩu gạo bình quân của nước ta năm
2007 tăng trên 15% so với năm 2006) kéo theo cầu về lương thực trong nước choxuất khẩu tăng Trong khi đó, nguồn cung trong nước do tác động của thiên tai,dịch bệnh không thể tăng kịp Tất cả các yếu tố nói trên gây ra lạm phát cầu kéo,đẩy giá một số hàng hoá và dịch vụ, nhất là lương thực thực phẩm tăng theo
Lạm phát chi phí đẩy: Giá nguyên liệu, nhiên liệu (đặc biệt là xăng dầu,
các sản phẩm hoá dầu, thép và phôi thép…) trên thế giới trong những năm gần
6 IMF, “Vietnam: 2010 Article IV Consultation—Staff Report and Public Information Notice,”
September 2010.
7 John Ruwitch, “Vietnam Leaders All Talk No Action on Inflation,” Reuters, January 14,
2011.