1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tiểu luận phương pháp nghiên cứu khoa học

11 316 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 23,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thơ Đường không chỉ có vị trí đặc biệt trong thơ ca Trung quốc mà còn có vị trí độc đáo trong lịch sử thơ ca thế giới. Thơ văn Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Đường thi cả về nội dung và hình thức nghệ thuật. Hoàng Hạc Lâu là một bài thơ Đường xuất sắc được tiếp nhận ở Việt Nam trên mọi phương diện, dịch thuật cũng như nội dung, tư tưởng của nó.

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

- Thơ Đường không chỉ có vị trí đặc biệt trong thơ ca Trung quốc

mà còn có vị trí độc đáo trong lịch sử thơ ca thế giới

- Thơ văn Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Đường thi cả về nội dung và hình thức nghệ thuật

- Hoàng Hạc Lâu là một bài thơ Đường xuất sắc được tiếp nhận ở Việt Nam trên mọi phương diện, dịch thuật cũng như nội dung, tư tưởng của nó

- Tuy nhiên, mặc dù Hoàng Hạc Lâu xuất hiện hầu hết trong các tuyển tập về thơ Đường nhưng phần lớn mang tính chất nhỏ lẻ, ngắn gọn, không thành hệ thống Vì vậy tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu là “Tiếp nhận Hoàng Hạc Lâu ở Việt Nam” để cung cấp cái nhìn toàn diện về tác phẩm này

2 Mục đích, ý nghĩa của đề tài

Khi thực hiện đề tài này tôi đi sâu vào tìm hiểu quá trình dịch thuật, nghiên cứu Hoàng Hạc Lâu ở Việt Nam, tổng hợp một cách có hệ thống những nghiên cứu về tác phẩm này, khảo sát mối liên hệ giữa tác phẩm và người tiếp nhận, giữa tác phẩm với tác phẩm từ đó đóng góp một chút ít vào việc tìm hiểu quá trình tiếp nhận kiệt tác của Thôi Hiệu nói riêng và Đường thi nói chung ở Việt Nam

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phạm vi tư liệu

Đối tượng chủ yếu của đề tài này là quá trình tiếp nhận và diễn dịch Hoàng Hạc Lâu ở Việt Nam Theo đó phạm vi nghiên cứu của tôi là những vấn đề xung quanh tác phẩm này

Trang 2

Về phạm vi tư liệu, tôi chủ yếu dựa vào các tư liệu thành văn bằng chữ quốc ngữ (Sách, báo, tạp chí,…) từ đầu thế kỉ XX đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Ở đề tài này tôi tiếp nhận tác phẩm này từ góc độ mĩ học tiếp nhận với các thao tác cụ thể như thống kê, thu thập tài liệu, mô tả quá trình tiếp nhận tác phẩm và lí giải, phân tích các vấn đề đặt ra khi tiếp nhận tác phẩm, so sánh, đối chiếu để làm rõ đặc điểm tiếp nhận cũng như vị trí của đối tượng với chủ thể tiếp nhận

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo thì phần nội dung đề tài của tôi có 3 đề mục lớn và với 10 đề mục nhỏ tương ứng

CHƯƠNG I: Vấn đề dịch thuật Hoàng Hạc Lâu ở Việt Nam CHƯƠNG II: Vấn đề nghiên cứu Hoàng Hạc Lâu ở Việt Nam CHƯƠNG III: Sự ảnh hưởng của Hoàng Hạc Lâu đối với thi hứng của các tác giả đương thời và thế hệ sau

1 Nguyễn Du tỏ lòng tri âm với Thôi Hiệu

2 Các bài thơ viết khi đi qua lầu Hoàng Hạc

3 Lời nhắn gửi của Vũ Hoàng Chương

4 Tiểu kết

B PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: VẤN ĐỀ DỊCH THUẬT HOÀNG HẠC LÂU Ở VIỆT NAM

- Dịch thuật là công việc rất khó đòi hỏi người dịch phải hiểu được nguyên lí dịch thuật nắm rõ được văn bản tác phẩm và phải thấm được vào hồn mình cái hồn của nó có nghĩa là phải yêu nó -Thơ Đường cô đọng hàm súc nhiều điển tích điển cố gây khó khăn cho việc dịch thơ của tác phẩm

Trang 3

- Theo tài liệu mà tôi thu thập được thì cho đến nay ở Việt Nam

số lượng bản dịch của Hoàng Hạc Lâu không dưới 40 bản

1 Bản dịch Hoàng Hạc Lâu đầu tiên của Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục.

- Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục (1878-1954) được đánh giá là một dịch giả không chỉ dịch nhiều thơ văn cổ Trung Quốc mà còn luôn thể hiện rõ ý thức dịch thuật của mình

- Theo hệ thống tư liệu mà tôi thu thập được thì chính Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục là dịch giả đầu tiên của Việt Nam dịch Hoàng Hạc Lâu ra tiếng việt Ông đã dịch thi phẩm này theo đúng thể Đường luật

- Tuy nhiên vì quá coi trọng nguyên thể và niêm luật nên ông đã dịch bài thơ này có phần gượng ép Ví dụ từ “khứ” nghĩa là đi thì lại dịch thành “cút”

- Bản dịch này ít được khen ngợi từ các học giả và người đọc

2 Bản dịch của Tản Đà và những ý kiến xung quanh bản dịch này

2.1 Bản dịch của Tản Đà

- Đây là bản dịch được biết đến đánh giá cao và yêu thích nhất Bản dịch này được đăng trên báo Ngày Nay, số 80, ngày

10-10-1937 Bản dịch bằng thể thơ lục bát được đánh giá là có thần thái không thua kém gì nguyên tác của Thôi Hiệu

- Tản Đà đã thổi vào bản dịch một luồng gió “ Việt hóa” làm cho bài thơ trở nên gần gũi, dễ tiếp cận với mọi thế hệ người đọc

2.2 Những ý kiến xung quanh bản dịch của Tản Đà

- Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu được viết theo thể thất ngôn nhưng Tản Đà lại dịch theo thể lục bát, một thể thơ truyền thống của dân tộc ta Bàng Bá Lân thì khen bản dịch này tuy nhiên ông vẫn không “thỏa mãn” do Tản Đà đã chọn thể thơ lục bát

Trang 4

- Nguyễn Hiếu Lê lại tiếc cho bản dịch của Tản Đà đã dịch bằng thể lục bát nên làm mất đi tính ngẫu đối của bài thơ nhất là trong hai liên 2 và 3

- Nguyễn Tuyết Hạnh cho rằng “ Tản Đà chưa dịch được cái thảng thốt, đột ngột của bài thơ: Nhật mộ hương quan hà xứ thị? Thật ra là một câu hỏi nhưng câu dịch của Tản Đà lại là một câu

kể, miêu tả”

- Như vậy một bản dịch được đánh giá là hay nhất, thành công nhất, truyền tải được cái thần của bài thơ như bản dịch của Tản

Đà cũng không tránh được những ý kiến phê bình khen chê của độc giả

3 Tiểu kết

- Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu là một tuyệt tác Với gần 40 bản dịch về Hoàng Hạc lâu ở Việt Nam cho thấy thi phẩm này được tiếp cận một cách rầm rộ ở nước ta

- Ngoài bản dịch xuất sắc của Tản Đà còn có các bản dịch khác của: Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố, Khương Hữu Dụng,… nhưng bản dịch của Tản Đà vẫn được đánh giá là hay nhất, thành công nhất

- Theo tôi, để hiểu một bài thơ Đường đã khó, để dịch được nó còn khó hơn nhiều vì thế cần nhìn nhận một cách chính xác với các bản dịch của các nhà thơ và không nên quá cứng nhắc khi đánh giá vì môic bản dịch sẽ có sự tinh tế, sâu sắc, tài hoa của dịch giả

CHƯƠNG II: VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU HOÀNG HẠC LÂU

Ở VIỆT NAM

- Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu được tiếp nhận có phần muộn màng và việc nghiên cứu bài thơ không trở thành một trào lưu, một hệ thống như các tác phẩm khác Viết về Hoàng Hạc Lâu phần lớn là những bài nhỏ, dung lượng ít và hầu như không có “ bút chiến”

1 Một hướng khai thác chung về Hoàng Hạc Lâu

Trang 5

- Tác phẩm là sự đan xen giữa quá khứ và hiện tại, giữa thực và mộng, thế giới thiên nhiên và thế giới nội tâm con người Trong quá trình tìm hiểu tác phẩm, các nhà nghiên cứu, độc giả chủ yếu

đi vào các vấn đề sau: Sự xuất hiện của yếu tố thần thoại, sự phá cách niêm luật Đường thi của Thôi Hiệu, sự biến chuyển nhịp thơ,…

- Yếu tố thần thoại được coi là nút mở ra không gian của bài thơ, làm cho bài thơ mang ý vị hoài cổ, khơi nguồn cảm hứng cho tác giả và thể hiện cảm xúc từ sâu thẳm tâm hồn nhà thơ – một lữ khách xa quê

- Sự phá cách niêm luật Đường thi trong bài thơ được đánh giá là

“ đệ nhất luật Đường” (Nghiêm Vũ)

- Về sự chuyển biến nhip thơ từ liên 3 xuống liên 4 và hai câu thơ cuối trong quá trình nghiên cứu, hầu hết đều đưa chúng vào phương diện biểu hiện của cái tình bên trong nhà thơ và lột tả rõ tâm trạng của Thôi Hiệu

Như vậy, vấn đề nghiên cứu Hoàng Hạc Lâu ở Việt Nam tôi chỉ đưa ra những lý thuyết cơ bản thống kê phân tích và đưa ra dẫn chứng những công việc này chúng tôi sẽ thực hiện trong đề tiếp theo là nghiên cứu khoa học lâu trong sách báo tạp chí và các tài liệu khác

2 Hoàng Hạc Lâu trong sách, báo, nghiên cứu và các tài liệu khác

- Các bài viết về Hoàng Hạc lâu không nhiều dung lượng không

đủ lớn mà còn khá giống nhau Chúng tôi tìm được các bài viết

về các tác phẩm này chủ yếu trong các sách bình giảng một số bài nhỏ trên báo hay trên những trang web tin cậy

- Một bài thơ Đường thất ngôn bát cú nguyên tắc niêm luật phải chặt chẽ phải tuân theo luật đối ngẫu 2 liên giữa phải đối nhau hài hòa cả thanh lẫn ý nhưng bài Hoàng Hạc lâu của thôi hiệu là một ngoại lệ Đây là một bài thơ tiêu biểu cho vấn đề phá cách thêm vào trong thơ Đường Bốn câu thơ đầu không theo đúng quy luật bằng trắc làm ta tưởng chừng như đó là một bài thơ bài thơ cổ phong

Trang 6

-Trong “những bài thơ Đường nổi tiếng” Nguyễn Khắc Phi phân tích: việc phá cách không gieo vần ở câu thứ nhất, việc dùng liền

ba thanh chắc ở câu câu thứ 3, việc dùng lối tam bình điệu ở câu thứ tư, việc dùng kiểu liền 3 từ “Hoàng Hạc”, hai chữ “không”, Hai chữ “khứ”, việc sử dụng cả hình thức đối ngẫu ở cặp đôi đầu

và ở cả cặp đôi đầu lẫn cặp câu 2, đối ngẫu đều có chỗ không chỉnh (khứ-lâu, bất phục phản-không du du), tất cả đều phục vụ đắc lực cho việc thể hiện nội dung, làm nổi bật được những sắc thái tình cảm phong phú tinh tế của tác giả

- Bài thơ là một chỉnh thể, mới đọc xong ta tưởng như có một sự phân chia rất rõ ràng giữa 4 câu đầu và 4 câu sau nhưng thực chất lại không phải như vậy Bốn câu đầu vừa giải thích tên lầu vừa định vị lầu trong thời gian thể hiện một nhận thức tình cảm nhân sinh mang tính chất triết lý, vừa đặt nền móng vững chắc cho cảnh thơ ở 4 câu cuối nhiều người cho rằng giữa 4 câu đầu và 4 câu cuối có một bước chuyển khá đột ngột về nhiều mặt

- Trong Hoàng Hạc Lâu có thể nói hai câu thơ cuối được tách riêng với văn bản để đánh giá bình luận nhiều nhất Có lẽ bởi nó

là sự cô độc cảm xúc của nhà thơ theo dòng chảy toàn bài, những cảm xúc thực chất trước thiên nhiên đất trời, trước thời gian không gian và nó gây được sự đồng cảm sâu sắc với các thế hệ bạn đọc:

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu”

- Chữ “sầu” trong bài thơ là một “điểm nhãn” nhưng lại được đặt cuối bài thơ làm cho nỗi sầu của thời gian không gian dồn tụ tất

cả vào trong nó tạo nên một nốt trầm gieo xuống chĩu nặng cả tâm hồn Hóa ra bài thơ 56 chữ thì 55 chữ là bước chuẩn bị tất yếu cho một chữ “sầu” đặt xuống kết đọng trong tâm (Trần Thị Bích Hải) Hai phần “âu” trong chữ “sầu” là âm đóng và có sự ngân dài như một nốt trầm chĩu nặng xuống tâm hồn ( Lê Xuân Soạn)

- Về bản thân hai chữ “yên ba” cũng gây một chút tranh cãi trong người đọc Có người cho đó là tác giả nói đến con sông

Trang 7

“Yên Ba” gần lầu Hoàng Hạc có người cho “yên ba” ở đây là khói sóng trên sông Tác giả thấy có sóng mà chạnh lòng nhớ quê hương Đây là cách hiểu của số đông là đúng hơn cả Trong “Về một ý trong bài Hoàng Hạc Lâu” trên báo Văn nghệ thành phố

Hồ Chí Minh, Hòa Lạc đã đưa ra một cách hiểu về ý “Yên ba giang thượng sử nhân sầu” trong bài thơ Theo tìm hiểu của ông thì trên báo văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, các tác giả giải thích hai chữ “yên ba” là hơi nước bốc lên mù mịt trên mặt song

Có ý kiến lại cho rằng phiên bản “giang thượng” là mây chiều bảng lảng chiếu xuống mặt sông gợn sóng.”

Như vậy thống kê mô tả lại ý kiến của người đọc về những vấn

đề xung quanh Hoàng Hạc Lâu thực chất cũng là để một lần nữa thể hiện cho bạn đọc thấy cái hay, cái đẹp, tinh tế và sâu sắc của bài thơ Từ đó người đọc có thể tự lý giải vì sao bài thơ này của Thôi Hiệu lại được đánh giá là bông hoa đẹp nhất trong vườn hoa muôn sắc của thơ Đường

3 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Hoàng Hạc Lâu ở Việt Nam

- Về cái tên Hoàng Hạc Lâu cũng có nhiều ý kiến khác nhau về

sự ra đời của nó Sách Hoàn Vũ ký chép: “ Ngày trước có một ông tiên tên Phí Văn Vĩ thường cưỡi hạc đi ngao du và có lần dừng chân tại lầu này, do vậy lầu được cải danh là Hoàng Hạc Lâu, Sách Tề Hài Chí lại chép: “Núi Hoàng Hạc, người tiên là Tứ

An thường cưỡi Hạc bay qua Ngoài ra theo sử liệu Lý Kiết Phủ đời Đường trong tập “Nguyên Hòa Quận Huyện Chí có ghi chép: Năm thứ hai Ngô Hoàng Vũ, thành Giang Hạ là thành trì trấn giữ chống sự xâm lược của các bộ tộc phía tây Phía tây thành này gần sông lớn, góc Tây Nam là cồn cát đá nên lập lập lầu canh gọi

là Hoàng Hạc Lâu

- Về văn bản tác phẩm có một vài cách ghi chép khác, ở hai câu đầu có bản ghi là “ Tích nhân dĩ thừa bạch vân khứ”

- So sánh Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu với Kim Lăng Phượng Hoàng Đài của Lí Bạch Tiên thơ Lí Bạch đã từng gác bút trước Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu nưng lại chịu ảnh hưởng của tuyệt tác này khi sáng tác Kim Lăng Phượng Hoàng Đài

Trang 8

CHƯƠNG III: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA HOÀNG HẠC LÂU ĐỐI VỚI THI HỨNG CỦA CÁC TÁC GIẢ ĐƯƠNG THỜI

VÀ THẾ HỆ SAU

- Một tác phẩm để lại âm vang của mình không chỉ bởi những tài hoa của thi nhân gửi lại trong đó mà còn bởi những ảnh hưởng của nó đối với thi hứng của các tác giả đương thời và thế hệ sau

Ở Việt Nam, Hoàng Hạc Lâu được tiếp nhận rất sớm, cũng từ đó

có niều tác phẩm lấy thi hứng từ tác phẩm này mà ra đời

1 Nguyễn Du tỏ lòng tri âm với Thôi Hiệu

- Nguyễn Du khi đi xứ Trung Quốc có đi qua lầu Hoàng Hạc, ông

đã sáng tác hai bài thơ là “Hoàng Hạc Lâu” và “Hán Dương Vãn Diêu”

- Hai bài thơ này có nhan đề khác nhau nhưng cảm hứng của tác giả đều bắt nguồn từ những điều quan sát được khi đến thăm lầu Hoàng Hạc và vãn cảnh chiều ở Hán Dương Đồng thời không ít chi tiết trong bài thơ của Thôi Hiệu được Nguyễn Du cảm nhận

và thể hiện tinh tế trong hai bài thơ của mình

2 Các bài thơ viết khi đi qua lầu Hoàng Hạc

- Trong quá trình tìm hiểu, tôi thu thập được 8 bài thơ của các tác giả Việt Nam (trừ hai bài thơ của Nguyễn Du) viết về lầu Hoàng Hạc và tất cả được viết khi các nhà ngoại giao đi xứ qua đây

- Thời nhà Trần có Phạm Sư Mạnh với bài thơ “ Họa Đại Minh

sử Dư Quý” nói lên vẻ đẹp của bãi Anh Vũ và lầu Hoàng Hạc

- Thời Tây Sơn có hai nhà thơ đi xứ qua lầu Hoàng Hạc là Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm Phan Huy Ích có hẳn 3 bài thơ về đề tài này đó là “Vũ Xương dịch thứ phụ quốc thư ký Ngô binh bộ,

Du Hoàng Hạc Lâu hữu thi ký Ngô binh bộ” và Hán Thủychu trình Ngô Thì Nhậm có hai bài thơ là “Chu trung vọng Hoàng Hạc Lâu” và “Đăng Hoàng Hạc Lâu phú”

- Nhà Nguyễn có Nguyễn Du và Ngô Thì Vị đi xứ Nguyễn Du

đã có hai bài thơ nói trên là “Hoàng Hạc Lâu” và “Hán Dương Vãn Diêu” Ngô Thì Vị có bài “Hoàng Hạc Lâu”

Trang 9

- Tất cả đều ca ngợi vẻ đẹp tuyệt vời của lầu Hoàng Hạc và phong cảnh xung quanh và mỗi người có một tâm trạng riêng gửi vào bài thơ của mình

3 Lời nhắn gửi của Vũ Hoàng Chương

- Vũ Hoàng Chương không chỉ dịch Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu mà còn có những lời nhắn gửi đến thi nhân đời trước Bài thơ của Vũ Hoàng Chương được làm một tháng trước khi qua đời cũng có thể coi như là bài luận sự đời của ông Bài thơ này có lẽ hay nhất trong 4 câu thơ giữa tưởng: “Tưởng hạc vàng đi mây trắng ở/ Lầm Thôi Hiệu trước Nguyễn Du sau/ Hạc chưa thoát khỏi mê hồn tịch/ Tiên vẫn nằm trong vạn cổ sầu”

4 Tiểu kết

Vậy là một vùng danh lam thắng cảnh để lại một bài thơ hay cho đời sau để rồi cuốn hút biết bao nhiêu tại thơ vào cuộc Họ viết và lầu Hoàng Hạc, viết về Hoàng Hạc Lâu và họ bày tỏ nỗi niềm tri âm cùng người muôn năm trước, bài thơ của Thôi Hiệu sống cũng một phần ở đó

C PHẦN KẾT LUẬN

- Bao nhiêu thế kỷ đã trôi qua, cuộc đời đổi thay, sự vật biến rời nhưng có một sự thật không thể thay đổi là sức sống của Đường thi trong nền văn học Việt Nam và vẻ đẹp lung linh của Hoàng Hạc lâu trong tâm hồn mỗi người yêu thơ Đường

- Những phá cách niêm luật, những đổi thay và nhịp điệu, lặp ý, một chữ “sầu” dai dẳng ở cuối bài thơ hay cả những vấn đề nhỏ xung quanh nó, tất cả chỉ làm tôn lên vẻ đẹp quyến rũ của Hoàng Hạc lâu và khẳng định bút pháp thi hoa của “thi sĩ một bài thơ” Thôi Hiệu

- Việt Nam là đất nước của thơ Đường thi Yêu mến thơ Đường bao nhiêu thì có lẽ cũng yêu mến Hoàng Hạc Lâu bấy nhiêu, bởi

lẽ đó mới có nhiều bản dịch, có những phê bình tâm huyết và có những bài thơ bày tỏ lòng tri âm cùng nhà thơ của ngàn năm trước ấy

Trang 10

- Mãi mãi Hoàng Hạc lâu sẽ còn đẹp trong lòng người bởi lầu Hoàng Hạc và Thôi Hiệu còn sống mãi cùng thời gian trong lòng người đất Việt

Ngày đăng: 21/06/2017, 09:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w