1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

BÀI 8 LUẬT KINH tế

19 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 262,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm “pháp luật kinh tế” có thể được tiếp cận ở những góc độ sau: - Theo nghĩa rộng: Pháp luật kinh tế là toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành trực tiếp điều chỉnh các

Trang 1

BÀI 8 LUẬT KINH TẾ

A MỤC TIÊU BÀI HỌC

1 Kiến thức:

- Phân tích được khái niệm luật kinh tế

- Trình bày được một số nội dung chủ yếu của chế định pháp luật về các loại hình doanh nghiệp

2 Về kỹ năng

- Xác định được các quan hệ pháp luật kinh doanh trong đời sống

- Đưa nội dung của luật kinh tế vào cuộc sống

3 Về thái độ

- Tin tưởng vào nhà nước và quy định Luật kinh tế của nước CHXHCN Việt Nam

B NỘI DUNG BÀI HỌC

I KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT KINH TẾ

1 Các quan niệm về pháp luật kinh tế

Pháp luật kinh tế là gì?

Khái niệm “pháp luật kinh tế” có thể được tiếp cận ở những góc độ sau:

- Theo nghĩa rộng:

Pháp luật kinh tế là toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành trực tiếp điều chỉnh các quan hệ kinh doanh, các quan hệ liên quan đến kinh tế, như: quan hệ tài sản, vốn, quan hệ đất đai, lao động, một số quan hệ khác như dịch vụ, bảo hiểm…và các quan hệ trong quản lý nhà nước về kinh tế, như: Thuế, tài chính, tín dụng, kế toán, thống kê, tài nguyên, các lĩnh vực kinh tế chuyên ngành (bưu chính viễn thông, xây dựng, hải quan, giao thông vận tải…)

Ta thấy, quan hệ kinh tế được pháp luật kinh tế điều chỉnh rất phong phú,

ví dụ:

Trang 2

Quan hệ phát sinh trong quá trình tạo việc làm và sử dụng lao động (do ngành Luật lao động điều chỉnh)

Quan hệ phát sinh trong quá trình tổ chức quản lý và sử dụng đất đai (do ngành Luật Đất đai điều chỉnh)

Quan hệ phát sinh trong quá trình cấp phát và huy động vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, trong hoạt động tín dụng, thanh toán và ngân sách (Luật Tài chính)

Các quan hệ kinh tế nêu trên dù có liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình tổ chức, quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng khác nhau về tính chất, nội dung, và được điều chỉnh với những phương pháp khác nhau Do đó, trong cơ cấu của mình, pháp luật kinh tế bao gồm các ngành luật khác nhau như: Luật tài chính, Luật lao động, Luật đất đai

Như vậy, theo nghĩa rộng, pháp luật kinh tế không phải là ngành luật độc lập theo tiêu chuẩn phân loại của lý luận pháp luật hiện hành mà là khái niệm tổng hợp, bao gồm toàn bộ các văn bản pháp luật thuộc các ngành luật khác nhau có liên quan đến sự vận hành và quản lý nền kinh tế

- Theo nghĩa hẹp:

Pháp luật kinh tế là ngành luật kinh tế, là một tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động kinh doanh của các đơn vị kinh tế và các quan hệ trong quản lý nhà nước về kinh tế đối với các đơn vị kinh

tế (chuyên đề này sẽ nghiên cứu pháp luật kinh tế hiểu theo nghĩa hẹp)

VD: Quan hệ kinh doanh giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn A với Công ty

cổ phần B

2 Đối tƣợng điều chỉnh của ngành Luật kinh tế

ĐTĐC của ngành luật Kinh tế là các quan hệ xã hội được QPPL của ngành luật Kinh tế điều chỉnh, bao gồm:

- Nhóm 1: Nhóm quan hệ phát sinh trong hoạt động kinh doanh của các đơn

vị kinh tế

Trang 3

+ Kinh doanh (K2, Đ.4, Luật doanh nghiệp): Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số, hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi + Đơn vị kinh tế là các doanh nghiệp, cá nhân có đăng ký kinh doanh VD: Công ty cổ phần, công ty Trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- Nhóm 2: Nhóm quan hệ phát sinh trong hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế Đây là nhóm quan hệ giữa một bên là đơn vị kinh tế, một bên là cơ quan nhà nước có nhiệm vụ quản lý nhà nước về kinh tế

3 Phương pháp điều chỉnh của ngành luật kinh tế

Phương pháp điều chỉnh của một ngành luật là cách thức, biện pháp mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật ấy

Phương pháp điều chỉnh của một ngành luật luôn được xây dựng trên cơ

sở tính chất của quan hệ mà nó điều chỉnh (VD: Tính chất của quan hệ pháp luật hành chính là quyền lực - phục tùng bởi vậy phương pháp điều chỉnh sẽ là phương pháp quyền uy; tính chất của các quan hệ dân sự là bình đẳng bởi vậy phương pháp điều chỉnh là phương pháp bình đẳng thoả thuận)

Đối tượng điều chỉnh của ngành luật kinh tế bao gồm hai nhóm quan hệ kinh tế cơ bản:

- Nhóm quan hệ trong hoạt động kinh doanh của các đơn vị kinh tế Là những quan hệ phát sinh trong lĩnh vực quản lý sản xuất kinh doanh - những quan hệ này có tính bình đẳng cho nên phương pháp điều chỉnh đối với nhóm quan hệ này chủ yếu là phương pháp bình đẳng VD: ký kết hợp đồng kinh tế, cung ứng vật tư, trang thiết bị, chào hàng

- Nhóm quan hệ trong quản lý nhà nước về kinh tế Là những quan hệ kinh tế phát sinh trong lĩnh vực quản lý sản xuất kinh doanh - những quan hệ này có tính chất quyền uy, không bình đẳng như vậy tương ứng với nó phải

Trang 4

dùng phương pháp quyền uy để điều chỉnh VD: Việc cấp giấy phép đăng ký kinh doanh, thu hồi giấy phép, xử phạt vi phạm hành chính, kiểm tra, thanh tra hoạt động của doanh nghiệp, chế độ báo cáo tài chính, kiểm toán

Như vậy, phương pháp điều chỉnh của luật kinh tế bao gồm hai phương pháp cơ bản: phương pháp Bình đẳng và phương pháp Quyền uy

* Phương pháp bình đẳng

Phương pháp này chủ yếu điều chỉnh những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp Đó là các đơn vị sản xuất hàng hoá độc lập với nhau (phân biệt với các đơn vị không độc lập, trực thuộc nhau)

Theo phương pháp này, các đơn vị kinh tế dù thuộc thành phần khác nhau, quy mô kinh doanh khác nhau, loại hình tổ chức kinh doanh khác nhau đều bình đẳng với nhau trong quan hệ kinh doanh Không đơn vị nào có đặc quyền đặc lợi hơn trong kinh doanh, mọi người có quyền tự do lựa chọn các hình thức kinh doanh, những vấn đề mà các bên trong quan hệ kinh tế quan tâm đều được giải quyết trên cơ sở bình đẳng, bàn bạc, thoả thuận (VD: bình đẳng trong ký kêt hợp đồng, giải quyết tranh chấp)

* Phương pháp quyền uy

Phương pháp này được sử dụng chủ yếu để điều chỉnh những quan hệ kinh tế phát sinh trong lĩnh vực quản lý sản xuất kinh doanh Chủ thể tham gia vào quan hệ này ở vào vị trí pháp lý không bình đẳng, một bên là cơ quan quản

lý nhà nước về kinh tế một bên là các đơn vị kinh tế cơ sở trực thuộc Bản chất của phương pháp này thể hiện ở chỗ cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế có quyền đưa ra những quyết định bắt buộc đối với đơn vị kinh tế cơ sở trực thuộc (VD: Quyết định phá sản doanh nghiệp)

Tuy nhiên, quyền uy trong quản lý nhà nước về kinh tế không giống phương pháp quyền uy trong Luật Hành Chính Phương pháp quyền uy của Luật kinh tế mềm dẻo hơn, không trực tiếp mà thông qua cơ chế quản lý

Trang 5

* Ngoài hai phương pháp cơ bản trên, ngành luật kinh tế còn sử dụng một

số phương pháp điều chỉnh khác như: định hướng, hướng dẫn, khuyến khích trên

cơ sở của quyền tự do, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị kinh tế trong kinh doanh VD: Miễn giảm thuế, hoàn thuế, ưu đãi giá cho thuê đất, khen thưởng doanh nghiệp có thành tích kinh doanh tốt

II NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGÀNH LUẬT KINH TẾ

1 Chế định về địa vị pháp lý của đơn vị kinh tế

Địa vị pháp lý của đơn vị kinh tế theo nghĩa hẹp là tổng thể các quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định cho đơn vị kinh tế trong hoạt động kinh doanh

Tuy nhiên, đơn vị kinh tế chỉ có thể có quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định khi đơn vị đó được thành lập hợp pháp Vì thế, khái niệm địa vị pháp

lý của đơn vị kinh tế ngoài các quyền và nghĩa vụ của nó trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn bao gồm cả các quy phạm pháp luật quy định về việc thành lập, đăng ký, giải thể, tổ chức lại, hoặc chuyển đổi các loại hình tổ chức kinh doanh của các đơn vị kinh tế

Vậy địa vị pháp lý của đơn vị kinh tế được hiểu là: "Tổng thể các quy định pháp lý về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, các quy định pháp lý về việc thành lập, đăng ký, giải thể, tổ chức lại hoặc chuyển đổi các loại hình tổ chức kinh doanh của các đơn vị kinh tế.”

1.1 Về điều kiện, trình tự, thủ tục thành lập, đăng ký kinh doanh

Điều kiện, trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh được pháp luật quy định cho mỗi loại hình tổ chức kinh doanh khác nhau Song, về cơ bản việc thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh của các cá nhân, tổ chức đều dựa trên hai nguyên tắc cơ bản sau:

Nguyên tắc: Cá nhân, tổ chức có quyền tự do thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật

Nguyên tắc: Tổ chức, cá nhân muốn thành lập, đăng ký kinh doanh phải theo trình tự do pháp luật quy định

Trang 6

* Về điều kiện thành lập

- Cá nhân kinh doanh: là những công dân Việt Nam đủ 18 tuổi , có vốn,

có sức khoẻ, có kỹ thuật, chuyên môn, có địa điểm kinh doanh phù hợp với ngành nghề và mặt hàng kinh doanh, không bị pháp luật cấm kinh doanh

VD: Một hoạ sĩ mở phòng vẽ và bán tranh nghệ thuật; Người mở cửa hàng bán đồ thủ công, mỹ nghệ, bán đồ mỹ phẩm, quần áo

- Thành lập doanh nghiệp:

Pháp luật cấm thành lập doanh nghiệp với chủ thể nào ?

+ Tổ chức, cá nhân VN và nước ngoài có quyền thành lập và quản lý doanh

nghiệp tại VN(K1, Đ.13)

+ PL cấm thành lập DN đối với một số trường hợp sau(K2,Đ.133):

1- Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân VN sử dụng tài sản để thành lập DN kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình

2- Cán bộ công chức Theo qđ của PL về cán bộ công chức

3- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội ND VN; Sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an ND VN

4- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các DN 100% vốn sở hữu nhà nước (Trừ những người được làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của nhà nước tại DN khác)

5- Người chưa thành niên; Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; hoặc Mất NLHVDS

6- Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Tòa án cấm hành nghề kinh doanh

7- Trường hợp khác theo qđ của PL về Phá Sản (Chủ sở hoặc người điều hành DN bị PS có thể bị cấm thành lập DN trong thời gian tối đa là 3 năm)

Việc đăng ký kinh doanh theo trình tự nhƣ thế nào?

Trang 7

* Trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh:

- Người thành lập DN nộp đủ hồ sơ ĐKKD theo qđ của luật này tại cơ quan ĐKKD có thẩm quyền Hồ sơ ĐKKD hợp lệ bao gồm những giấy tờ như: + Giấy đề nghị ĐKKH theo mẫu

+ Dự thảo điều lệ công ty

+ Danh sách thành viên

+ Văn bản xác nhận vốn pháp định

+ Chứng chỉ hành nghề

- Điều kiện để doanh nghiệp được cấp GCNĐKKD như sau:

+ Ngành nghề ĐKKD không thuộc lĩnh vực cấm KD

+ Tên DN: - Được đặt đúng qđ của PL (Đ.31,32,33,34)

- Không đặt tên trùng hoặc gây nhầm lẫn với DN đã ĐK

- Không sử dụng tên của: cơ quan nhà nước; lực lượng vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, chính trị-xã hội, xã hội-nghề nghiệp(trừ trường hợp có sự có sự chấp thuận của cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức đó)

+ Có trụ sở chính (theo quy dịnh tại K1,Đ.35)

+ Hồ sơ ĐKKD hợp lệ

+ Nộp đủ lệ phí ĐKKD

1.2 Các loại hình tổ chức kinh doanh (các loại hình doanh nghiệp)

- Khái niệm Doanh nghiệp(K1,Đ.4, LDN2005): Doanh nghiệp(DN) là tổ

chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

- Các loại hình doanh nghiệp:

1 Công ty Trệm hữu hạn

Trang 8

2 Công ty Hợp danh

3 Doanh nghiệp tư nhân

4 Công ty Cổ phần

Cụ thể như sau:

1 Doanh nghiệp tư nhân

- Khái niệm: DNTN là DN do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN

- Đặc điểm của DNTN

+ DNTN là một đơn vị kinh doanh do một cá nhân bỏ vốn thành lập và làm chủ

VD: Cá nhân này vừa là chủ sở hữu vừa là người sử dụng tài sản, đồng thời là người quản lý hoạt động của DN Thông thường, chủ DN là giám đốc, trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh của DN Nhưng vì những lý do nhất định, chủ DN có thể thuê người khác làm giám đốc (người này chỉ đóng vai trò

là người lao động làm thuê) Nhưng dù trực tiếp hay gián tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, chủ DN tự chịu trách nhiệm không có sự phân chia rủi ro với ai Đây là điểm khác so với công ty cổ phần và công ty TNHH là những loại hình của DN do nhiều người cùng chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của công ty tương ứng với phần vốn góp của mình

+ Chủ DN tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doan hcủa DN

VD: Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, chủ DN được hưởng toàn bộ lợi nhuận nếu làm ăn phát đạt nhưng nếu gặp rủi ro hoặc kinh doanh thua lỗ, họ phải tự chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của DN và tài sản của cá nhân về các khoản nợ đến hạn của DN Đối với CT TNHH hoặc CTCP người chủ chỉ chị trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình

Trang 9

2 Công ty Trách nhiệm hữu hạn (CTTNHH)

- Khái niệm: CTTNHH là loại hình công ty trong đó các thành viên góp vốn thành lập và công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của mình

- Đặc điểm

+ CTTNHH bao gồm hai loại là: Công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên(có số lượng thành viên tối thiểu là 2 và tối đa không quá 50 thành viên), và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, thành viên này có thể là một tổ chức hoặc cá nhân(đây là điểm mới của LDN 2005)

+ CTTNHH chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác (thuế, công ích ) bằng tài sản của công ty Thành viên công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi

số vốn đã cam kết góp vào công ty Đối với CTTNHH một thành viên thì chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty

+ CTTNHH có tư cách pháp nhân

+ CTTNHH không được quyền phát hành cổ phiếu ra công chúng để công khai huy động vốn

+ Việc chuyển nhượng vốn góp của thành viên công ty trước hết phải ưu tiên cho các thành viên khác của công ty

Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên công ty nếu thành viên còn lại của công ty không mua hoặc mua không hết Đối với CTTNHH một thành viên thì chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn

bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác

Trên bảng hiệu, hoá đơn quảng cáo, các tài liệu giao dịch của công ty phải ghi rõ tên công ty kèm theo cụm từ "TNHH"

Đây là biện pháp bảo vệ quyền lợi của người giao dịch với công ty, là sự thông báo về tính chịu trách nhiệm (hữu hạn) của công ty đối với khoản nợ của

Trang 10

mình Theo pháp luật một số nước, nếu vi phạm điều này DN phải chịu trách nhiệm vô hạn vì đó được coi là hành vi lừa dối trong kinh doanh

So sánh CTTNHH và CTCP ?

Có một số điểm giống và khác nhau cơ bản:

Điểm giống: chúng đều có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm hữu hạn

về các khoản nợ

Điểm khác: Điểm khác nhau cơ bản là vốn điều lệ của CTTNHH không nhất thiết phải chia thành các phần bằng nhau và mỗi thành viên chỉ có một phần vốn góp vào công ty Các phần vốn góp này có thể bằng nhau hoặc không bằng nhau Các phần vốn góp không được thể hiện trên các giấy tờ có giá như:

cổ phiếu, vì vậy, không thể đem trao đổi tự do trên thị trường chứng khoán

- Các loại công ty TNHH

+ CTTNHH một thành viên: CTTNHH một thành viên là DN do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu; chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn điều lệ của

DN

+ CTTNHH có hai thành viên trở lên: CT có từ hai thành viên (có thể là tồ chức hoặc cá nhân) trở lên nhưng không vượt quá 50 thành viên, thành viên công ty chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn góp, Công ty chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và tài sản khác trong phạm vi vốn điều lệ của DN

3 Công ty cổ phần (CTCP)

- Khái niệm: là DN mà vốn của nó được chia thành nhiều phần bằng nhau,

DN chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính khác của mình trong phạm vi tài sản của DN

- Đặc điểm (Công ty cổ phần có những đặc điểm mà nhờ đó ta có thể dễ dàng phân biệt với công ty TNHH)

Ngày đăng: 28/08/2017, 02:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w