4.4.2 Chiêu thức Dưới đây là tên chiêu thức trong 2 bài của Trần gia ái cực quyền, do quyền sư Trần Phát KhoaChén Fākē hoặc Ch'en Fa-k'e , 1887-1957 và con trai là Trần Chiếu KhuêChen Z
Trang 2Mục lục
1.1 Lịch sử 1
1.2 Đặc điểm 1
1.3 Dương thức ái cực quyền thập yếu 1
1.4 Chiêu thức bài quyền 2
1.5 Kỹ thuật thôi thủ 2
1.6 Chú thích 2
1.7 am khảo 2
2 Ngô thức ái cực quyền 3 2.1 Lịch sử 3
2.2 Đặc điểm 3
2.3 Ngô thức ái cực yếu lĩnh 3
2.4 Bài quyền 4
2.5 Kỹ thuật thôi thủ 4
2.6 Chú thích 4
2.7 am khảo 4
3 Tôn thức ái cực quyền 5 3.1 Lịch sử 5
3.2 Đặc điểm 5
3.3 yền thức 5
3.4 Kỹ thuật thôi thủ 5
3.5 Chú thích 5
3.6 am khảo 5
4 Trần thức ái cực quyền 6 4.1 Lịch sử 6
4.1.1 Khởi nguyên 6
4.1.2 Hệ thống công phu 6
4.1.3 Trần gia Lão giá và Tân giá 7
4.2 Nguồn cội của các lưu phái ái cực quyền 7
4.3 Yếu lĩnh của Trần gia ái cực 7
i
Trang 34.4.2 Chiêu thức 8
4.5 Kỹ thuật thôi thủ 8
4.6 Chú thích 8
4.7 am khảo 8
4.8 Liên kết ngoài 8
5 Võ thức ái cực quyền 9 5.1 Lịch sử 9
5.1.1 Võ thức 9
5.1.2 Lý thức 9
5.1.3 Hác thức 9
5.2 Đặc điểm 10
5.3 Yếu lĩnh 10
5.4 Bài quyền 10
5.5 Kỹ thuật thôi thủ 10
5.6 Chú thích 10
5.7 am khảo 10
6 Chí iện 11 6.1 Lịch sử Vĩnh Xuân quyền 11
6.2 Tài liệu tham khảo chính: kỹ thuật Kiều thủ Nam iếu Lâm 12
6.3 Xem thêm 12
6.4 am khảo 12
7 Diệp Vấn 13 7.1 Tiểu sử 13
7.2 Sự nghiệp 13
7.3 Di cư đến Hồng Kông 14
7.4 Chú thích 14
8 Kiềm dương tấn 15 8.1 Tên gọi 15
8.2 Ý nghĩa 15
8.3 Chính thân kiềm dương 15
8.4 Trắc thân kiềm dương 16
8.5 Xem thêm 16
8.6 Liên kết ngoài 16
9 Kỹ thuật Vịnh Xuân quyền 17 9.1 Đặc điểm 17
Trang 4MỤC LỤC iii
9.3 Nguồn gốc kỹ thuật Kiều thủ: Kỹ Pháp Kiều ủ Nam iếu Lâm Phúc Kiến 18
9.3.1 Dẫn nhập 18
9.3.2 Tài liệu tham khảo chính về kỹ thuật Kiều thủ Nam iếu Lâm 22
9.4 Trửu pháp ( ) - Phép đánh cùi chỏ 22
9.5 Một số kỹ thuật Kiều ủ phổ biến trong Vịnh Xuân quyền 23
9.6 yền pháp 24
9.6.1 Kiều thủ - Kỹ pháp đặc trưng 25
9.6.2 Hệ thống quyền pháp 25
9.7 Xem thêm 26
9.8 am khảo 26
10 Lương Bí 27 10.1 am khảo 27
11 Lương Đĩnh 28 11.1 Xem thêm 28
11.2 am khảo 28
11.3 liên kết ngoài 28
12 Lương Tán 29 12.1 ân thế và võ nghiệp 29
12.2 Đại chúng 29
12.3 Xem thêm 29
12.4 am khảo 29
13 Ngũ Mai 30 13.1 Giai thoại Ngũ tổ 30
13.2 Giai thoại Vịnh Xuân yền 30
13.3 Chú thích 31
13.4 am khảo 31
13.5 Xem thêm 31
14 Nguyễn Tế Công 32 14.1 Tiểu sử 32
14.1.1 Ở Trung ốc 32
14.1.2 Tại Việt Nam 32
14.2 am khảo 33
14.3 Xem thêm 33
15 Phả hệ Vịnh Xuân quyền 34 15.1 Phả hệ nhân vật Vịnh Xuân quyền trên thế giới 34
15.1.1 Đời thứ I 34
15.1.2 Đời thứ II 34
15.1.3 Đời thứ III 34
Trang 515.1.6 Đời thứ VI 34
15.1.7 Đời thứ VII 34
15.1.8 Đời thứ VIII 35
15.1.9 Đời thứ IX 35
15.2 Phả hệ nhân vật Vịnh Xuân quyền Việt Nam 35
15.2.1 Đời thứ I 35
15.2.2 Đời thứ II 35
15.3 Xem thêm 35
15.4 am khảo 35
16 Vịnh Xuân quyền 36 16.1 Lịch sử và tên gọi của môn phái 36
16.2 Yếu lĩnh 36
16.3 Kiều thủ ( ) 37
16.4 yền pháp 37
16.4.1 Tiểu niệm đầu (Siu Nim Tao ) 38
16.4.2 Tầm kiều (Chum Kiu ) 39
16.4.3 Tiêu chỉ (Biu Tze ) 40
16.4.4 Mộc nhân trang quyền pháp (Muk Yan Chon Kuen Faat ) 40
16.4.5 Hệ thống ngũ hình quyền (Vịnh Xuân Việt Nam) 43
16.4.6 Khí công quyền (Vịnh Xuân Việt Nam) 44
16.5 Cước pháp 44
16.6 Binh khí 44
16.6.1 Lục điểm bán côn 44
16.6.2 Bát trảm đao 44
16.6.3 Các binh khí khác 45
16.7 Hệ thống công phu 46
16.7.1 Niêm thủ (ly thủ) 46
16.7.2 Niêm cước (Ly cước) 46
16.7.3 Niêm thân (Ly thân) 46
16.7.4 Du đẩy (Phép thính kình tức “nghe lực”) 46
16.8 Một số dòng phái 47
16.8.1 Các chi phái chính 47
16.8.2 Các chi phái khác 47
16.8.3 Các chi phái Vịnh Xuân tổng hợp 48
16.9 Các tôn sư môn phái 48
16.9.1 Giai thoại 48
16.9.2 Lịch sử 48
16.10 Xem thêm 48
Trang 6MỤC LỤC v
16.12 am khảo 49
16.13 Liên kết ngoài 49
16.14 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 50
16.14.1 Văn bản 50
16.14.2 Hình ảnh 50
16.14.3 Giấy phép nội dung 52
Trang 7Dương thức Thái cực quyền
Chiêu thức Đơn tiên trong quyền lộ của Dương gia Thái cực do
quyền sư Dương Trừng Phủ biểu diễn
Dương thức ái cực quyền, Dương gia thái cực quyền
hay Dương thị ái cực quyền ( , , ), là tên
gọi lưu pháiái cực quyềncủa dònghọ Dương,Trung
ốc Xuất phát từTrần thức ái cực quyền, được
Dương Lộ iền và con cháu xiển dương, phát triển
hình thành hệ thống riêng và lưu truyền rộng rãi về
sau, ái cực quyền của dòng họ Dương trở thành một
trong những chi phái ái cực quyền lớn nhất
Từ Dương gia ái cực quyền cũng khai sinhLý gia
ái cực quyền(Lijia Taiji an) doLý ụy Đông(Li
Ruidong),Ngô thức ái cực quyềndoNgô Toàn Hựu
(1834-1942) là các đệ tử của Dương Lộ iền sáng lập
Bàiái cực quyền giản hóa 24 thế hiện đang được
luyện tập phổ biến tại cáccâu lạc bộ dưỡng sinhtrên
toàn thế giới xuất phát từ các chiêu thức của Dương
thức ái cực quyền, được sáng tác vào thập niên 1950
ở Trung ốc dưới sự chỉ định củaốc gia ể Ủy
Trung ốc
1.1 Lịch sử
ái cực quyền của dòng họ Dương xuất xứ ban đầu
từ các chiêu thức của Trần gia ái cực quyền, đượcDương Lộ iền (Yang Lu-ch'an hoặc Yang Luchan,, 1799-1872), đến con làDương Kiện Hầu(Jianhou, 1839-1917) và cháu là Dương Trừng Phủ (YangChengfu , 1883-1936) phát triển, bổ sung thêm thắt,hình thành một lưu phái riêng
1.2 Đặc điểm
yền thức của Dương thức ái cực quyền mở rộnggọn gàng, cấu trúc chặt chẽ, thân pháp trung chính,động tác hòa thuận, nhẹ nhàng linh hoạt mà bình tĩnhlắng đọng Phép luyện từ buông lỏng dẫn vào mềm mại,cương nhu tương tế, có phong cách đặc sắc riêng biệt[1]
yền giá chia ra cao, vừa, thấp, người mới học có thểcăn cứ vào tuổi tác,giới tính, thể lực và mục đích luyệntập mà chọn lựa quyền giá cao hay thấp
1.3 Dương thức Thái cực quyền thập yếu
Dương thức ái cực quyền thập yếu[2] (10 yếu lĩnhluyện tập Dương thức ái cực quyền) bao gồm:
1 Hư linh đỉnh kình: đầu cổ ngay thẳng, thần quán
tại đỉnh, không vận sức mà phải tự nhiên
2 Hàm hung bạt bối: ngực hơi thóp vào để khí trầm
đan điền(hàm hung), và khí dính ở lưng (bạt bối)
3 Tùng yêu: buông lỏng eo, biến hóa hư thực của
động tác đều tùy theo sự chuyển động của eo
4 Phân hư thực: tách biệt rõ rệt hư thực của động
tác, thủ-bộ-cước pháp, trọng lượng dồn lên chânnào chân đó là thực, chân còn lại là hư
5 Trầm kiên trụy ẩu: hai vai buông lỏng tự nhiên
(trầm kiên), hai cùi chỏ cũng hạ thấp hướng xuống(trụy chẩu)
Trang 82 CHƯƠNG 1 DƯƠNG THỨC THÁI CỰC QUYỀN
6 Dụng ý bất dụng lực: toàn thân buông lỏng,
không sử dụng kình lực vụng về cứng nhắc, lấy
ý quán chỉ động tác Ý đến thì khí đến và từ khí
đến thì lực đến
7 ượng hạ tương tùy: tức trên và dưới đều phải
theo nhau Tay động, eo động, chân động, nhãn
thần theo đó mà động
8 Nội ngoại tương hợp: Khi khai cũng như khi hợp
đều dựa trên cơ sở trong ngoài hợp nhất, từ thần
thái cho đến cơ thể, trong đó thần là chủ soái và
thân là để sai khiến
9 Tương liên bất đoạn: vận động liên miên như kéo
tơ không gián đoạn
10 Động trung cầu tịnh: lấy tĩnh cai quản động, tuy
động mà như tĩnh Luyện càng chậm càng tốt,
càng chậm càng khiến hô hấp sâu dài, khí trầm
đan điền
1.4 Chiêu thức bài quyền
Bài quyền của dòng họ Dương dưới đây với thứ tự danh
xưng động tác theo bài do quyền sư nổi tiếngDương
Trừng Phủbiểu diễn và phân thế:
1.5 Kỹ thuật thôi thủ
Kỹ thuậtthôi thủ(đẩy tay) của dòng họ Dương bao gồm
2 dạng được lưu truyền:Định bộ thôi thủ,Hoạt bộ thôi
thủ
1.6 Chú thích
[1] ái cực quyền toàn tập, tập 2: Dương thức ái cực
quyền, Nhà xuất bản Đồng Nai, 2000, Trang 280
[2] Tóm tắt từ ái cực quyền toàn tập, đã dẫn, trang
285-289
1.7 Tham khảo
• ái cực quyền toàn tập, tập 2: Dương thức ái
cực quyền Nhà xuất bản Đồng Nai, 2000 Từ trang
280 đến trang 426
Trang 9Ngô thức Thái cực quyền
Ngô Nhạn Hà (Wu Yanxia , 1930-2001), hậu duệ đời thứ
tư của dòng Ngô thức Thái cực, trong động tác kết thúc chiêu
thức Vân thủ chuyển sang Đơn tiên
Ngô thức ái cực quyền, Ngô gia ái cực quyền,
Ngô thị ái cực quyền ( , , ), là tên gọi của
lưu pháiái cực quyềncủadòng họ Ngô,Trung ốc,
được truyền từDương thức ái cực quyền, phát triển
và chế biến ra mà thành
2.1 Lịch sử
Ngô thức ái cực quyền ban đầu do một ngườiMãn
tộcđã đổi sang họ Ngô làNgô Toàn Hựu(Wu
Ch'uan-yu hoặc Wu anCh'uan-yuo , 1834-1902) học từ Dương
Lộ iền, sau truyền cho con làNgô Giám Tuyền(Wu
Chien-ch'uan , 1870-1942) Ngô Giám Tuyền tham
bác thêm đường lối tiểu giá củaDương Ban Hầu, cải
tiến và tu sửa hình thành một hệ phái với những đặc
điểm riêng
2.2 Đặc điểm
Ngô thức ái cực quyền nổi tiếng có những chiêu thứchóa giải mềm mại, động tác nhẹ nhàng linh hoạt tựnhiên, liên tục không ngừng yền thức của dòng họNgô cũng sắc sảo gọn gàng nhưng không biểu lộ sự cốchấp Động tácthôi thủtinh tế kín đáo, giữ cái tịnh (thủtịnh) không vọng động, dùng nhu hóa giải[1]
2.3 Ngô thức Thái cực yếu lĩnh
Yếu lĩnh luyện tập Ngô thức ái cực quyền được chialàm 3 giai đoạn[2]và tùy mỗi giai đoạn sẽ có các phéptắc riêng
Trong giai đoạn đầu tiên của quá trình luyện tập bài
ái cực quyền, không cần hỏi đã có hay không cóluyện qua một loạivõ thuật nào khác mà người tậpngay lập tức cần thiết nắm vững và thực hành 4 điểm[3]
quan trọng: khinh (nhẹ nhàng, không cần gắng sứcphát lực), mạn (chậm rãi), viên (tròn trịa), vân (đềuđặn)
Trong giai đoạn 2, khi người tập đã vượt quacơ bảncông, bắt đầu bước vào giai đoạn cần nắm vững 4điểm[4]: linh hoạt (lấy hình động tác để tìm sự linh hoạt, gọn gàng, tự do, hơi nhanh hơn giai đoạn 1); tùng
tịnh (buông lỏng, lắng đọng, không gắng gượng mà để
tự nhiên); hoàn chỉnh (phối hợp nhịp nhàng toàn thân thành một khối thống nhất); liên quán (quyền thức liên
tiếp, xuyên suốt từ đầu đến cuối không gián đoạn).Vượt qua hai giai đoạn sơ trung nói trên, ở người tập
về phương diện động tác đã đạt sự hoàn thiện cơ sở,bắt đầu bước vào giai đoạn 3 với các yếu lĩnh tối caogồm[5] phân hư thực (nhanh chậm, cứng mềm, nặng
nhẹ trong thủ-bộ-cước pháp v.v đều phải hết sức chú
tâm); điều hòa hô hấp (khí trầm đan điền, hơi thở liên quán với động tác, hô hấp thâm sâu, tự nhiên); dụng ý
thức (dụng ý bất dụng lực, bình tĩnh lăng đọng); cầu hư tịnh (là công phu khó luyện nhất trong ái cực quyền
họ Ngô nhằm đạt cảnh giới tối cao “lấy tĩnh điều khiểnđộng”, “trong động tìm tĩnh” và “tuy động cũng nhưtĩnh”)
Trang 104 CHƯƠNG 2 NGÔ THỨC THÁI CỰC QUYỀN
2.4 Bài quyền
Bài ái cực quyền của dòng họ Ngô dưới đây với thứ tự
và danh xưng động tác theo quyền thức củaNgô Giám
Tuyền[6]lúc về già
2.5 Kỹ thuật thôi thủ
ôi thủ ái cực quyền dòng họ Ngô bao gồm 5 điểm
chính[7]: “bất đỉnh”, “bất đâu”, “tiên cầu khai triển”,
“không được chuyển động bộ pháp trước”, và “kình
đoạn nhưng ý không đoạn”
2.6 Chú thích
[1] ái cực quyền toàn tập, Tập 3: Ngô thức ái cực quyền,
Nhà xuất bản Đồng Nai, 2000 Trang 427-526
[2] ái cực quyền toàn tập, đã dẫn, trang 430.
[3] ái cực quyền toàn tập, đã dẫn, trang 432-433.
[4] ái cực quyền toàn tập, đã dẫn, trang 433-434.
[5] ái cực quyền toàn tập, đã dẫn, trang 434-439.
[6] ái cực quyền toàn tập, đã dẫn, trang 428
[7] ái cực quyền toàn tập, đã dẫn, trang 508-515.
2.7 Tham khảo
• ái cực quyền toàn tập, Nhà xuất bản Đồng Nai,
2000 Từ trang 427 đến trang 526
Trang 11Tôn thức Thái cực quyền
Tôn thức ái cực quyền, Tôn gia ái cực quyền hay
Tôn thị ái cực quyền ( , , ), còn gọi là Khai
hợp hoạt bộ ái cực quyền ( ), là dòng phái
ái cực quyềncủa dònghọ TônTrung ốc, được Tôn
Phước Toàn, tự là Lộc Đường xiển dương, phát triển
trên cơ sởVõ thức ái cực quyềnhọc từHác Vi Chân
dung hợp vớiHình ý quyềnvàBát quái chưởng
3.1 Lịch sử
Tôn Phước Toàn (Sun Fuquan ), tự làLộc Đường
(Sun Lu-t'ang hoặc Sūn Lùtáng , 1861-1932), vãn
hiệu Hàn Trai, là người huyện Hoàn, tỉnhHà Bắc Từ
nhỏ ông đã say mê võ thuật, theo Lý Khôi Viên học
Hình ý quyền (Xingyiquan ) và có cơ duyên thụ
giáo thầy ách Văn âm, vốn là tôn sư của Lý Khôi
Viên, được ách Văn âm chân truyền tuyệt kỹ Về
sau, Tôn Lộc Đường lại theo thầy Trình Diên Hoa học
Bát quái chưởng(Bāguàzhăng ) và đã mang công
phu thâm hậu sau nhiều năm luyện tập
Trong những năm tiếp theo Tôn Lộc Đường tiếp tục
theo học Võ thức ái cực quyền từHác Vi Chân Say
mê nghiên cứu, tiên sinh đã tinh thông ảo diệu cả ba hệ
quyền thuật, dung hợp thành một mà sáng tạo ra Tôn
thức ái cực quyền[1]
3.2 Đặc điểm
Tôn thức ái cực quyền có bộ pháp tới lui theo nhau,
bước tới thì chân sau theo, bước lui thì chân trước
rút về[1], khá gần với kỹ thuậtđạp bộcủaVịnh Xuân
quyền Kỹ pháp của Tôn thức ái cực thư thái, tròn
trịa, linh hoạt, nhanh nhẹn, tự nhiên Lúc luyện hai
chân hư-thực phân biệt rõ ràng yền thức giống như
mây bay nước cuốn, liên tục không ngừng, mỗi lúc
chuyển thân lại lấy các chiêu “khai” và “hợp” tiếp nhau,
nên còn được gọi là Khai hợp hoạt bộ ái cực quyền[1]
3.3 Quyền thức 3.4 Kỹ thuật thôi thủ
Công phuthôi thủcủa Tôn thức ái cực quyền gồmĐịnh bộ thôi thủvàHoạt bộ thôi thủ
3.5 Chú thích
[1] ái cực quyền toàn tập, Tập 5: Tôn thức ái cực quyền,
Nhà xuất bản Đồng Nai, 2000, trang 618
3.6 Tham khảo
• ái cực quyền toàn tập, Tập 5: Tôn thức ái cực
quyền; Nhà xuất bản Đồng Nai, 2000 Trang 692
Trang 12618-Chương 4
Trần thức Thái cực quyền
Chiêu thức Đơn tiên trong Thái cực quyền của họ Trần
Trần thức ái cực quyền, Trần gia ái cực quyền,
hay Trần thị ái cực quyền ( hoặc ) là tên
gọi của trường pháiái cực quyềncủa dònghọ Trần,
được quyền sư nổi tiếngTrung Hoa,Trần Vương Đình
(Chen Wang Ting, ), sáng tạo vào giai đoạnMinh
mạtanhsơ và được các thế hệ con cháu trong dòng
họ trau truốt, tinh luyện qua nhiều thế hệ
Nếu không tính đến huyền thoại về những tổ sư khai
sáng ái cực quyền, Trương Tam Phong và Vương
Tông Nhạc, mà giới võ học chưa thể bạch hóa, ái cực
quyền của dòng họ Trần khởi nguồn từ Trần Vương
Đình được công nhận là nguồn cội của nhiều dòng phái
ái cực quyền về sau Trong số đó đáng chú ý làDương
thức ái cực quyềndoDương Lộ iền(1799-1812); và
Võ thức ái cực quyềndoVõ Vũ Tương(1812-1880)
sáng lập Hai ông học Trần thức ái cực quyền từ cháu
thứ 14 của dòng họ Trần, trong đó Dương Lộ iền thụ
truyền từTrần Trường Hưng( , 1771-1853) và Võ Vũ
Tương sở đắc lý pháp Trần gia ái cực quyền từTrần
anh Bình( , 1795-1868)
4.1.1 Khởi nguyên
Cuối thế kỷ 14, một người nông dân tên Trần Bốc
(Chen Bu hoặc Chen Pu ) tới cư ngụ tại một làng
nhỏ thuộc huyện Ôn (Wenxian), tỉnh Hà Nam, phía Bắc
sôngHoàng Hà(Huanghe) Ông là người tỉnh Sơn Tây(Shanxi), và là tổ của gia đình họ Trần Làng mà ôngtới cư ngụ về sau được gọi là Trần Gia Câu (ChenjiaGou, )[1] eo một số người trong gia tộc họ Trần,môn võ (ái cực quyền) khởi nguyên từ tổ phụ TrầnBốc, tuy nhiên nhiều học giả đã bác bỏ điều này và thừanhận chínhTrần Vương Đình(Chen Wangting, 1600-1680) mới là khởi nguyên của ái cực quyền dòng họTrần
Trần Vương Đình sống vào cuối đời Minh đầu nhà
anh, là người đất Ôn, tỉnh Hà Nam, đời thứ 9 củadòng họ Trần ở Trần Gia Câu Trong thời nhà Minh,Trần Vương Đình từng giữ chức vụ tuần phủ, án sátSơn Đông, Trực Lệ, tỉnhHà Bắcvà là Liêu Đông kiêmchức giám quân, chống nhau với giặc anh hơn 4 năm
yểnTrần thị Gia phổ( Chenshi Jia Pu) có ghi:
Ông sinh vào cuối triều đại nhà Minh đầu triều đại nhà
anh, danh tiếng tại tỉnh Sơn Đông, đánh đuổi quân cướp, và là người đầu tiên đem vào gia đình ông môn quyền , đao và thương , ông thường sử dụng cây đại đao[1].Năm 1644 khi nhà Minh mất, Trần Vương Đình lui về
ẩn cư Từ đây ông tập trung nghiên cứu, tổng hợp cácmôn võ thuật đương thời[2], lấy 29 thức trong số 32thức củayền kinhcủaích Kế ang, để cải tạothành một bài riêng truyền lại cho con cháu ái cựcquyền được Trần Vương Đình truyền lại cho con cháutrong họ, đời đời luyện tập và không ngừng cải tiến
tinh luyện Cuốn Trần thị gia phổ cũng cho biết Trần
Vương Đình tuy đem vào dòng họ 3 môn quyền, đao,thương, nhưng các đời về sau chỉ còn truyền lại quyền
mà thôi
4.1.2 Hệ thống công phu
Trước thế kỷ 14, theo Trần thị gia phổ hệ thống
võ học của dòng họ Trần bao gồm 7 quyền lộ:Đầu sáo quyền (Toutaoquan) còn được gọi ậptam thức (Shisan Shi); Nhị sáo quyền (Ertaoquan);Tam sáo quyền (Santaoquan) còn được gọi là Đại
tứ sáo trùy (Dasitaochui); Tứ sáo quyền (Sitaoquan)còn được gọi là Hồng quyền (Hongquan) hay ái
tổ hạ nam đường (Tauzu Xia Nantang); Ngũ sáoquyền (Wutao quan); Trường quyền (Chang quan)6
Trang 13(Sanshou); Kiều thủ (Jishou); Lược thủ (Lueshou);
Sử thủ (Shushou), Tam thập lục cổn diệt (Sanshiliu
Gunyue); Kim cang thập bát noa pháp (Jingang Shiba
Nafa) Ngoài ra là binh khí với Đơn đao (Dandao);
Song đao (Shuangdao); Song kiếm (Shuangjian); Song
giản (Shangjian), Bát thương (Baqiang); Bát thương
đối thích pháp (Baqiang Dui Cifa); ập tam thương
(Shisanqiang); Hoàn hậu Trương Dực Đức tứ thương
(Huan Hou Zhang Tesi qiang); Nhị thập tứ thương
(Ershisiqiang Lianfa); Bàng la bảng (Panluobang) Xuân
thu đao (Chungqiuđao); Bàng la bảng luyện pháp
(Panluobang Lianfa); Tuyền phong côn (Xuanfenggun);
Đại chiến phác liêm (Dazhan polian)[1] Trong hệ thống
quyền pháp Trần gia nổi lên 2 quyền lộ chính: Trường
yền vốn xuất xứ từ quyền pháp của ích Kế ang
dài và phức tạp, và ập Tam ức vốn lấy từ ái cực
quyền Phổ củaVương Tông Nhạc Tuy vậy, Trần gia
ái cực quyền chủ yếu vẫn là Trường yền, còn ập
Tam ức do con cháu họ Trần học lại từ Vương Tông
Nhạc về sau
4.1.3 Trần gia Lão giá và Tân giá
Cho đến thời cận đại, đời thứ 14 của dòng họ Trần
vào thế kỷ 19, ái cực quyền của dòng họ Trần phát
sinh thành hai nhánh Một chi nhánh xuất từTrần Sở
Nhạc(Chen Suoyue) truyền bởiTrần Hữu Bản(Chen
Youben ) vàTrần Hữu Hằng(Chen Suoyue) Một
chi nhánh khác xuất phát từTrần Trường Hưng(Chen
Changxing hoặc Ch'en Chang-hsing , 1771-1853)
Trong khi Trần Trường Hưng vẫn đi theo hệ thống gia
truyền gọi là Lão giá (“ái cực quyền Trần gia Lão
giá", hay “ái cực quyền Trần gia Đại giá"), Trần Hữu
Bản đã cải tiến ái cực quyền do tổ phụ để lại thành
hệ thống Tân giá (xinjia ) (ái cực quyền Trần gia
Tân giá) Tuy vậy, hệ thống Tân giá ái cực quyền
vẫn dựa chủ yếu trên nền Lão giá eo truyền thuyết,
ba quyền sư này đã tóm gọn lại quyền giá, từ 7 bài
quyền xưa chỉ còn lại 2 bài:Đệ nhất lộ(Diyliu) vàPháo
trùy quyền(Paochui) Về sau,Trần anh Bình(Chen
Qingping hoặc Ch'en Ch'ing-p'ing , 1795-1868) lại
sáng tạo thêm các động tác mới và cải tiến quyền thức
gọn gàng hơn, hình thành nên Tiểu giá (xiao jia )
ái cực quyền, là bộ thứ 2 trong Tân giá quyền thức
của Trần gia[3] Kỹ pháp do Trần anh Bình nhuận sắc
và truyền dạy cũng được gọi là Bảo giá hayTriệu Bảo
gia ái cực quyền
Vào thế kỷ 20, Chi nhánh Trần thức Đại giá khởi nguồn
từ Trần Trường Hưng lại chia ra hai chi phái Bảo giá
Trần Trường Hưng (Trần gia Lão giá) có dạy ái cựcquyền ra ngoài nội tộc Hai học trò được biết nhất
làDương Lộ iền (Yang Luchan) vàLý Bá Khôi (LiBokui) và sau này, Dương Lộ iền là người thành lậpchi pháiDương thức ái cực quyền Từ Dương thức
ái cực quyền, nhờ Ngô Giám Tuyền (1870–1942),cũng đã khai sinh dòngNgô thức ái cực quyền
Từ các đệ tử của Trần anh Bình (Trần gia Tiểugiá), đã sinh thành các lưu phái Võ thức ái cựcquyềndoVõ Vũ Tương(1812–1880) sáng lập; Hòa gia
ái cực quyền (Hijia Taiji an) lập bởiHòa TriệuNguyên(HeZhaoyuan, 1810-1890),Tam hợp nhất áicực quyền(Sanheyi Taiji an) lập bởiTrương KínhChi (Zhang Jingshi)[1] Đệ tử của Võ thức ái cựcquyền,Tôn Lộc Đườngvề sau khai sinhTôn thức áicực quyền
4.3 Yếu lĩnh của Trần gia Thái cực
Đặc điểm của Trần thức ái cực quyền có thể tóm lượctrong 8yếu lĩnhđượcTrần thị quyền phổquy định:
7 Từ cương đến nhu phối hợp (cương nhu phối triển)
8 Vận động nhanh chậm xen nhau, từ chậm đếnnhanh, từ nhanh đến chậm
4.4 Quyền lộ
4.4.1 Đặc điểm
Bài quyền thứ nhất, hay "Đệ nhất lộ", có đặc điểm làđộng tác rõ ràng, đơn giản, nhu nhiều cương ít, lấytứchính kìnhbằng, lý, tê, án (nâng, kéo, đẩy, đè) vận dụng
Trang 148 CHƯƠNG 4 TRẦN THỨC THÁI CỰC QUYỀN
ty kình” (kình lực xoắn ốc như quấn tơ) làm chính và
phát kình làm phụ[4] Động tác của bài khoan thai, mềm
mại, vững chắc và chậm rãi, thích hợp chodưỡng sinh
Bài quyền thứ hai, còn gọi là “Pháo chùy quyền”, có
động tác phức tạp hơn, đòi hỏi sự nhanh nhẹn, gọn
gàng, cương nhiều nhu ít, vận kình với thái, liệt, chẩu,
kháo (chộp, cắt, chỏ, dựa) làm chính và bằng, lý, tê, án
(nâng, kéo, đẩy, đè) làm phụ[4] Động tác của bài cứng
rắn, mau lẹ, có nhiều động tác nhảy nhót né tránh, thích
hợp trongthực chiến
4.4.2 Chiêu thức
Dưới đây là tên chiêu thức trong 2 bài của Trần gia ái
cực quyền, do quyền sư Trần Phát Khoa(Chén Fākē
hoặc Ch'en Fa-k'e , 1887-1957) và con trai là
Trần Chiếu Khuê(Chen Zhaokui , 1928-1981) biểu
diễn, phân thế:
4.5 Kỹ thuật thôi thủ
Là những bài tập nhằm ứng dụngái cực quyềntrong
chiến đấu, kỹ thuậtthôi thủ[7] của Trần thức ái cực
quyền thực hiệnbộ phápmột tiến một lùi, cũng có thể
tiến liên tục hoặc lùi liên tục ủ pháp cơ bản là “bằng”,
“lý", “tê", "án” gọi là tứ chính thủ và thủ pháp nâng cao
là “thái”, “liệt”, “chẩu”, “kháo” gọi là tứ ngung thủ, đại
lý hay đại kháo[8]
Sau khi thành thục cả tứ chính thủ và tứ ngung thủ,
tiến tới bước tán thủ hay còn gọi là loạn thác hoa, tức
phương thức thôi thủ không câu nệ bước chân[9]
4.6 Chú thích
[1] Gia đình họ Trần và ái cực quyền
[2] Tập 1, “Trần thức ái cực quyền”, trong cuốn ái cực
quyền toàn tập, Nguyễn Anh Vũ biên dịch, võ sư Đỗ
Đặng Phong hiệu đính Nhà xuất bản Đồng Nai, 2000
Trang 12
[3] ái cực quyền toàn tập, đã dẫn, trang 12
[4] ái cực quyền toàn tập, đã dẫn, trang 13.
[5] ái cực quyền toàn tập, đã dẫn, trang 88-90
[6] ái cực quyền toàn tập, đã dẫn, trang 209-211
[7] Là những kỹ thuật dính tay, đẩy tay giữa hai môn đồ
nhằm luyện linh giác, cảm ứng với lực nhằm hóa giải
đòn thế tấn công của đối thủ và phản đòn, đưa đối thủ
vào vị trí bất lợi
[8] ái cực quyền toàn tập, đã dẫn, trang 255
[9] ái cực quyền toàn tập, đã dẫn, trang 256
• Đệ nhất lộ Trần thức ái Cực quyền (Trường
yền, 83 thức, Lão giá) do Trần Tiểu Tinh (ChenXiao Sing) diễn luyện:(Trần Tiểu Tinh diễn luyệntrọn bài nhất lộ thuộc Lão giá)
• Đệ nhị lộ Trần thức ái Cực quyền (Pháo Chùy,
71 thức, Tân giá) do Trần Chính Lôi (Chen ZhengLei) diễn luyện:(Trần Chính Lôi diễn luyện trọnbài nhị lộ thuộc Tân giá)
• Trần Chính Lôi (Chen Zheng Lei) diễn ôi ủ
(Tuishou):
Trang 15Võ thức Thái cực quyền
Võ thức ái cực quyền, Võ gia ái cực quyền, Võ
thị ái cực quyền ( , , ), còn có tên khác
là Lý gia ái cực quyền hay Lý giá ái cực quyền
( hoặc ), Hác gia ái cực quyền ( , chữ
có thể đọc là “Hác” hoặc “Hách”), là tên gọi của một
lưu pháiái cực quyềnnguyên khởi từTrần thức ái
cực quyềnqua thụ truyền củaDương Lộ iềnvàTrần
anh Bình, kết hợp với kỹ thuật và lý luận trongái
cực quyền phổcủaVương Tông Nhạccùng những sáng
tác của anh emhọ Võmà thành
Võ thức ái cực quyền truyền đến đời cháu ngoại là
Lý Kinh Luânvà lại được tu đính một lần nữa, hình
thành những kỹ thuật riêng nhưng không ra ngoài sự
bao quát của kỹ thuật tổ truyền Lý Kinh Luân truyền
ái cực quyền lại cho một người đồng hương làHác
Hòa(1849-1920) Về sau, khi hậu bối của haihọ Võ,Lý
không nghiên cứu ái cực quyền, kỹ pháp Võ thị ái
cực gồm kiêm Lý giá được truyền tập cho đời sau từ họ
Hác
Từ Hác Vi Chân, Võ thức ái cực quyền truyền sang
Tôn Phước Toàntự làLộc Đường(Sun Lu-t'ang hoặc
Sūn Lùtáng , 1861-1932), và được dung hợp vớiHình
ý quyền,Bát quái chưởngđể sáng tạo thànhTôn thức
ái cực quyền
5.1 Lịch sử
5.1.1 Võ thức
Võ thức ái cực quyền khởi nguyên từ anh em họ Võ
ởVĩnh Niên,Hà BắcTrung ốc Ba anh em trong gia
đình họ Võ, trong đó cóVõ Hà anh, thường được biết
dướitên tựlà Võ Vũ Tương (Wu Yu-hsiang ,
1813-1880), và anh trai làVõ Trừng anh( , 1800-1884),
đều luyện tậpvõ thuậttừ nhỏ Sau khi Dương Lộ iền
(Yang Lu-ch'an hoặc Yang Luchan, , 1799-1872) từ
Trần Gia Câu về quê, anh em Vũ Tương theo học Trần
thức Lão giá ái cực quyền từDương Lộ iềnmột
thời gian (vào thời điểm Dương Lộ iền chưa sáng tạo
Dương gia ái cực quyền), sở đắc được đại khái[1] Khi
anh trai của Vũ Tương là Trừng anh đậutiến sĩnăm
1852 và ra làm quan ở Hà Nam, Vũ Tương theo anh
nhậm sở đã qua huyện Ôn Trần Gia Câu, muốn xin họcthầy củaDương Lộ iềnlàTrần Trường Hưng(ChenChangxing hoặc Ch'en Chang-hsing , 1771-1853)nhưng Trần Trường Hưng đã ngã bệnh vì tuổi cao BiếtTrần anh Bình(Chen Qingping hoặc Ch'en Ch'ing-p'ing , 1795-1868) đang truyền dạy Trần thức Tângiá ái cực quyền ở Triệu Bảo Chấn, Võ Tương liềntheo anh Bình học Tân giá được trên một tháng và
ít nhiều nắm được yếu lĩnh, lý pháp
Trong khi đó Võ Trừng anh ởVũ Dươngtìm đượccuốnái cực quyền phổ( ) củaVương Tông Nhạc,đưa lại cho Võ Tương Võ Vũ Tương nhận được sách,
ra sức nghiên cứu và phát huy ý nghĩa quyền phổ củaVương Tông Nhạc, kết hợp với những thể nghiệm củabản thân để sáng tác hoặc nhuận sắc các tác phẩm
ập tam thế hành công tâm giải( ),ập tam thế hành công ca quyết( ),Đả thủ ca yếu ngôn
( ) và quy nạp yếu lĩnh phương pháp rèn luyệncủa ông thànhân pháp thập yếu( )[1] Tất cả cáctác phẩm này về sau được gộp chung trong quyền phổcủaVương Tông Nhạc, và được nhiều chi phái ái cựcquyền xem là kinh điển về phép tập ái cực quyền[2]
5.1.2 Lý thức
Đến đời cháu của Vũ Tương mang tênLý Kinh Luân,
tự là Diệc Dư (Li I-yü , 1832-1892), nguyên là thầythuốc, đã học quyền với Vũ Tương vào năm 1853 và tựnghiệm kỹ thuật, tu đính thêm lần nữa quyền phổ củaVương Tông Nhạc[2] eo lời cháu của Lý Diệc Dư làHòe Ám năm 1935 trongái cực quyền phổ tự, thì bảnquyền phổ đó do tiên tổ của ông lúc về già trước tác và
tu sửa thêm phần hoàn thiện
5.1.3 Hác thức
Lý Diệc Dư truyền tuyệt kỹ công phu ái cực quyềnlại cho một người đồng hương làHác Hòa, tự là Vi Chân(Hao Wei-chen , 1842-1920)
Trong những năm đầuTrung Hoa dân quốc, Võ thức
ái cực quyền truyền vàoBắc Kinhvà có người gọi
là “Lý giá" (yền thức của họ Lý), hay Lý thức ái
cực quyền Khi ái cực quyền theo bước chân của con
Trang 1610 CHƯƠNG 5 VÕ THỨC THÁI CỰC QUYỀN
Hác Vi Chân là Hác Nguyệt Như (Hao Yüeh-ru ) và
cháu làHác iếu Như(Hao Shao-ju hoặc Hao Shaoru,
) đếnượng Hải,Nam Kinh, thì lại có người gọi là
“Hác giá" (quyền thức của họ Hác), hay Hác thức ái
cực quyền Bản thân Hác Nguyệt Như cũng để lại nhiều
trước tác, chủ yếu là những ca quyết và trải nghiệm của
ông trong võ học
Do con cháu của họ Võ và họ Lý không nghiên cứu ái
cực quyền, từ giữathế kỷ 20Võ thức ái cực quyền đã
được truyền lưu từ họ Hác Đặc biệt từ sau năm 1961
khi Cơ quan thể dục ượng Hải lập Ban nghiên cứu
học tập Võ thức ái cực quyền, đã mời Hác iếu Như
ra dạy[3]
5.2 Đặc điểm
yền thức của Võ thức ái cực không giống Trần
thức Lão giá và Tân giá, cũng không giống Dương thức
Đại giá và Tiểu giá, mà biến hóa thành một phái riêng
có đặc điểm gọn gàng về tư thế, chậm rãi về động tác,
hư thực phân biệt rõ ràng về bộ pháp, lúc tiến cũng
như lúc thoái phần ngực và phần bụng xoay chuyển
giữ trung chính, hoàn toàn dùng sự chuyển đổi hư thực
củanội kìnhvànội khíđể phối hợp với ngoại hình Hai
tay vận chuyển kín đáo, lúc xuất thủ không vượt quá
mũi chân[2]
Bài quyền ban đầu có những tư thế nhảy nhót nhưng
đến đời thứ 4 là Hác Nguyệt Như (1877-1935) đã tu sửa
bỏ đi[2], nhằm dụng ý thích hợp cho luyện tập của người
già và người thân thể suy nhược
5.3 Yếu lĩnh
Cácyếu lĩnhrèn tập Võ thức ái cực quyền rất mực
phong phú, bao hàm cả những yếu lĩnh nằm trong tác
phẩm của Vương Tông Nhạc do những tác phẩm này
lưu truyền ban đầu từ Võ Vũ Tương, và những sáng tác
về sau của Võ Vũ Tương Hệ thống sách kinh này gồm
các cuốn ái cực quyền kinh, ái cực quyền luận, ập
tam thế, Đả thủ ca do Vương Tông Nhạc chấp bút; ập
tam thế hành công ca quyết của tác giả khuyết danh;
ập tam thế hành công tâm giải và ái cực quyền luận
của Võ Vũ Tương[4]
5.4 Bài quyền
Bài Võ thức ái cực quyền dưới đây với thứ tự và danh
xưng động tác theo quyền thức của Hác iếu Như khi
dạy tại Ban nghiên cứu học tập Võ thức ái cực quyền
trực thuộc Cơ quan ể dục ượng Hải
5.5 Kỹ thuật thôi thủ
Võ Vũ Tương và Lý Diệc Dư chỉ truyền về sau một loạihoạt bộ thôi thủ Bộ pháp của kỹ thuật thôi thủ củadòng họ Võ bao gồm tiến tới 3 bước rưỡi và lui ba bướcrưỡi Trong lúc bước vận dụng “bằng”, “lý", “tê", "án” tứchính thủ[5] Phương pháp luyện tập tương tự các lưuphái ái cực quyền khác
5.6 Chú thích
[1] ái cực quyền toàn tập, Nhà xuất bản Đồng Nai, 2000.
Tập 4: Võ thức ái cực quyền Trang 528
[2] ái cực quyền toàn tập, đã dẫn, trang 529.
[3] ái cực quyền toàn tập, đã dẫn, trang 530.
[4] ái cực quyền toàn tập, đã dẫn, trang 531-553 [5] ái cực quyền toàn tập, đã dẫn, trang 615.
5.7 Tham khảo
• ái cực quyền toàn tập, Nhà xuất bản Đồng Nai,
2000 Từ trang 527 đến trang 616
Trang 17Chí Thiện
Chí iện iền Sư (Jee Shim Sim Si) theo truyền
thuyết được coi là một trong năm cao đồ của iếu
Lâm còn sống sót sau vụ hỏa thiêu của triều đình Mãn
anh Một số câu chuyện kể rằng Chí iện đến từ
chùa Bắc iếu Lâm ở Hồ Nam Một số khác lại cho
rằng ông là trụ trì của chùa Nam iếu Lâm ở Phúc
Kiến Cũng có chuyện cho rằng ông vốn từ chùa Bắc
iếu Lâm, khi chùa này bị đốt phá vào giữa thế kỷ 18
thì chuyển xuống chùa Nam iếu Lâm khi và ở đây
cho đến khi chùa này gặp đại nạn tương tự thì mới rời
đi Chí iện vốn rất nổi danh trong giới quyền thuật
ở Nam Trung ốc Ông là một trong năm cao đồ của
Nam iếu Lâm và là học trò của thầy Phát Hải (Faat
Hoi) Ông cũng được coi là thầy của người sáng lập
môn Hồng Gia yền (Hung Ga Kuen), Hồng Hy an
(Hung Hei-Goon) Có nhiều truyền thuyết khác nhau
nói về viêc các kỹ thuật của Chí iện truyền cho đoàn
uyền Hồng
Tương truyền Ngũ Mai cũng là một trong 5 nhân vật
truyền thuyết trốn thoát khỏi chùaNam iếu Lâm
Toàn Châu Phúc Kiếnsau cơn đại nạn chùa bị các đại
tướngMãn anhhỏa thiêu, 5 người này về sau được
các võ phái miền Nam Trung Hoa (ảng Đông,ảng
Tây,Phúc Kiến,Tứ Xuyên,Vân Nam) tôn vinh là Ngũ
tổ củaNam quyền, 5 vị đó là:
1 Ngũ Mai lão ni sư thái (chữ Hán: , phiên âm
Latin: Ng Mui Si Tai hay Wu Mei Shitai)
2 Bạch Mi Đạo Nhân (chữ Hán: , phiên âm
Latin: Bai Mei Dao Ren)
3 Chí iện thiền sư (chữ Hán: , phiên âm
Latin: Jee Sin Sim See)
4 Phùng Đạo Đức (chữ Hán: , phiên âm Latin:
Fung Do Duk hay Fung To Tak)
5 Miêu Hiển (chữ Hán: , phiên âm Latin: Miu Hin
hay Mew Hing) là cha của Miêu úy Hoa (chữ
Hán: , phiên âm Latin: Miu Tsui Fa), ông ngoại
của Phương ế Ngọc (chữ Hán: , phiên âm
Latin: Fong Sai Yuk)
Tại mục bàiHồng Gia yềntrong tài liệu Nam quyền
Toàn thư - nguyên tác Trung văn của quyền sư (Tiến sĩ)
Trương Tuấn Mẫn (dịch giả Việt ngữ iên Tường) có
nhắc đến Ngũ Tổ là năm vị sư tổ củaNam iếu Lâmchính là 5 vị trên mà các phái võ miền Nam Trung Hoa
tự nhận là 5 vị sư tổ củaNam quyền
6.1 Lịch sử Vĩnh Xuân quyền
eo một truyền thuyết, trong thời gian rời khỏi Nam
iếu Lâm và lưu lạc đến đoàn uyền Hồng, Chí iện
đã gặp một nhà sư khác và học được kỹ thuật về mộtloại mộc nhân làm từ cánh buồm)
Về thời kỳ Chí iện đến với đoàn uyền Hồng, có 2giả thiết chính Giả thiết thứ nhất là một câu chuyệndân gian, kể rằng Chí iện trong khi đóng giả làmmột người ăn mày để đi trốn, có nghe về đoàn uyềnHồng và tìm đến xem biểu diễn Mặc dù khả năng biểudiễn, các kỹ thuật và kiến thức của họ rất gây ấn tượngvới ông nhưng ông nhận thấy là họ cần phải chỉnh sửathêm Khi đoàn dừng lại chuẩn bị cho một buổi biểudiễn ở ảng Châu, ông đã đến xin được tham gia Banđầu những nghệ sĩ của đoàn uyền Hồng cho rằngông chỉ là một người ăn mày bình thường nên đã đuổi
đi Chí iện quyết định dạy cho họ một bài học Ôngbước đến đứng tấn đặt một chân lên thuyền, một chântrên bờ Những người chèo thuyền nghĩ rằng sẽ cho lãogià lẩm cẩm này tắm một trận, nhưng họ đã không thểlàm cho chiếc thuyền di chuyển Nhận ra người ăn mày
là một nhân vật không thường, họ đã cúi xin ông nhậnlàm học trò Chí iện đồng ý và ông đã truyền dạy choHoàng Hoa Bảo, Lương Nhị Để, Đại Hoa Diện Cẩm vànhững người khác các kỹ thuật chiến đấu và côn pháp
“Lục Điểm Bán Côn” lừng danh của ông Họ đã đặt têncho hệ thống ông dạy là Vĩnh Xuân yền để dấu đitên thật của ông
eo một giả thiết khác phổ biến trong dòng Chí iệnVịnh Xuân yền, nói rằng Chí iện trốn tránh truylùng bằng cách làm đầu bếp trên đoàn uyền Hồngcủa gánh hát ảng Đông Một hôm, có một tên côn
đồ là Lao Fu Wong (Wong “Cọp”) đến đòi tiền và đedọa đốt thuyền nếu không làm theo lời hắn Mặc dù cácnghệ sĩ của đoàn uyền Hồng gỏi võ thuật, nhưng họchỉ chuyên về biểu diễn chứ không giỏi chiến đấu vàkhông có khả năng chống lại được tên kia Đúng lúc
Trang 1812 CHƯƠNG 6 CHÍ THIỆN
nguy nan đó, người đầu bếp đã bước ra và giao đấu với
Wong “Cọp” Trước sự ngạc nhiên đến ngỡ ngàng của
mọi người có mặt ở đó, mặc dù tên côn đồ tìm cách tấn
công để hạ gục rất nhanh gọn nhưng vẫn không làm
gì được ông Ngay khi chạm vào người đầu bếp, Wong
cảm thấy các ngón tay đau như bị gãy rời ra Ngượng
ngùng xấu hổ, Wong tiếp tục lao vào tấn công, nhưng
rồi hắn thấy luôn bị người đầu bếp nắm được ý đồ và
điều khiển hắn ấy gặp phải đối thủ ghê gớm, Wong
chịu thua và chuồn mất tăm ay lại với những nghệ
sĩ của gánh hát còn đang ngỡ ngàng sửng sốt, người
đầu bếp tiết lộ mình là Chí iện - sư trụ trì chùa Nam
iếu Lâm Ông nhận lời dạy võ thuật cho các thành
viên của đoàn uyền Hồng Hệ thống võ thuật này
được họ gọi là Vĩnh Xuân, tức Mùa xuân vĩnh cửu để tỏ
lòng tôn kính đến chùa iếu Lâm nơi Chí iện từng
dạy Trong số họ có Hoàng Hoa Bảo và Đại Hoa Diện
Cẩm
eo hệ thống của Diệp Vấn, vẫn còn có dấu vết sự
đóng góp của Chí iện trong bài “Lục Điểm Bán Côn”,
được truyền lại qua Lương Nhị Để
Khó có thể biết được Chí iện là tên thật hay là bí
danh Tuy nhiên, theo hệ thống Vịnh Xuân quyền (đối
lập lại với hệ thống Vĩnh Chun Kuen), vai trò của Chí
iện trong các câu truyện truyền thuyết dường như có
vẻ không đúng là nguồn gốc của “Lục Điểm Bán Côn”
eo tài liệu Mộc Nhân Trang của Diệp Vấn, do Diệp
Chuẩn và Lương Đỉnh cho ấn hành xuất bản tại Hương
Cảng năm 1980, Chí iện, Ngũ Mai, Nghiêm Vịnh
Xuân là những nhân vật không có thật
eo Diệp Chuẩn, căn cứ vào tác phẩm Trung Hoa
Khúc Hí Sử (lịch sử kịch nghệ cổ truyền Trung Hoa),
tổ khai sáng của Vịnh Xuân là Trương ủ Ngũ, hay
an ủ Ngũ là một cao thủ iếu Lâm yền, rất
giỏi các tuồng ca kịch ảng Đông (người Trung Hoa
gọi là Việt Kịch, kịch của các tộc Nam Việt và Đông Việt
trong bộ tộc lớnBách Việtlưu trú vùng phía Nam bờ
Trường Giang), đã truyền bá võ công iếu Lâm trên
các đoàn Hồng uyền Hí Ban
eo tài liệu Võ Bị Chí (Wubishi) củaBạch Hạc quyền
tại huyện thị Vĩnh Xuân tỉnhPhúc Kiến, Vĩnh Xuân
quyềnvà Vịnh Xuân quyềncó liên quan đến cái tên
Vĩnh Xuân Đường hay Cung Vĩnh Xuân là nơi mà
Chí iện luyện võ trong chùa Nam iếu Lâm, và
2 nhân vật Phương Vĩnh Xuân (tương truyền gọi là
Phương ất Nương (Fang Qi Niang) là con gái thứ 7
củaPhương ế Ngọcđồng thời là sư tổ khai sángBạch
Hạc quyền) và nhân vậtNghiêm Vịnh Xuânlà học trò
củaNgũ Mai
Có nhiều truyền thuyết trong dân gian lại cho rằng
Vĩnh Xuân quyềnvàVịnh Xuân quyềnkhông phải xuất
phát từ Chí iện mà xuất phát từ thủy tổ của nó là một
môn phái lớn tên gọi đầy đủ là Phúc Kiến Vĩnh Xuân
Bạ Hạc quyền gọi tắt làBạch Hạc quyền
6.2 Tài liệu tham khảo chính: kỹ thuật Kiều thủ Nam Thiếu Lâm
• Nam yền Toàn ư – nguyên tác Trung văn
yền Sư Tiến sĩ Trương Tuấn Mẫn - bản dịch Việt ngữ của dịch giả iên Tường, nhà xuất bản Mũi Cà
Mau.
• Nam iếu Lâm, bản dịch của Hồ Tiến Huân, nhà
xuất bản ể dục ể thao Hà Nội.
• uật ngữ Kiều thủ Vịnh Xuân quyền
Trang 19Diệp Vấn
Diệp Vấn (1893-1972) là một võ sư nổi tiếng người
Trung ốc, được xem là người có công lớn trong việc
hình thành và quảng bá hệ phái Vịnh Xuân quyềnở
Hồng Kông Một trong những đệ tử thành danh của ông
chính là minh tinh màn bạcLý Tiểu Longtrong những
năm đầu đời khi họ Lý mới tập tành học võ thuật
7.1 Tiểu sử
Diệp Vấn sinh ra trong một gia đình giàu có ởPhật
Sơntỉnhảng Đông Cha ông là Diệp Lợi Đô và mẹ
là Nguyên Lợi Ông là người con thứ 3 trong gia đình 4
anh chị em, gồm có anh trai, chị gái và 1 em gái.[2]
Diệp Vấn bắt đầu theo học Vịnh Xuân yền của sư
phụ Trần Hoa uận từ năm lên 7 Vì sư phụ khi đó đã
70 tuổi nên Diệp Vấn là đệ tử cuối cùng của thầy.[3][4]
Do tuổi tác của Trần Hoa uận đã cao, Diệp Vấn chủ
yếu học phần lớn các kỹ năng và kỹ thuật từ người đệ
tử thứ hai của sư phụ là sư huynh Ngô Trọng Tố ( )
Sư phụ Trần Hoa uận mất sau khi Diệp Vấn theo học
được 3 năm và một trong những di nguyện của thầy là
mong muốn Ngô Trọng Tố tiếp tục dạy dỗ Diệp Vấn
Năm 16 tuổi, Diệp Vấn chuyển tới Hồng Kông với sự
giúp đỡ của người họ hàng là Leung Fut-ting Một năm
sau, ông theo học tại trường trung học St Stephen’s
College, Hong Kong dành cho con cái các gia đình giàu
có và người nước ngoài sinh sống tại Hồng Kông.[2]
Trong thời gian theo học, ông từng chứng kiến cảnh
một cảnh sát ngoại quốc đánh một phụ nữ và ông đã
can thiệp giúp người phụ nữ đó.[2]Tay cảnh sát cố tấn
công nhưng Diệp Vấn đã quật ngã hắn và chạy đến
trường với bạn cùng lớp Người bạn này sau đó đã kể lại
chuyện này cho một người đàn ông lớn tuổi sống cùng
tòa nhà Người đàn ông sau đó đã đến gặp và hỏi về loại
võ thuật mà Diệp Vấn đã luyện tập Người đàn ông nói
với Diệp Vấn rằng “các chiêu thức của anh không phải
quá xuất sắc”.[2]
Ông ta thách đấu thuật dính tay (chi sao) còn Diệp Vấn
nhận thấy đây là một cơ hội để chứng minh khả năng
của mình giỏi nhưng đã bị người đàn ông đánh bại sau
vài chiêu Đối thủ của Diệp Vấn tiết lộ mình là Lương
Bích là con trai củaLương Tán, sư phụ của Trần Hoa
uận eo vai vế thì Diệp Vấn gọi Lương Bích là sư
bá Nhận thấy công phu Vịnh Xuân của mình vẫn cònnhiều khiếm khuyết, ông tiếp tục tập luyện hoàn thiện
võ công với sự chỉ dẫn của Lương Bích
7.2 Sự nghiệp
Năm 24 tuổi, Diếp Vấn trở về quê hương Phật Sơn vàtrở thành một cảnh sát.[2]Ông đã dạy Vịnh Xuân quyềncho các đệ tử, bạn bè và họ hàng dù không chính thức
mở một võ đường Một số đệ tử thành danh của ônggiai đoạn này có Lạc Diêu, Chu ang Dụ, ách Phú,Luân Giai, Trần Chí Tân và Lã Ưng Trong số đó, Chu
ang Dụ xem là người xuất sắc nhất, nhưng cuối cùnganh đi theo con đường kinh doanh và dừng luyện võ
ách Phú và Luân Giai tiếp tục dạy võ và truyền báVịnh Xuân quyền ở Phật Sơn và vùng ảng Đông.Trần Chí Tân và Lã Ưng sau này đến sống tại HồngKông và không nhận bất cứ một đệ tử nào
Diệp Vấn đến sống với người đệ tự ách Phú trong
ời ế chiến thứ hai của quân Nhật Bản và chỉ quaylại Phật Sơn sau chiến tranh, tiếp tục công việc làmcảnh sát Ông kết hôn với bà Trương Vĩnh ành trongkhoảng thời gian này
Bất mãn với chính quyền bù nhìn do Nhật dựng lên,ông tham gia hoạt động tình báo bí mật cho chính phủ
ốc dân Năm 1940, ông được cử đi học tại Học việnhuấn luyện ý Châu, sau khi tốt nghiệp, trở về PhậtSơn tham gia tổ tình báo tại đây, thăng dần lên chứctrưởng thẩm sát phòng vụ ảng Châu khi chiến tranhchấm dứt
Do gia trang bị tịch thu, hoạt động kinh doanh của giađình cũng không thuận lợi, khoảng từ 1943 đến 1945, dohoàn cảnh sinh kế, Diệp Vấn nhận lời dạy Vịnh Xuânquyền cho gia đình cha con phú thương Chu Vũ Canh
- Chu anh Tuyền, với võ quán Liên Xướng Tại đây,ông cũng dạy Vịnh Xuân cho các nhân viên tổ công táctại Phật Sơn ời gian này, giáo trình truyền thụ củaông tuân thủ giáo trình của sư phụ Trần Hoa uận,gồm Tiểu niệm đầu khai thủ, Ly thủ, Tản thứccập trangquyền Giáo trình này còn được gọi là Vịnh Xuân quyềnTrần Hoa uận
Trang 2014 CHƯƠNG 7 DIỆP VẤN
Năm 1945, chiến tranh kết thúc, võ quán Liên Xướng
cũng ngừng hoạt động Diệp Vấn tiếp tục tham gia công
tác cảnh sát tại địa phương, thăng dần lên chức đội
trưởng cảnh sát Bộ tư lệnh Khu Nam ảng Châu với
hàmượng hiệu
7.3 Di cư đến Hồng Kông
Khi đội quân Cộng sản của Mao Trạch Đôngchiếm
quyền kiểm soát Hoa lục, do quá trình công tác cho
chính phủ ốc dân, Diệp Vấn lo ngại những liên lụy
có thể xảy ra với gia đình mình, vì vậy ông cùng một
số thân gia quyến di tản đếnÁo Môn, sau chuyển về
Hồng Kông Đồng thời ông cũng cải đổi thân phận, đổi
tên thành Diệp Dật (��), đổi năm sinh thành 1893, để
tránh liên lụy đến thân nhân còn ở lại Phật Sơn
Diệp Vấn đến Hồng Kông vào cuối năm 1949 vì là một
sĩ quan củaốc Dân Đảngsau khi Đảng Cộng sản
Trung ốc giành chiến thắng trong cuộc Nội chiến
Trung ốc./[5]
Do hầu hết cơ sở gia tộc đều bỏ lại ở Phật Sơn, Diệp Vấn
lấy việc dạy Vịnh Xuân làm sinh kế Năm 1950, được sự
giúp đỡ của bạn hữu, ông dạy võ trong một cơ sở của
Tổng hội công chức Hương Cảng Cửu Long Phạn Điếm
tại ngõ Đại Nam, phố âm ủy Năm 1952, ông dời
võ quán về ngõ Hải Đàn, cùng phố âm ủy Đến
năm 1955, võ quán một lần nữa phải di dời đến ngõ Lợi
Đạt, khu Du Ma Địa
ời kỳ khởi sự, võ quán của Diệp rất khó khăn mượn
tạm cơ sở của Tổng hội, thường xuyên phải di dời và
ít người theo học Tuy nhiên, uy tín của Diệp dần tăng
lên bởi những lần giao đấu của chính Diệp với hoặc các
đệ tử với các tay anh chị cảng Cửu Long hoặc với các
võ sư khác đến so tài
Cũng như sư bá Lương Bích, Diệp cũng là một người
có quan điểm cởi mở trong việc tiếp thu và truyền dạy
Vịnh Xuân Ông thường xuyên học hỏi, cải tiến và hệ
thống một các khoa học các kỹ thuật của Vịnh Xuân
Ngay trong phương pháp giảng dạy, ông cũng tùy theo
khí chất riêng của từng đệ tử để truyền dạy, nguyên tắc
chung nhất, nhưng chi tiết có những dị biệt để phù hợp
từng người Đây cũng chính là lý do vì sao các hệ phái
Vịnh Xuân Hongkong tuy cùng một thầy nhưng vẫn
khác nhau về phương pháp tập luyện
Năm 1967, Diệp cùng các đại đệ tử của mình thành lập
Hội ể dục Vịnh Xuân quyền Hongkong (��������).
Đệ tử sau đó của ông có một con số kỉ lục: 2 triệu người
Ngày2 tháng 12năm1972, Diệp Vấn đã qua đời dưới
sự tiếc thương của rất nhiều người Sau này những
người được ông truyền dạy đã tiếp bước ông gây dựng
lên Vịnh XuânHồng Kônghay Diệp Vấn Vịnh Xuân
yền Đệ tử nổi tiếng của ông là Lý Tiểu Long cũng
là một cao thủ Ngoài ra sư huynh của ông làNguyễn
Tế Côngsư tổVịnh Xuân yềnViệt Nam Diệp Vấn
Ngôi mộ của Diệp Vấn.
được đánh giá là một trong số ít những cao thủ VịnhXuân yền có ảnh hưởng lớn tới Môn Phái
7.4 Chú thích
second son Ip Ching)”(bằng tiếng Trung) Ming Pao
Weekly Online Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2013
dịch:… ở nhà số 149 phố ông ái (Tung Choi Street),Vượng Giác,… cụ già huyền thoại đã qua đời một cáchđột ngột trên ghế sofa tại nơi này.]
[2] Title: Ip Man - Portrait of a Kung Fu Master, Page:3,Author(s): Ip Ching and Ron Heimberger, Paperback:
116 pages, Publisher: Cedar Fort (23 tháng 1 năm 2001),Language: English, ISBN 1-55517-516-3, ISBN 978-1-55517-516-0
Kwokwingchun.com Truy cập ngày 29 tháng 11 năm2011
[4] Mastering Wing Chun, By Samuel Kwok
[5] “Ip Man’s Biography” Kwokwingchun.com Ngày 20tháng 7 năm 2012 Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2012
Bản mẫu:Diệp Vấn
Trang 21Kiềm dương tấn
Kiềm dương tấn, còn gọi là Kiềm dương mã tự, Nhị
tự kiềm dương mã là một thế tấn đặc thù của Vịnh
Xuân yền, bao gồm hai dạng thức là ính thân
kiềm dương và trắc thân kiềm dương.
Trong Vịnh Xuân yền, tấn pháp được áp dụng
thường xuyênnguyên lý chiều caocủa tấn tỷ lệ nghịch
với độ vững chãi và tỷ lệ thuận với độ linh hoạt, theo
đó tấn pháp càng thấp cơ thể càng vững nhưng tính
linh hoạt lại giảm Kiềm dương mã tự cũng không phải
là ngoại lệ, việc tập luyệntấn phápnày không nhấn
mạnh sự cố định một cao độ của người luyện tập, mà
có thể linh động, kết hợp với những bài tập tấn ở nhiều
cao độ khác nhau, cả ở những tư thế rất thấp tới mức
cơ thể gần như ngồi trên mặt đất
8.1 Tên gọi
Tấn pháp kiềm dương, với chữ kiềm ( ) tương đối dễ
hiểu là “kìm”, “kẹp”, “giữ" Nhưng chữ dương có vài cách
hiểu khác nhau: “dương” ( ) với nghĩa là condê, khi đó
tấn sẽ được hiểu là thế “kẹp dê", “giữ dê"
eo huyền sử thìNgũ Maisư thái đã cho nàngNghiêm
Vịnh Xuân tập chăndê và tắm cho các con dê bằng
cách dùng hai chân kẹp chặt đầu và cổ con vật, từ đó sẽ
rèn luyện được nội lực và tấn pháp trước khi bước vào
tập võ (bộ phim Vịnh Xuân yền do các diễn viênTạ
Đình Phong,Hồng Kim BảovàNguyên Bưuđóng, diễn
tả ý nghĩa này)
Tuy nhiên, theo cách hiểu khác với chữ “dương” ( ) chỉ
“mặt trời”, “dương tính”, “dương khí", "đàn ông”, “bộ
phận sinh dục của giống đực”, kiềm dương tấn là thế
tấn duy nhất ở chính diện có đủ kín đáo, do đầu gối
hơi khép vào trong và có thể nhanh chóng kẹp chặt hai
đùi, để thủ thế và bảo vệ vững chắc trước những đòn
tấn công vàohạ bộ, ít nhiều linh hoạt và hiệu quả hơn
hẳntrung bình tấn Đi xa hơn trong suy luận, một số
người cho rằng kiềm dương ở đây nhằm mục đích luyện
khí, mà luyện khí chủ yếu phải kiềm dương (tiết dục)
8.2 Ý nghĩa
Môn phái Vịnh Xuân khởi phát từ miền NamTrungHoa, nơi mọi người thường dùng thuyền như mộtphương tiện vận chuyển chính, cho nên, các võ sư sáng
tổ của Vịnh Xuân yền nhưĐại Hoa Diện Cẩmvà cácmôn đồ củaHồng thuyền hội quánđã tập võ chủ yếutrên thuyền, nơi yêu cầu giữ thăng bằng trở thành cốt
tử ế tấn chính thân kiềm dương và trắc thân kiềmdương được coi là phương cách tối ưu để giữ thăngbằng
8.3 Chính thân kiềm dương
Chính thân kiềm dương còn được gọi là Chính thân kiềm dương mã tự, Nhị tự kiềm dương mã, tư thế
gần giống với tấn chuẩn bị (lập tấn) của các môn sinhTaekwondo, Karatedo với khoảng cách hai gót chânđều vừa mức vớichiều caovàbề ngangcủa người tập,thường bằngvaihoặc hơi lớn hơn một chút, hai bànchângần song song hình chữ nhị ( ) với mũi chân hơihướng vào trong
Chính thân kiềm dương tấn là thế tấn quan trọng bậcnhất của Vịnh Xuân yền, đi kèm với sáo lộ Tiểu niệmđầu như cơ bản công và cơ bản kỹ thuật, nó giúp ngườitập luyện ngay từ những ngày đầu tiên đến với mônphái đã luyện gân chân, làm lỏng và mạnh các khớp,tạo một chân đế vững chắc như mọcrễvàođấtđể phục
vụ tối đa cho sự thả lỏng phần trên (từ hông lên trở lên)theo nguyên tắc “thượng hư, hạ thực”
Tuy tấn nhấn mạnh vào yêu cầu trụ vững nên buộc phảigiảm sự linh động, ít nhiều có thể cản trở cho sự pháthuylựctừ trung tâm phát lực (hông eo), nhưng khôngcản trở đường vận hành củakhíxuống chân, và vì vậykhông làm giảm đáng kể lực thông xuống chân khi tậptấn tĩnh
Hạ thấptrọng tâmvà hơi bẻ cong chân vào để haiđầugốicó một khoảng cách tương đối nhỏ, bằng khoảngnắm taycủa người tập.Cơ thểngười tập hơi ngửa raphía sau để giữ cho gót chân, cột sống và đầu đượcthẳng
Trang 2216 CHƯƠNG 8 KIỀM DƯƠNG TẤN
Đầu gối cong vào cũng là một cách tiết kiệm sức lực tối
đa khi chân giữ trọng lượng cơ thể của người tập Bởi
vậy, chính thân kiềm dương nếu được tập đúng, sau
những khó khăn ban đầu, người tập ngày càng có được
sự linh hoạt đặc biệt, có thể đá bất kỳ lúc nào mà không
cần chuẩn bị, và cú đá sẽ có toàn bộ sức của thân thể
khi tấn công vào trung điểm của địch thủ ế tấn này
cũng được dùng để thủ một cách hữu hiệu
Do hai mũi bàn chân với ngón cái hơi xoay khép lại
thành hình chữ bát ( ), thế tấn này còn có thể được gọi
là Bát tự kiềm dương (kiềm dương hình chữ bát) Nếu
kéo dài chữ “bát” người tập sẽ có mộttam giác Ở đây
có những nguyên tắc để xác định góc tạo thành đó là
góc nhọnhaygóc tù Đưa chân người tập ra theo trục
thẳng trước mặt cho đến khi chân nằm ngang và lấy
điểm vuông góc với gót chân là đỉnh của tam giác Cần
đứng đúng cách để để hai chân hướng vào đỉnh này
Trong phần lớn các bài tập tại chỗ của Vịnh Xuân
thường dùng chính thân kiềm dương, đặc biệt là sáo
lộ đầu tiênTiểu niệm đầuchỉ sử dụng duy nhất một
thế tấn này Tuy nhiên, trong thực tế chiến đấu ít khi
môn sinh sử dụng thế tấn này mà nó thường được phản
ứng nhanh sang thế tấn trắc thân kiềm dương, với dụng
ý dẫn đòn của đối phương vào khoảng không và phản
đòn theo nguyên lý “tiêu đả" (tiêu lực của đối phương
và đánh lại)
8.4 Trắc thân kiềm dương
Với ý nghĩa của chữ Trắc ( ) là “mặt bên”, “bên cạnh”,
“nghiêng” phản ánh đúng bản chất của thế tấn Khi
đứng ở chính thân kiềm dương, người tập xoay đều hai
chânvàthânsang một phía sao cho hai mũi chân song
song hướng về phía chéo góc khoảng 45 độ, người tập
sẽ chuyển sang thế tấn trắc thân kiềm dương.
ế tấn này ít nhiều giống trảo mã tấn của một số
môn phái, nhưng không hướng các mũi bàn chân thẳng
phía trước và cũng không nhón gót Hai đầu gối khép
vào nhau với khoảng cách giữa chúng vẫn được giữ
như ở chính thân kiềm dương Trọng lượng cơ thể dồn
khoảng 70% lên chân sau và khoảng 30% ở chân trước
Khi hạ thấp tấn hơn, người tập cần duỗi chân trước ra
phía trước với khoảng cách dài hơn
Trắc thân kiềm dương là thế tấn linh hoạt hơn Chính
thân kiềm dương, rất thuận lợi cho tấn công thần tốc
mà vẫn có thể phòng thủ kín đáo, vì vậy, trong Vịnh
Xuân yền thế tấn này được ứng dụng chủ yếu khi
Trang 23Kỹ thuật Vịnh Xuân quyền
9.1 Đặc điểm
Bàn về hệ thống kỹ thuật của Vịnh Xuân quyền, trên
sự quan sát bề nổi của nhiều người, đó là cảm nhận
về một hệ thống khá đơn giản với vài ba bài quyền,
một bài côn, một bài đao và một bài mộc nhân thung
ật hiếm có một võ phái nào khác chỉ dựa trên nền
tảng một vài bài quyền và bài binh khí như vậy Tuy
nhiên, Vịnh Xuân quyền không nhấn mạnh vào tính
hình thức và do đó rất khó khăn để trở thành một hệ
thống để biểu diễn Các bài quyền không phản ánh tính
chất quy ước cho các chiêu thức,phân thếcụ thể từng
chiêu tấn công hay phòng thủ (chẳng hạn như một số
võ phái dạy đòn thế theo kiểu khi đối phương đấm thì
ta đỡ thế nào và phản công ra sao), mà là những nguyên
lý tấn công và phòng thủ rất cần sự sáng tạo của môn
sinh khi ứng dụng thực chiến
eo những võ sư Vịnh Xuân lão luyện, yếu lĩnh tự
nhiên tính được đề cao hàng đầu, vì vậy những người
cố gắng theo đuổi vẻ đe dọa bên ngoài của động tác
sẽ không bao giờ phát triển được trong môn võ này
Kỹ thuật các dòng Vịnh Xuân quyền trên thế giới cho
thấy tính chất "đại đồng tiểu dị" với những điểm giống
nhau là căn bản, bao gồm trong nó những nguyên lý
xuyên suốt khi luyện tập các bài quyền; khái niệm “xả
kỷ tòng nhân” (quên mình theo người), “thính kình”
(nghe lực), “tâm ứng thủ" (khi đầu óc nghĩ đến một đòn
đánh là chân tay thực hiện thành công); hệ thống đòn
chân không có đá xoay người hayđá bay; hệ thốngthủ
phápnhu nhuyễn nhưng nhanh và mạnh như roi quất;
tấn pháp kiềm dương mã tự, xước mã (đạp bộ); công
phu niêm thủ, niêm cước, trao đổi thân, niêmcônvà
đao; và các bài luyện tập trênmộc nhân trang
9.2 Nội dung kỹ thuật
Kỹ thuật Vịnh Xuân quyền theo như nhiều tài liệu (xem
tài liệu tham khảo chính phía dưới) từ tỉnhPhúc Kiếnvà
ảng Đôngcó rất nhiều lưu phái với những hệ thống
kỹ thuật và bài quyền phong phú và khác nhau
Tuy nhiên, hiện nay các chi lưu Vịnh Xuân quyền tại
huyện Vĩnh Xuân tỉnhPhúc Kiến,Phật Sơnvàảng
Châu ở ảng Đông, Hong Kong thì hệ thống bàiquyền còn lưu truyền lại được công nhận là nội dung
cốt lõi trong hệ quyền pháp là 4 bài: Tiểu Niệm Đầu, Tầm Kiều, Tiêu Chỉ, và Mộc Nhân Trang yền Pháp.
Về binh khí, các chi lưu Vịnh Xuân tại Phúc Kiến,
ảng Đônghiện nay công nhận còn lại 2 bài cốt lõilà: Lục Điểm Bán Côn và Bát Trảm Đao (Song Tô)
Có tài liệu còn nói rằng Tiểu Niệm Đầu là huấn luyện
kỹ thuật phòng thân tự vệ, Đại Niệm Đầu (?) là huấn
luyện chiến đấu cho tinh thần Phản anh Phục Minh.
Vịnh Xuân Việt Nam theo dòngNguyễn Tế Côngcòn
có Ngũ Hình quyền (Long, Hổ, Báo, Xà, Hạc) và các bàitập phương pháp Khí công Trung Hoa
Kỹ thuật Vịnh Xuân quyền thường được tóm lược trongVịnh Xuân Yếu Lĩnh:
• Liêu (nâng lên, vén lên)
• Xuyên (xiên qua, luồn qua)
Trang 2418 CHƯƠNG 9 KỸ THUẬT VỊNH XUÂN QUYỀN
Ngoài ra thủ pháp tấn công chủ yếu trong Kiều thủ là:
tam xung ùy còn gọi là đấm tam tinh (đấm nhồi liên
tiếp ba cái Nhật tự quyền), Phê trửu (tát chỏ), ải
trửu (cắm chỏ), Sạn thủ, Sát Cảnh thủ, Vấn thủ, Phan
Cảnh thủ được sử dụng trong lối đánh áp sát (người
Trung Hoa gọi làBí Đả) hay Cận chiến (đánh tầm
gần), Nhập Nội
Trong ủ pháp củaVịnh Xuân quyền, có phương pháp
luyện nghe lực tay đối phương gọi là Phép ính Kình
hay còn gọi là Phép Du Đẩy hỗ trợ trong phép Niêm
ủ (còn gọi là Li ủ) là một phương pháp phát triển
hiệu quả tối đa của hệ thống Kiều thủ Vịnh Xuân quyền
khác với hệ thống Kiều thủ trongHồng Gia quyềnvà
Bạch Mi quyền
Về Cước pháp, oái pháp thì chủ yếu dùng Trực Đăng
oái, Trắc Sanh oái, Tảo oái,… khi lâm trận dùng
để phá mã (đá gãy chân đối phương)
9.3 Nguồn gốc kỹ thuật Kiều thủ:
Kỹ Pháp Kiều Thủ Nam Thiếu
Lâm Phúc Kiến
9.3.1 Dẫn nhập
Xưa nay khi nói về võ công iếu Lâm thông thường
công chúng đều nghĩ đến ngôi chùa iếu Lâm tại đỉnh
Trung Nhạc Sơn ở giữa dãy iếu ất thuộc dãy Tung
Sơn tại huyện Đăng Phong, tỉnh Hà Nam, Trung ốc
Sau này võ công iếu Lâm thường được hiểu có sự
phân chia Nam – Bắc mà tục gọi là Nam quyền – Bắc
oái hay Nam quyền – Bắc Cước Nghĩa là người miền
Bắc chuộng dùng đòn chân (oái pháp, Cước pháp) và
người miền Nam thích đòn tay (ủ pháp)
Tại Việt Nam, võ iếu Lâm hai nhánh Nam – Bắc
thường được gọi là iếu Lâm Bắc Phái và iếu Lâm
Nam Phái
Rồi nào là iếu Lâm Trung Sơn võ đạo tại Việt Nam,
iếu Lâm Tây Sơn, iếu Lâm Tây Sơn Nhạn,…
ật ra võ iếu Lâm chỉ có 3 sự phân chia chứ không
phải là 2 hay nhiều hơn 3 như ở Việt Nam
Hà Nam Tung Sơn Thiếu Lâm
Là nơi mà Đạt Ma Bồ Đề đã đặt chân đến khai sinh
ra dòng Phật giáo iền Tông Trung Hoa Võ công Hà
Nam Tung Sơn iếu Lâm mới chính là võ công chính
thống khởi nguyên mà được gọi tắt là võ iếu Lâm
Võ iếu Lâm Tung Sơn Hà Nam không giới hạn trong
ngạn ngữ Nam quyền Bắc oái vì đều sử dụng chân
và tay đều nhau, đặc điểm của quyền pháp là bài quyền
chỉ đánh trong phạm vi diện tích một con trâu nằm là
đủ (yền Đả Ngọa Ngưu Chi Địa ) Điều này
có thể thấy qua bài Ngũ Lộ Mai Hoa yền (Wu LuMei Hua an ) và Liên Hoa yền (Lian Hua
an ) iếu Lâm yền (Shaolin Ch’uan, Shaolin
an ) xưa nay nổi danh với những bài quyền đượccải cách nhiều lần trong lịch sử quyền pháp iếu Lâm
từ thời nhà Bắc Ngụy vua Hiếu Văn Đế (495 CôngNguyên) cho đến thời nhà Tống – Nguyên có thể kể
ra như:
1 La Hán ập Bát ủ (Luohan Shi Ba Shou),
2 Tâm Ý Bả (Xin Yi Ba ),
3 Tâm Ý yền (Xin Yi an ),
4 La Hán yền (Luohan an ),
5 Kim Cương yền (Jin Kang an ),
6 Tiểu La Hán yền (Xiao Luohan an),
7 Đại La Hán yền (Da Luohan an),
8 Tiểu Hồng yền (Xiao Hong an ),
9 Đại Hồng yền (Da Hong an ),
10 Tống ái Tổ Trường yền (Song Tai
11 Triều Dương yền (Chao Yang an,Zhāo Yáng án ),
12 ông Bối yền (Tong Bei an ),
13 ất Tinh yền (Qixingquán )
14 Mê Tung yền hay Mê Tông yền(Mi Zong an ) - còn gọi là Yến anh
15 Phiên Tử yền (Fānziquán )
Trang 25Hoa gọi là Trường quyền (Chang Ch’uan , Chang
quan ) do các môn quyền của Bắc iếu Lâm bị ảnh
hưởng của các môn quyền trong cộng đồng người Hồi
giáo di cư từ Trung Đông (Ả Rập Ai Cập, Do ái, Ba
Tư tức Iran và Iraq ngày nay) đến bằng con đường tơ
lụa bắt đầu từ thành phố ương Châu (Cāngzhōu
-) ở tỉnhHà Bắc (Trung ốc)(Hebei ) kéo dài đến
vùng Trung Cận Đông gần ổ Nhĩ Kỳ và Địa Trung
Hải vào thế kỷ thứ 13 theo gót chân của người Mông
Cổ tràn xuống Trung Hoa Có thể nói rằng thành phố
ương Châuthuộc tỉnhHà Bắc (Trung ốc)là cái
nôi võ thuật nảy sinh nhiều cao thủ dị biệt ở miền Bắc
Trung Hoa nhưng lại không nổi danh Người dân thành
phố này hầu hết đều tập luyện võ nghệ vì ngày xưa nơi
đây là ngã ba đường của con đường tơ lụa từ châu Âu
và Trung Đông xuyên qua sa mạc Mông Cổ vào Trung
Hoa với nạn giặc cướp giết người thường xuyên
Đặc trưng kỹ pháp của các mônTrường quyềnlà dùng
đòn chân nhiều (oái pháp, Cước pháp) với yếu quyết
là Trường Nhất ốn, Cường Nhất ốn (dài
thêm một tấc, mạnh thêm một tấc) nghĩa là đánh
Trường trận: công – thủ từ xa do vậy rất trọng sự di
chuyển và tốc độ, chạy nhanh, nhảy cao, đá bén, thân
thủ lanh lẹ biến ảo vô cùng
Khi nói đến Bắc iếu Lâm thường ngay tại Trung Hoa
cũng có sự nhầm lẫn là Hà Nam Tung Sơn iếu Lâm
vì ngôi chùa này nằm phía trên sông Trường Giang
(Dương Tử Giang)
ật ra ở tại ngọn Tử Cái Đỉnh (Zǐ Gài Dǐng ) thuộc
dãy Bàn Sơn (Pan Shan ) trong tỉnh Hà Bắc (Hebei
) giáp ranh với bán đảo Triều Tiên có một ngôi chùa
mang tên iếu Lâm, đây mới chính là ngôi chùa Bắc
iếu Lâm nhưng không có một sư tăng nào luyện võ
xưa nay mà chỉ chuyên chú vào lưu trữ và nghiên cứu
Phật giáo
Do vậy nói đến võ Bắc iếu Lâm đó là một khái niệm
hết sức mơ hồ vì nó chỉ chung chung đến các phái võ
địa phương trong cộng đồng người Hồi pha trộn với
võ iếu Lâm Tung Sơn Hà Nam, trong đó các môn nổi
tiếng có thể kể ra như:Tra quyền(Cha Ch’uan ),Đàn
ối(Tan Tui ),Địa ảng quyền(Di Tang quan ),
Phách quải quyền(Pi Gua quan ),Phiên tử quyền
(Fānziquán ),ông bối quyền(Tong Bei quan ),
Trốc cước(Chuoi jiao ), Mê tông quyền(Mi Zong
quan ) còn gọi làYến anh quyền(Yan qing ch’uan
), …
Đại biểu xuất sắc nhất củaTrường quyềntrong thế giới
hiện đại làLý Liên Kiệtsinh ngày 26 tháng 4 năm 1963
tại thành phố Bắc Kinh (Běijīng ), năm 15 tuổi năm
1978 đoạt giải vô địch diễn luyện Sáo Lộ (Tao Lu )
tức diễn quyền của Trường quyền tại Bắc Kinh sau thời
gian khổ luyện từ năm 6 tuổi tại Học viện Võ thuật
tại 3 thành phố khác nhau:Toàn Châu(an zhou ),Phủ Điền(Putian ), vàPhúc anh(Fuqing ) thuộcthành phốPhúc Châu(Fuzhou )
Các tài liệu cho biết chùa Nam iếu Lâm tại thành phốToàn Châu được xây dựng vào khoảng năm 611 Côngnguyên Vào năm 907 Công nguyên, Vương ẩm Tri(Wang Shenzhi ,862 – 925) đã thiêu hủy ngôi chùaNam iếu Lâm Toàn Châu thành bình địa, khi các nhà
sư trong chùa chống lại ách thống trị của Vương Ngôichùa Nam iếu Lâm Toàn Châu sau đó được xây dựnglại vào thời nhà Bắc Tống Vào năm 1236, chùa Nam
iếu Lâm Toàn Châu lại bị tiêu hủy lần nữa theo sắclệnh của các triều vua nhà Nam Tống Lần đại nạn bịthiêu hủy lần cuối cùng là vào năm 1763 dưới tay củaquan quân nhà anh thời vua Càn Long
Shenzhi ,862 – 925), một người khởi nghĩa sáng lậpnên "Đế Chế Mân ốc” ( ) mà thủ đô là thành phốPhúc Châu (Fuzhou ) trong tỉnh Phúc Kiến (Fujian) trong suốt thời kỳ Ngũ Đại ập ốc (chữ Hánphồn thể: ; chữ Hán giản thể: ; đọc Bính âm:Wǔdài Shíguó, 907-960, dịch nghĩa sang tiếng Anh:Five Dynasties and Ten Kingdoms) (và cũng là ngườichịu trách nhiệm nỗ lực xóa bỏ bộ tộc họ ẩm – Shen) Tỉnh Phúc Kiến thời trước Nhà Đường được gọi làMân Nam hay Mân quốc, người Phúc Kiến được gọi
là người Mân Việt trong tộc Bách Việt ở miền NamTrung Hoa
Đã có một vài tranh luận nho nhỏ rằng vị trí củangôi chùa iếu Lâm nguyên thủy thật sự mới là chùa
iếu Lâm xây trong “khu rừng nhỏ" trên núi “iếu
ất” (Shao Shi Shan : iếu ất Sơn) trong dãyTung Sơn (Songshan ) nên mới gọi là iếu Lâm tạihuyện Đăng Phong (Deng Feng shi - Đăng Phong
ị) thuộc tỉnh Hà Nam (Heinan hay Henan ) vềphía Bắc Trung ốc bên trên sông Dương Tử (TrườngGiang) Khi ngôi chùa iếu Lâm Tung Sơn di chuyển
về phương Nam với các nhà sư iếu Lâm, dù vậy, khi
đó những cuộc tranh cãi bắt đầu Một số tranh luận chorằng chùa Nam iếu Lâm Phúc Kiến đã từng tồn tại,nhưng các tài liệu nghiên cứu Khảo Cổ Học và Lịch sửcho biết rằng có 3 vị trí khác nhau có những dấu vếtcủa iếu Lâm: chùa Nam iếu Lâm Phủ Điền PhúcKiến (được xây vào năm 557 Công nguyên), chùa Nam
iếu Lâm Toàn Châu Phúc Kiến (được xây vào năm
874 - 879 Công nguyên), và chùa Nam iếu Lâm Phúc
anh Phúc Châu Phúc Kiến (mà ngày khởi công xâydựng vẫn chưa ai biết, nhưng được xác định vào khoảngthời gian nào đó vào thời nhà Tống)
• Chú thí thêm:
Trang 2620 CHƯƠNG 9 KỸ THUẬT VỊNH XUÂN QUYỀN
ủ Đạo Nhật Bản ngày nay) tại đảo quốc
Okinawathì chùaNam iếu Lâmtại thành
phốPhủ Điềnmới thật sự là chùa Nam iếu
Lâm
• Các Tài liệu của các phái võ miền Nam Trung
Hoa nhưBạch Mi quyền(Bak Mei kuen, Bai
Mei Chuan),Vịnh Xuân quyền(Wing Chun
kuen, Yong Chun quan), Hồng Gia quyền
(Hung Ga Kuen), Phúc Kiến Vĩnh XuânBạch
Hạc quyền(Fukien Yong Chun Bai He quan)
thì lại cho rằng chùa Nam iếu Lâm tại
thành phốToàn Châuchính xác hơn
• Các nhà khảo cổ học và các học giả Trung
Hoa thì khẳng định chùa Nam iếu Lâm
tại thành phốPhúc anhmới chính là chùa
Nam iếu Lâmthật sự
• Tuy nhiên, một điều chắc chắn nhất theo dân
gian và các tài liệu sử học cho biết thành
phố Toàn châu tỉnh Phúc Kiến xưa nay vốn
là một trong những trung tâm võ thuật lớn
ở Trung Hoa chứ không phải như nhiều tài
liệu của một số chi lưuKaratevàVĩnh Xuân
quyềncho rằng chùa Nam iếu Lâm tạiPhủ
Điền (Bồ Điền) có Vĩnh Xuân Đường hay
Cung Vĩnh Xuân (Evergreen Hall) mới chính
là nơi phát tích võ thuật miền Nam Trung
Hoa và Vịnh Xuân quyền (xem Sự liên hệ
giữa iếu Lâm yền và ái cực quyền,
Jacques Nguyen i phía dưới mục tài liệu
tham khảo)
• Dấu vết còn sót lại xa xưa của chùa Nam
iếu Lâm Toàn Châulà kỹ thuật Kiều thủ
trong bài quyền nổi tiếng Công (Cung) Tự
Phục Hổ yền của Nam iếu Lâm mà
Hồng Gia quyền còn lưu giữ và trong bộ
quyền phổ Nam iếu Lâm Toàn Châu
Sau này để cho dễ hiểu người Trung Hoa đã gọi các
môn võ nằm phía dưới sông Trường Giang (Dương
Tử Giang) từ tỉnh Phúc Kiếnvùng Mân Nam xuống
vùngGiang Tô,Giang Nam,Tứ Xuyên,ảng Đông
vàảng Tây,ý Châu,Vân Namlà khu vực mà tính
chất vật thể - ý thức hệ gắn liền với tính chất quyền
pháp trên địa bàn này là Nam quyền phát âm theo âm
an oại (tiếng Phổ ông) được Latin hóa là Nản
Shàolỉn Chuan (Nam iếu Lâm quyền), âm ảng
Đông gọi tắt là Nàam Kuèn (Nam quyền) đều có xuất
xứ từ võ công của Nam iếu Lâm Phúc Kiến
Võ thuậtNam iếu Lâmở tỉnhPhúc Kiếnvùng Mân
Nam xuất hiện rất sớm vào khoảng thời gian từ gần
cuối triềunhà Đường(618–690 Công nguyên) vànhà
Tống (960–1279) là đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ
ngang thời với võ thuật iếu Lâm Võ pháiKarateở
đảo quốcOkinawaxuất phát từNam iếu Lâm Phúc
Kiếngiải thích trong chữKaratethì Kara nghĩa là nhà
Đường, te trong tiếng Nhật có nghĩa là ủ tức là đòn
tay không, võ tay không xuất hiện từ thời nhà Đường,
do vậy Karate có 2 nghĩa là Đường ủ Đạo và Không
ủ Đạo Tại bán đảoTriều Tiêncũng lưu truyền môn
võ tay không với cùng tên gọi là Đường ủ Đạo màtiếng Triều Tiên phát âm làTang Su Do
Lịch sử iếu Lâm yền Tung Sơn còn cho biết kể
từ triềunhà Minh(1368–1644),nhà anh(1644–1911)trở đi võ thuật iếu Lâm đã vượt sôngTrường Giang(Dương Tử Giang) tràn xuống miền Nam Trung Hoabắt đầu từ tỉnhPhúc Kiếntớiảng Đônggây ra ngộnhận nhiều điều giữa võ thuậtiếu LâmvàNam iếuLâm
Kỹ thuật chủ yếu trongNam iếu Lâm Phúc Kiếnvàcác hệNam yền(đều xuất phát từNam iếu LâmPhúc Kiến) là kỹ pháp Kiều ủ - (âmảngĐôngđọc là Kìu Sẩu, dịch nghĩa sang tiếng Anh là the Bridge Hand Teniques) Kiều ủ là đoạn từ cùi chỏ
cánh tay đến cổ tay
Trong Hồng Gia yền, Bạch Mi quyền, Vịnh Xuânquyềnđều luôn dùng chữ Kiều để chỉ các đòn tay (ủ
pháp) có lẽ do vùng miền Nam Trung Hoa (Phúc Kiến,
ảng Đông) sông ngòi rất nhiều, thậm chí trong cácmôn phái Karate tại đảo quốcOkinawa xưa kia hay
dùng chữ Ryu để chỉ môn phái phân nhánh, chữ Ryu trong tiếng Nhật có nghĩa là Lưu (Liu) trong tiếng Hán và dịch nghĩa sang tiếng Việt là Chảy, Lưu đây nghĩa là Chi Lưu (phân nhánh) như tiếng Nhật là Goju Ryu (Cương Nhu Lưu phái) của Chōjun Miyagi
(25-04-1888 – 08-10-1953) và Gogen Yamaguchi
(20/10/1909 - 20 /05/1989), Go Ryu (Cương Lưu phái)
củaMasutatsu Oyama (27/07/1923 – 26/04/1994),Shotokan Ryu (Tùng Đạo án Lưu phái) của giáo sưGichin Funakoshi (10-11-1868 – 26-04-1957).KarateởOkinawavàNhật Bảncó nguồn gốc từ Karate Hakutsuru nghĩa là Không ủ Đạo Bạ Hạc Phái mà
thật ra chính là Phúc Kiến Vĩnh XuânBạch Hạc quyềntruyền bá sangOkinawavào khoảng thế kỷ 15−16.
Nam iếu Lâm Phúc Kiến và các hệ Nam yền vốnchủ trương Cương nhiều hơn Nhu, ngoại trừ Phúc KiếnVĩnh XuânBạch Hạc quyền,Vịnh Xuân quyềnvàNga
Mi quyền ởTứ Xuyên Trong khi iếu Lâm yềnvốn chủ Cương Nhu phối triển
Các bộ quyền củaNam iếu Lâm(hayNam yền)thường dùng 2 thế tấn căn bản trong các bài quyền là
Tứ Bình Bát Phân (Sei Ping Baat Fahn ) còn gọi là
Tứ Bình Mã (Sei Ping Ma ) tức là Trung Bình Tấn,
và thế tấn thứ hai là Nhị Tự Kiềm Dương Mã (Yee GeeKim Yeung Ma – Yih Jih Kìhm Yèuhng Máh –) gồm Đại Kiềm Dương Mã và Tiểu Kiềm
TrongNam yền(Hồng Gia yền,Bạch Mi yền,Vịnh Xuân yền) thường dùng chữ Kiều Mã đểnhấn mạnh tầm quan trọng của Kiều ủ và Mã Bộ khigiao thủ với đối phương không cho đối phương NiêmKiều, Triệt Kiều, Phá Mã
Câu nói nổi tiếng trongHồng Gia quyềnnhấn mạnh
Trang 27Cầu Dài, Ngựa Nhỏ Cầu Ngắn, nghĩa là bộ tấn vững chãi
đòn tay rắn chắc, đòn tay dài với bộ tấn rộng thấp, đòn
tay ngắn với bộ tấn nhỏ hẹp và cao (Cao Mã)
Do sử dụng chủ yếu là tay khi công thủ nên nguyên tắc
chiến đấu pháp được gói gọn trong câu quyết nổi tiếng
củaHồng Gia quyềnXuyên Kiều Tranh Mã Xí ân
Trửu , nghĩa là chủ về lối đánh trụ bộ (một chỗ)
cận chiến và nhập nội nhiều hơn, Xuyên Kiều nghĩa là
xuyên tay và len tay vượt trên tay đối phương, Tranh
Mã nghĩa là phải dùng chân nêm chặt bộ vị (thế tấn)
của đối phương, Xích ân Trửu nghĩa là ân và Cùi
Chỏ (Trửu) phải luôn áp sát đối phương
Đặc điểm củaNam yền(Hồng Gia yền,Bạch Mi
yền) là thường hay giậm đạp gót chân xuống đất rồi
thét lớn khi phóng quyền xuất kình, thế quyền tuôn ra
ào ạt như thác lũ mà người Trung Hoa gọi là Dĩ anh
Trợ Lực nghĩa là hét lớn để tạo thêm sức mạnh và
khí thế
Khi chùaNam iếu LâmởToàn ChâutỉnhPhúc Kiến
bị hỏa thiêu dưới bàn tay tàn bạo của quan quân nhà
anh, có năm người đệ tử cuối cùng xuất sắc nhất của
iếu Lâm Nam Phái Phúc Kiến (là một trong những
vị tiền bối xuất sắc sáng lập ra Nam yền iếu Lâm
- truyền dạy) trốn khỏi chùa
Do ngộ nhận vụ hỏa thiêu iếu Lâm Tự là nạn kiếp
của chùa iếu Lâm Tung Sơn Hà Nam mà sau này có
những truyền thuyết ngụy tạo về lịch sử võ thuật iếu
Lâm
5 vị cao đồ xuất sắc của Nam iếu Lâm sống sót và
trốn thoát sau vụ hỏa thiêu Nam iếu Lâm Toàn Châu
Phúc Kiến là:
1 Ngũ Mai lão ni sư thái (chữ Hán: , phiên âm
Latin: Ng Mui Si Tai hay Wu Mei Shitai)
2 Bạch Mi Đạo Nhân (chữ Hán: , phiên âm
Latin: Bai Mei Dao Ren)
3 Chí iện thiền sư (chữ Hán: , phiên âm
Latin: Jee Sin Sim See)
4 Phùng Đạo Đức (chữ Hán: , phiên âm Latin:
Fung Do Duk hay Fung To Tak)
5 Miêu Hiển (chữ Hán: , phiên âm Latin: Miu Hin
hay Mew Hing) là cha của Miêu úy Hoa (chữ
Hán: , phiên âm Latin: Miu Tsui Fa), ông ngoại
của Phương ế Ngọc (chữ Hán: , phiên âm
Latin: Fong Sai Yuk)
eo Diệp Chuẩn, căn cứ vào tài liệu Trung Hoa Hí
Khúc Sử (lịch sử kịch nghệ cổ truyền Trung Hoa), Ngũ
Khang HyvàCàn Longlà 2 vị Hoàng Đế nhà anh rấtquý mến và ái mộ chùa iếu Lâm Tung Sơn, rất thíchhọc võ thuật iếu Lâm, nên câu chuyện trên chỉ là bịađặt xuyên tạc không đúng với sự thật lịch sử đã diễn ra.Chùa Nam iếu Lâm ở thành phố Toàn Châu tỉnhPhúc Kiếnbị thiêu hủy 2 lần chính yếu: lần thứ nhất
là vào nămUng Chínhthứ 2 tức năm 1723 Tây lịch doUng Chính đế ra lệnh, sau đóChí iệniền Sư đãtìm cách xây lại, lần thứ hai và cũng là lần sau cùng bịthiêu hủy tận diệt là vào năm Càn Long thứ 28 tức năm
1763 do Càn Long đế ra lệnh và cấm tiệt xây dựng lạivĩnh viễn do vậy sự kiện này đã là mầm mống cho cácphái võ miền Nam Trung Hoa sau này xuất hiện như:Bạch Hạc quyềntại địa hạt Vĩnh Xuân thuộc tỉnh PhúcKiến,Bạch Mi quyềntại thành phốảng Châuthuộctỉnhảng Đông,Vịnh Xuân quyềntại thành phốPhậtSơnthuộc tỉnhảng Đông,Hồng Gia quyềncủaHồng
Hy antại khắp tỉnhảng Đông,ảng Tây,Bạch
Hổ PháicủaPhùng Đạo Đức, iếu Lâmái Giacủa
ái Phúc(Choi Fook ) vàái Cửu Nghi(Choi Yee ), iếu LâmLưu giacủaLưu Tam Nhãn(LauSam Ngan ), iếu LâmLý giacủaLý Hữu Sơn(LeeYau-San ), iếu LâmMạc giacủaMạc anh Kiều(Mok Ching Kiu ) là nữ nhân,ái Lý PhậtcủaTrầnHưởng(Chan Heung ) ởTân Hội(Sun Wui, Xun Hui) tỉnhảng Đông, iếu Lâm Trung Ngoại ChâuGiaquyền củaChâu Long(Jow Lung ) cũng tại TânHội tỉnhảng Đôngcùng 4 người em ruột là ChâuHiệp (Jow Hip ), Châu Hải (Jow Hoy ), Châu Điền(Jow Tin ), Châu Bưu (Jow Biu ), iếu LâmPhậtgia quyềnởVân Namvàảng Đông,…
Kau-Trên thực tế võ iếu Lâm nguyên thủy có nguồn gốc
từ Tung Sơn thuộc huyện Đăng Phong tỉnhHà Nam(Trung ốc)mới là chính thống khởi nguyên võ công
iếu Lâm và không hề có tục lệ nhận đệ tử tục giavào chùa truyền võ rồi cho rời chùa xuống núi, hànhđộng này chỉ có ở chùa Nam iếu Lâm Phúc Kiến vớidanh tiếng mỗi đệ tử muốn rời chùa phải qua 36 quan
ải chiến đấu với 18 (có thuyết nói 36) tượng đồng LaHán (La Hán Đồng Nhân) làm cho biết bao thế hệ võthuật say mê võ công iếu Lâm cứ tưởng đấy là truyềnthuyết có thật tại chùa iếu Lâm Tung Sơn Truyềnthuyết về những bức tượng La Hán Đồng Nhân nàyđược khẳng định trong một tài liệu kỹ thuật quân sự
trung cổ vào thời nhà Minh tên là Võ Bị Chí (Wubishi ) tiếng Nhật phiên âm là Bubishi được lưu giữ trong
phái Vĩnh Xuân Phúc KiếnBạch Hạc quyềnvà trường
phái Hakutsuru Karate (Không ủ Đạo Bạch Hạc)
của Đại SưHohan Sokenlà truyền nhân chính thống
đã được ghi vào sách kỷ lục Guinness về kỳ tích diễnquyền trên một tấm ván mỏng thả trên mặt nước PháiKhông ủ Đạo Bạch Hạc có nguồn gốc từ Bạch Hạc
Trang 2822 CHƯƠNG 9 KỸ THUẬT VỊNH XUÂN QUYỀN
Tại chùa iếu Lâm Tung Sơn Hà Nam không hề có
một sự khẳng định hay một dấu vết nào nhắc đến niềm
tự hào về truyền thuyết những tượng đồng La Hán cả
và cũng không có một thư tịch nào khẳng định chùa
đã từng có chính sách nhận đệ tử tục gia vào để truyền
thụ võ công rồi cho hạ sơn
Câu chuyện về 36 quan ải tại chùa Nam iếu Lâm ở
Phúc Kiến với các bức tượng đồng nhân La Hán đã được
đạo diễn của hãng phim iệu ị (Shaw Brothers) là
Lưu Gia Lương (Liu Chia Liang, Lau Kar Leung )
đồng thời cũng là võ sư và là truyền nhân củaHồng Gia
quyềndựng thành một bộ phim nổi tiếng vào tháng 1
năm 1978 mang tựa đề iếu Lâm 36 an ải (e 36
Chambres of Shaolin) với diễn viên chính là Lưu Gia
Huy (Liu Chia Hui, Lau Kar Fei, Gordon Liu )
Lưu Gia Lương đã từng đạo diễn rất nhiều phim võ
thuật Hồng Kông chung với các vị đạo diễn nổi tiếng
của Hong Kong như La Duy, Trương Triệt tại phim
trường iệu ị qua các bộ phim như: Hồng Hy an
và Phương ế Ngọc (tháng giêng năm 1974), Hoàng
Phi Hồng và Lục A ái (năm 1976), iếu Lâm 36
an ải (tháng giêng năm 1978), Túy Hầu (Khỉ Say)
(tháng giêng năm 2001), iếu Lâm Hồng Gia quyền
(năm 1975)…
Trên thực tế vuaKhang Hy nhà anhlà ông nội của
vuaCàn Long, cả hai người đã có công bỏ tiền của ra
xây lại chùa iếu Lâm Tung Sơn cho rộng rãi hơn, tấm
biển iếu Lâm Tự ngày nay tại cổng chính trước chùa
chính là bút tích thư pháp của Khang Hy và Càn Long
đã viếng thăm Tung Sơn iếu Lâm Tự vào năm Càn
Long thứ 15 tức năm 1750 Tây lịch
Sở dĩ vua Càn Long cho lệnh đốt chùa Nam iếu Lâm
tại thành phố Toàn Châu tỉnh Phúc Kiến do chùa này
là căn cứ địa của phong trào Phản anh Phục Minh
tại miền Nam Trung Hoa
Do vậy khi nói đến chùa iếu Lâm tại Trung ốc
thường có khái niệm ùa Nam ùa Bắc, chùa Nam
chính là Nam iếu Lâm Tự tại Phúc Kiến (có 3 chùa
Nam iếu Lâm Phúc Kiến: ở Toàn Châu, Phủ Điền
vàPhúc anh), chùa Bắc chính là Hà Nam Tung Sơn
iếu Lâm tự và Hà Bắc Bàn Sơn Tử Cái đỉnh iếu
Lâm tự.
Tài liệu này được viết ra với mục đích chỉ ra đặc trưng
của một môn võ đã bị chìm tên vào quên lãng là Nam
iếu Lâm Phúc Kiến với kỹ thuật chính yếu là phát
huy tối đa hệ thống Kiều ủ và Mã Bộ mà ngày nay
kỹ thuật này được biết đến qua 3 hệ phái phân lưu lớn
từ đây:Hồng Gia quyền,Bạch Mi quyền,Vịnh Xuân
quyền Điều này càng được chứng minh trong các bộ
quyền có các tên thế của các đòn tay đều dùng chữ Kiều
và Mã mà ta rất khó tìm thấy trong các hệ phái võ iếu
Lâm khác ở miền Bắc Trung Hoa và võ iếu Lâm Tung
Sơn Hà Nam
9.3.2 Tài liệu tham khảo chính về kỹ thuật
Kiều thủ Nam Thiếu Lâm
• Nam yền Toàn ư – nguyên tác Trung văn
yền Sư Tiến sĩ Trương Tuấn Mẫn - bản dịch Việt ngữ của dịch giả iên Tường, nhà xuất bản Mũi Cà
Mau.
• Nam iếu Lâm, bản dịch của Hồ Tiến Huân, nhà
xuất bản ể dục ể thao Hà Nội.
• uật ngữ Kiều thủ Vịnh Xuân quyền
• Sự liên hệ giữa iếu Lâm yền và ái cực
quyền, Jacques Nguyen i
từ iếu Lâm quyền cũng không đi ra ngoại lệ Bảy kỹthuật cùi chỏ nằm rải rác trong cả ba quyền sáo căn bảncủa môn phái Vịnh Xuân, chẳng hạn các kỹ thuật BìnhTrửu, Hậu Trửu nằm trong quyền sáo sơ cấp Tiểu NiệmĐầu, kỹ thuật Lan ủ nằm trong quyền sáo trung cấpTầm Kiều và những kỹ thuật khác nằm trong quyềnsáo cao cấp Tiêu Chỉ
• Cát Trửu (Ge Jarn ) (cắm chỏ) dùng cùi chỏ đánh
từ trên đầu xuống Cát Trửu là một đòn cùi chỏđánh xuống từ một tư thế cao, cắt thẳng vào mụctiêu thường là đầu của đối thủ
Cát Trửu còn được gọi là Đỉnh Trửu (Ding
Jarn ) (cắm chỏ)
• ải Trửu (Guai Jarn ) (gánh chỏ) tư thế giống
Bãi Trửu (Đáng Trửu) giống như đang gánh mộtvật trên vai, cũng có thể là đòn cùi chỏ thúc nganggọi là Bình Trửu hay Bách Trửu ải Trửu là mộtđòn cùi chỏ đánh theo đường chéo và cong, bắtđầu từ mặt suốt xuống phần giữa thân người đốithủ mà chém xả xuống hoặc đánh chéo từ dưới lênnhư một nhát dao Mục tiêu của đòn này rất rộng,gồm trán, mặt, cổ, xương cổ, vùng ngực đối thủ.Hiệu lực của ải Trửu cao về cả công lẫn thủ,
có thể giúp hóa giải dễ dàng một đòn chẹn cổ từtrước mặt
ải Trửu đánh ở vị trí thấp cắt ngang ngực
và hông tạt vào là Giác Trửu (Gok Jarn )(cắt chỏ ngang)
Trang 29muốn ôm chầm lấy bạn trong một khoảng trống
hẹp Đòn có thể tung ra bằng cả hai tay như một
đòn kép Khi tung đòn, cánh tay trước ở thế gập
thẳng góc với cánh tay trên và dùng một động tác
vặn hông để đưa cùi chỏ vào tầm trung đòn Nếu
mục tiêu là một bên đầu đối thủ có thể sử dụng
tay kia nắm đầu đối thủ lại khi đòn cùi chỏ tung
ra từ phía ngang hông
Trong Bạch Mi quyền, Bãi Trửu của Vịnh
Xuân được gọi bằng tên Đáng Trửu (Dang
Jarn ) (gánh chỏ) giống như tư thế đang
quải (gánh) một vật trên vai
• Lan ủ (Laan Sau / ) gập gắp cùi chỏ để đánh
bằng cánh tay trước Lan ủ tuy là xếp vào kỹ
thuật đánh cùi chỏ nhưng chỉ sử dụng cánh tay
trước để đập mạnh bàn tay vào đầu, cổ ngực hay
đối thủ Khi tung đòn này, cùi chỏ được gập gắt lại
cùng với động tác vặn hông cực gắt để tạo ra một
lực xoắn lớn
Cách đánh cùi chỏ trong kỹ thuật Lan ủ
gọi là Phê Trửu (Pie Jarn ) (tát chỏ từ ngoài
vào nằm ngang vị trí đầu, cổ), có thể dùng kỹ
thuật này niêm chỏ đối phương
• Bình Trửu (Ping Jarn ) dùng cùi chỏ tạt ngang,
thúc ngang vào bụng, ngực khi thân và vai đánh
áp sát (Bích Đả ) đối phương Bình Trửu được
phóng ra khi cánh tay ở vị thế ngang nhắm vào
những phần mềm như yết hầu, ngực, bụng Đòn
này được coi là một đòn cùi chỏ hiểm hóc
Còn gọi là Bá Trửu (Bik Jarn ) trong
Bạch Mi quyền
• Hậu Trửu (Hau Jarn ) đòn cùi chỏ đánh về phía
sau Hậu Trửu cũng được coi là một đòn cùi chỏ
hiểm hóc và ác liệt không thua Bình Trửu Hậu
Trửu nhắm vào một đối thủ ở phía sau và dùng
mút cùi chỏ làm khí giới trong khi nắm đấm xoay
lên trên (đánh thốc ra phía sau lưng từ dưới lên)
• Trực Lạc Trửu (Zik Lok Jarn ) đánh bằng cùi
chỏ cắm thẳng đứng thốc xuống hơi giống Cát
Trửu Trực Lạc Trửu là một đòn đánh ở tầm cực
gần hoặc trong tình thế khẩn cấp tương tự như
lúc đối thủ liều lĩnh lao thẳng vào mình Trực Lạc
Trửu đánh thốc xuống từ tư thế cùi chỏ thẳng
đứng nhắm vào đỉnh cột sống đối thủ và sử dụng
mút cùi chỏ
Trực Lạc Trửu đánh cắm xuống ra phía sau là
• Lưu ý: có nhiều lưu phái Vịnh Xuân quyền có các
cách diễn giải khác nhau đối với cùng một thaotác kỹ pháp, ví dụ như:
1 động tác đè tay hay ấn tay được diễn giảithành 6 tên khác nhau là Trất thủ, Khấm thủ,Nại thủ, Án thủ, Chẩm thủ, Trầm thủ;
2 động tác dùng cạnh bàn tay chém gạt mạnhhay thọc thẳng vào mục tiêu được diễn giảithành 2 tên khác nhau là át thủ, Sạn thủ
và cùng được dịch nghĩa sang tiếng Anh làShaving-hand hay Scraping-hand;
3 động tác dùng lưng cổ tay ngoài nâng lên
đỡ gạt được diễn giải thành Đề thủ, Đỉnh thủ(Hạc Đỉnh thủ)
4 động tác dùng cạnh bàn tay chém mạnhvào yết hầu (cổ họng) được diễn giải thànhTỏa Hầu thủ, Tiêu thủ (Phiêu thủ), Sát Cảnh
ủ
5 động tác xoay tròn cổ tay hay cùi chỏ tayđược diễn giải thành Khuyên thủ, yển thủ,trong chữ Hán âm Khuyên và yển đọcgiống nhau là quān/ quán theo âm an
oại (nếu phiên ra theo âm của chữ Latinđọc là Chian), đọc theo âm ảng Đông đượcLatin hóa là Huen hay Huyn
6 động tác đỡ chặn tay đối phương được diễngiải thành Phong thủ, Lan thủ đều có ý nghĩagiống nhau
7 động tác dùng tay kéo cổ đối phương đượcdiễn giải thành Trì Cảnh thủ, Phan Cảnh thủđều là một nghĩa
8 động tác phẩy hay ve vẩy cánh tay và cổtay khi tấn công vào đối phương được diễngiải thành Sủy thủ, Đoái thủ, Phất thủ(thấy
rỗ nhất trong Sil Nim tau dòng Diệp Vấn)
9 động tác đưa tay ra thăm dò nội kình củađối phương được diễn giải thành Tầm Kiều,Lao thủ, Vấn thủ
10 động tác Cổn thủ, Khổn thủ và Bàn thủ