Tần số tuế sai của từ hóa này phụ thuộc vào hướng đặt vật liệu, cường độ của trường từ, cũng như độ từ hóa vĩ mô của vật; tần số tuế sai hiệu dụng của sắt từ thấp hơn nhiều so với tần số
Trang 1Các trang trong thể loại “Vật lý vật chất
ngưng tụ”
Trang 2Mục lục
1.1 Mô tả 1
1.2 Ứng dụng 1
1.3 am khảo 1
1.4 Xem thêm 1
1.5 Liên kết ngoài 1
2 Boson 2 2.1 am khảo 3
2.2 Xem thêm 3
3 Cấu trúc tinh thể 4 3.1 Ô cơ sở 4
3.2 Hệ tinh thể 4
3.3 Phân loại các loại mạng tinh thể 4
3.4 Nhóm điểm và nhóm không gian 4
3.5 Sai hỏng mạng 5
3.6 Xem thêm 5
3.7 am khảo 5
3.8 Liên kết ngoài 5
4 Chất lưu siêu tới hạn 6 4.1 Xem thêm 6
4.2 am khảo 6
4.3 Liên kết ngoài 6
5 Cộng hưởng sắt từ 7 5.1 Lịch sử 7
5.2 Mô tả 7
5.3 am khảo 7
5.4 Xem thêm 7
5.5 Liên kết ngoài 7
i
Trang 36.1 am khảo 8
6.2 Liên kết ngoài 8
7 Điểm uyển dị lỏng-rắn 9 7.1 am khảo 9
8 Điểm tới hạn 10 8.1 Bảng nhiệt độ và áp suất hơi tới hạn của một số chất 10
8.2 Chú thích 10
8.3 am khảo 10
8.4 Liên kết ngoài 10
9 Giả tinh thể 11 9.1 am khảo 11
9.2 Liên kết ngoài 11
10 Hằng số điện môi 12 10.1 Tụ điện 12
10.2 Xem thêm 12
10.3 am khảo 12
11 Heli 13 11.1 uộc tính 13
11.2 Sự phổ biến 13
11.3 Đồng vị 13
11.4 Ứng dụng 14
11.5 Xem thêm 14
11.6 am khảo 14
11.7 Liên kết ngoài 14
12 Hệ keo 15 12.1 Phân loại 15
12.2 Tương tác giữa những hạt keo 15
12.3 Độ bền 15
12.4 Hệ keo như là mô hình cho nguyên tử 16
12.5 Hệ keo trong sinh vật học 16
12.6 Đọc thêm 16
12.7 am khảo 16
13 Hiệu ứng Hall 17 13.1 Cơ chế 17
13.2 Ứng dụng 18
13.2.1 Đo cường độ dòng điện 18
13.2.2 Tính nhân 18
Trang 4MỤC LỤC iii
13.2.3 Xác định vị trí và chuyển động 18
13.3 Lịch sử khám phá 19
13.4 Xem thêm 19
13.5 am khảo 19
13.6 Liên kết ngoài 19
14 Hiệu ứng Hall lượng tử 20 14.1 Hiệu ứng Hall lượng tử nguyên 20
14.2 Hiệu ứng Hall lượng tử phân số 20
14.3 Lý thuyết Composite Fermion 20
14.4 Đọc thêm 20
14.5 am khảo 20
15 Hiệu ứng Mössbauer 21 15.1 Chú thích 21
16 Hiệu ứng từ nhiệt 22 16.1 Sơ lược về hiệu ứng từ nhiệt 22
16.2 Ứng dụng của hiệu ứng từ nhiệt 22
16.3 Các quá trình nhiệt động trong các thiết bị sử dụng hiệu ứng từ nhiệt 23
16.4 Vật liệu từ nhiệt 23
16.5 Phương pháp đo đạc hiệu ứng từ nhiệt trong vật lý chất rắn 24
16.6 Các máy lạnh làm lạnh bằng từ trường thương phẩm 24
16.7 Đọc thêm 25
16.8 Liên kết ngoài 25
16.9 am khảo 25
17 Hóa keo 26 17.1 am khảo 26
17.2 Liên kết ngoài 26
18 Khối lượng hiệu dụng 27 18.1 Khái niệm về khối lượng hiệu dụng 27
18.2 Khối lượng hiệu dụng trong một số chất bán dẫn 27
18.3 Chứng minh thực nghiệm 27
18.4 Chú thích 28
18.5 Xem thêm 28
19 Lực kháng từ 29 19.1 Các khái niệm về lực kháng từ 29
19.2 Cơ chế tạo lực kháng từ 29
19.2.1 Trong các vật liệu có dị hướng từ yếu 29
19.2.2 Trong các vật liệu từ có dị hướng từ mạnh 30
19.3 Lực kháng từ và trường dị hướng 30
Trang 519.4 am khảo 30
19.5 Xem thêm 30
20 Multiferroics 31 20.1 Lịch sử 31
20.2 Tính đối xứng và các loại tính chất multiferroics 31
20.2.1 Hiệu ứng trật tự điện tích 31
20.2.2 Multiferroics vô hiệu quả hình học 31
20.2.3 Tính sắt điện bị điều khiển bởi từ tính 31
20.2.4 Multiferroics cặp cô độc 31
20.3 Hiệu ứng điện từ 31
20.4 Ứng dụng 32
20.5 am khảo 32
20.6 Xem thêm 32
20.7 Liên kết ngoài 32
21 Mức Fermi 33 21.1 Chú thích 33
21.2 am khảo 33
22 Năng lượng điểm không 34 22.1 am khảo 34
22.1.1 Ghi chú 34
23 Ngưng tụ Bose-Einstein 35 23.1 Giới thiệu 35
23.2 Xem thêm 36
23.3 am khảo 36
23.4 Đọc thêm 36
23.5 Liên kết ngoài 37
24 Nhũ tương 39 24.1 Trạng thái và tính chất 39
24.2 Chất nhũ hóa 39
24.3 Cơ chế sự nhũ hóa 39
24.4 Ứng dụng 40
24.5 Xem thêm 40
24.6 am khảo 40
25 Pha (vật ất) 42 25.1 Xem thêm 42
25.2 am khảo 42
25.3 Liên kết ngoài 42
Trang 6MỤC LỤC v
26.1 Độ phân cực tự phát 43
26.2 Đômen sắt điện và đường trễ sắt điện 43
26.3 Nhiệt độ Curie 44
26.4 Vật liệu và ứng dụng 44
26.4.1 Các loại vật liệu sắt điện 44
26.4.2 Ứng dụng của vật liệu sắt điện 44
26.5 am khảo 44
26.6 Xem thêm 45
26.7 Liên kết ngoài 45
27 Siêu dẫn nhiệt độ cao 46 27.1 Lịch sử 46
27.2 Tính chất khác 46
27.3 Lý thuyết 46
27.4 am khảo 47
27.5 Xem thêm 47
28 Siêu lạnh (nhiệt động lực học) 48 28.1 Giải thích 48
28.2 Chú thích 48
28.3 Đọc thêm 48
28.4 Liên kết ngoài 48
29 Sức bền vật liệu 49 29.1 Định nghĩa 49
29.1.1 Các khái niệm ứng suất 49
29.1.2 Các khái niệm độ bền 49
29.1.3 Các khái niệm sức căng 49
29.2 am khảo 49
30 Tinh thể học 50 30.1 Lý thuyết 50
30.2 Chú thích 50
30.3 am khảo 50
30.4 Đọc thêm 50
30.5 Liên kết ngoài 51
31 Tinh thể quang tử 52 31.1 Giới thiệu 52
31.2 Tinh thể quang tử tự nhiên 52
31.3 Ứng dụng 52
31.4 Xem thêm 52
Trang 731.5 am khảo 53
31.6 Liên kết ngoài 53
32 Tinh thể thời gian 54 32.1 Lịch sử 54
32.2 Ghi chú 55
32.3 am khảo 55
32.3.1 Tạp chí khoa học 55
33 Trạng thái vật ất 61 33.1 4 trạng thái thường gặp 61
33.1.1 Rắn 61
33.1.2 Lỏng 61
33.1.3 Khí 61
33.1.4 Plasma 61
33.2 Phản vật chất 61
33.3 Trạng thái nhiệt độ thấp 61
33.4 Trạng thái năng lượng cao 61
33.5 Trạng thái đề xuất 61
33.6 Chú thích 61
33.7 Liên kết ngoài 61
34 Vật ất suy biến 63 34.1 Khái niệm 63
34.2 Các chất khí suy biến 63
34.3 Chú thích 63
34.4 am khảo 63
35 Vật liệu từ mềm 64 35.1 Các thông số của vật liệu từ mềm 64
35.2 Các thông số đáng chú ý khác 64
35.3 Một số loại vật liệu từ mềm 65
35.4 Ứng dụng của vật liệu từ mềm 66
35.5 Xem thêm 66
35.6 am khảo 66
35.7 Liên kết ngoài 66
35.8 am khảo 66
36 Vật lý ất rắn 67 36.1 Chú thích 67
37 Vật lý vật ất ngưng tụ 68 37.1 Lịch sử 68
37.1.1 Từ vật lý cổ điển 68
Trang 8MỤC LỤC vii
37.1.2 Đến cơ học lượng tử 69
37.1.3 Vật lý đa vật thể 70
37.2 Lý thuyết 71
37.2.1 Sự nổi lên 71
37.2.2 Lý thuyết điện tử cho chất rắn 71
37.2.3 Phá vỡ đối xứng 71
37.2.4 Sự chuyển pha 72
37.3 ực nghiệm 72
37.3.1 Tán xạ 72
37.3.2 Từ trường ngoài 72
37.3.3 Khí nguyên tử lạnh 73
37.4 Ứng dụng 73
37.5 Xem thêm 73
37.6 Ghi chú 73
37.7 am khảo 74
37.8 Đọc thêm 76
37.9 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 77
37.9.1 Văn bản 77
37.9.2 Hình ảnh 79
37.9.3 Giấy phép nội dung 81
Trang 9Áp điện
Hiệu ứng áp điện (tiếng Anh là piezoelectric
phenomena) là một hiện tượng vật lý được nhà
khoáng vật học người Pháp phát hiện đầu tiên vào
năm 1817, sau đó được anh em nhàPierrevàJacques
Curienghiên cứu chi tiết vào năm 1880
1.1 Mô tả
Hiện tượng xảy ra như sau: người ta tìm được một loại
chất có tính chất hóa học gần giốnggốm(ceramic) và
nó có hiệu ứng thuận nghịch: khi áp vào nó mộttrường
điệnthì nó biến đổi hình dạng, và ngược lại khi dùng
lực cơ học tác động vào nó thì nó tạo rađiện tíchtrên
bề mặt xác định
Nó như một máy biến đổi trực tiếp từnăng lượng điện
sang năng lượng cơ họcvà ngược lại Nếu như theo
chiều hướng thuận, có nghĩa là tác dụng lực lên vật thì
sẽ sinh ra điện và ngược lại là áp điện nghịch: tác động
hiệu thế vào vật thì sẽ sinh ra công biến dạng làm biến
đổi lực Một vật được cấu tạo bởi ba yếu tố PZT (chì Pb,
zorconi, titan) sẽ có tính chất áp điện (VD: thạch anh)
Đĩa gốm áp điện phát điện tích khi biến dạng
1.2 Ứng dụng
Ngày nay hiện tượng áp điện được ứng dụng rất rộngrãi trongkỹ thuật phục vụ cho cuộc sống hàng ngàynhư: máy bật lửa,cảm biến, máy siêu âm, điều khiểngóc quay nhỏ gương phản xạ tialade, các thiết bị,động
cơcó kích thước nhỏ, hiện nay người ta đang phát triểnnhiều chương trình nghiên cứu nhưmáy baybay đậpcánh như côn trùng, cơ nhân tạo, cánh máy bay biếnđổi hình dạng, phòng triệt tiêu âm thanh, các cấu trúcthông minh, hầu hết các máy in hiện nay… một trongnhững ứng dụng quan trọng hiện nay trong kỹ thuật làdùng làmđộng cơ piezo
Cho đến hiện nay người ta đã tìm ra được hai loại vậtliệu piezo cơ bản đó là dạng cục (như gốm) ceramic vàtấm mỏng như tấm film
Các phương pháp số dùng để tính toán o loại vật liệu này như cũng đã được nghiên cứu khắp nơi trên thế giới.
1.3 Tham khảo 1.4 Xem thêm 1.5 Liên kết ngoài
1
Trang 10Chương 2
Boson
Trạng thái đông đặc Bose-Einstein của các boson, trong trường
hợp này là các nguyên tử rubidi Hình vẽ là phân bố tốc độ của
chuyển động của các nguyên tử, theo vị trí Màu đỏ chỉ nguyên
tử di chuyển chậm, màu xanh và trắng chỉ nguyên tử di chuyển
nhanh Trái: trước khi có động đặc Bose-Einstein Giữa: ngay
sau khi đông đặc Phải: trạng thái đông đặc mạnh hơn Ở trạng
thái đông đặc, rất nhiều nguyên tử có cùng vận tốc và vị trí (cùng
trạng thái lượng tử) nằm ở đỉnh màu trắng.
Boson (tiếng Việt đọc là: Bô dông), đặt tên theonhà vật
lýngườiẤn Độ Satyendra Nath Bose, là một trong hai
loại hạt cơ bản trong tự nhiên (loại hạt kia làfermion)
Chúng là loại hạt duy nhất tuân theothống kê
Bose-Einstein, nghĩa là chúng có thể nằm cùng mộttrạng
thái lượng tử(không tuân thủnguyên lý Pauli) eolý
thuyết thống kê spin, chúng cóspinlấy giá trịnguyên
Các tính chất nêu trên của boson hoàn toàn đối lập với
fermion(có spin bán nguyên, tuân thủ nguyên lý Pauli)
eo mô hình chuẩn, một lý thuyết gauge, lực giữa
các fermion được mô hình hóa bằng cách tạo ra các
boson, có tác dụng như các thành phần trung gian.Hệ
Lagrangecủa mỗi tập hợp hạt boson trung gian không
thay đổi dưới một dạng biến đối gọi là biến đổi gauge, vì
thế các boson này còn được gọi làgauge boson.Gauge
bosonlà cáchạt cơ bảnmangtương tác cơ bản Chúng
làW boson củalực hạt nhân yếu, gluoncủa lực hạt
nhân mạnh, photoncủa lực điện từ, và gravitoncủa
lực hấp dẫn
Biến đổi gauge của các gauge boson có thể được miêu
tả bởi mộtnhóm unita, gọi lànhóm gauge Nhóm gauge
của tương tác mạnh là SU(3), nhóm gauge của tương tác
yếu là SU(2)xU(1) Vì vậy, mô hình chuẩn thường được
gọi là SU(3)xSU(2)xU(1) Higg boson là boson duy nhấtkhông thuộc gauge boson, các tính chất của boson nàyvẫn còn được bàn cãi
Mọi hạt trong tự nhiên đều hoặc là boson hoặc làfermion Các hạt tạo nên từ các hạt cơ bản hơn (nhưprotonhayhạt nhân nguyên tử) cũng thuộc một tronghai nhóm boson và fermion, phụ thuộc vào tổng spincủa chúng
Các tính chất boson của photon giải thíchbức xạ vậtđenvà hoạt động củalaser Tính chất boson củaheli-4giải thích khả năng tồn tại ở trạng tháisiêu lỏng Nhữngboson cũng có thể nằm ở trạng thái đông đặc Bose-Einstein, mộttrạng thái vật chấtđặc biệt ở đó mọi hạtđều ở cùng một trạng thái lượng tử
Đông đặc Bose-Einstein chỉ xảy ra tại nhiệt độ rấtthấp Ở nhiệt độ thường, boson và fermion đều ứng
xử rất giống nhau, giống hạt cổ điển tuân thủ gầnđúng thống kê Maxwell-Boltzmann Lý do là vì cảthống kê Bose-Einstein vàthống kê Fermi-Dirac(thống
kê hạt fermion) đều tiệm cận đến thống kê Boltzmann ở nhiệt độ phòng
Maxwell-Các boson trong mô hình chuẩn là:
• Photon, hạt trung gian trongtương tác điện từ
• WvàZ boson, hạt trung gian tronglực hạt nhânyếu
• 8gluon, hạt truyền trung gian tronglực hạt nhânmạnh 6 trong số các gluon được đánh dấu bằngcác cặp “màu” và "đối màu” (ví dụ như một hạtgluon mang màu "đỏ" và "đối đỏ"), 2 gluon còn lại
là cặp màu được “pha trộn” phức tạp hơn
• Higgs boson, hạt gây ra bất đối xứng trong cácnhóm gauge, và cũng là loại hạt tạo rakhối lượngquán tính
Gravitonlà boson được cho là hạt truyền tương tác củatương tác hấp dẫn, nhưng không được nhắc đến trong
mô hình chuẩn
Các ví dụ boson khác:
• Hạt nhân với spin nguyên
2
Trang 11• Nguyên tửHeli-4
• Nguyên tửNatri-23
• phonon
2.1 Tham khảo
• Sakurai, J.J (1994) Modern antum Mechanics
(Revised Edition), pp 361–363 Addison-Wesley
Publishing Company.ISBN 0-201-53929-2
2.2 Xem thêm
• Mô hình chuẩn
• Khí Bose
• Siêu dẫn
Trang 12Chương 3
Cấu trúc tinh thể
Một tinh thể chất rắn
Trongkhoáng vật họcvà tinh thể học, một cấu trúc
tinh thể là một sự sắp xếp đặc biệt của cácnguyên tử
trongtinh thể Một cấu trúc tinh thể gồm có mộtô cơ sở
và rất nhiều các nguyên tử sắp xếp theo một cách đặc
biệt; vị trí của chúng được lặp lại một cách tuần hoàn
trong không gian ba chiều theo mộtmạng Bravais Kích
thước của ô đơn vị theo các chiều khác nhau được gọi
là cácthông số mạng hay hằng số mạng Tùy thuộc vào
tính chất đối xứngcủa ô đơn vị màtinh thểđó thuộc
vào một trong cácnhóm không giankhác nhau
Cấu trúc và đối xứng của tinh thể có vai trò rất quan
trọng với cáctính chất liên kết,tính chất điện,tính chất
quang,… của tinh thể
3.1 Ô cơ sở
Ô đơn vị là một cách sắp xếp của cácnguyên tửtrong
không gian ba chiều, nếu ta lặp lại nó thì nó sẽ chiếm
đầy không gian và sẽ tạo nêntinh thể Vị trí của các
nguyên tử trong ô đơn vị được mô tả bằng một hệ đơn
vị hay còn gọi là một hệ cơ sở bao gồm ba thông số
tương ứng với ba chiều của không gian (x i , y i , z i)
Đối với mỗi cấu trúc tinh thể, tồn tại một ô đơn vị quy
ước, thường được chọn để mạng tinh thể có tính đối
xứng cao nhất Tuy vậy, ô đơn vị quy ước không phải
luôn luôn là lựa chọn nhỏ nhất.Ô mạng cơ sởmới là
một lựa chọn nhỏ nhất mà từ đó ta có thể tạo nên tinh
thể bằng cách lặp lại ô nguyên tố Ô Wigner-Seitzlà
một loại ô nguyên tố mà có tính đối xứng giống nhưcủa mạng tinh thể
hệ tinh thể Hệ tinh thể đơn giản nhất và đối xứng caonhất làhệ lập phương, các hệ tinh thể khác có tính đốixứng thấp hơn là:hệ sáu phương,hệ bốn phương,hệ
ba phương(còn gọi là hình mặt thoi),hệ thoi,hệ mộtnghiêng,hệ ba nghiêng Một số nhà tinh thể học coi
hệ tinh thể ba phương là một phần của hệ tinh thể sáuphương
3.3 Phân loại các loại mạng tinh thể
Mạng Bravaislà một tập hợp các điểm tạo thành từ mộtđiểm duy nhất theo các bước rời rác xác định bởi cácvéc tơ cơ sở Trong không gian ba chiều có tồn tại 14mạng Bravais (phân biệt với nhau bởi các nhóm khônggian) Tất các vật liệu có cấu trúc tinh thể đều thuộcvào một trong các mạng Bravais này (không tính đếncácgiả tinh thể) 14 mạng tinh thể được phân theo các
hệ tinh thể khác nhau được trình bày ở phía bên phảicủa bảng
Cấu trúc tinh thể là một trong các mạng tinh thể vớimột ô đơn vị và các nguyên tử có mặt tại các nút mạngcủa các ô đơn vị nói trên
3.4 Nhóm điểm và nhóm không gian
Nhóm điểm tinh thể họchoặc lớp tinh thể là một tập
hợp các phép đối xứng không tịnh tiến mà dưới tác4
Trang 13dụng của các phép đối xứng đó, tinh thể trở lại vị trí
như cũ Có tất cả 32 lớp tinh thể
Nhóm không giancủa một cấu trúc tinh thể được tạo
thành từ các phép đối xứng tịnh tiến bổ sung vào các
phép đối xứng của các nhóm điểm Có tất cả 230 nhóm
không gian như vậy
3.5 Sai hỏng mạng
Các tinh thể thực thường có cácsai hỏng mạnghoặc
là các điểm bất thường có mặt trong cấu trúc tinh thể
lý tưởng nói ở trên Các sai hỏng này có vai trò quyết
định đến tính chất cơ và điện của các tinh thể thực Đặc
biệt làbất định xứtrong tinh thể cho phép tinh thể biến
dạng dễ dàng hơn nhiều so với tinh thể hoàn hảo
Trang 14Chương 4
Chất lưu siêu tới hạn
Chất lưu siêu tới hạn là một dạng vật chất tồn tại trong
điều kiện áp suất và nhiệt độ cao hơnđiểm tới hạn.Trong điều kiện này, vật chất có trạng thái đặc biệt,vừa lỏng vừa khí, ví dụ như vừa có thể khuếch tán trongkhông trung nhưchất khí, vừa có thể thấm qua vật chấtnhưchất lỏng Ngoài ra ở điều kiện nhiệt độ và áp suấtgần với điểm tới hạn, thay đổi nhỏ của các thông số nàydẫn đến thay đổi lớn vềmật độcủa vật chất
Chất lưu siêu tới hạn được dùng trong một số trườnghợp để thay thế cácdung môi hữu cơ.Nướcvàcacbonic
là phổ biến nhất, dùng trong quá trình lấy caffein rakhỏi nông sản, hoặc dùng tronglò phản ứng nước siêutới hạn
• Poliakoff, Martyn (28 tháng 4 năm 2008)
“Supercritical fluids” Test Tube.Brady HaranfortheUniversity of Noingham
6
Trang 15Cộng hưởng sắt từ
cộng hưởng sắt từ, hay FMR (Ferromagnetic
resonance), là một kỹ thuật quang phổ để thăm
dòtừ hóacủa vật liệusắt từ Nó là một công cụ tiêu
chuẩn để thăm dòsóng spin và spin động FRM nói
chung tương tự với cộng hưởng thuận từ electron
(EPR), và hơi giống cộng hưởng từ hạt nhân (NMR)
chỉ khác là FMR thăm dò mẫu từ hóa từ mô men từ
của cặp lưỡng cực ngoại trừ electron lẽ cặp, trái lại
NMR lại đo mô men từ củahạt nhân nguyên tử che
bởi nguyên tử hoặc quỹ đạo phân tử xung quanh như
hạt nhân của spin nhân không-zero
5.1 Lịch sử
Cộng hưởng sắt từ được vô tình phát hiện bởi V K
Arkad'yev khi ông quan sát sự hấp thụ bức xạ UHF bởi
vật liệu sắt từ vào năm 1911 Giải thích định tính của
FMR cùng với giải thích của các kết quả của Arkad'yev
được trình bày bởi Ya G Dorfman vào năm 1923 khi
ông đề xuất rằng quá trình dịch chuyển quang theo
phép táchZeemancó thể là cách thức để nghiên cứu
cấu trúc của sắt từ
5.2 Mô tả
FMR xuất hiện từ chuyển động tuế sai Từ cảm M ⃗
(thường khá lớn) của một vật liệu sắt từ trong từ trường
ngoàiH ⃗ Từ trường này gây ra mộtmô men xoắnlên
vật mang từ tính sẽ gây ra mô men Từ trong vật này
làm nó chuyển động tuế sai Tần số tuế sai của từ hóa
này phụ thuộc vào hướng đặt vật liệu, cường độ của
trường từ, cũng như độ từ hóa vĩ mô của vật; tần số tuế
sai hiệu dụng của sắt từ thấp hơn nhiều so với tần số
tuế sai quan sát được đối với electron tự do trong EPR
Hơn nữa, chiều dài của đỉnh hấp thụ có thể tác động
lớn đến cả hiệu ứng lưỡng cực-hẹp và trao đổi mở rộng
(lượng tử) Ngoài ra, không phải tất cả đỉnh hấp thụ
quan sát trong FMR đều được gây ra bởi chuyển động
tuế sai của mô men Từ của electron trong sắt từ Do đó,
phân tích lý thuyết của phổ FMR sẽ phức tạp hơn nhiều
so với phổ EPR hoặc phổ NMR
iết lập cơ bản cho một thí nghiệm FMR là mộthốc
cộng hưởngvới mộtnam châm điện Hốc cộng hưởngđược cố định tại một dãi vi ba siêu cao tần Một cảmbiến được đặt tại phía cuối hốc này để phát hiện các
vi ba Mẫu sắt từ được đặt giữa hai cực của nam châmđiện và trường từ sẽ quét qua trong khi cường độ hấpthụ cộng hưởng của vi ba được phát hiện Khi tần sốtuế sai từ hóa và tần số hốc cộng hưởng bằng nhau,việc hấp thụ sẽ tăng rõ ràng và được chỉ thị bởi sự giảmcường độ chuyển động tuế sai trong bộ cảm biến
5.3 Tham khảo
• Vonsovskii, S V (1966) Ferromagnetic Resonance:
e Phenomenon of Resonant Absorption of a High-Frequency Magnetic Field in Ferromagnetic Substances Oxford:Pergamon
• Chikazumi, Sōshin (1997) Physics of Ferromagnetism. Clarendon Press ISBN 0-19-851776-9
5.4 Xem thêm
• Electron paramagnetic resonance
• Nuclear magnetic resonance
5.5 Liên kết ngoài
• Calculation of some important resonance fields
7
Trang 16Chương 6
Đám mây phân tử
Một đám mây phân tử, đôi khi được gọi là một vườn
ươm sao nếu quá trình hình thành sao đang diễn ra bêntrong, là một loại của các đám mây giữa các vì sao cómật độ và kích thước cho phép sự hình thành của cácphân tử, phổ biến nhất là phân tửhydro(H2)
Phân tử hydro rất khó phát hiện bằng quan sát hồngngoại và đài quan sát vô tuyến, do đó, các phân tửthường được sử dụng để xác định sự hiện diện của H2
làCO(carbon monoxide) Tỷ lệ giữa độ sáng CO và độkhối H2 được cho là không đổi, mặc dù có lý do để nghingờ giả thiết này trong các quan sát của một số thiên
Trang 17Điểm chuyển dịch lỏng-rắn
Điểm uyển dị lỏng-rắn là nhiệt độ xảy ra hiện
tượng chuyển di hai chiều từ thể lỏng hay trạng thái
dẻo giốngcao suthành thể rắn phi kết tinh, ký hiệu T
Khi kết tinh được gia nhiệt, chất rắn bắt đầu trạng thái
biến thành thể lỏng Ở điểm trung giangiữa thể rắn và
thể lỏng, nhiệt độ vẫn dược duy trì cho đến khi chất
rắn chuyển hoàn toàn thành thể lỏng.Khi đó, nhiệt độ
bắt đầu tiếp tục tăng.Tuy nhiên, trong trường hợp gia
nhiệt chất rắn phi kết tinh mà tính lưu động của chất
rắn này tương đương với khi kết tinh (chỉ số độ cứng
rất cao) thì trong phạm vi nhiệt độ hẹp tính lưu động
đột nhiên tăng Phạm vi nhiệt độ rất hẹp này được gọi
là điểm chuyển di lỏng-rắn, trạng thái phi kết tinh ở
nhiệt độ thấp hơn điểm chuyển di lỏng-rắn được gọi
là trạng thái rắn, ở nhiệt độ cao hơn điểm chuyển di
glass được gọi là trạng thái “cao su” Những chất tiêu
biểu cho hiện tượng này có thể kể đến các hợp chất cao
phân tử như cao su thiên nhiên, polymer tổng hợp…
7.1 Tham khảo
9
Trang 18Chương 8
Điểm tới hạn
1 Etan gần tới hạn, pha lỏng và khí cùng tồn tại
2 Điểm tới hạn (32,17 °C, 48,72 bar), ánh opal
3 Etan siêu tới hạn, lỏng [1]
Trongnhiệt động lực học, điểm tới hạn (hay trạng thái
tới hạn) là điểm cuối cùng trên đường cong cân bằng
pha Ví dụ nổi bật nhất là điểm tới hạn chất lỏng-hơi,
điểm cuối cùng của đường cong áp suất-nhiệt độ chỉ ra
các điều kiện mà tại đó chất lỏng và hơi của nó có thể
cùng tồn tại Tại điểm tới hạn, được định nghĩa theo
nhiệt độ tới hạn T và áp suất tới hạn p, ranh giới pha
không còn nữa Các ví dụ khác là các điểm tới hạn của
chất lỏng-chất lỏng trong các hỗn hợp
8.1 Bảng nhiệt độ và áp suất hơi tới
hạn của một số chất
8.2 Chú thích
[1] Horstmann, Sven (2000) eoretische
und experimentelle Untersuchungen zum
Hochdruckphasengleichgewichtsverhalten fluider
Stoffgemische ür die Erweiterung der
PSRK-Gruppenbeitragszustandsgleichung [eoretical and
experimental investigations of the high-pressure phase
equilibrium behavior of fluid mixtures for the expansion
of the PSRK group contribution equation of state] (Ph.D.)
(bằng tiếng Đức) Carl-von-Ossietzky Universität
Oldenburg.ISBN 3-8265-7829-5
[2] Emsley, John (1991) e Elements Oxford UniversityPress.ISBN 0-19-855818-X
[3] Cengel, Yunus A.; Boles, Michael A (2002)
ermodynamics: An Engineering Approach Hill tr 824.ISBN 0-07-238332-1
McGraw-[4] “Ammonia” Truy cập 5 tháng 9 năm 2015
[5] International Association for the Properties of Waterand Steam, 2007
[6] “Critical Temperature and Pressure” Purdue University.Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2006
8.3 Tham khảo
• “Revised Release on the IAPWS IndustrialFormulation 1997 for the ermodynamicProperties of Water and Steam” (PDF).International Association for the Properties
of Water and Steam áng 8 năm 2007 Truy cậpngày 9 tháng 6 năm 2009
8.4 Liên kết ngoài
• “Critical points for some common solvents”.ProSciTech.Bản gốclưu trữ ngày 31 tháng 1 năm2008
• “Critical Temperature and Pressure” Department
of Chemistry Purdue University Truy cập ngày 3
tháng 12 năm 2006
10
Trang 19Giả tinh thể
Mô hình nguyên tử của giả tinh thể hợp kim nhôm - paladi
-mangan
Giả tinh thể (quasicrystal) là một dạng tồn tại khác biệt
của chất rắn, trong đó cácnguyên tửsắp xếp dường như
đều đặn nhưng không có sự lặp lại
Trong khi tinh thể, theo định lý hạn chế cổ điểntinh
thể, có thể có chỉ có hai, ba, bốn, sáu lần đối xứng quay,
hình ảnhnhiễu xạ Braggcủa chuẩn tinh thể cho thấy
các đỉnh sắc nét với các đơn đặt hàng đối xứng khác, ví
dụ năm lần
Khái niệm này đượcDan Shechtmannghiên cứu và đề
cập lần đầu tiên vào năm1982 Hầu hết các giả tinh thể
thu được cho thấy đều làhợp kimcủanhôm(Al-Ni-Co,
Al- Pd-Mn, Al-Cu-Fe), một số các hợp kim khác gồm có
Ti-Zr-Ni, Zn-Mg-Ho Trước đó, giới khoa học tin rằng
trong mọi chất rắn, nguyên tử được sắp xếp trong các
tinh thể theo mô hình đối xứng và lặp lại một cách tuần
hoàn, đồng thời sự sắp xếp tuần hoàn này là điều cần
thiết để tạo ra tinh thể Hình ảnh cho thấy các nguyên
tử trong tinh thể Dan Shechtman nghiên cứu được sắp
xếp trong mô hình không theothứ tự tuần hoàn Trong
khi đó, giới khoa học vẫn nghĩ rằng mô hình như vậy
là không thể
Shechtman nhận đượcgiải Nobel Hóa họcnăm 2011
cho phát hiện của mình
9.1 Tham khảo 9.2 Liên kết ngoài
Giả tinh thể là gì?tại ư Viện Vật LýKhám phá bán tinh thể giành Giải Nobel Hóa học 2011
11
Trang 20Chương 10
Hằng số điện môi
Lực tương tác giữa các vật mang điệnphụ thuộc vào
môi trường xung quanh chúng.í nghiệmchứng tỏ
rằng, ở một khoảng cách nhất định,lực Coulombgiữa
haiđiện tíchđặt trongđiện môiđồng chất nhỏ hơn lực
tác dụng giữa chúng trong chân khôngε lần (đọc là
epxilon) Đây là mộthằng sốphụ thuộc vào tính chất
của điện môi mà không phụ thuộc vào độ lớn và khoảng
cách giữa các điện tích Nó được gọi là hằng số điện môi
của môi trường, đặc trưng cho tính chất điện của môi
trường đó Nó là đại lượng không cóthứ nguyên; tức là
một số thuần tuý, không có đơn vị
Hằng số điện môi đôi khi còn được gọi đầy đủ là độ
điện thẩm tương đối; do nó bằng tỷ số giữađộ điện
thẩmcủa môi trường vàđộ điện thẩm chân không:
ε = ε /ε₀
Vớichân không, hằng số điện môi hiển nhiên bằng 1
Dưới đây là bảng hằng số điện môi của một số chất
• Không khí(ởnhiệt độ0℃vàáp suất760mmHg)
Xét mộttụ điệngồm hai bản kim loại song song và
ở giữa làchân khôngcóđiện dunglà C0 Khi lấp đầy
không gian giữa hai bản bằng mô trường có hằng số
điện môi ε, điện dung sẽ tăng lên:
C = ε C0
Để chế tạo các tụ điện có điện dung lớn với kích thướcnhỏ, có thể nhồi vào tụ các vật liệu có hằng số điện môilớn
10.2 Xem thêm
• Độ điện thẩm
10.3 Tham khảo
12
Trang 21Heli (hay Hêli) là nguyên tố trong bảng tuần hoàn
nguyên tốcó ký hiệu He và số hiệu nguyên tử bằng
hai, nguyên tử khối bằng 4 Tên của nguyên tố này bắt
nguồn từ Helios, tên của thần Mặt Trời trongthần thoại
Hy Lạp, do nguồn gốc nguyên tố này được tìm thấy
trongquang phổtrên Mặt Trời
11.1 Thuộc tính
Heli cóđiểm sôithấp nhất trong tất cả các nguyên tố
và chỉ có thể đông đặc dưới áp suất rất cao Nguyên tố
này thường thường là khí đơn nguyên tử và về mặt hoá
học nó làtrơ
11.2 Sự phổ biến
Heli là nguyên tố nhiều thứ hai trong vũ trụ, sauhyđrô
Trongkhí quyển Trái Đấtmật độ heli theo thể tích là
5,2 x 10−6tại mực nước biển và tăng dần đến độ cao 24
km, chủ yếu là do phần lớn heli trong bầu khí quyển
Trái Đất đã thoát ra ngoài khoảng không gian vũ trụ vì
tỷ trọng thấp và tính trơ của nó Có một lớp trong bầu
khí quyển Trái Đất ở độ cao khoảng 1.000 km mà ở đó
heli là chất khí chủ yếu (mặc dù tổng áp suất gây ra là
rất nhỏ)
Heli là nguyên tố phổ biến thứ 71 trong vỏ Trái Đất,
chiếm tỷ lệ 8 x 10−9, còn trong nước biển chỉ có 4 x
10−12 Nói chung, nó hình thành từ sự phân rã phóng
xạ của cácnguyên tố, do vậy người ta có thể tìm thấy
heli trong các mỏ khoáng chất chứaurani,thoriv.v và
trong vài loạinước khoángcũng như khí phun trào núi
lửa Heli tồn tại trong nhiều loạikhí tự nhiên
Có 8đồng vịcủa heli, nhưng chỉheli-3vàheli-4làbền
Trongkhí quyển Trái Đất, trong một triệu nguyên tử
4He có một nguyên tử3He.[2] Không giống như các
nguyên tử khác, sự phổ biến của các đồng vị heli thay
đổi tùy theo nguồn gốc, do các quá trình hình thànhkhác nhau Đồng vị phổ biến nhất, heli-4, được tạo ratrên Trái Đất từphân rã alphacủa các nguyên tố phóng
xạ nặng hơn; các hạtalphasinh ra bị ion hóa hoàn toànhạt nhân heli-4 Heli-4 là hạt nhân ổn định bất thường
do cácnucleonđược sắp xếp vàolớp vỏ đầy đủ Nó cũngđược tạo ra với số lượng lớn trongtổng hợp hạt nhânBig Bang.[3]
Heli-3 có chỉ có mặt trên Trái Đất ở dạng dấu vết; đa sốtrong đó có từ lúc hình thành Trái Đất, mặc dù một sốrơi vào Trái Đất trongbụi vũ trụ.[4]Một lượng vết cũngđược tạo ra từphân rã betacủatriti.[5]Các đá trong vỏTrái Đất có các tỉ lệ đồng vị thay đổi khoảng 1/10, vàcác tỉ lệ này có thể được dùng để khảo sát nguồn gốccủa các đá và thành phầnlớp phủcủa Trái Đất.[4] 3Hephổ biến hơn trong các ngôi sao ở dạng sản phẩm củaphản ứng tổng hợp hạt nhân Do đó trongmôi trườngliên sao, tỉ lệ3He so với4He cao khoảng 100 lần sovới trên Trái Đất.[6]Các vật liệu ngoài hành tinh nhưtầng phong hóa của Mặt Trăng và tiểu hành tinh cóheli-3 ở dạng vết, chúng được hình thành từ sự bắnphá củagió Mặt Trời Bề mặt Mặt Trăngchứa heli-3với nồng độ 0.01ppm.[7][8] Một số người, đầu tiên làGerald Kulcinski năm 1986,[9] đã đề xuất thám hiểmMặt Trăng, khai thác lớp phong hóa Mặt Trăng và sửdụng heli-3 trongphản ứng tổng hợp hạt nhân.Heli-4 hóa lỏng có thể được làm lạnh ở khoảng 1 kelvinbằnglàm lạnh bay hơitrong 1-K pot Cách làm lạnhtương tự cũng áp dụng cho heli-3, đồng vị này có điểmsôi thấp hơn nên có thể lạnh ở 0,2 kelvin tronghelium-
3 refrigerator Hỗn hợp cân bằng của3He và4He lỏngdưới 0,8 K tách thành hai pha không trộn lẫn do sự khácbiệt của chúng (chúng tuên theo cácthống kê lượng tửkhác nhau: các nguyên tử heli-4 tuên theobosontrongkhi heli-3 tuân theofermion).[10]Dilution refrigeratorsuse this immiscibility to achieve temperatures of a fewmillikelvins
Nó có thể tạo ra cácđồng vị heli ngoại lai, mà chúng
có thể phân rã nhanh chóng thành các chất khác Đồng
vị heli nặng tồn tại ngắn nhất là heli-5 cóchu kỳ bán
rã7,6×10–22giây Heli-6 phân rã bằng cách phát rahạtbetavà có chu kỳ bán rã 0,8 giây Heli-7 cũng phát rahạt beta cũng nhưtia gamma Heli- và heli-8 được tạo
ra trong cácphản ứng hạt nhânnhất định.[10] Heli-613
Trang 2214 CHƯƠNG 11 HELI
và heli-8 thể hiện là mộtnuclear halo Heli-2 (2 proton,
không có neutron) là một đồng vị phóng xạphân rã
bằngphát xạ protonthànhproti(hydro), có chu kỳ bán
rã 3×10–27giây.[10]
11.4 Ứng dụng
Heli được dùng để đẩy cácbóng thám khôngvàkhí cầu
nhỏ do tỷ trọng riêng nhỏ hơn tỷ trọng của không khí
và như chất lỏng làm lạnh chonam châm siêu dẫn
Đồng vị Heli 3 có nhiều trong gió mặt trời nhưng mà
phần lớn chúng bị từ trường của Trái Đất đẩy ra Người
ta đang nghiên cứu khai thác Heli-3 trên Mặt Trăng để
sử dụng như một nguồn năng lượng rất tiềm năng
Làm cho giọng nói trở nên thay đổi (trở nên cao hơn)
Do heli nhẹ hơn không khí rất nhiều nên trong khí heli,
tốc độ của âm thanh nhanh hơn tới 3 lần trong không
khí, lên tới 927 m/s.Khi hít khí heli, trong vòm họng
bạn tràn ngập khí ấy Do đó, tần số giọng nói sẽ biến
đổi, tăng lên rất nhiều và tất yếu khiến giọng bạn cao
và trong hơn Tuy nhiên, do hàm lượng khí heli trong
bóng bay thấp nên “giọng nói chipmunk” chỉ tồn tại
trong một thời gian rất ngắn, rồi trở về bình thường
11.5 Xem thêm
• Nguyên tử heli
11.6 Tham khảo
[1] Magnetic susceptibility of the elements and inorganic
compounds, in Handbook of Chemistry and Physics
81st edition, CRC press
[2] Emsley, John (2001) Nature’s Building Blocks Oxford:
Oxford University Press tr 175–179.ISBN
0-19-850341-5
[3] Weiss, Achim “Elements of the past: Big Bang
Nucleosynthesis and observation” Max Planck
Institute for Gravitational Physics Truy cập ngày
23 tháng 6 năm 2008.; Coc, Alain; Vangioni-Flam,
Elisabeth; Descouvemont, Pierre; Adahchour,
Abderrahim; Angulo, Carmen (2004) “Updated
Big Bang Nucleosynthesis confronted to WMAP
observations and to the Abundance of Light
Elements” Astrophysical Journal 600 (2): 544.
Bibcode:2004ApJ…600 544C arXiv:astro-ph/0309480
doi:10.1086/380121
[4] Anderson, Don L.; Foulger, G R.; Meibom, A (ngày
2 tháng 9 năm 2006) “Helium Fundamentals”
MantlePlumes.org Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2008
[5] Novick, Aaron (1947) “Half-Life of Tritium” Physical
Review 72: 972–972.doi:10.1103/PhysRev.72.972.2
[6] Zastenker G N và đồng nghiệp (2002) “IsotopicComposition and Abundance of Interstellar NeutralHelium Based on Direct Measurements” Astrophysics
[8] Slyuta, E N.; Abdrakhimov, A M.; Galimov, E M (2007)
“e estimation of helium-3 probable reserves in lunarregolith”(PDF) Lunar and Planetary Science XXXVIII.
Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2008
[9] Hedman, Eric R (ngày 16 tháng 1 năm 2006) “Afascinating hour with Gerald Kulcinski” e Space
Review Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2008.
[10] Clifford A Hampel (1968) e Encyclopedia of the
Chemical Elements New York: Van Nostrand Reinhold.
tr 256–268.ISBN 0-442-15598-0
11.7 Liên kết ngoài
Trang 23Hệ keo
Hệ keo, còn gọi là hệ phân tán keo, là một hệ thống có
hai thể của vật chất, một dạng hỗn hợp ở giữa hỗn hợp
đồng nhất và hỗn hợp không đồng nhất.
• Trong một hệ phân tán keo, các giọt nhỏ hay hạt
nhỏ của một chất, chất phân tán, được phân tán
trong một chất khác, môi trường phân tán.
• Trong một hệ keo cao phân tử, các chất cao phân
tử được phân tán trong một trường đồng nhất (môi
trường phân tán)
Rất nhiều chất quen thuộc bao gồm cả bơ,sữa, kem
sữa, các aerosol (Ví dụ như sương mù, khói sương
(tiếng Anh: Smog, kết hợp của từ smoke và fog),khói
xe),nhựa đường,mực,sơn, bọt biển đều là hệ keo Bộ
môn nghiên cứu về hệ keo được nhà khoa học người
Scotlandomas Grahammở đầu vào năm1861
Các hạt phân tán trong một hệ keo có kích thước từ
0,001 đến 1micrômét Một số tài liệu khác định nghĩa
là các hạt keo có kích thước không nhìn được bằng kính
hiển vi quang học thông thường, tức là các hạt keo có
kích thước lớn nhất vào khoảng 0,1 micrômét Các hệ
phân tán với kích thước hạt phân tán nằm trong khoảng
này gọi là aerosol keo,nhũ tươngkeo, bọt keo,huyền
phùkeo hay hệ phân tán keo Hệ keo có thể có màu
hay mờ đục vìhiệu ứng Tyndall, là sự tán xạ ánh sáng
bởi các chất phân tán trong hệ keo
12.1 Phân loại
ường các hệ keo được phân loại theo trạng thái vật
lý của môi trường phân tán và của các hạt keo:
Ngoài ra còn có cách phân biệt các hệ keo theo đặc tính
tương tác giữa chất phân tán và môi trường phân tán:
kỵ nước hay ưa nước
• Kỵ nước: được đặc trưng bởi tương tác yếu giữa
chất phân tán và môi trường phân tán, năng lượng
bề mặt lớn Đây là dạng hệ keo phổ biến
• Ưa nước: được đặc trưng bởi tương tác mạnh giữa
chất phân tán và môi trường phân tán, làm giảm
năng lượng bề mặt
12.2 Tương tác giữa những hạt keo
Các hạt keo thường có kích thước lớn nên không bị tácđộng của hiệu ứng lượng tử Mặc dầu vậy chúng đủ nhỏ
để có thể bị tác động bởi các chuyển động nhiệt trong
hệ keo
Các lực sau đây đóng vai trò quan trọng trong tươngtác giữa những hạt keo:
• Lực đẩy hạt rắn: ường các hạt keo là các chất
rắn, vì thế hai hạt keo không thể ở gần nhau hơn
là tổng sốbán kínhcủa chúng
• Tương tác tĩnh điện: Hạt keo có thể mang khả
năng tích điện.Lực tương tác Coulombtỉ lệ nghịchvới bình phương khoảng cách giữa chúng Mặcdầu vậy, nếu có hạt phân tán tích điện ngược vớihạt keo, chúng sẽ tích tụ chung quanh hạt keo vàchắn các lực tương tác này
• Lực Van der Waals: Nếu chỉ số khúc xạ của các hạtkeo khác với chỉ số khúc xạ của môi trường phântán chúng sẽ bị hút theo thế năng của lực van der
Waals tỉ lệ với r −6
• Lực entropy: eođịnh luật thứ hai của nhiệt độnglực học, một hệ thống có thể đi đến trạng thái cóentropycực đại Điều này có thể dẫn đến các lực
có hiệu quả ngay cả giữa những khối rắn
12.3 Độ bền
Một hệ keo được gọi là hệ keo bền khi các hạt keokhông lắng xuống đáy của môi trường phân tán vàkhông kết dính lại với nhau Ổn định không gian và
ổn định tĩnh điện là hai phương pháp chính để ổn địnhmột hệ keo Ổn định tĩnh điện dựa trên lực đẩy tươngtác giữa những phần tử có cùngđiện tích Các thể khácnhau thường có tính hấp thụ điện khác nhau, vì thế màtạo thành hai lớp tích điện trên mọi bề mặt Các hạtkeo có kích thước nhỏ dẫn đến tỷ lệ bề mặt rất lớn (sovới thể tích của hạt keo) nên hiệu ứng này được tăngcường rất nhiều trong các hệ keo Trong một hệ keobền, trọng lượng của chất phân tán rất nhỏ nên lực đẩy15
Trang 2416 CHƯƠNG 12 HỆ KEO
của chất lỏng hayđộng năngkhông đủ lớn để vượt qua
được lực đẩy tĩnh điện giữa các lớp tích điện của môi
trường phân tán Hạt keo có tích điện có thể quan sát
thấy bằng cách đưa hệ keo vào mộtđiện trường: tất cả
các hạt đều đi về cùng mộtđiện cựcvà vì thế phải có
cùng điện tích
Sự phá vỡ một hệ keo gọi là đông tụ haykeo tụ, có thể
thực hiện bằng cách đun nóng hay cho thêmchất điện
phân Đun nóng sẽ làm tăngvận tốccủa các hạt keo,
làm cho chúng có đủ năng lượng xuyên qua lớp cản và
kết hợp lại với nhau Vì được lặp lại nhiều lần, các hạt
keo lớn đủ để lắng xuống Chất điện phân được thêm
vào sẽ trung hòa các lớpiontrên bề mặt các hạt keo
12.4 Hệ keo như là mô hình cho
nguyên tử
Trongvật lýhệ keo là một hệ mô hình thú vị cho các
nguyên tử Ví dụ như sựkết tinhvà chuyển đổi trạng
thái đều có thể quan sát được
• Có thể tạo hình tương tác giữa những hạt keo Vì
thế mà có thể mô phỏng đượcnăng lực nguyên tử
(tiếng Anh: Atomic potential).
• Hạt keo lớn hơn nguyên tử rất nhiều và vì thế có
thể quan sát được bằngkính hiển vi
• Vì có kích thước lớn nên tốc độkhuếch tán của
các hạt keo chậm hơn Các quá trình như kết tinh,
xảy ra khoảng vàipicôgiâytrong cáchệ nguyên
tử, đủ chậm để có thể được quan sát một cách chi
tiết
• Hạt keo quá lớn để có thể bị ảnh hưởng bởi các
hiệu ứng lượng tửmột cách đáng kể, vì thế nên
động lực học của chúng dễ hiểu hơn là của các
nguyên tử
12.5 Hệ keo trong sinh vật học
Đầuthế kỷ 20, trước khienzim họcphát triển, hệ keo
được xem như là chìa khóa cho các tác dụng củaenzim;
Ví dụ cho thêm một lượng nhỏ enzim vào một lượng
nướcsẽ làm thay đổi tính chất của nước, phá hủy chất
nền (tiếng Anh: Substrate) đặc trưng của enzim như
dung dịch của ATPasephá hủy ATP Chính sự sống
cũng đã có thể được giải thích bằng các tính chất chung
của tất cả các chất keo tạo thành một sinh vật Tất nhiên
là từ khisinh vật học vàsinh hóa học phát triển, lý
thuyết hệ keo được thay thế bởi lý thuyết cao phân tử,
xem enzim như là một tập hợp của nhiều phân tử lớn
giống nhau, hoạt động như các bộ máy rất nhỏ, chuyển
động tự do giữa những phân tử nước trong dung dịch và
hoạt động riêng lẻ trên các chất nền, không bí hiểm hơn
một nhà máy chứa đầy những cỗ máy Tính chất củanước trong hệ keo không bị thay đổi, khác với nhữngthay đổi thẩm thấu đơn giản mà nguyên nhân có thể là
sự hiện diện của một chất được hòa tan trong nước
12.6 Đọc thêm
• Hóa keo
12.7 Tham khảo
Trang 25Hiệu ứng Hall
So sánh hiệu ứng Hall lên hai mặt thanh Hall
Hướng và chiều tác dụng trong hiệu ứng Hall
Hiệu ứng Hall là một hiệu ứng vật lý được thực hiện
khi áp dụng mộttừ trườngvuông góc lên một bản làm
bằngkim loạihaychất bán dẫnhaychất dẫn điện nói
chung(thanh Hall) đang códòng điệnchạy qua Lúc đó
người ta nhận đượchiệu điện thế(hiệu thế Hall) sinh
ra tại hai mặt đối diện của thanh Hall Tỷ số giữa hiệu
thế Hall và dòng điện chạy qua thanh Hall gọi là điện
trở Hall, đặc trưng cho vật liệu làm nên thanh Hall.
Hiệu ứng này được khám phá bởiEdwin Herbert Hall
vào năm1879
13.1 Cơ chế
Hiệu ứng Hall được giải thích dựa vào bản chất của
dòng điện chạy trong vật dẫn điện Dòng điện này
Cơ chế hiệu ứng Hall trên một thanh Hall kim loại 1: electron 2: thanh Hall 3: nam châm 4: từ trường 5: nguồn điện Màu
đỏ trên thanh Hall thể hiện sự tập trung của điện tích dương, còn màu xanh, ngược lại, là nơi tập trung điện tích âm Trên các hình B, C, D, chiều của nguồn điện và/hoặc từ trường được đổi ngược.
chính là sự chuyển động của cácđiện tích(ví dụ nhưelectrontrongkim loại) Khi chạy quatừ trường, cácđiện tích chịulực Lorentzbị đẩy về một trong hai phíacủa thanh Hall, tùy theo điện tích chuyển động đóâmhaydương Sự tập trung các điện tích về một phía tạonên sự tích điện trái dầu ở 2 mặt của thanh Hall, gây rahiệu điện thế Hall
Công thức liên hệ giữa hiệu thế Hall, dòng điện và từtrường là:
V H = (IB)/(den)
với VH là hiệu thế Hall, I làcường độ dòng điện, B là
cường độ từ trường, d là độ dày của thanh Hall, e là
điện tích của hạt mang điện chuyển động trong thanh
Hall, và n mật độ các hạt này trong thanh Hall.
Công thức này cho thấy một tính chất quan trọng tronghiệu ứng Hall là nó cho phép phân biệt điện tích âm hay17
Trang 2618 CHƯƠNG 13 HIỆU ỨNG HALL
dương chạy trong thanh Hall, dựa vào hiệu thế Hall
âm hay dương Hiệu ứng này lần đầu tiên chứng minh
rằng, trongkim loại,electronchứ không phải làproton
được chuyển động tự do để mang dòng điện Điểm thú
vị nữa là, hiệu ứng cũng cho thấy trong một số chất
(đặc biệt làbán dẫn), dòng điện được mang đi bởi cáclỗ
trống(có điện tích tổng cộng là dương) chứ không phải
là electron đơn thuần
Khitừ trườnglớn vànhiệt độhạ thấp, có thể quan sát
thấyhiệu ứng Hall lượng tử, thể hiện sựlượng tử hóa
điện trởcủa vật dẫn
Với các vật liệusắt từ, điện trở Hall bị tăng lên một cách
dị thường, được biết đến làhiệu ứng Hall dị thường, tỷ
lệ với độ từ hóa của vật liệu Cơ chế vật lý của hiệu ứng
này hiện vẫn còn gây tranh cãi
13.2 Ứng dụng
Hiệu ứng Hall được sử dụng chủ yếu trong các thiết bị
đo, đầu dò Các thiết bị này thường phát ra tín hiệu rất
yếu và cần đượckhuếch đại Đầuthế kỷ 20, cácmáy
khuếch đạidùngbóng chân khôngquá tốn kém, nên
các đầu đo kiểu này chỉ được phát triển từ khi có công
nghệvi mạch bán dẫn Ngày nay, nhiều "đầu dò hiệu
ứng Hall” chứa sẵn các máy khuếch đại bên trong
13.2.1 Đo cường độ dòng điện
Xem thêm Ampe kế
Đầu đo dòng điện dùng hiệu ứng Hall, có sẵn khuếch đại Đường
kính 8 mm
Hiệu ứng Hall nhạy cảm với từ trường, mà từ trường
được sinh ra từ mộtdòng điệnbất kỳ, do đó có thể đo
cường độ dòng chạy qua một dây điện khi đưa dây này
gần thiết bị đo iết bị có 3 đầu ra: một dây nối đất, một
dây nguồn để tạo dòng chạy trong thanh Hall, một dây
ra cho biết hiệu thế Hall Phương pháp đo dòng điệnnày không cần sự tiếp xúc cơ học trực tiếp với mạchđiện, hầu như không gây thêm điện trở phụ của máy
đo trong mạch điện, và không bị ảnh hưởng bởi nguồnđiện (có thể làcao thế) của mạch điện, tăng tính an toàncho phép đo Có vài cách để đưa dây điện mang dòngvào gần thiết bị đo như sau:
Cuốn dòng cần đo
Dòng điện cần đo có thể được cuốn quanh thiết bị đo.Các độ nhạy ứng với các cường độ dòng điện khác nhau
có thể được thay đổi bằng số vòng cuốn quanh thiết bị
đo Phương pháp này thích hợp cho cácampe kếlắpvĩnh cửu vào cùng mạch điện
Kẹp vào dòng cần đo
iết bị được kẹp vào dây dẫn điện Phương pháp nàydùng trong kiểm tra đo đạc, không lắp vĩnh cửu cùngmạch điện
13.2.2 Tính nhân
Về cơ bản ứng dụng này dựa vào công thức của hiệuứng Hall: hiệu thế Hall làtíchcủacường độ dòng điện(tỷ lệ với hiệu điện thế áp dụng lên thanh Hall, nhờđịnhluật Ohm) vớicường độ từ trường(có thể được sinh ra
từ mộtcuộn cảm, tỷ lệ với hiệu điện thế áp dụng lêncuộn cảm)
Đo công suất điện
Công suấttiêu thụ của một mạch điện làtíchcủacường
độ dòng điệnvàhiệu điện thếtrên mạch Vậy có thể đocông suất này bằng cách đo dòng điện (như mô tả ởtrên) đồng thời với việc dùng hiệu điện thế của mạchđiện để nuôi dòng qua thanh Hall Phương pháp nhưvậy có thể được cải tiến để đo công suấtdòng điện xoaychiềutrong sinh hoạt dân dụng Nó thường chính xáchơn các thiết bị truyền thông và ít gây cản trở dòngđiện
13.2.3 Xác định vị trí và chuyển động
Hiệu ứng Hall có thể dùng để xác định vị trí cơ học Cácthiết bị kiểu này không có một chi tiết cơ học chuyểnđộng nào và có thể được chế tạo kín, chịu được bụi, chấtbẩn, độ ẩm, bùn lầy… Điều này giúp các thiết bị này cóthể đo đạc vị trítiện hơn dụng cụquang họchaycơđiện
Trang 27Khởi động ô-tô
Khi quay ổ khóa khởi độngô-tô, mộtnam châmgắn
cùng ổ khóa quay theo, gây nên thay đổitừ trường,
được cảm nhận bởi thiết bị dùng hiệu ứng Hall Phương
pháp này tiện lợi vì nó không gây hao mòn như phương
pháp cơ học khác
Dò chuyển động quay
Việc dò chuyển động quay tương tự như trên rất có ích
trong chế tạo hệ thốnghãm phanh chống trượtnhạy
bén hơn củaô-tô, giúp người điều khiển xe dễ dàng
hơn
13.3 Lịch sử khám phá
Năm1878,Edwin Herbert Hall, khi đang là sinh viên
của trường Đại học Johns Hopkins, đọc quyển sách
“Luận về thuyết Điện từ" viết bởiJames Clerk Maxwell
Ông đã thắc mắc với giáo sư của mình là Henry
Rowlandvề một nhận xét của Maxwell rằng “lực điện
từ đặt lên dây dẫn không tác dụng trực tiếp lên dòng
điện mà tác động lên dây dẫn mang dòng điện đó"
Rowland cũng nghi ngờ tính xác thực của kết luận đó
nhưng những kiểm tra bằngthực nghiệmcủa ông đã
không mang lại kết quả phản bác
Hall quyết định tiến hành nhiều thí nghiệm và cũng
đã thất bại Cuối cùng, ông làm lại thí nghiệm của
Rowland, nhưng thay thế dây dẫnkim loại trong thí
nghiệm này bằng một lávàngmỏng Hall đã nhận thấy
từ trườnglàm thay đổi sự phân bốđiện tíchtrong lá
vàng và làm lệch kim củađiện kếnối với các mặt bên
của nó í nghiệm đã không chỉ thỏa mãn thắc mắc
của Hall về nhận xét của Maxwell, mà đã khẳng định
bản chất dòng điện trong kim loại
Ngày nay, ta biết là điều kiện thí nghiệm thời ấy chỉ
tạo được từ trường yếu và hiệu ứng chỉ quan sát được
khi kim loại dẫn điện rất tốt như vàng Hall đã đi đúng
hướng khi sử dụng vàng trong thí nghiệm của mình, để
khám phá ra một hiệu ứng cơ bản trongvật lý chất rắn
hiện đại
Phát hiện này cũng đã mang lại cho Hall một vị trí tại
trườngĐại học Harvard Công trình của ông được xuất
bản năm1879 Năm1881, sách của Maxwell được tái
bản lần hai với chú thích: "Ông Hall đã phát hiện rằng
một từ trường ổn định có thể làm thay đổi chút ít sự
phân bố dòng điện trong phần lớn các dây dẫn, vì vậy
tuyên bố của Maxwell chỉ được xem như là gần đúng.”
Hiệu ứng Hall không chỉ được ứng dụng trong nhiều
ngành công nghệ từ cuối thế kỷ 20, mà còn là tiền
đề cho các khám phá tương tự cùng thời kỳ này như
hiệu ứng Hall lượng tử, một hiệu ứng đã mang lạigiải
thưởng Nobel vật lýcho người khám phá ra nó
13.4 Xem thêm
• Giải Nobel vật lý
• Hiệu ứng Hall lượng tử
• Hiệu ứng Hall spin lượng tử
13.5 Tham khảo 13.6 Liên kết ngoài
(bằngtiếng Việt)
• Lịch sử khám phá hiệu ứng Hall(bằngtiếng Anh)
• " e Hall Effect" nist.gov
• Hall, Edwin, " On a New Action of the Magnet
on Electric Currents" American Journal ofMathematics vol 2 1879
Trang 28Chương 14
Hiệu ứng Hall lượng tử
Hiệu ứng Hall lượng tử (tiếng Anh: quantum Hall effect) được phát hiện vào năm 1980 bởi Klaus vonKlitzingvà cộng sự Hai năm sau, hiệu ứng Hall lượng
tử phân số cũng được phát hiện bởi một nhóm nhà thực
nghiệm lãnh đạo bởi D Tsui Hiệu ứng mới này khiến
hiệu ứng Hall lượng tử ban đầu còn được gọi là hiệu ứng Hall lượng tử nguyên.
14.1 Hiệu ứng Hall lượng tử
Trang 2915.1 Chú thích
[1] Kompanheetx, A.X (1982) Giáo trình vật lý lý thuyết
(tập 2) - Các định luật thống kê Mir tr 58 |tên 2= thiếu
|họ 2= trong Authors list (trợ giúp)
21
Trang 30Chương 16
Hiệu ứng từ nhiệt
Hiệu ứng từ nhiệt là một hiện tượngnhiệt động họctừ
tính, là sự thay đổinhiệt độ(bị đốt nóng hay làm lạnh)
của vật liệu từ trong quá trình từ hóa hoặc khử từ Hiệu
ứng từ nhiệt thực chất là sự chuyển hóa năng lượng từ
- nhiệt trong các vật liệu từ
16.1 Sơ lược về hiệu ứng từ nhiệt
Nguyên lý hiệu ứng từ nhiệt - Từ trường làm định hướng các
mômen từ, làm thay đổi entropy của hệ các mômen từ
Khi ta đặt mộttừ trườngvào một vật liệu từ, các mômen
từ sẽ có xu hướng sắp xếp định hướng theo từ trường
Sự định hướng này làm giảmentropycủa hệ mômen
từ Nếu ta thực hiện quá trình này một cách đoạn
nhiệt(tổng entropy của hệ vật không đổi) thì entropy
của mạng tinh thể sẽ phải tăng để bù lại sự giảm của
entropy mômen từ á trình này làm cho vật từ bị
nóng lên Ngược lại, nếu ta khử từ (đoạn nhiệt), các
mômen từ sẽ bị quay trở lại trạng thái bất trật tự, dẫn
đến việc tăng entropy của hệ mômen từ Do đó, entropy
của mạng tinh thể bị giảm, và vật từ bị lạnh đi
Hiệu ứng từ nhiệt lần đầu tiên được phát hiện năm 1881
bởiE Warburgkhi tiến hành từ hóasắttạo ra sự thay
đổi nhiệt độ từ 0,5 đến 2 K cho một T biến thiên từ
trường
Hiệu ứng này được phát triển và giải thích nguyên lý
bởiDebye(năm 1926) vàGiauquenăm 1927 eo đó,
từ có hệ thứcMaxwell, ta có biến thiên entropy của hệ:
Biến thiên nhiệt độ trong các quá trình đoạn nhiệt này
sẽ được cho bởi công thức:
∆T ad=∫H
0
T C(T ,H) ∂M ∂T dH
Ở đây C(T,H) là nhiệt dung của vật liệu am số ∆S m
được coi là tham số đặc trưng cho hiệu ứng từ nhiệt củavật liệu Còn tham số biến thiên nhiệt độ đoạn nhiệt
∆T adcực kỳ quan trọng cho ứng dụng Một cách gầnđúng, có thể xem rằng biến thiên nhiệt độ đoạn nhiệt
tỉ lệ thuận với biến thiên entropy từ, tỉ lệ nghịch vớinhiệt dung và tỉ lệ thuận với nhiệt độ hoạt động Hiệuứng từ nhiệt lần đầu tiên được ứng dụng vào các máylạnh hoạt động bằng từ trường vào năm 1933 để tạo ranhiệt độ rất thấp là 0,3 Kelvin bằng cách khử từ đoạnnhiệt các muốithuận từ
16.2 Ứng dụng của hiệu ứng từ
nhiệt
Có hai xu hướng nghiên cứu ứng dụng hiệu ứng từnhiệt:
• Nghiên cứu các vật liệu có hiệu ứng từ nhiệt lớn ở
nhiệt độ thấp cho kỹ thuật tạo nhiệt độ rất thấp.Với phương pháp này, người ta đã tạo ra nhiệt độcực thấp, tới cỡ miliKelvin hay microKelvin
• Nghiên cứu các vật liệu có hiệu ứng từ nhiệt lớn
ở xung quanh nhiệt độ phòng (hoặc cao hơn) để
sử dụng trong cácmáy lạnhthay thế cho các máylạnh truyền thống sử dụng chu trình nén khí với
ưu thế:
22
Trang 31Quá trình nhiệt động trong các thiết bị làm lạnh bằng từ trường
so sánh với làm lạnh bằng khí nén truyền thống
• Không gây ô nhiễm (máy lạnh dùng khí nén
thải ra khí phá hủytầng ôzôn) do không thải
ra các chất thải ô nhiễm
• Hiệu suất cao: Các mạnh lạnh dùng từ có thể
cho hiệu suất cao trên 60% trong khi các máy
lạnh nén khí chỉ cho hiệu suất không quá
• Từ hóa đoạn nhiệt: Tức là đặt một từ trường (+H)
để định hướng các mômen từ, dẫn đến việc tăng
nhiệt độ của khối vật liệu từ
• Hấp thu nhiệt: Người ta sử dụng các chất lỏng
(nước, dầu, nitơ lỏng…) để thu nhiệt, đưa nhiệt độ
của mẫu trở lại ban đầu mà vẫn giữ nguyên từ tính
của khối vật liệu
• Khử từ đoạn nhiệt: á trình này, từ tính của mẫu
bị phá hủy bằng cách đặt các từ trường ngược, tạo
nên sự hỗn loạn trong định hướng của các mômen
từ, và khối vật liệu bị lạnh đi
• Lấy nhiệt của môi trường làm lạnh: Sử dụng các
chất dẫn nhiệt để truyền nhiệt từ môi trường cần
làm lạnh vào vật Vật trở lại trạng thái ban đầu,
quay trở lại điểm bắt đầu của chu trình
Máy lạnh dùng từ trường của Astronautics Co (2001)
16.4 Vật liệu từ nhiệt
Hiệu ứng từ nhiệt là một hiệu ứng cố hữu của các vậtliệu từ, có nghĩa là tính chất này có mặt ở tất cả cácvật liệu từ Hiệu ứng này đạt giá trị cực đại tại nhiệt
độ chuyển pha từ tính của vật liệu (theo công thức vềbiến thiên entropy từ ở trên, giá trị này cực đại khi biếnthiên của mômen từ cực đại - xảy ra ở nhiệt độ chuyểnpha từ tính) ông thường, biến thiên entropy từ vàbiến thiên nhiệt độ đoạn nhiệt sẽ lớn khi vật liệu là sắt
từ, và xảy ra lớn nhất ở nhiệt độ chuyển pha loại 2 (lýthuyết tính toán mới đây cho rằng hiệu ứng này lớnnhất tại nhiệt độ chuyển pha loại 1) Các vật liệu đangđược nghiên cứu và sử dụng gần đây:
• Gadolinium (Gd) và các hợp kim của chúng: Gd là
một nguyên tố sắt từ có mômen từ lớn nên có khảnăng cho hiệu ứng từ nhiệt lớn Các hợp kim của
nó đang được sử dụng là Gd5(Si x Ge1−x)4, hay
Gd1−x Co x Các vật liệu này đều cho hiệu ứng từnhiệt lớn và được gọi là hiệu ứng từ nhiệt khổng
lồ (Giant magnetocaloric effect - GMCE) Cho đếnhiện nay, Gd và các hợp kim của nó vẫn là loạiđược sử dụng phổ biến nhất trong các máy lạnhthử nghiệm
La(F e x Si1−x)13Co(H), M nF eP1−x As x , các hợp kim nhớ hình ( NiMnGa …) là các vật
liệu đang được nghiên cứu gần đây có hiệu ứng
từ nhiệt khổng lồ xung quanh nhiệt độ phòng
• Tuy nhiên, các vật liệu liên kim loại - đất hiếm
có nhược điểm là quy trình chế tạo phức tạp, giáthành cao và thường có độ bền kém nên người
ta đang nghiên cứu phát triển các vật liệu khác
có giá thành rẻ hơn và dễ chế tạo hơn Các vật
Trang 3224 CHƯƠNG 16 HIỆU ỨNG TỪ NHIỆT
liệu gốmperovskitecũng là nhóm các vật liệu có
hiệu ứng từ nhiệt ở xung quanh nhiệt độ phòng
nhưng chúng mắc nhược điểm là cónhiệt dung
cao, mômen từ nhỏ nên ít khả quan cho ứng dụng
Gần đây, các vật liệu vô định hình nềnsắtđược coi
là rất khả quan cho ứng dụng với hiệu ứng từ nhiệt
khổng lồ trong dải rộng nhiệt độ, dễ chế tạo và giá
rẻ…
• Các muối thuận từ cho kỹ thuật nhiệt độ rất thấp
Các vật liệu này về mặt thực chất là các vật liệu từ có
nhiệt độ trật tự rất thấp, người ta sử dụng chúng để
tạo ra các nhiệt độ rất thấp (tới cỡ một vài miliKelvin)
Nhiệt độ thấp ban đầu được tạo ra nhờHêlilỏng và sau
đó tạo quá trình khử từ đoạn nhiệt để tạo nhiệt độ rất
thấp
16.5 Phương pháp đo đạc hiệu ứng
từ nhiệt trong vật lý chất rắn
Hiệu ứng từ nhiệt đang là một chủ đề hấp dẫn củavật
lý chất rắn,khoa học vật liệunói chung và ngànhtừ
họcnói riêng Trong nghiên cứu về các vật liệu có hiệu
ứng từ nhiệt lớn, có thể có nhiều cách khác nhau để
xác định tính chất của hiệu ứng này, và có 2 cách được
dùng phổ biến nhất:
Hệ các đường cong từ hóa đẳng nhiệt của một vật liệu có hiệu
ứng từ nhiệt lớn được đo tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
( Hà Nội )
• Đo trực tiếp
Mẫu cần đo được đặt vào buồng
cách nhiệt và có thể điều khiển
nhiệt độ, tiếp xúc với cảm biến
nhiệt độ Đặt từ trường vào đểtừ
hóavà khử từ mẫu đo, cảm biến
nhiệt độ sẽ ghi lại trực tiếp sự
biến đổi nhiệt độ củavật liệu Các
này cho trực tiếp biến thiên nhiệt
độ đoạn nhiệt ∆T ad nhưng khóthực hiện hơn do phải tạo cho vậtkhông có sự trao đổi nhiệt trongquá trình đo
• Đo gián tiếp
đo biến thiên entropy từ, ta chỉviệc đo một loạt cácđường cong
từ hóa đẳng nhiệtở các nhiệt độkhác nhau, xác định diện tíchchắn bởi đường cong và biếnthiên entropy từ là hiệu các diệntích liên tiếp chia cho biến thiênnhiệt độ (xem hình vẽ)
16.6 Các máy lạnh làm lạnh bằng
từ trường thương phẩm
Chưa có các máy lạnh hoạt động cho vùng nhiệt độphòng bằng từ trường thương phẩm tại thời điểm hiệntại Các thiết bị vẫn còn trong giai đoạn thử nghiệm vàmục tiêu hiện nay vẫn là tìm ra các loại vật liệu từ nhiệt
có các đặc tính:
• Có hiệu ứng từ nhiệt khổng lồ xảy ra xung quanh
nhiệt độ phòng
• Hiệu ứng từ nhiệt phải xảy ra trong biến thiên từ
trường nhỏ vì các máy móc dân dụng không thểtạo ra từ trường lớn Hầu hết các vật liệu có hiệuứng từ nhiệt khổng lồ hiện tại đều đạt được ở từtrường lớn gây nhiều khó khăn cho ứng dụng
• Vật liệu phải có nhiệt dung nhỏ (để tạo ra biến
thiên nhiệt độ lớn, dễ truyền nhiệt…), chế tạokhông quá phức tạp và có độ bền trong quá trìnhhoạt động
Máy lạnh hoạt động ở vùng nhiệt độ phòng đầutiên được sản xuất vào năm 1997 bởi nhóm Karl A.Gschneidner, Jr ở Phòng í nghiệm Ames, Trường
Trang 33Đại học Tổng hợp bang Iowa (Mỹ) Cho đến nay, đã
có nhiều công ty đang nghiên cứu phát triển thiết bị
này và thông báo rằng trong một vài năm tới sẽ chính
thức đưa ra thị trường các sản phẩm này
• What is magnetocaloric effect and what materials
exhibit this effect the most?
• Magnetocaloric materials keep fridges cool by C
Wu
• Ames Laboratory news release, 25 tháng 5
năm 1999, Work begins on prototype
magnetic-refrigeration unit
• Magnetic refrigerator successfully tested
• Refrigeration SystemsTerry Heppenstall’s notes,
University of Newcastle Upon Tyne (tháng 11 năm
2000)
• XRS Adiabatic Demagnetization Refrigerator
16.9 Tham khảo
1 ^ Buschow K.H.J, de Boer F.R (2004) Physics
of Magnetism and Magnetic Materials Kluwer
Academic / Plenum Publishers.ISBN
0-306-48408-0
2 ^Robert C O'Handley (1999) Modern Magnetic
Materials: Principles and Applications
Wiley-Interscience ISBN-13 978-0471155669
Trang 34Chương 17
Hóa keo
Hóa keo là lĩnh vựchóa họcnghiên cứu về các cách chếtạo, đặc điểm và biến đổi cáchệ keo Hệ keo là một hệthống phân tán các phần tử có kích thước từ một phầntriệu cho đến vài phần ngànmilimét Các phần tử nàyđược phân tán trong một môi trường phân tán
Hệ keo là một hệ phân tán giữadung dịchvà huyềnphù Hệ keo không cóáp suất thẩm thấu, không tăngnhiệt độ sôivà không giảmnhiệt độ đông đặccủa môitrường phân tán (gọi là các tính chất của hệ keo) Cáchạt keo thường mang điện tích hấp thụ vì thế mà có thểtách chúng ra bằng phương phápđiện di Các hạt keochống sự kết tụ của các loại hạt keo khác thường đượcgọi là keo bảo vệ, ví dụ nhưdextrin Trong cơ thểđộngvậtvàthực vậtcó rất nhiều hoạt chất tồn tại trong hệkeo
17.1 Tham khảo
17.2 Liên kết ngoài
26
Trang 35Khối lượng hiệu dụng
Khối lượng hiệu dụng (tiếng Anh: effective mass) là
khái niệmsử dụng trongvật lý chất rắndưới mô hình
cơ học lượng tửnhằm mô tả chuyển động củađiện tử,
lỗ trốnghoặc các vi hạt trong trườngtinh thểhoặc các
trường điện từ Với mô hình này, các tính chất động học
của hạt có thể xác định như bài toáncơ học Newtoncho
các hạt vĩ mô, mà ở đó cácđịnh luật Newtoncó thể áp
dụng được Khối lượng hiệu dụng có thể dương hoặc
âm, có thứ nguyênlà thứ nguyên của khối lượng và
phụ thuộc vào trạng thái của hạt, và là mộttensơ[1]
18.1 Khái niệm về khối lượng hiệu
dụng
Khi một vi hạt (mà điển hình làđiện tử) chuyển động
trong không gian tự do, các chuyển động của nó có
thể tính toán qua các định luật Newton Tuy nhiên,
khi nó chuyển động trongchất rắn, dưới tác dụng của
lực tương tác với cácnguyên tử, trường thế tuần hoàn
củatinh thểthì chuyển động của nó không còn có thể
mô tả quacơ học cổ điển(mà chủ yếu là cácđịnh luật
Newton) Với việc sử dụng khái niệm khối lượng hiệu
dụng, ta có thể áp dụng các định luật Newton của cơ
học cổ điển
Khối lượng hiệu dụng (mₑff ) được định nghĩa thông
quađịnh luật 2 Newton:
⃗
F = m ef f ⃗a
Trongcơ học lượng tử, khi điện tử truyển động trong
điện trườngE, thì gia tốc al theo trục tọa độ l sẽ được
vớiℏ = h/2π làhằng số Planck rút gọn, k là véctơ
sóng ( k = p/ℏ cho điện tử tự do), ϵ(k) là năng lượng
như một hàm củavéctơsóng k Năng lượng ϵ(k) phụ
thuộc vào véctơ sóng tùy thuộc vào trạng thái của điện
tử (tồn tại ở vùng năng lượng nào?…), ví dụ như ở đỉnhvùng hóa trị củaSilicon, quan hệ có thể là[2]:
dương hoặc vô cùng, tùy thuộc vào trạng thái của điện
tử, và không trùng với khái niệm "khối lượng rút gọn"trong cơ học cổ điển
Khái niệm khối lượng hiệu dụng đặc biệt hữu ích trongcác tính toán về vận chuyển trong chất rắn đặc biệt làtrong các hệ vận chuyển trong hàm thế thay đổi, vàtrong các tính toán vềmật độ trạng thái
18.2 Khối lượng hiệu dụng trong
một số chất bán dẫn
Bảng dưới đây liệt kê khối lượng hiệu dụng của điện tử
và lỗ trống ở một số chất bán dẫn trong điều kiện nhiệt
độ rất thấp (bán dẫn thuần)[3],[4], hoặc chi tiết hơn cóthể tham khảo tại[5]
18.3 Chứng minh thực nghiệm
Trong thực nghiệm, để đo khối lượng hiệu dụng củađiện tử trong các chất, người ta thường sử dụng kỹthuậtcộng hưởng cyclotron điện tửmà ở đó phổ hấpthụsóng vibacủa một mẫu bán dẫn trong từ trường sẽđạt cực đại khi tần số sóng viba trùng với tần số cộnghưởng cyclotron:
ω c= eB
m ∗ c
27
Trang 3628 CHƯƠNG 18 KHỐI LƯỢNG HIỆU DỤNG
Ngoài ra, khối lượng hiệu dụng có thể được xác định
từ việc xác định vùng năng lượng thông qua phép đo
phát xạ quang phân giải góc, hoặc sử dụnghiệu ứng
de Hass-van Alphen; hoặc xác định từ hệ số trong dải
phụ thuộc tuyến tính của nhiệt dung đẳng tích điện tử
ở nhiệt độ thấp Ngoài ra, khối lượng hiệu dụng có thể
được xác định từ các phép đo vận chuyển (ví dụ như
xác định độ linh động của hạt tải điện)
18.4 Chú thích
[1] Charles Kiel (1996).Introduction to Solid State Physics
(ấn bản 7) Wiley tr Eq 29, p 210.ISBN 0-471-11181-3
[2] See Kiel, op cit p 214
[3] S.Z Sze, Physics of Semiconductor Devices,ISBN
Trang 37Lực kháng từ
Đường cong từ trễ của các vật liệu sắt từ cho phép xác định lực
kháng từ.
Lực kháng từ, đôi khi còn được gọi là trường kháng
từ, hoặc trường đảo từ, là một đại lượng ngoại sử dụng
trong ngànhtừ học, được định nghĩa bằng giá trị củatừ
trườngcần đặt vào để triệt tiêutừ độhoặccảm ứng từ
của vật từ Khi gọi là trường đảo từ, đại lượng này được
định nghĩa làtừ trườngcần đặt để đảo chiềutừ độcủa
vật từ
19.1 Các khái niệm về lực kháng từ
Lực kháng từ thực tế là một đại lượng ngoại của mỗi vật
từ và vật liệu từ ực tế, lực kháng từ chỉ tồn tại ở các
vật liệu có trật tự từ (sắt từ,feri từ,…) ông thường,
lực kháng từ thường được xác định từđường cong từ
trễcủa vật từ Nhờ khái niệm lực kháng từ, người ta
phân loại được hai loạivật liệu sắt từlàvật liệu sắt từ
Là giá trị của lực kháng từ, cho phép triệt tiêu
độ từ hóacủa mẫu Giá trị này mang tính chấtchung, không phụ thuộc vào hình dạng vật
từ, và trong kỹ thuật thường được ký hiệu
là H M
c ông thường, nếu chỉ nói đến khái
niệm lực kháng từ thường để chỉ khái niệm
H B
c Đối với các vật liệu có lực kháng từ nhỏ, sự sai khácgiữa hai đại lượng này rất nhỏ, và đôi khi thường bịnhầm lẫn với nhau Sự sai khác này chỉ trở nên đáng
kể đối với cácvật liệu từ cứng
19.2.1 Trong các vật liệu có dị hướng từ
yếu
ông thường, đối với cácvật liệu từ mềm(có dị hướng
từ yếu), lực kháng từ tỉ lệ thuận vớidị hướng từ tinh thểtheo công thức[1]:
29
Trang 3830 CHƯƠNG 19 LỰC KHÁNG TỪ
H c = p c × K
Ms
với p c , K, M slần lượt là hệ số tỉ lệ,hằng số dị hướng
từ tinh thểvàtừ độ bão hòacủa vật liệu
• Với các vật liệu từ mềm có kí thước hạt lớn
Đối với các vật liệu loại này (vật liệu truyền thống cổ
điển có kích thước hạt lớn hơn kích thướcvách đômen),
lúc này, quá trìnhtừ hóavà đảo từ thường bị ảnh hưởng
bởi quá trình hãm dịch chuyểnvách đômendo biên hạt
nên lực kháng từ sẽ tỉ lệ nghịch với kích thước hạt theo
• Với các vật liệu từ mềm có kí thước hạt mịn
Là các vật liệu từ mềm có cấu trúc nano, với kích thước
hạt nhỏ hơn chiều dàitương tác trao đổi sắt từ,dị hướng
từ tinh thểbị trung bình hóa, và lực kháng từ lại thay
Trong các vật liệu có dị hướng từ lớn, lực kháng từ thay
đổi rất phức tạp, và phụ thuộc tổng quát theo hàm số[3]:
µ0Msv a1/3 − N ef f × M s − 25S v
Ở đây, α là hệ số phức, γ lànăng lượng vách đômen,
v a là thể tích kích hoạt nhiệt và S vlà hệ số nhớt từ của
vật liệu; còn N ef f làthừa số khử từhiệu dụng
Đối với các vật liệu từ có cấu trúc đơn đômen, cấu
trúc đơn đômen là cấu trúc không cóvách đômennên
không có các quá trình dịch chuyển vách hay hãm các
vách đômentrong quá trìnhtừ hóa Vì thế,quá trình
từ hóa và khử từtrong vật từ có cấu trúc đơn đômen là
quá trình quay kết hợp cácmômen từ Vì thế, lực kháng
từ tạo ra là do đóng góp bởi 3 yếu tố dị hướng:dị hướng
từ tinh thể, dị hướng từ hình dạng và dị hướng từ do sự
bất đồng nhất cấu trúc:[4]:
H c = a K1
M s + b(N1− N2)M s + c λ s τ
M s với K1làhằng số dị hướng từ tinh thể bậc một; N1, N2
làthừa số khử từđo theo 2 phương khác nhau; λ s , τ
lần lượt làtừ giảo bão hòavàứng suấtnội; a, b, c là các
[1] Herzer, Grain size dependence of coercivity and
permeability innanocrystalline ferromagnets, IEEE
Trans Magn 26 (1990) 1397-1402
[2] Y Yoshizawa, Nanocrystalline so magnetic materials in
Handbook of Advanced Magnetic Materials ed by Y Liu
et al., Vol 4, Springer, 2006, ISBN-10 1-4020-7983-4.[3] X C Kou, H Kronmüller, D Givord and M F
Rossignol, Coercivity mechanism of sintered Pr17Fe75B8
and Pr17Fe53B30 permanent magnets,Phys Rev B 50 (1994) 3849 - 3860
[4] N.D e et al High hard magnetic properties
and cellular structure of nanocomposite magnet Nd₄.₅Fe₇₃.₈B₁₈.₅Cr₀.₅Co₁.₅Nb1Cu₀.₂, Journal of Magnetism
and Magnetic Materials 303, e419 - e422 (2006)
[5] L Jinfang, L Helie and W Jiang, Discussion of the
coercivity mechanism of RE-TM-B permanent magnets,
J Phys D: Appl Phys 25 (1992) 1238 - 1242
Trang 39Multiferroics là tên một loạivật liệu(tên gọi xuất phát
từ thuật ngữtiếng Anh, và chưa có một thuật ngữ chính
xác trongtiếng Việt) tổ hợp với nhiều tính chất trong
cùng một pha của vật liệu Trong tên gọi, multi có nghĩa
là đa, nhiều; ferroic mang ý nghĩa của các tính chất ferro
(sắt) như sắt từ,sắt điện ,… Các tính chất sắt là các thuộc
tính căn bản, nhưng đôi khi multiferroics cũng bao gồm
cả các tính chất thứ cấp kiểu phản sắt (ví dụ nhưphản
sắt từ,phản sắt điện, hayferi từ )[1]
20.1 Lịch sử
Khái niệm multiferroics lần đầu tiên được Hans Smid
sử dụng năm 1994 trong xuất bản của mình trên tạp
chí Ferroelectrics[1] Trong bài báo này, Hans Schid đã
sử dụng định nghĩa multiferroics như một vật liệu đơn
pha nhưng có đồng thời hai hoặc nhiều hơn các tính
chất ferroic Ngày nay, khái niệm multiferroics đã được
mở rộng ra các loại vật liệu mà mang trong mình bất
kỳ một kiểu trật tự từ, hay điện hay cơ đàn hồi ở trật tự
xa Trên thực tế, loại vật liệu có tính chất như vậy đã
được nghiên cứu từ năm những năm 1960[2] Và lĩnh
vực này được ra đời với từ khóa chung là các hệ từ-điện
(magnetoelectric)[3] Nhưng sau khi ra đời, lĩnh vực này
hầu như ít được quan tâm, và chỉ thực sự trở nên sôi
động trở lại vào năm 2003 với nhiều phát hiện về độ
phân cực lớn trong cácmàng mỏng epitaxyBiFeO3 [4]
và phát hiện về liên kết điện - từ mạnh trong các vật liệu
TbMnO3 [5]và TbMn2O5 [6] Và hiện nay, multiferroics
đang là một lĩnh vực nghiên cứu sôi nổi trongvật lý
chất rắnvàkhoa học vật liệudo khả năng tạo ra nhiều
vật liệu tổ hợp mang nhiều tính chất lý thú cả về mặt
khoa học cơ bản, cũng như ứng dụng trong công nghệ
ra tính sắt điện Nếu có thêm sự có mặt của các ion từtính, sẽ tạo ra một liên kết mạnh giữa sắt điện và sắt từ,
và tạo ra sự định xứ mạnh của điện tử
Hiệu ứng trật tự điện tích xảy ra phổ biến ở cácperovskite[7]mà ở đó tính chất sắt điện, sắt từ có thểđồng thời tồn tại, cộng với các hiện tượng chuyển phadẫn đến sự thay đổi tính chất dẫn của vật liệu Một ví
dụ điển về hiện tượng trật tự điện tích trong các vật liệumultiferroics là xảy ra trong LuFe2O4 [8]mà tính chấtsắt điện xảy ra ở dưới 330 K, đồng thời tínhferi từcũngxuất hiện dưới nhiệt độ 240 K
20.2.2 Multiferroics vô hiệu quả hình học
20.2.3 Tính sắt điện bị điều khiển bởi từ
tính 20.2.4 Multiferroics cặp cô độc 20.3 Hiệu ứng điện từ
Là một tính chất nội tại quan trọng của cácmultiferroics mà ở đó, tínhsắt từvàsắt điệnngoài việcliên kết mạnh với nhau, còn có sự ảnh hưởng chéo giữasắt từ-điện trường,sắt điện-từ trường Hiệu ứng này
có thể là tuyến tính hoặc phi tuyến, và phụ thuộc vàonhiệt độ Hiệu ứng này có thể được viết dưới dạngtensơ
Trang 4032 CHƯƠNG 20 MULTIFERROICS
20.4 Ứng dụng
Về mặt thực chất, multiferroics là một dạng vật liệu tổ
hợp mà điển hình là tổ hợp các tính chất sắt điện-từ,
do đó vật liệu ở dạng khối được khai thác cho các ứng
dụng như các cảm biến đo từ trường xoay chiều với độ
nhạy cao, các thiết bị phát siêu âm điều chỉnh điện từ,
hay các bộ lọc, các bộ dao động hoặc bộ dịch pha mà ở
đó các tính chất cộng hưởng từ (sắt từ,feri từ,phản sắt
từ…) bị điều khiển bởi điện trường thay vì từ trường[9]
Đối với các vật liệu dạng màng mỏng, các thông số
trật tự liên kết sắt điện và sắt từ có thể khai thác để
phát triển các linh kiệnspintronics(ví dụ như các cảm
biếnTMR, hayspin valve… với các chức năng được điều
khiển bằngđiện trường Một linh kiện TMR điển hình
kiểu này chứa 2 lớp vật liệu sắt từ, ngăn cách bởi một
lớp rào thế (dày cỡ 2 nm) là vật liệu multiferroics[10]
Khi dòng điện tử phân cực spin truyền qua hàng rào
thế, nó sẽ bị điều khiển bởi điện trường và do đóhiệu
ứng từ điện trởcủa hệ màng sẽ có thể được điều khiển
bằng điện trường thay vì từ trường Những linh kiện
kiểu này sẽ rất hữu ích cho việc tạo ra các phần tử nhớ
nhiều trạng thái, mà ở đó dữ liệu có thể được lưu trữ
bởi cả độ phân cực điện và từ
20.5 Tham khảo
[1] Hans Schmid, Ferroelectric 162 (1994) 317
[2] E Ascher, H Rieder, H Schmid, H Stössel, Some
Properties of Ferromagnetoelectric Nickel-Iodine Boracite,
[6] N Hur et al., Electric polarization reversal and memory
in a multiferroic material induced by magnetic fields,
Nature 429 (2004) 392-395.
[7] C.N.R Rao, A K Cheetham, Charge ordering in
manganates, Science 276 (1997) 911 - 912.
[8] N Ikeda et al., Ferroelectricity from iron valence ordering
in the charge-frustrated system LuFe2O4, Nature 436
(2005) 1136
[9] C W Nan et al., Multiferroic magnetoelectric composites:
Historical perspective, status, and future directions, J.
App Phys 103 (2008) 031101
[10] M Gajek et al., Tunnel junctions with multiferroic
barriers, Nature Materials 6 (2007) 296-302