1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Cúc vạn thọ nhỏ,dam but, hoa giay

20 346 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 3,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tiếng Anh, nó có tên gọi là cúc vạn thọ Pháp French marigold là do những thợ làm vườn người Pháp đã nhân giống tạo một số lượng lớn loài cây này từ sau khi được giới thiệu ở Pháp h

Trang 2

Mục lục

1.1 Phân bổ 1

1.2 Hình ảnh 1

1.3 Chú thích 1

1.4 am khảo 1

2 Dâm bụt 2 2.1 Nguồn gốc tên gọi 2

2.2 Sử dụng 2

2.3 Hình 2

2.4 am khảo 3

2.5 Chú thích 3

2.6 Liên kết ngoài 3

3 Dừa cạn 4 3.1 Miêu tả 4

3.2 ành phần hóa học 4

3.3 Công dụng 4

3.4 Ảnh 5

3.4.1 Alkaloid 5

3.5 am khảo 5

3.6 Liên kết ngoài 5

4 Đầu lân 6 4.1 Nguồn gốc 6

4.2 Cây, hoa và quả 6

4.3 Gắn với Phật giáo 6

4.4 Sử dụng làm thuốc 6

4.5 Album 6

4.6 Chú thích 7

4.7 am khảo 7

5 Chi Đỗ quyên 8 5.1 Phân bố 8

i

Trang 3

5.4 Liên kết ngoài 9

6 Chi Hoa giấy 10 6.1 Lịch sử 10

6.2 Các loài 11

6.3 Trồng và sử dụng 11

6.4 Biểu tượng 11

6.5 am khảo và liên kết ngoài 11

6.6 Hình ảnh 11

6.7 am khảo 12

7 Huỳnh anh 13 7.1 Hình ảnh 13

7.2 Chú thích 13

7.3 am khảo 13

7.4 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 14

7.4.1 Văn bản 14

7.4.2 Hình ảnh 14

7.4.3 Giấy phép nội dung 17

Trang 4

Chương 1

Cúc vạn thọ nhỏ

Cúc vạn thọ nhỏ (danh pháp khoa học: Tagetes

patula) là một loài cây cảnh thuộc chi Cúc vạn thọ,

họ Cúc

Cây thân thảo hàng năm, cao đến 0,5 m Cây mọc dạng

bụi, thân mềm, phân nhiều cành nhánh Lá đơn, xẻ thùy

sâu tận gân nhiều lần dạng lông chim Phiến lá không

lông, có tuyến to và thơm Hoa nhỏ màu vàng hoặc

pha đỏ viền vàng, đẹp ả dạng quả bế Nhân giống

sinh sản bằng hạt hữu tính hoặc giâm cành vô tính Bộ

nhiễm sắc thể n=24

1.1 Phân bổ

Cúc vạn thọ Tagetes patula có nguồn gốc ở Nam Mỹ

(MéxicovàNicaragua),[2]sau đó được đem trồng sang

châu Âu và Hoa Kỳ Trong tiếng Anh, nó có tên gọi là

cúc vạn thọ Pháp French marigold là do những thợ làm

vườn người Pháp đã nhân giống tạo một số lượng lớn

loài cây này từ sau khi được giới thiệu ở Pháp hồi thế

kỷ 16

1.2 Hình ảnh

specimen

1.3 Chú thích

[1] USDA Natural Resources Conservation Service

“PLANTS Database” Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2007

[2] USDA, ARS, National Genetic Resources Program

“Germplasm Resources Information Network - (GRIN) Online Database, National Germplasm Resources Laboratory, Beltsville, Maryland.” Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2007

1.4 Tham khảo

Phân loại Tích hợp(ITIS)

1

Trang 5

Dâm bụt

Dâm bụt (vùng ven biển Bắc Bộ gọi râm bụt; phương

ngữ Nam bộ gọi là bông bụp, bông lồng đèn, còn có

các tên gọi khác mộc cận( ), u cận( ), đại hồng

hoa( ), phù tang( ), phật tang( ) (danh pháp hai

phần: Hibiscus rosa-sinensis), là loàicây bụi thường

xanh thuộc họ Bông hoặc Cẩm quỳ (Malvaceae), có

nguồn gốcĐông Á Nó thường được trồng làmcây cảnh

tại các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Hoa lớn, màu

đỏ sậm nhưng ít có hương Nhiều giống, thứ, lai được

tạo ra, với màu hoa khác nhau từ trắng tới vàng và cam,

hồng, đỏ tươi, với cánh đơn hay cánh đôi

Hibiscus rosa-sinensis là quốc hoa củaMalaysia, với tên

gọi Bunga Raya trongtiếng Mã Lai, Sembaruthi trong

tiếng Tamilvà mamdaram trongtiếng Telugu( )

2.1 Nguồn gốc tên gọi

Có một số cho rằng loài hoa này vốn có tên gốc là hoa

dâng bụt (hoa để dâng lên cho Bụt, tứcPhật), về sau do

đọc trại mà thành dâm bụt

Có ý kiến khác, dâm bụt nguyên tên là râm bụt, râm:

che bóng, Bụt: Phật Râm Bụt là cái lọng che Phật (vì

hoa có hình dạng giống cái lọng)[1] Nhà vănSơn Tùng

có viết tác phẩm văn học với tựa đề Hoa Râm Bụt.

Tên dâm bụt cũng có thể bắt đầu từ tác dụng của hoa

dùng làm xổ và trụy thai.[2]

2.2 Sử dụng

Tại một số vùng củaẤn Độ, hoa dâm bụt được dùng để

đánh giày, cũng như được dùng trong thờ phụng các

nữthầnDevitrong Ấn Độ Giáo

Tại Việt Nam, lá và hoa dâm bụt được giã nhỏ trộn với

muối đắp trên mụn nhọt đang mưng mủ Ngoài ra, vỏ

rễ dâm bụt dùng để chữa xích, bạch lỵ, bạch đới khí

Dâm bụt là loài cây cảnh rất thông dụng tại Việt nam

được trồng nhiều tại các khu vực ven biển do cây có

biên độ sinh thái rất lớn, có khả năng chịu đựng được

các điều kiện khí hậu khắc nghiệt rất cao: nắng nóng,

mưa bão, đát cát…

Tại Trung ốc, vỏ rễ cây đước dùng làm thuốc điều kinh, tẩy máu

Tại Malaysia, cây được pha nước uống để thông tiểu tiện và chữa mẩn ngứa

2.3 Hình

Trang 6

2.4 THAM KHẢO 3

2.4 Tham khảo

• Các giống và thứ của Hibiscus rosa-sinensis L.– thảo luận về phân loại học

Tích hợp(ITIS)

Hibiscus Care and Disease Information

2.5 Chú thích

[1] Ảnh hưởng của Phật giáo Trung ốc với Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam

[2] Phạm Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam - tập 1, Nhà xuất bản

Trẻ - 1999, Trang 523

2.6 Liên kết ngoài

Dâm bụttạiTừ điển bách khoa Việt Nam

Trang 7

Dừa cạn

Dừa cạn hay hải đằng, dương giác, bông dừa,

trường xuân hoa, hoa tứ quý (danh pháp hai phần:

Catharanthus roseus) là một loài thực vật trong chi

cây bản địa và đặc hữu củaMadagascar Các danh pháp

đồng nghĩa có Vinca rosea, Ammocallis rosea, Lochnera

rosea.

Trong tự nhiên, nó là loài nguy cấp; nguyên nhân chính

của sự suy giảm là sự phá hủy môi trường sống do kiểu

canh tác nông nghiệp dựa trên chặt cây và đốt rừng để

lấy đất.[1]Tuy nhiên, nó được gieo trồng khá rộng khắp

và đã thích nghi với điều kiện môi trường trong nhiều

khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới khắp thế giới.[2]

3.1 Miêu tả

Quả và hạt dừa cạn Catharanthus roseus

Nó là cây thân thảo hoặc cây bụi nhỏ thường xanh, cao

tới 1 m, phân cành nhiều Các lá có dạng hình ôvan hay

thuôn dài, kích thước 2,5–9 cm dài và 1–3,5 cm rộng,

xanh bóng, không lông, với gân lá giữa nhạt màu hơn

và cuống lá ngắn (dài 1–1,8 cm); mọc thành các cặp đối

Hoa có màu từ trắng tới hồng sẫm với phần tâm có màu

đỏ hơn, ống tràng dài 2,5–3 cm vàtràng hoađường kính

2–5 cm có 5 thùy tương tự như cánh hoa ả là một

cặpquả đạidài 2–4 cm, rộng 3 mm chứa 12-20 hạt nhỏ

màu nâu nhạt, hình trứng.[2][3][4][5]

3.2 Thành phần hóa học

Lá chứa cácancaloitnhư serpentin, ajmalin, ajmalicin, catharanthin, catharanthinol, vindolin, vindolicin, vincaleucoblastin, leurocin

3.3 Công dụng

Catharanthus roseus trồng tại Brasil để làm cảnh

Loài cây này đã được gieo trồng từ lâu để làm cây thuốc

và cây cảnh

Trongy học cổ truyền Trung Hoa, các chất chiết ra từ loài dừa cạn này đã được sử dụng để điều trị một số bệnh, nhưbệnh đái đường,sốt rétvàbệnh Hodgkin.[3] Các chất nhưvinblastin và vincristin chiết ra từ cây này được sử dụng trong điều trịbệnh máu trắng.[1]Nó

có thể gây nguy hiểm nếu uống.[1]Nó có thể gây ra ảo

giác và được liệt kê (dưới tên gọi Vinca rosea) trongSắc luật 159 của bang Louisiana

Trong vai trò của một loại cây cảnh, nó là loài cây chịu được các điều kiện khô hạn và thiếu chất dinh dưỡng, khá phổ biến trong các khu vườn cận nhiệt đới do nhiệt

độ luôn cao hơn 5 ℃ đến 7 ℃, cũng như trong vai trò của loại cây trồng theo luống trong mùa nóng tại khu vực ôn đới Nó đáng chú ý vì thời gian ra hoa kéo dài, quanh năm ở khu vựcnhiệt đới và từ mùa xuân tới cuốimùa thuở khu vựcôn đới ấm Nó là loài cây ưa

Trang 8

3.6 LIÊN KẾT NGOÀI 5

nắng và đất có điều kiện tưới tiêu nước tốt Nhiều giống

cây trồng đã được chọn lọc cho các loại màu hoa khác

nhau (trắng, hoa cà, hồng đào, đỏ và cam đỏ), cũng

như chịu được điều kiện lạnh hơn ở khu vực ôn đới

Một vài giống đáng chú ý có 'Albus’ (hoa trắng), 'Grape

Cooler' (hồng; chịu lạnh), nhóm Ocellatus (nhiều loại

màu), và 'Peppermint Cooler' (trắng, điểm đỏ ở tâm;

chịu lạnh).[2]

C roseus được sử dụng trongbệnh học thực vậtnhư là

cây chủ thực nghiệm đối với các dạngphytoplasma.[6]

Điều này là do nó dễ dàng nhiễm một lượng lớn các

phytoplasma, và do thông thường nó có các triệu chứng

rất khác biệt như sự phát triển của các bộ phận hoa

thành lá và suy giảm kích thước lá một cách đáng kể.[7]

TạiViệt Nam, cây được trồng làm cảnh, hoặc làm thuốc

trịcao huyết áp,tiểu đường,sốt rét,bệnh máu trắng,

thông tiểu

3.4 Ảnh

nhạt

đỏ

3.4.1 Alkaloid

Vincristin[8]

Vinblastin[8]

Reserpin[8]

Ibogain[8]

Yohimbin[8]

3.5 Tham khảo

[1] DrugDigest:Catharanthus roseus

[2] Huxley A., chủ biên (1992) New RHS Dictionary of

Gardening MacmillanISBN 0-333-47494-5

[3] ần thực vật Trung Hoa:Catharanthus roseus

[4] Đại học Micronesia:Catharanthus roseus

[5] ần thực vật Jepson:Catharanthus roseus

[6] C Marcone, A Ragozzino, E Seemuller (1997) Dodder transmission of alder yellows phytoplasma to the experimental host Catharanthus roseus (periwinkle) Forest Pathology 27 (6), 347–350

[7] Chung-Jan Chang Pathogenicity of Aster Yellows Phytoplasma and Spiroplasma citri on Periwinkle Trình bày tại cuộc họp hàng năm lần thứ 89 của Hiệp hội Bệnh học thực vật Mỹ, 12-8-1997, Rochester, NY [8] www.botany.hawaii.edu

3.6 Liên kết ngoài

• Dừa cạntại Encyclopedia of Life

Dừa cạntại trangTrung tâm ông tin Công nghệ sinh học quốc gia Hoa Kỳ(NCBI)

Catharanthus roseus var roseus tại trang Trung tâm ông tin Công nghệ sinh học quốc gia Hoa Kỳ(NCBI)

Tích hợp(ITIS)

Catharanthus roseus (L.) G Don (accepted name) Catalogue of Life: 17th October 2013

• USDA, ARS, Germplasm Resources Information

Network.Catharanthus roseusin the Germplasm Resources Information Network (GRIN), US Department of Agriculture Agricultural Research Service Truy cập on 07-Oct-06

Catharanthus roseus trên trang Efloras Madagascar Catalogue 24/2/2009

(tiếng Việt)

Dừa cạn – Cathranthus roseus (L.) G Don (Vinca rosea L.) họ Trúc đào (Apocynaceae)

Dừa cạn (Catharanthus roseus (L.) G Don), họ Trúc đào (Apocynaceae)

Trang 9

Đầu lân

Cây đầu lân, còn gọi là ngọc kỳ lân, hàm rồng, tên

khoa học là Couroupita guianensis Cây đầu lân được

nhà thực vật học người Pháp J.F.Aubletđặt danh pháp

khoa học vào năm 1755

4.1 Nguồn gốc

Cây đầu lân phổ biến trong khu rừng tân nhiệt đới,

đặc biệt là ởlưu vực sông Amazon Nó có nguồn gốc

ởGuyana(Nam Mỹ) Ngày nay cây này có thể tìm thấy

ở Ấn Độ, miền nam dãy núi Hy Mã Lạp, và về sau được

trồng nhiều nơi ởNam ÁvàĐông Nam Á

4.2 Cây, hoa và quả

Cây đầu lân là một loại cây thân gỗ, cây có thể cao tới

30-35m Hoa ra từ thân cây, suốt từ gốc lên, chùm hoa

dài ra liên tục có thể tới 3m ả lớn tròn to đường kính

quả 15–24 cm, có 200-300 hạt trong một quả.[2]

4.3 Gắn với Phật giáo

Trong kinh điểnPhật giáo,Đức Phậtđản sinh ở gốc cây

sala(Shorea robusta), trong vườnLumbini(Lâm-tì-ni),

và nhập diệt giữa hai cây sala tạiKusinara(Câu-thi-na)

Ngoài ra, vị Phật thuộc Trang Nghiêm kiếp làPhật Tỳ

Xá Phùcũng giác ngộ dưới gốc cây sala Vì thế ngày

nay, ngoài câybồ-đềra thì cây sala cũng được trồng tại

các khuôn viên chùa chiền

Tuy nhiên, tại Sri Lanka, ái Lan và một số quốc gia

Phật giáo khác thì cây sala thường bị nhầm lẫn với cây

đầu lân này, cũng như với câyvô ưu(Saraca asoca) Do

dó tại các chùa chiền cũng thường trồng cây đầu lân

Trong giới chơi cây cảnh ở Việt Nam, cây này có tên là

cây ngọc kỳ lân, đầu lân hay hàm rồng[3]

4.4 Sử dụng làm thuốc

ả cây đầu lân có tính kháng sinh, kháng nấm, sát khuẩn và có tác dụng giảm đau Cây được sử dụng để chữa bệnh cảm lạnh vàđau dạ dày Nước uống làm từ các lá được sử dụng để chữa bệnh da, vàShamans(ở Nam Mỹ) đã được sử dụng ngay cả bộ phận của cây để điều trịbệnh sốt rét Bên trong quả có thể khử trùng vết thương và lá non chữađau răng

4.5 Album

Trang 10

4.7 THAM KHẢO 7

-Mẫu vật lưu trữ

4.6 Chú thích

[1] Mitré (1998).Couroupita guianensis.Sách đỏ 2006.IUCN

2006 Truy cập 6 tháng 5 năm 2006

[2] Hoa Sala, một loài hoa đặc biệt

[3] Hoa SALA

4.7 Tham khảo

• Dữ liệu liên quan tớiCouroupita guianensis tại

Wikispecies

Couroupita guianensis on e Lecythidaceae

Pages

Trang 11

Chi Đỗ quyên

Chi Đỗ quyên,danh pháp khoa học: Rhododendron

(từ tiếng Hy Lạp: rhodos, “hoa hồng”, và dendron,

“cây”), là một chi thực vật có hoa thuộchọ ạch nam

(Ericaceae) Đây là một chi lớn với khoảng 850-1.000

loài và hầu hết các loài đều có hoa rực rỡ Đỗ quyên là

quốc hoacủaNepal Nhiều loài đỗ quyên được trồng

làm cây cảnh Một số loài có tác dụng chữa bệnh

Chi Đỗ quyên có đặc điểm là cây bụi và lớn (hiếm),

những loài nhỏ nhất cao chừng 10–100 cm, loài lớn

nhất, R giganteum, được ghi nhận là cao tới 30 m[3]

Lá cây xếp theo hình xoắn ốc; kích thước lá có thể từ

1–2 cm tới hơn 50 cm, ngoại lệ là R sinogrande có lá

dài 100 cm Đỗ quyên có thể làcây thường xanhhoặc

cây rụng lá theo mùa Ở một số loài, mặt dưới lá có phủ

vảy hoặc lông tơ Một số loài nổi tiếng vì hoa nở thành

chùm lớn Có các loài vùng núi có hoa và lá nhỏ, và một

số loài nhiệt đới sống bám ở dạng tầm gửi

5.1 Phân bố

Đỗ quyên là chi có phân bố rất rộng, xuất hiện ở hầu

khắpBắc bán cầungoại trừ các vùng khô hạn, và trải

dài xuốngNam bán cầuở Đông Nam Ávà vùng bắc

Australasia Độ đa dạng loài cao nhất được tìm thấy ở

vùng núiHimalayatừUarakhand,NepalvàSikkimtới

Vân NamvàTứ Xuyên, ở các vùng núi khác cũng có độ

đa dạng cao như ởĐông Dương,Hàn ốc,Nhật Bản

vàĐài Loan Ngoài ra, có rất nhiều loài đỗ quyên nhiệt

đới gốc Đông Nam Á và BắcÚc Người ta đã ghi nhận

55 loài ởBorneovà 164 loài ởNew Guinea.[4] Tương

đối ít loài hơn có tạiBắc Mỹvàchâu Âu Người ta chưa

tìm thấy đỗ quyên ởNam Mỹhaychâu Phi

Ở Việt Nam chỉ có vùng núi Sa Pa (tỉnh Lào Cai),

Bạch Mã (tỉnh ừa iên Huế), Tam Đảo (tỉnh Vĩnh

Phúc), Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng) là những nơi có cây hoa

Đỗ yên mọc tự nhiên Riêng trong Vườn quốc gia

Hoàng Liên đã có tới 30 loài hoa Đỗ yên được phát

hiện.[5],[6]

5.2 Hình ảnh

Trang 12

5.4 LIÊN KẾT NGOÀI 9

5.3 Chú thích

[1] Linnaeus, C (1753) “Rhododendron” Species

Plantarum Stockholm: Laurentii Salvii tr i 392

Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2014

[2] Goetsch, Lorea A.; Eckert, Andrew J.; Hall, Benjamin

D (July–September 2005).“e molecular systematics

of Rhododendron (Ericaceae): a phylogeny based upon

RPB2 gene sequences”.Systematic Botany30 (3): 616–

626.doi:10.1600/0363644054782170

[3] Tree rhododendrons

[4] Argent G Rhododendrons of subgenus Vireya 2006.

Royal Horticultural Society.ISBN 1-902896-61-0

[5] Hoa đỗ quyên, Tuổi Trẻ Online

[6] Phát hiện 30 loài hoa Đỗ yên trong Vườn quốc gia

Hoàng Liên, dantri

5.4 Liên kết ngoài

Phân loại bộ Đỗ quyên trên trang Sinh vật rừng

Việt Nam

Trang 13

Chi Hoa giấy

Chi Hoa giấy (danh pháp khoa học: Bougainvillea) là

một chi trongthực vật có hoabản địa khu vựcNam Mỹ,

từBrasilvề phía tây tớiPeruvà về phía nam tới miền

namArgentina(tỉnh Chubut) Các tác giả khác nhau

công nhận từ 4 tới 18 loài trong chi Tên gọi khoa học

của chi xuất phát từLouis Antoine de Bougainville,đô

đốccủaHải quân Pháp, một trong số những người đã

bắt gặp nó tạiBrasilnăm 1768

Các loài trong chi này là các loại dây leo dạng gỗ, cây

bụi hay cây thân gỗ có gai Các loài dây leo mọc cao

tới 1–12 m, bò trên các loài cây khác bằng các gai có

móc Các gai có mũi nhọn chứa chất dạng sáp màu

đen dễ dàng để lại trong thịt của các nạn nhân không

ngờ vực Chúng là thường xanh khi lượng mưa dồi dào

quanh năm, nhưng lại là sớm rụng lá nếu sống trong

môi trường cómùa khô Các lá mọc so le, lá đơn hình

trứng nhọn mũi, dài 4–13 cm và rộng 2–6 cm.Hoathật

sự của chúng nhỏ và nói chung có màu trắng, nhưng

mỗi cụm 3 hoa được bao quanh bằng 3 hay 6lá bắc

với màu rực rỡ gắn liền với nhóm thực vật này, bao

gồm các màu hồng, tím, tía, đỏ, cam, trắng hay vàng

Bougainvillea glabrađôi khi được gọi là “hoa giấy” do

các lá bắc của nó mỏng và giống như giấy.ảlà dạng

quả bếhẹp, 5 thùy

Bougainvillea tương đối ít bị sâu bệnh, nhưng có thể bị

tổn thương từ các loài giun và rệp.Ấu trùngcủa một

số loàicánh vẩycũng phá hoại chúng, chẳn hạn như

Hypercompe scribonia

6.1 Lịch sử

Người châu Âu đầu tiên mô tả hoa giấy là Philibert

Commerçon(1727-1773), mộtnhà thực vật họcđi cùng

đô đốc hải quân Pháp kiêm nhà thám hiểm Louis

Antoine de Bougainville(1729-1811) trong chuyến đi

vòng quanh Trái Đất của ông, và lần đầu tiên công bố

cho ông bởi Antoine Laurent de Jussieunăm 1789.[2]

Rất có thể người châu Âu đầu tiên quan sát các loài thực

vật này làJeanne Baré(1740-1807), tình nhân kiêm trợ

lý của Commerçon và bà này thì là một chuyên gia về

thực vật học Do phụ nữ không được phép xuống tàu

nên bà đã cải trang thành đàn ông để thực hiện chuyến

du hành này (và vì thế là người phụ nữ đầu tiên đi vòng

quanh địa cầu).[3]

Bougainvillea glabraở Kerala.

Hai mươi năm sau phát hiện của Commerçon, nó được công bố như là 'Buginvillæa' trongGenera Plantarum củaA.L de Jussieunăm 1789.[4] Sau đó, tên chi được viết theo nhiều kiểu khác nhau cho tới khi cuối cùng nó

được viết thành "Bougainvillea" trongIndex Kewensis

trong thập niên 1930 Ban đầu, B spectabilis và B glabra

rất khó phân biệt cho tới tận giữa thập niên 1980 khi các nhà thực vật học coi chúng là các loài hoàn toàn khác biệt Đầu thế kỷ 19 hai loài này là những loài đầu tiên du nhập vào châu Âu, và rất nhanh sau đó các vườn ươm cây tại Anh và Pháp đã có những giao dịch thương mại tốt để đưa các mẫu cây tới Australia cùng các quốc gia xa xôi khác Trong khi ấy,vườn thực vật Kew đã phân phối các mẫu cây mà vườn này nhân giống tới các thuộc địa của Anh trên khắp thế giới Sau đó, một sự kiện quan trọng trong lịch sử hoa giấy diễn ra với phát hiện mẫu cây đỏ thắm ở Cartagena, Colombia, bởi bà R.V Bu Ban đầu người ta cho nó là một loài riêng biệt

với danh pháp B buiana để vinh danh bà Tuy nhiên,

hiện nay một số tác giả cho rằng nó là loài lai ghép tự

nhiên của một chủng thuộc loài B glabra với có lẽ là

B peruviana – một loài “hoa giấy hồng địa phương” ở

Peru Các loài lai ghép tự nhiên sau đó được phát hiện

là diễn ra phổ biến trên khắp thế giới Chẳng hạn, vào khoảng thập niên 1930, khi 3 loài được trồng cùng nhau thì nhiều loài lai ghép chéo đã được tạo ra gần như tự phát tại Đông Phi, Ấn Độ, quần đảo Canary, Australia,

Ngày đăng: 26/08/2017, 13:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN