1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu ảnh hưởng của phân viên nén lục thần nông và phân bón lá d409 đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng cúc vạn thọ lùn

108 102 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 5,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM PHẠM QUANG TUẤN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN VIÊN NÉN LỤC THẦN NÔNG VÀ PHÂN BÓN LÁ D409 ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ CHẤT LƯỢNG CÚC VẠN THỌ LÙN TAGETES

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

PHẠM QUANG TUẤN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN VIÊN NÉN LỤC THẦN NÔNG VÀ PHÂN BÓN LÁ D409 ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ CHẤT LƯỢNG

CÚC VẠN THỌ LÙN (TAGETES PATULA L.)

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tất Cảnh

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Phạm Quang Tuấn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới thày PGS.TS Nguyễn Tất Cảnh đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Canh tác học, Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Đội ươm cây Phú Thượng, Ban Quản lý Quảng trường Ba Đình đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Phạm Quang Tuấn

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình ix

Trích yếu luận văn x

Thesis abstract xii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Giả thuyết khoa học 3

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.4 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4

Phần 2 Tổng quan tài liệu 5

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 6

2.2.1 Nguồn gốc, vị trí phân loại của cây cúc Vạn thọ lùn 6

2.2.2 Đặc điểm thực vật học của cây cúc Vạn thọ lùn 7

2.2.3 Giá trị sử dụng của cây cúc vạn thọ lùn 7

2.2.4 Tình hình sản xuất, tiêu thụ cây hoa trồng chậu, trồng thảm trên thế giới và ở Việt Nam 8

2.2.5 Tình hình nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật trên cây hoa liên quan đến nội dung nghiên cứu 19

2.2.6 Tình hình nghiên cứu, sản xuất phân viên nén 24

2.2.7 Nghiên cứu về phân bón lá 25

2.2.8 Những kết quả nghiên cứu về sâu bệnh hại cây hoa 27

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 28

3.1 Địa điểm nghiên cứu 28

3.2 Thời gian thực hiện đề tài 28

Trang 5

3.3 Đối tượng nghiên cứu 28

3.3.1 Giống hoa cúc vạn thọ lùn 28

3.3.2 Phân viên nén Lục thần nông 28

3.3.3 Phân bón lá D409 28

3.3.4 Phân NPK Đầu trâu 29

3.3.5 Phân bón lá Đầu trâu NPK 30-10-5 29

3.4 Nội dung nghiên cứu 29

3.4.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân viên nén Lục thần nông đến sự sinh trưởng, phát triển, chất lượng hoa và hiệu quả kinh tế trên giống cúc Vạn thọ lùn 29

3.4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá D409 đến sự sinh trưởng, phát triển, chất lượng hoa và hiệu quả kinh tế trên giống cúc Vạn thọ lùn 29

3.4.3 Tiêu chí lựa chọn hoa cúc Vạn thọ lùn bền, đẹp 29

3.5 Phương pháp nghiên cứu 29

3.5 1 Phương pháp bố trí thí nghiệm và chỉ các tiêu theo dõi 29

3.5.2 Tiêu chí lựa chọn chậu hoa cây hoa cúc Vạn thọ lùn bền, đẹp 33

3.5.3 Phương pháp phân tích số liệu 34

Phần 4 Kết quả và thảo luận 35

4.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón viên nén lục thần nông qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây hoa cúc Vạn thọ lùn trồng trong túi bầu 35

4.1.1 Thời gian từ trồng đến bén rễ, hồi xanh và tỷ lệ sống của cây cúc Vạn thọ lùn 35

4.1.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân viên nén Lục thần nông đến động thái tăng trưởng chiều cao, số lá trên thân chính của cây cúc Vạn thọ lùn 36

4.1.3 Ảnh hưởng của liều lượng phân viên nén Lục thần nông đến động thái tăng trưởng đường kính thân của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 40

4.1.4 Ảnh hưởng của liều lượng phân viên nén Lục thần nông qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 41

4.1.5 Ảnh hưởng của liều lượng phân viên nén Lục thần nông đến số cành cấp 1, cấp 2 và dài cành cấp 1 của cây cúc Vạn thọ lùn 43

4.1.6 Ảnh hưởng của liều lượng phân viên nén Lục thần nông đến chất lượng hoa của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 45

Trang 6

4.2 Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá D409 đến sự sinh trưởng, phát triển

của cây hoa cúc Vạn thọ lùn trồng trong túi bầu 48

4.2.1 Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá D409 đến bén rễ, hồi xanh và tỷ lệ sống của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 48

4.2.2 Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá D409 đến động thái tăng trưởng chiều cao, số lá trên thân chính của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 49

4.2.3 Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá D409 đến động thái tăng trưởng đường kính thân của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 52

4.2.4 Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá D409 qua các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 53

4.2.5 Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá D409 đến sự hình thành cành của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 55

4.2.6 Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá D409 đến chất lượng của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 56

4.3 Tình hình sâu bệnh hại trên giống hoa cúc Vạn thọ lùn 58

4.3.1 Tình hình sâu bệnh hại trên giống hoa cúc Vạn thọ lùn 59

4.3.2 Tình hình bệnh hại trên giống hoa cúc Vạn thọ lùn 60

4.4 Tiêu chí lựa chọn chậu hoa cúc vạn thọ lùn bền, đẹp 60

4.4.1 Tiêu chí thẩm mỹ 61

4.4.2 Tiêu chí độ bền của hoa 63

4.3.3 Tiêu chí về hiệu quả kinh tế 63

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 70

5.1 Kết luận 65

5.2 Kiến nghị 65

Tài liệu tham khảo 72

Phụ lục 76

Trang 7

KIP Key informant panel

(những người am hiểu cung cấp thông tin) HQS Hydroxy quinoline sulphate

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

FAO Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc

(Food and Agricultural Organization)

IAA Indolyl acetic acid

IBA Indole Butylic Acid

NAA α – naphthaleneaceticd

HQS Hydroxy quinoline sulphate

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Phát triển diện tích trồng hoa ở Thái Lan 13 Bảng 2.1 Tốc độ phát triển của ngành hoa, cây cảnh giai đoạn 2000 - 2011 18 Bảng 4.1 Thời gian từ trồng đến bén rễ, hồi xanh, tỷ lệ sống của cây hoa cúc

Vạn thọ lùn 35 Bảng 4.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân viên nén Lục thần nông đến động thái

tăng trưởng chiều cao thân chính của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 37 Bảng 4.3 Ảnh hưởng của liều lượng phân viên nén Lục thần nông đến động thái

ra lá trên thân chính của cây cúc Vạn thọ lùn 38 Bảng 4.4 Ảnh hưởng của phân viên nén Lục thần nông đến động thái tăng

trưởng đường kính thân của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 40 Bảng 4.5 Ảnh hưởng của liều lượng phân viên nén Lục thần nông qua các giai

đoạn sinh trưởng, phát triển của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 42 Bảng 4.6 Ảnh hưởng của liều lượng phân viên nén Lục thần nông đến số cành

cấp 1, cấp 2 và dài cành cấp 1 của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 44 Bảng 4.7 Ảnh hưởng của liều lượng phân viên nén Lục thần nông đến chất

lượng hoa của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 45 Bảng 4.8 Ảnh hưởng của liều lượng phân nén Lục thần nông đến đường kính, độ

bền hoa của cây cúc Vạn thọ lùn 47 Bảng 4.9 Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá D409 đến bén rễ, hồi xanh và tỷ

lệ sống của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 48 Bảng 4.10 Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá D409 đến động thái tăng trưởng

chiều cao thân chính của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 49 Bảng 4.11 Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá D409 đến động thái ra lá của cây

hoa Vạn thọ lùn 50 Bảng 4.12 Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá D409 đến động thái tăng trưởng

đường kính thân của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 52 Bảng 4.13 Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá D409 qua các giai đoạn sinh

trưởng phát triển của giống cúc Vạn thọ lùn 54 Bảng 4.14 Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá D409 đến sự hình thành cành cấp

1, cấp 2 của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 56 Bảng 4.15 Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá D409 đến số nụ, hoa, chiều dài và

đường kính hoa của giống cúc Vạn thọ lùn 57

Trang 9

Bảng 4.16 Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá D409 đến chiều dài cuống, đường

kính bông và độ bền của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 58 Bảng 4.17 Thành phần sâu hại trên giống hoa cúc Vạn thọ lùn 59 Bảng 4.18 Tình hình bệnh hại trên giống hoa cúc vạn thọ lùn 60 Bảng 4.19 Đánh giá tiêu chí vẻ đẹp thẩm mỹ của chậu hoa cúc Vạn thọ lùn khi sử

dụng phân viên nén Lục thần nông khác nhau 61 Bảng 4.20 Đánh giá tiêu chí vẻ đẹp thẩm mỹ của chậu hoa cúc Vạn thọ lùn khi sử

dụng phân bón lá D409 ở các nồng độ khác nhau 62 Bảng 4.21 Đánh giá tiêu chí vẻ đẹp thẩm mỹ của chậu hoa cúc Vạn thọ lùn khi sử

dụng phân bón khác nhau 62 Bảng 4.22 Độ bền của hoa ở các công thức đạt yêu cầu rất đẹp 63 Bảng 4.23 Hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân cho cây hoa cúc Vạn thọ

lùn đã đạt 2 tiêu chí là thẩm mỹ và độ bền của hoa 64

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân viên nén Lục thần nông đến động thái

tăng trưởng chiều cao thân chính của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 37 Hình 4.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân viên nén Lục thần nông đến động thái

tăng trưởng số lá trên thân chính của giống cúc Vạn thọ lùn 39 Hình 4.3 Ảnh hưởng của liều lượng phân viên nén Lục thần nông đến động thái

tăng trưởng đường kính thân chính của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 40 Hình 4.4 Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá D409 đến động thái tăng trưởng

chiều cao thân chính của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 50 Hình 4.5 Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá D409 đến động thái ra lá của giống

cúc Vạn thọ lùn 51 Hình 4.6 Ảnh hưởng của nồng độ phân bón lá D409 đến đường kính thân thân

chính của cây hoa cúc Vạn thọ lùn 52

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Phạm Quang Tuấn

Tên luận văn: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân viên nén Lục thần nông và phân bón

lá D409 đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng cúc Vạn thọ lùn (Tagetes patula L)

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu:

Xác định được lượng phân viên nén chậm tan Lục thần nông và nồng độ phân bón

lá D409 đến các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, chất lượng, hiệu quả kinh tế cây hoa cúc Vạn thọ lùn trồng trong túi bầu phục vụ trang trí tại khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quảng trường Ba Đình Để từ đó góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc cho cây hoa cúc vạn thọ lùn phục vụ trang trí tại Khu vực Lăng Chủ tịch Hồ

Chí Minh, Quảng trường Ba Đình

Phương pháp nghiên cứu:

Vật liệu nghiên cứu

Giống hoa cúc Vạn thọ lùn có tên khoa học là Tagetes patula L và tên thương mại

là MAR 113 Cung cấp bởi Công ty Ameriseed Việt Nam

Phân viên nén Lục thần nông là loại phân bón công nghệ cao mới được PGS.TS Nguyễn Tất Cảnh và cs nghiên cứu phát triển, trong đó: N: 16%; P 2 O 5 : 5%; K 2 O: 10%

và các chất vi lượng dạng chelate: Zn, Mg; Cu, Mn

Phân bón lá D409 là loại phân bón công nghệ cao mới được PGS.TS Nguyễn Tất Cảnh và cs nghiên cứu phát triển, thành phần OM: 1,26%; N: 0,04%; P 2 O 5 : 1,42%;

K 2O: 2,36% + TE + các vi sinh vật có ích ở nồng độ 108CFU/ml (Bacillus; Rhizobium;

Azotobacter; Trichoderma)

Phân NPK Đầu trâu được sản xuất bởi Công ty cổ phần Bình Điền- MeKong, thành phần: N: 13%; P 2 O 5 : 13%; K 2 O: 13%; S: 6%; Fe: 90ppm; Zn: 15ppm; Cu: 10ppm; B: 90ppm

- Phân bón lá NPK Đầu trâu được sản xuất bởi Công ty cổ phần Bình Điền, MeKong, thành phần: N ts: 30%; P 2 O 5hh :10%; K 2 O hh :5%; CaO: 0,05%; MgO: 0,05%; Zn: 500ppm, B: 100ppm; Cu: 500ppm; độ ẩm 2%; trung vi lượng dạng chelate

Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu ảnh hưởng của phân viên nén Lục thần nông, phân bón lá D409 đến sự sinh trưởng, phát triển, chất lượng hoa và hiệu quả kinh tế trên giống cúc Vạn thọ lùn

Trang 12

Theo dõi tình hình sâu, bệnh hại trên cây hoa cúc vạn thọ lùn trồng trong túi bầu Nghiên cứu tiêu chí mỹ thuật lựa chọn chậu hoa cúc Vạn thọ lùn bền, đẹp

Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với 5 mức phân bón và 3 lần nhắc lại; mỗi lần nhắc lại 30 bầu Quan sát, đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển

Về số nụ hoa trên cây, số hoa hữu hiệu, chiều dài cuống hoa, chiều dài nụ đường

kính nụ, đường kính bông và độ bền tự nhiên của của hoa có sai khác so với công thức đối chứng

Kết quả đánh giá chất lượng hoa trên 3 tiêu chí, cho thấy công thức CT5 và CT6

có số điểm đạt từ 90% trở lên theo thang bảng chấm điểm của nhóm KIP Nhưng để bảo đảm hiệu quả kinh tế khi sử dụng phân viên nén Lục thần nông khuyến cáo nên sử dụng liều lượng 1,94gr/bầu (CT6) cho hiệu quả tối ưu nhất

Trang 13

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Pham Quang Tuan

Thesis title: Effect of the Luc Than Nong granulated fertilizer and D409 foliar fertilizer

application on the growth, development and quality of Tagetes patula L

Major: Crop Science Code: 60.62.01.10 Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Research Objectives:

Determine the amount of Luc Than Nong granulated fertilizer dosageand D409

foliar fertilizer concentration on the growth, development and quality of Tagetes patula

L that was planted in polybags in autumn - winter season which setting process of

planting, care procedures and breeding dwarf marigolds in the region of Ho Chi Minh

Mausoleum, Ba Dinh Square

Materials and Methods:

Materials:

Marigold Dwarf’s varieties were provided by Viet Nam Ameriseed’s company, its

scientific name is Tagetes patula L and trade names is MAR 113

Luc Than Nong is a high-tech fertilizer, which was researched and developed by

Prof Nguyen Tat Canh et al., and contents: N: 16%; P 2 O 5 : 5%; K 2 O: 10% and chelate

forms of microelements such as Zn, Mg, Cu, Mn

Foliar fertilizer D409 is a high technologyfertilizer, it has been researched and

developed by Prof Nguyen Tat Canh et al.,, including OM: 1.26%; N: 0.04%; P 2 O 5 :

1.42%; K 2 O: TE + 2.36% + beneficial microorganisms at concentration 108CFU/ml

(Bacillus, Rhizobium, Azotobacter, Trichoderma)

Head buffalo NPK fertilizer was produced by JSC Binh Dien- Mekong,

ingredients: N: 13%; P 2 O 5 : 13%; K 2 O: 13%; S: 6%; Fe: 90ppm; Zn: 15ppm; Cu:

10ppm; B: 90ppm

- Head buffalo NPK foliar fertilizers were produced by JSC Binh Dien, Mekong,

ingredients: Nts: 30%; P 2 O 5hh : 10%; K 2 O hh : 5%; CaO: 0.05%; MgO: 0.05%; Zn: 500

ppm, B: 100 ppm; Cu: 500ppm; 2% moisture; because of high chelate forms

Methods:

To study the influenceof Luc Than Nong and D409 foliar fertilizer on the growth,

development, quality and the economic efficiency on Tagetes patula L

Trang 14

Monitoring the situation of diseases on Marigold Dwarf that are planted in polybags

Studying arts norms to choice durable, beautiful.dwarf marigold flower pots The experiment was arranged in randomized complete block with five fertilizer levels and three replications; each replicationcontains 30 pots and then observate, measurethe growth and development targets of 10 plants per replicate

According to the method gradually filtering criteria to choose durable and beautiful pots Finally we select the most optimal formula

The data obtained from the experiments was treated by IRRISTAT 5.0 program

Main findings and conclusions:

About the effection Luc Than Nong granulated fertilizer and D409 foliar fertilizer

to recovery time from planting to green; from planting to branching level 1, level 2; from planting to flowering bud; from planting to bloom earlier than the control treatment; while time remains flower later than the control treatment

Dynamics of the main stem growth, leaf size, the diameter of the main shoot; the length of the branch level 1; the number of branch level 1, level 2 on the tree were higher than control treatment

There are difference in theflower buds number, effectiveflowers number, the length of stem, the bub lengthand diameter, flower diameter and flower natural durability between the experimental and the control treatment

Evaluating the flower quality base on three criteria, the result showed thatthe treatment CT5 and CT6 achieve over 90% according to the KIP group's grading scales But in order to ensure economic efficiency when using Luc Than Nong granulatedfertilizer, the dosage 1,94gr/pot is recommended for optimum efficiency

Trang 15

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Hoa cây cảnh là sự chắt lọc kỳ diệu nhất những tinh túy mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người Mỗi loài hoa ẩn chứa một vẻ đẹp, sức quyến rũ riêng mà qua đó con người có thể gửi gắm tâm hôn mình Xã hội ngày càng phát triển, thu nhập càng cao, nhu cầu thẩm mĩ của người dân càng lớn thì các sản phẩm hoa cây cảnh càng chiếm vị trí quan trọng

Bên cạnh việc mang lại cho con người sự thoải mái, thư giãn thì hoa cây cảnh cũng đem lại lợi ích cho những người sản xuất hoa giá trị kinh tế cao hơn

so với cây trồng khác Việt Nam với các điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi và thị trường tiêu thụ rộng lớn, nghề trồng hoa đã thực sự phát triển và đem lại giá trị kinh tế cho người sản xuất Hiện nay, diện tích và sản lượng hoa ở Việt Nam đã tăng lên nhanh chóng với nhiều chủng loại hoa Ngoài các loại hoa cắt như: hồng, cúc, lily…thì hoa trồng thảm, trồng chậu đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong trang trí cảnh quan, thiết kế các công viên, vườn hoa, trên các trục đường giao thông, các công trình kiến trúc công cộng, (Nguyễn Thị Kim Lý, 2001)

Quảng trường Ba Đình là trung tâm văn hóa chính trị của cả nước, là trái tim của Thủ đô Hà Nội, là điểm đến tham quan của nhiều du khách trong và ngoài nước, trong đó Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là công trình mang ý nghĩa chính trị, văn hóa sâu sắc thể hiện nét đẹp truyền thống của người dân Việt Nam Trong những năm gần đây yêu cầu về thẩm mỹ trang trí cây hoa, cây cảnh trong khu vực có những yêu cầu mới và ngày càng cao Lựa chọn và trang trí cây hoa, cây cảnh đẹp, gây ấn tượng nhưng phải phù hợp với công trình kiến trúc của khu vực, bảo đảm môi trường đó là việc làm cần thiết nên đòi hỏi phải có những nghiên cứu cụ thể (Phạm Văn Nội, 2011)

Hoa cúc vạn thọ lùn (Tagetes patula L.) là loài hoa được sử dụng phổ biến

ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam do hoa có nhiều màu sắc, phân nhánh nhiều, chiều cao thân thấp, khả năng thích nghi rộng, độ bền hoa thảm dài ngày và có khả năng trồng trong nhiều điều kiện khác nhau Chủng loại giống hoa cúc vạn thọ rất đa dạng do vậy cây có thể sử dụng nhiều mục đích khác nhau

Ở Việt Nam, cây hoa cúc Vạn thọ thường được dùng để trang trí cảnh quan

Trang 16

sân vườn, công viên, đường phố và thờ cúng trong các dịp lễ, tết Ngoài ra cúc Vạn thọ còn được dùng để xua đuổi côn trùng có hại và sử dụng trong y học dân gian

Dinh dưỡng là một trong những yếu tố tác động mạnh đến sự sinh trưởng, phát triển cây trồng nói chung và cây hoa nói riêng Việc cung cấp dinh dưỡng hợp lý cho cây hoa là biện pháp hữu hiệu để nâng cao năng suất và chất lượng hoa Mỗi nguyên tố dinh dưỡng có vai trò sinh lý khác nhau nhưng đều hết sức quan trọng đối với cây hoa Có 16 nguyên tố thiết yếu đối với cây là: C, H, O, K,

Ca, Mg, P, S, Fe, Cu, Mn, Zn, Mo, B, Cl Trong đó 7 nguyên tố sau cùng cây cần một lượng rất thấp nên được gọi là các nguyên tố vi lượng, các nguyên tố còn lại

là nguyên tố đa lượng, trung lượng (Hoàng Minh Tấn và cs., 2000)

Trong những năm gần đây việc sản xuất cây hoa, cây cảnh phục vụ trang trí cảnh quan sân vườn tại khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quảng trường Ba Đình, Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ, khu đón tiếp nhân dân và tuyến phố

đi bộ cho thấy, tỉ lệ sử dụng nhiều giống nhập nội mới, trồng trong túi bầu, chậu

và thường sử dụng các loại phân đơn (N, P, K) kết hợp với phân chuồng ngâm để tưới Khi sử dụng các loại phân trên hiệu quả phân bón không cao, tốn công lao động do phải bón từ 2-3 lần, ngoài ra một lượng lớn phân bón bị mất đi do rửa trôi, bay hơi, thấm sâu vào trong đất; trong đó lượng đạm mất đi là lớn nhất

Để giảm thiểu thiệt hại do lượng phân đạm mất đi, các nhà khoa học khuyến cáo nên sử dụng phân đạm giải phóng Hiện nay tại nhiều nước trên thế giới và Việt Nam đã đưa các dạng phân chậm tan như phân viên nén, phân có vỏ bọc polyme vào sử dụng để nâng cao hiệu quả sử dụng phân đạm, giảm chi phí công lao động, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất

Phân viên nén đã được nghiên cứu sản xuất bón cho lúa ở Việt Nam từ những năm 2000 Khi sử dụng phân viên nén giúp hạn chế quá trình mất phân do rửa trôi, bay hơi, vì đạm được giải phóng từ từ theo nhu cầu của cây, nâng cao hiệu quả bón phân cho các loại cây trồng nông nghiệp Kết quả nghiên cứu được triển khai thử nghiệm ở một số địa phương như Quảng Bình, Sơn La, Cao Bằng,

Hà Giang đã tiết kiệm đến 30% chi phí phân bón, năng suất tăng 22% (Nguyễn Tất Cảnh, 2008)

Dựa vào khả năng hấp thu dinh dưỡng qua lá của cây, các nhà khoa học đã

đề xuất phương pháp dinh dưỡng qua lá nhằm phát huy hiệu quả sử dụng phân bón và làm giảm sự ô nhiễm môi trường Theo Đường Hồng Dật (2003), cây

Trang 17

trồng có tổng diện tích bề mặt lá tiếp xúc với phân bón cao gấp 8-10 lần diện tích tán cây che phủ, các chất dinh dưỡng được vận chuyển theo chiều từ trên xuống với vận tốc 30cm/h nên khả năng hấp thu chất dinh dưỡng gấp 8-10 lần qua rễ

Vì vậy, cây trồng có khả năng hấp thu chất dinh dưỡng qua lá cao đạt 90% - 95% trong khi nếu bón qua đất cây chỉ sử dụng được 40% - 50% lượng phân bón Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu ảnh hưởng của phân viên nén Lục thần nông và phân bón lá D409 đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng cúc Vạn thọ lùn (Tagetes patula L.)”

1.2 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Dinh dưỡng là một trong những yếu tố tác động mạnh đến sự sinh trưởng, phát triển cây hoa, cây cảnh nói chung và cây hoa cúc vạn thọ lùn nói riêng Việc cung cấp dinh dưỡng hợp lý cho cây hoa là biện pháp hữu hiệu để nâng cao năng suất và chất lượng hoa

Để nâng cao năng suất, chất lượng cây hoa cúc Vạn thọ lùn thông qua việc

sử dụng phân viên nén chậm tan Lục thần nông, phân bón lá hữu cơ D409 ở các liều lượng và nồng độ khác nhau sẽ giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt, chống chịu với một số sâu bệnh hại chính phổ biến thường gặp, rút ngắn được thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển, kéo dài thời gian trang trí; tiết kiệm chi phí nhân công, đồng thời giảm thiểu ô nhiễm môi trường

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Xác định được lượng phân viên nén chậm tan Lục thần nông và nồng độ phân bón lá D409 đến các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, chất lượng, hiệu quả kinh tế cây hoa cúc Vạn thọ lùn trồng trong túi bầu phục vụ trang trí tại khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quảng trường Ba Đình Để từ đó góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc cho cây hoa cúc vạn thọ lùn phục vụ

trang trí tại Khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quảng trường Ba Đình

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài tập đi sâu nghiên cứu ảnh hưởng liều lượng của phân viên nén chậm tan Lục thần nông và nồng độ phân bón lá D409 khác nhau đến khả năng sinh trưởng, phát triển, chất lượng của cây hoa cúc Vạn thọ lùn (MAR 113) trồng trong túi bầu ở điều kiện vụ Thu Đông năm 2015 tại Vườn ươm cây Phú Thượng, Nhật Tân, Tây Hồ, Hà Nội

Trang 18

1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của lượng phân viên nén chậm tan Lục thần nông, nồng độ phân bón

lá D409 đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng cây hoa cúc Vạn thọ lùn trồng trong túi bầu phục vụ trang trí tại khu vực Lăng, Quảng trường Ba Đình

- Kết quả nghiên cứu sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học về hoa trồng chậu, trồng thảm

- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần vào việc xây dựng quy trình

kỹ thuật trồng, chăm sóc cây hoa cúc Vạn thọ lùn phục vụ trưng bày tại tại khu vực Lăng, Quảng trường Ba Đình

- Các kết quả nghiên cứu giúp cán bộ kỹ thuật và công nhân trong đơn vị lựa chọn được biện pháp canh tác và xây dựng lịch sản xuất phù hợp

Trang 19

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

Dinh dưỡng là một trong những yếu tố tác động mạnh đến sự sinh trưởng, phát triển cây trồng nói chung và cây hoa nói riêng Việc cung cấp dinh dưỡng hợp lý cho cây hoa là biện pháp hữu hiệu để nâng cao năng suất và chất lượng hoa Mỗi nguyên tố dinh dưỡng có vai trò sinh lý khác nhau nhưng đều hết sức quan trọng đối với cây hoa Có 16 nguyên tố thiết yếu đối với cây là: C, H, O, K,

Ca, Mg, P, S, Fe, Cu, Mn, Zn, Mo, B, Cl Trong đó 7 nguyên tố sau cùng cây cần một lượng rất thấp nên được gọi là các nguyên tố vi lượng, các nguyên tố còn lại

là nguyên tố đa lượng, trung lượng (Hoàng Minh Tấn và cs., 2000)

Mỗi nguyên tố dinh dưỡng có vai trò khác nhau nhưng đều hết sức quan trọng đối với hoa Vì vậy khi bón phân cho cây phải đảm bảo đầy đủ và cân đối mới nâng cao năng suất và chất lượng hoa Nếu thiếu dinh dưỡng cây sẽ còi cọc, chậm lớn, hoa nhỏ, yếu, cánh mỏng, màu nhạt , không đạt tiêu chuẩn chất lượng trang trí Nhưng nếu thừa dinh dưỡng, cây sẽ phát triển quá mức, vống cao, dễ bị đổ và sâu bệnh, ra hoa muộn và chất lượng hoa cũng kém Chính vì vậy, Jiang Quing Hai (2004) đã kết luận: Các nguyên tố vi lượng, vitamin đầy

đủ và tỉ lệ thích hợp giúp cây hoa phát triển cân đối để đạt năng suất hoa cao và phẩm chất tốt

Theo tác giả Nguyễn Xuân Linh (2005), một trong những nội dung quan trọng của việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng hoa chậu đó là nghiên cứu về phân bón Khi nghiên cứu về phân bón cho cây hoa cúc đã khẳng định nếu được bón đầy đủ và cân đối các loại phân: phân hữu cơ (phân bắc, phân chuồng, nước giải, phân vi sinh), phân vô cơ (đạm, lân, kali) và các loại phân vi lượng (Cu, Fe, Zn, Mo, Bo, Co) cây sẽ sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng hoa cao Phân vi lượng tuy cần ít nhưng không thể thiếu và không thể thay thế được Loại phân này nên bón qua lá vào thời kỳ cây con với nồng độ thấp từ 0,01- 0,02%

Các kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải (2006), Đỗ Thị Thu Lai (2008), Phạm Thị Thanh Hải (2009), Lê Thị Thu Hương (2009) và Trần Thị Ngọc Mai (2010) đã khẳng định tác động của các biện pháp kỹ thuật trồng trọt đến sinh trưởng, phát triển của cây trồng khác nhau, còn vẻ đẹp là một chỉ tiêu

Trang 20

tổng hợp rất khó đo đếm và phải dùng phương pháp chuyên gia để phân loại và đánh giá theo phương pháp KIP (Phạm Chí Thành và cs., 2003)

Việc lựa chọn cây, bầu cây, chậu hoa cúc vạn thọ lùn để trang trí có 3 yêu cầu cơ bản sau:

- Vẻ đẹp thẩm mỹ của cây, dựa trên kết quả chấm điểm từ các tiêu chí về định lượng và các tiêu chí về định tính của các chuyên gia để đánh giá Cụ thể: + Tiêu chí định lượng: chiều cao cây, đường kính tán, số lá, số nhánh, số

nụ, số bông, chiều dài nụ, đường kính nụ, đường kính bông

+ Tiêu chí định tính: màu sắc thân, màu sắc lá, màu sắc nụ và màu sắc bông hoa

- Thời gian trang trí dài ngày

- Khi 2 tiêu chuẩn trên đã đạt thì tiêu chuẩn lựa chọn thứ ba là giá thành sản phẩm

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.2.1 Nguồn gốc, vị trí phân loại của cây cúc Vạn thọ lùn

Cúc vạn thọ lùn (Tagetes patula L.), được xếp vào giới thực vật (Plantae), ngành thực vật hạt kín (Magnoliophyta), lớp hai lá mầm (Magnoliopsida), bộ cúc

(Asterales), họ cúc (Asteraceae), chi cúc Vạn thọ (Tagetes) (Trần Hợp, 2000)

Nguồn gốc tại khu vực kéo dài từ Tây Nam Hoa Kỳ qua Mexico và về phía Nam tới khắp Nam Mỹ Còn theo Võ Chi Phương và Dương Đức Tiến hoa cúc Vạn thọ lùn có nguồn gốc từ Trung Quốc và Nhật Bản du nhập sang Đài Loan và nhập nội vào Việt Nam (Võ Chi Phương và Dương Đức Tiến, 1988)

Chi Tagetes là một chi của khoảng 60 loài trong họ cúc (Asteraceae), được

biết đến với tên gọi chung là cúc Vạn thọ hoặc cúc Vạn thọ Mexico Trên thế giới, Vạn thọ chia làm ba loài nguyên và loài lai:

1- Loài Vạn thọ Châu Phi (Tagetes erecta) tiếng Anh gọi là African

Marigold, đây là giống Vạn thọ cao nhất và hoa cũng to nhất Cây cao khoảng 40

- 50cm, có thể cao tới 1,5m

2- Loài Vạn thọ Pháp (Tagetes patula) tiếng Anh gọi là French Marigold

Cây lùn, có chiều cao khoảng 30 - 50cm, hoa nhỏ hơn loài châu Phi

3- Loài Vạn thọ nhỏ (Tagetes tenuifolia) hay (Tagetes signata)

Trang 21

- Loài lai (American Marigold) gồm ba loài: Thứ nhất là loài Vạn thọ vàng

tươi (Antigua Yellow) còn gọi là Inca lùn Cây cao 30 - 50cm, ra hoa nhiều và lâu nhất trong các loài Vạn thọ Thứ hai là loài lai Inca Hybrid, cây cao 50 - 70cm Hoa kép và rất to, ra hoa sớm và nụ hoa kéo dài, có khả năng chịu nhiệt độ

39 - 40°C Cuối cùng là loài tam nhiễm lai Triploid thuộc nhóm Solar series F1

là giống hỗn hợp cây lùn của Vạn thọ Pháp và hoa kép to của Vạn thọ châu Phi, loài này vừa có khả năng chịu lạnh, vừa có khả năng chịu nóng

Tại Việt Nam, giống cúc Vạn thọ được trồng chủ yếu là loại Vạn thọ Pháp

Tagetes patula Đây là giống dễ trồng và thường được trồng bằng hạt hoặc được

nhân giống bằng chồi, ngọn Cây trồng bằng chồi hay ngọn thường không cao và nhanh ra hoa

2.2.2 Đặc điểm thực vật học của cây cúc Vạn thọ lùn

Cúc vạn thọ lùn là cây thân cỏ, sống hàng năm Cây có bộ rễ chùm, phân nhánh nhiều, chiều cao thân thấp chỉ khoảng 20cm - 30cm, rất thích hợp cho trồng chậu, trồng bồn và trồng thảm (Nguyễn Xuân Linh và cs., 1995) Lá cây có màu xanh đậm, xẻ thùy kép lông chim, mép có răng cưa mọc cách và thành vòng xoắn trên thân Lá có mùi hăng hắc khi vò nát, hiện nay có giống lá không hôi và đôi khi còn có mùi thơm Hoa mọc thành cụm, hình đầu nhỏ, đường kính hoa khoảng 4cm mọc trên cuống dài Hoa có màu vàng, vàng da cam, vàng tím hay tím đỏ Cúc vạn thọ lùn ưa sáng nhưng trong điều kiện ánh sáng yếu cây cũng có thể ra hoa (Jiang Quing Hai, 2004) Quả vạn thọ là loại quả bế, trong quả có một hoặc nhiều hạt, trọng lượng 1000 hạt khoảng lgr (Trần Hoài Hương, 2008)

2.2.3 Giá trị sử dụng của cây cúc vạn thọ lùn

Hoa cúc Vạn thọ lùn còn được biết đến bởi nó có rất nhiều công dụng: Người phương Đông coi hoa cúc Vạn thọ là hình ảnh trường sinh và cuộc sống vĩnh hằng Còn trong y học, hoa cúc Vạn thọ dùng để làm thuốc (Phạm Văn Duệ, 2005)

Cúc vạn thọ có số lượng hoa nhiều, hoa đẹp, cây thấp rất phù hợp với làm thảm trang trí, làm giỏ treo hay trồng chậu đặt trong nhà Đặc biệt cúc Vạn thọ lùn với những đặc điểm như trên rất phù hợp để trồng thảm trang trí bồn hoa trong công viên, trên các trục đường giao thông, các vòng xuyến, các công trình kiến trúc công cộng góp phần làm đẹp cảnh quan môi trường Ngoài giá trị trang trí cảnh quan cúc vạn thọ còn có các tác dụng khác như xua đuổi côn trùng

Trang 22

có hại, dùng để chữa bệnh nấc cụt Ở Thái Lan, Ẩn Độ cúc vạn thọ còn dùng trong công nghệ chế biến thức ăn gia súc, làm tăng hàm lượng Caroten trong thức

ăn cho gia cầm để trứng có nhiều lòng đỏ Cúc vạn thọ còn dùng để chiết xuất carotene sử dụng trong ngành thực phẩm

Theo dân gian cúc vạn thọ kết hợp với một số dược liêu khác có thể chữa chữa hen, chữa đau răng, chữa cảm, ho, ho gà, viêm khí quản Theo tài liệu nước ngoài, cây cúc vạn thọ để tươi chưng cất sẽ thu được tinh dầu có tên là dầu tagetes Tinh dầu chưng cất từ hoa cúc vạn thọ có màu vàng đỏ, từ thân và lá có màu vàng lục, mùi thơm hắc, vị đắng, cay được dùng trong ngành hương liệu Hoa cúc vạn thọ được nấu với gan gà là món ăn bổ dưỡng, tăng cường thị lực Hoa và lá cúc vạn thọ giã nát, đắp chữa bỏng hoặc ép lấy nước nhỏ vào tai chữa bệnh đau tai

Trong y học, dược liệu có vị đắng cay mùi thơm tính mát không độc có tác dụng kháng khuẩn chống viêm, tiêu đờm làm, giảm đau, trừ giun sán Dùng riêng hoa cúc vạn thọ 20gr giã nát trộn với ít đường hấp cơm dùng uống chữa kiết lỵ Bột hoa chấm vào chỗ đau chữa đau nhức răng Cao lỏng từ rễ lại dùng nhuận tràng Nước sắc hoặc nước hãm cả cây chữa tê thấp, nhiễm lạnh, viêm phổi, giun sán

Về thành phần hoá học của cây cúc Vạn thọ, toàn cây chứa 0,01% tinh dầu (ở mẫu khô lên đến 0,06%) có mùi thơm, mà thành phần gồm có D-limonen, Ocimen, L-linalyl acetat, L-linalool, Tagetone và Nonanal Hoa chứa chất màu là quercetagetin, từ các cánh hoa khô, người ta đã chiết được quercetagitrin và một glucosid của quercetagetin

Cúc vạn thọ có vị đắng, mùi thơm, tính mát; có tác dụng tiêu viêm, làm long đờm, trị ho Có tác giả cho rằng, cúc vạn thọ là cây có tác dụng thông khí, trị ho; lá làm mát phổi gan, giải nhiệt; còn hoa thanh tâm, giáng hoả, tiêu đờm

2.2.4 Tình hình sản xuất, tiêu thụ cây hoa trồng chậu, trồng thảm trên thế giới và ở Việt Nam

Hiện nay, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và kinh tế xã hội, ngày càng có nhiều giống hoa mới được lai tạo, nhập nội và hoa trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của mỗi con người

Vì thế, ngành sản xuất cây hoa, cây cảnh ngày càng phát triển đã và đang mang lại những lợi ích to lớn về kinh tế cho nhiều quốc gia trên thế giới nói chung và trong đó có Việt Nam

Trang 23

2.2.4.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa cây cảnh trồng chậu và trồng thảm trên thế giới

Trong những năm gần đây, ngành trồng hoa trên thế giới đang có sự chuyển đổi mạnh mẽ trong đó một điều dễ dàng được nhận thấy là sự mở rộng sản xuất hoa trồng chậu, trồng thảm Theo số liệu của Trung tâm thương mại hoa thì tổng lượng hoa tiêu thụ trên thế giới tăng hàng năm là 10%, trong đó tỉ lệ tiêu thụ hoa cắt chiếm 60%, hoa chậu, hoa thảm 30% và các loại cây trang trí khác 10% Các nước xuất khẩu hoa thảm, hoa chậu lớn nhất thế giới là Hà Lan, Đan Mạch và Bỉ (Nguyễn Thị Kim Lý, 2009)

Tại Châu Á nghề trồng hoa đã có từ lâu đời với diện tích xấp xỉ 900.000ha, chiếm khoảng 60% diện tích trồng hoa trên thế giới Nhưng diện tích hoa cây cảnh thương mại của Châu Á nhỏ, tỷ lệ thị trường hoa của các nước đang phát triển chỉ chiếm khoảng 20% thị trường hoa cây cảnh trên thế giới Những nước

có xu hướng phát triển hoa trồng thảm và các loại lá dùng để trang trí bao gồm Đài Loan, Thái Lan, Israel, Ấn Độ, Malaysia và Trung Quốc Chủng loại hoa thảm khá đa dạng nhưng chủ yếu là hoa Diễn (Salvia), Thu hải đường (Begonia), Hoa bướm (Panse), Viola, Primula, Cinneraria, Tô liên (Torenia) với diện tích xấp xỉ khoảng 50.000ha Diện tích sản xuất hoa cây cảnh ở một số nước năm

2006 là: Trung Quốc 722.000ha, Ấn Độ 75.327ha, Nhật Bản 51.000ha, Việt Nam 13.000ha, Thái Lan 7.655ha, Malaysia 2.278 ha, Srilanka 1.012ha (Nguyễn Thị Kim Lý, 2009)

Diện tích trồng hoa, cây cảnh trên thế giới là 1.100.000ha Năm nước dẫn đầu có diện tích hoa nhất thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Nhật Bản và Hà Lan Trong đó Châu Á chiếm khoảng 80% diện tích trồng hoa trên thế giới, Châu

Âu chiếm 8%, Châu Mỹ 10%, riêng Châu Phi với diện tích còn rất khiêm tốn chiếm khoảng 2% Mười nước điển hình có diện tích sản xuất các loại hoa chính như Hà Lan là hoa cắt, hoa chậu, hoa trang trí, các loại hoa từ củ và lá măng Mỹ

là các loại cỏ, hoa chậu, hoa thảm và các loại lá làm cảnh Nhật là hoa cắt, hoa chậu, lá măng Colombia là hoa cắt, hoa thảm và các loại lá làm cảnh Đài Loan

là hoa cắt và chuyên sản xuất các loại hạt để trồng chậu và trồng thảm Các nước còn lại như Italia, Tây Ban Nha, Kenya và Đan Mạch chủ yếu là hoa cắt và hoa

trồng thảm (Chu Thị Nga, 2011)

Theo số liệu thống kê của WTO, sản lượng hoa xuất khẩu chiếm hơn

13,362 tỷ USD năm 2006 trong đó số hoa cắt cành là 6,12 tỷ USD chiếm 45,9%,

Trang 24

hoa trồng chậu và hoa trồng thảm là 5,79 tỷ USD chiếm 43,3%, loại chỉ dùng lá

để trang trí là 893 triệu USD chiếm 6,7% và các loại hoa khác là 559 triệu USD

chiếm 4,1% (Lê Thị Thu Hương, 2009) Hà Lan có thể xem là nước đứng đầu

trên thế giới về sản xuất và xuất khẩu hoa phục cho thị trường tiêu thụ rộng lớn với 80 nước trên thế giới bao gồm hoa cắt, hoa trồng thảm, trồng chậu và cây trang trí Trung bình một năm, Hà Lan cung cấp cho thị trường 7 tỷ bó hoa tươi

và 600 triệu chậu hoa cảnh các loại, tổng kim ngạch xuất khẩu là 2 tỷ USD, trong

đó hoa thảm chiếm gần 10% diện tích hoa của Hà Lan Tiếp đến là Mỹ, ngành trồng hoa có thể xem như là một thành phần quan trọng trong nền kinh tế Mỹ, chiếm khoảng 10 tỷ USD, bao gồm hoa cắt, hoa trồng thảm, trồng chậu và các cây chỉ dùng lá để trang trí Ở Mỹ, các loại hoa truyền thống là cúc, cẩm chướng

và hồng Tuy nhiên, các loại hoa khác cũng đang phát triển nhanh chóng

(Nguyễn Thị Kim Lý, 2009)

Nhìn chung hoa cắt cành, hoa chậu và hoa thảm trên thế giới được tiêu thụ với một số lượng khá lớn và ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm, bởi các loại hoa này được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như mục đích tiêu dùng, trang trí công cộng Hiện nay, có trên 150 nước tham gia vào sản xuất hoa cắt cành và hoa trồng thảm mang lại nguồn thu nhập lớn Tiêu chí xây dựng ngành hoa công nghiệp ở các nước Châu Âu là không chỉ sản xuất mà chính sách

và thị trường là khâu vô cùng quan trọng, đặc biệt là vấn đề quản lý chất lượng

và bản quyền giống của cây trồng

Theo số liệu thống kê của Trung tâm Thương mại hoa thì tổng lượng hoa tiêu thụ trên thế giới tăng hàng năm là 10%, trong đó tỉ lệ tiêu thụ hoa cắt chiếm 60%, hoa chậu hoa thảm 30% và các loại cây trang trí khác 10% Hàng năm lượng hoa thảm hoa chậu tiêu thụ ở Mỹ đạt 6,5 tỷ USD và Đài Loan xấp xỉ 9,2 tỷ USD Các nước xuất khẩu hoa thảm, hoa chậu lớn nhất thế giới là Hà Lan, Đan Mạch, Bỉ và đặc biệt là Đài Loan hàng năm xuất khẩu một lượng lớn hạt hoa các loại (Trần Hoài Hương, 2008)

Thị trường tiêu thụ hoa trên thế giới trong năm 2008 ước đạt 45 tỷ Euro Các nước tiêu thụ hoa chủ yếu là ở Châu Âu do có GDP và thu nhập cao Ở Châu

Á, Nhật Bản là thị trường tiêu thụ chính Trong các sản phẩm nông nghiệp, cây hoa có tốc độ tăng trưởng cao, đặc biệt là hoa cắt cành, do có vòng quay ngắn Nhật nhập khẩu hoa chủ yếu từ các quốc gia lân cận nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí Tại nhiều nước thuộc Châu Á, nguồn thu từ xuất khẩu cao hơn so với

Trang 25

tiêu dùng nội địa Nhật có dân số trên 120 triệu người và là quốc gia phát triển nhất châu lục Do đó Nhật là thị trường tiêu thụ hoa lớn nhất Châu Á và thứ nhì thế giới Họ đòi hỏi chất lượng hoa với yêu cầu cao nhất và sẵn sàng trả giá cao Tiêu thụ bình quân đầu người/năm của các nước trên thế giới biến động trong phạm vi rất rộng từ vài Euro như Nga đến trên 90 Euro như ở Thụy Sỹ Ước tính giá thị trường cao nhất là Mỹ, đạt trên 7 tỷ Euro; sau đó đến Nhật, đạt gần 4 tỷ Euro; Đức trên 3 tỷ Euro và Anh trên 2 tỷ Euro

Châu Á có 134.000ha trồng hoa chiếm 60,0% diện tích trồng hoa thế giới nhưng diện tích trồng hoa thương mại nhỏ (Đỗ Thị Thu Lai, 2008) Tỷ lệ thị trường hoa chiếm 20% thị trường hoa thế giới Nguyên nhân là do các nước Châu

Á có phần lớn diện tích hoa trồng trong điều kiện tự nhiên và chủ yếu phục vụ cho nhu cầu nội địa Nghề trồng hoa ở Châu Á có từ lâu đời nhưng trồng hoa thương mại phát triển mạnh từ những năm 80 của thế kỷ XX Khi các nước châu

Á mở cửa tăng cường đầu tư đời sống của nhân dân được nâng cao thì yêu cầu hoa cho khách sạn, du lịch lớn nên các thị trường hoa phát triển Các trung tâm sản xuất chính ở Châu Á là Nhật Bản, sau đó Israel, Ấn Độ, Thái Lan và Trung Quốc Hiện nay Trung Quốc có xu thế phát triển về hoa trang trí gồm các loại như hoa trạng nguyên, hoa cẩm chướng với diện tích khoảng 60.000ha, các loại hoa này chủ yếu xuất khẩu sang các nước ASEAN trong đó có miền Bắc

Việt Nam (Nguyễn Thị Hải, 2006)

Nhật Bản là nước có ngành sản xuất hoa với công nghệ cao với điều kiện thiên nhiên ưu đãi nên có thể cung cấp hầu hết nhu cầu hoa trong nước Nhưng

do nhu cầu trong nước về các loại hoa khá phong phú và chi phí nhân công tại Nhật Bản khá đắt đỏ, không thể cạnh tranh với các nước khác, kim ngạch nhập khẩu của hoa ngày càng tăng trong các năm gần đây Hằng năm, nhu cầu nhập khẩu hoa của Nhật Bản khoảng 435 triệu USD, do nhu cầu hoa ngày càng cao, năm 2005 kim ngạch nhập khẩu hoa Nhật Bản khoảng 500 triệu USD Thị trường nhập khẩu hoa của Nhật Bản và Hà Lan (chiếm 27%), Trung Quốc (chiếm 9,7%), Đài Loan (9,0%), Malaysia (8,8%) Hoa nhập khẩu chủ yếu là những loại hoa không được trồng phố biến hoặc rất khó trồng vào vụ Thu và Đông ở Nhật Bản Hàn Quốc là nước sản xuất hoa lớn ở vùng Đông Bắc Á với các loài hoa nổi tiếng: cúc, lily và địa lan Diện tích trồng hoa tăng nhanh từ 2249ha (1985) lên 6.422ha (2002) và đã thu được lợi nhuận cao từ trồng hoa với 789 tỷ Won (tương đương 607 triệu USD)

Trang 26

Theo Trần Thị Ngọc Mai (2010), Trung Quốc là một trong những nước ở Châu Á có diện tích trồng hoa lớn và ngày càng được mở rộng đem lại nguồn thu không nhỏ cho nền kinh tế Từ năm 2001 đến năm 2006 diện tích trồng hoa của Trung Quốc tăng lên 3 lần từ 246.007ha lên 722.000ha và tương ứng với thu nhập tăng lên 2 lần từ 2.158 triệu USD năm 2001 lên 5.572 triệu USD năm 2006

Ở Trung Quốc, ngành công nghiệp hoa của nước này đã trở thành một ngành công nghiệp có nhiều hứa hẹn, bởi sản xuất hoa tăng hằng năm Hiện nay, số lượng hoa cắt cành được bán là 3,22 tỷ cành và hoa chậu hoa thảm được bán là

810 triệu cây (Trần Hoài Hương, 2008) Năm 2006, tổng giá trị thu nhập của hoa

và cây cảnh là 5,5 tỉ USD Trong năm 2008, tổng diện tích đất trồng tăng chậm

và có nhiều hơn sự tập trung cho chuyên môn hóa, hiện đại hóa và tăng cường hợp tác (Hoàng Ngọc Thuận, 2009) Trung Quốc đang phấn đấu để thúc đẩy công nghiệp hoa phát triển và trở thành một trong những nước dẫn đầu châu Á về sản xuất tiêu thụ và xuất khẩu hoa Tiếp đến là Đài Loan với các giống hoa thảm được tuyển chọn hằng năm phục vụ cho nhu cầu phát triển vườn cảnh, công viên Hạt giống hoa của Đài Loan như Verbena, Vinca, Cinneraria, Salvia là mặt hàng đang được tiêu thụ mạnh trên thế giới

Đài Loan với tập đoàn Lan hồ điệp phong phú và các giống hoa thảm được tuyển chọn hàng năm phục vụ cho nhu cầu trang trí vườn cảnh, công viên, là những mặt hàng đang được tiêu thụ mạnh trên thế giới Với nhiều ưu thế về điều kiện kinh tế, xã hội cũng như điều kiện thời tiết, địa lý, Đài Loan đang phấn đấu

để trở thành Hà Lan thứ 2 ở Châu Á

Thái Lan cũng là một nước sản xuất hoa lớn ở Châu Á, trong vòng sáu năm (từ năm 2001 – 2007) diện tích trồng hoa ở đây đã tăng lên đáng kể từ 8.645ha đến 14.690ha, cụ thể:

Trang 27

Bảng 2.1 Phát triển diện tích trồng hoa ở Thái Lan

Hoa cắt cành

Hoa lan Hoa hông Hoa cúc

Cây lây lá Hoa ôn đới khác Hoa

** : Hoa trang trí trong nhà, sử dụng làm thuốc và trong công nghiệp

Nguồn: Hoàng Ngọc Thuận (2009)

Qua bảng số liệu cho thấy: sau 6 năm tuy diện tích đất trồng hoa ở Thái Lan tăng lên nhưng không phải ở loại hoa nào diện tích đất trồng cũng tăng Từ năm

2001 đến năm 2007, diện tích hoa trồng chậu và các loại hoa khác lại tăng lên mạnh mẽ (hoa trồng chậu tăng 3,9 lần, các loại khác tăng 3,3 lần) Điều này cho thấy, nhu cầu thưởng thức hoa của người dân Thái Lan không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về chất lượng và chủng loại Nếu như vào năm 2001, diện tích trồng hoa chủ yếu là hoa cắt cành thì đến năm 2007 diện tích này đã giảm mạnh

và chuyển sang hoa trồng chậu, hoa trang trí trong nhà, trang trí công cộng

Ở Malaysia sản lượng cây hoa ôn đới chiếm 71,46% tổng sản lượng hoa Ngoài hoa Lan ra, 3 loại hoa quan trọng nhất là hồng, cúc và cẩm chưởng chiếm

Trang 28

91,1% tổng sản lượng hoa ôn đới (Lim Heng Jong, 2001) Ngoài hoa cắt cành,

các loại hoa thảm ở đây cũng rất phong phú, việc sản xuất hoa chậu, hoa thảm đã

có nhiều tiến bộ trong việc cải tiến chế độ dinh dưỡng, sử dụng quang chu kỳ, phòng chống sâu bệnh tổng hợp và công nghệ sau thu hoạch để nâng cao chất lượng hoa

Như vậy, một điều dễ nhận thấy không riêng gì các nước châu Á, mà hầu hết các nước trên thế giới đề rất quan tâm trong việc sản xuất và phát triển ngành hoa cây cảnh nói chung và ngành hoa trồng thảm nói riêng Phát triển hoa cây cảnh không chỉ đóng góp vào phát triển kinh tế của đất nước mà còn góp phần đáng kể trong việc cải tạo môi trường sống, phục vụ cho nhu cầu thiết kế xây dựng trang trí công cộng Sự phát triển đô thị của các quốc gia trên thế giới một cách nhanh chóng nhưng vẫn chưa có quốc gia nào chú ý đến việc thiết kế cảnh quan, công viên kiến trúc đô thị, các trục đường giao thông và ngoại vi thành phố Đây cũng là một cơ hội và thách thức cho các nước trên thế giới

2.2.4.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cây cảnh, hoa trồng thảm ở Việt Nam

Việt Nam có diện tích đất tự nhiên là 33 triệu ha nhưng diện tích trồng hoa

ở Việt Nam chỉ chiếm 0,02% diện tích đất đai Hoa được trồng lâu đời và tập trung một số vùng trồng hoa truyền thống như Ngọc Hà, Quảng An, Tây Tựu (Hà Nội), Đằng Hải, Đằng Lâm (Hải Phòng), Hoành Bồ, Hạ Long (Quảng Ninh), Triệu Sơn (Thanh Hoá), Gò Vấp, Hóc Môn (Thành phố Hồ Chí Minh) với tổng diện tích trồng khoảng 3500 ha Phong trào trồng hoa ở Việt Nam trong những năm gần đây đã được chú ý phát triển, diện tích hoa tăng nhanh Điều kiện khí hậu và đất đai đa dạng đã tạo điều kiện để trồng nhiều loại hoa, trong đó phát triển hệ thống trồng hoa thâm canh đã được nhà nước quan tâm và hỗ trợ Theo Viện Nghiên cứu Rau-Quả thì hiện nay lợi nhuận thu được từ 1 ha trồng hoa cao hơn 10- 15 lần so với trồng lúa và 7-8 lần so với trồng rau Gần 90% các loài hoa được trồng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ở trong nước Tuy nhiên thị trường xuất khẩu cũng đang tăng nhanh với một số loại hoa đặc thù của Việt Nam (hoa sen, hoa nhài và một số loài hoa mà các nước ôn đới trồng khó khăn trong mùa Đông (hồng, cúc )

Theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm 2003 cả nước có 9430ha hoa và cây cảnh các loại với giá trị sản lượng 482,6 tỷ đồng Ở Việt Nam đã hình thành

3 vùng hoa lớn sau:

Trang 29

- Vùng hoa đồng bằng sông Hồng: với khí hậu 4 mùa và nhiều vùng khí hậu đặc thù nên rất thích hợp cho trồng nhiều loại hoa Hoa được trồng ở hầu hết các tỉnh của vùng trong đó tập trong nhiều ở các thành phố lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc Hoa ở vùng này chủ yếu phục vụ tiêu thụ trong nước,và một số chủng loại nhỏ đã xuất khẩu sang Trung Quốc (hồng, cúc ) Hồng là loài hoa phổ biến nhất chiếm 35%, tiếp đến là hoa cúc (30%), hoa đồng tiền (10%), còn lại là các loài hoa khác (25%)

- Vùng hoa Đà Lạt: Đà Lạt có điều kiện khí hậu thời tiết rất phù hợp cho trồng các loại hoa, mặc dù diện tích không lớn nhưng đây là nơi sản xuất các loại hoa cao cấp với chất lượng tốt: phong lan, địa lan, lay ơn, hồng, đồng tiền… Diện tích trồng các loài hoa tăng 1,74 lần so với kế hoạch đề ra trong giai đoạn 1996-2000, chỉ riêng năm 2000 đã thu hoạch được 25,5 triệu cành hoa

- Vùng hoa đồng bằng sông Cửu Long: Đây là vùng có khí hậu ấm, nóng quanh năm nên thích hợp với các loài hoa nhiệt đới: hoa lan, đồng tiền Thành phố Hồ Chí Minh là nơi phát triển hoa lan nhiệt đới nhanh nhất trong cả nước, nhiều trang trại hoa lan đã được thành lập, kinh doanh và phát triển theo mô hình trang trại hoa lan tại Thái Lan Diện tích hoa ngày càng tăng cao đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của thị trường, nhất là ở các thành phố lớn Tính riêng ở Hà Nội có khoảng 300 cửa hàng bán các loại hoa chất lượng cao, đó là chưa kể các hàng hoa nhỏ và cả những người bán rong Ước tính, lượng hoa tiêu thụ từ các nguồn trên ở mức hơn 1 triệu cành các loại trong một ngày Tại Đà Lạt diện tích hoa cắt cành của vùng này năm 1996 chỉ có 174ha, đến năm 2000 đã tăng lên 853ha và hiện nay có khoảng 1467ha (hoa cúc chiếm khoảng 24%, với sản lượng khoảng 10- 13 triệu cành, với khoảng 84 tỷ đồng)

Theo số liệu điều tra của Viện Di truyền Nông nghiệp, tại một số địa phương, hoa là cây trồng cho thu nhập khá Chẳng hạn, có vùng ở Hà Nội, so với sản xuất 2 lúa 1 màu trong cùng thời điểm, trên cùng một đơn vị diện tích thì trồng hoa có lợi nhuận cao hơn gần 12 lần Ở Thái Bình, có doanh nghiệp trồng hoa đã thu lãi tới 160 triệu đồng/ha/năm, hay ở Lâm Đồng, bình quân cho mức lãi 250 - 300 triệu đồng/ha/năm từ sản xuất hoa Trong những năm qua, huyện

Mê Linh, Hà Nội không những phát triển khu công nghiệp Phúc Thắng, Quang Minh, mà còn chuyển đổi cơ cấu cây trồng có hiệu quả cao, nên bình quân mỗi

ha canh tác đạt 48 triệu đồng/ha

Trang 30

Hoa của Việt Nam cũng đã được xuất khẩu, riêng lượng hoa xuất khẩu của công ty sản xuất hoa Hasfarm 100% vốn nước ngoài ở Đà Lạt đã đem lại doanh thu trên 4 triệu USD/năm Theo phân tích của các chuyên gia, nhu cầu tiêu thụ hoa sẽ ngày càng tăng cả ở thị trường trong nước lẫn quốc tế Nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường, Việt Nam có kế hoạch phát triển diện tích trồng hoa lên khoảng 10.000 ha, với sản lượng 3,5 tỷ cành và đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng

60 triệu USD vào năm 2010 Theo đó, một số vùng sản xuất chính đã được quy hoạch, gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Sapa (Lào Cai), Đà Lạt, Đức Trọng (Lâm Đồng), Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Thái Bình… Hiện nay vấn đề quan tâm không chỉ là đảm bảo mục tiêu về diện tích trồng hoa, mà còn là chất lượng

và hiệu quả bền vững, cần phải đa dạng hóa các loại hoa phục vụ nhu cầu trong nước, mặt khác, chú trọng các loại hoa chất lượng cao phục vụ xuất khẩu (Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2007)

Nước ta có khí hậu nhiệt đới, đất đai màu mỡ có khí hậu thuận lợi cho phát triển nhiều loại hoa cây cảnh Với những điều kiện như vậy chúng ta có tiềm năng rất lớn cho việc sản xuất hoa cung cấp cho thị trường trong nước và nước ngoài Ngày nay cùng với cơ cấu chuyển đổi giống cây trồng trong nông nghiệp

từ trồng lúa, các cây hoa màu khác sang trồng hoa làm cho diện tích hoa được

mở rộng Năm 1994 tổng diện tích trồng hoa cây cảnh là 3.500ha, cho giá trị sản lượng 175.000 triệu đồng, thu nhập bình quân một năm đạt 51 triệu đồng/ha Đến năm 2006 tổng diện tích trồng hoa cây cảnh đã tăng 3,7 lần với năm 1994 với tổng diện tích là 13.400ha, giá trị sản lượng đạt 1.045.200 triệu đồng (tăng 5,9 lần so với năm 1994) và cho thu nhập bình quân một năm là 78 triệu đồng/ha (tăng 1,5 lần so với năm 1994) Với việc đem lại hiệu quả kinh tế cao như vậy, người dân đang có xu hướng chuyển đổi cây trồng từ trồng lúa, hoa màu sang

hoa cây cảnh (Viện nghiên cứu Rau quả, 2006)

Ở Việt Nam, bên cạnh việc sản xuất hoa cắt cành thì việc trồng và nghiên cứu hoa trồng chậu, trồng thảm đang ngày càng được quan tâm Đặc biệt trong những ngày lễ lớn, trên các trục đường chính, khu trung tâm, công viên, vườn hoa luôn rực rỡ sắc màu bởi những thảm hoa Ngoài ra hoa trồng chậu, trồng thảm có những thế mạnh riêng, có thể tận dụng những diện tích nhỏ như trên ban công, sân thượng mà không cần đến diện tích quá lớn Hơn nữa do thời gian sinh trưởng quá ngắn nên yêu cầu chăm sóc đầu tư không lớn, lại dễ vận chuyển Hoa trồng chậu, trồng thảm là hướng đi đích thực của ngành trồng hoa nước ta,

Trang 31

ngày càng góp phần phát triển nền kinh tế nước nhà cũng như thỏa mãn nhu cầu làm đẹp của con người (Nguyễn Thị Kim Lý, 2006) Hiện nay ở nước ta có nhiều vùng sản xuất hoa cây cảnh nói chung và hoa trồng chậu, trồng thảm nói riêng nhưng tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng Sông hồng, Thành phố Hồ Chí Minh,

Đà Lạt và Sapa (Lê Thị Thu Hương, 2009)

Trong những năm qua với chủ trương phát triển nền nông nghiệp bền vững góp phần thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng đó là đưa một phần đất lúa, rau sang trồng hoa nâng cao thu nhập cho người dân Một ví dụ đó là: chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang sản xuất cây cảnh lâu năm: chi phí cho l ha là

28 triệu đồng, lợi nhuận thu được là 90 triệu đồng/ha/năm so với trồng lúa 1 màu thì chi phí là 11,4 triệu đồng/ha/năm, lợi nhuận đạt 7,6 triệu đồng/ha/năm (Đỗ Thị Thu Lai, 2008)

Vùng đồng bằng sông Hồng có diện tích trồng hoa lớn, khoảng 2000 ha chủ yếu được trồng trên đất phù sa cổ, thành phần dinh dưỡng tốt, pH đất từ 6,5 - 7 Hoa thảm thì rất ít chỉ chiếm 3 - 5% tổng diện tích hoa của vùng Việc sản xuất hoa trồng thảm với số lượng lớn theo quy mô tập trung mới chỉ làm ở khu vực nhà nước như Công ty công viên Cây Xanh, Công viên Thống Nhất, Công viên Thủ Lệ, Khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thuộc Thành phố Hà Nội và một

số vùng chuyên canh hoa thảm như Phụng Công - Văn Giang (Hưng Yên), La

Phù - An Khánh (Hà Tây cũ), Quảng Bá - Hà Nội (Nguyễn Thị Kim Lý, 2009)

Diện tích canh tác hoa, cây cảnh của Hà Nội năm 2010 khoảng 2.009 ha, trong đó có 68,9% diện tích được trồng tập trung (khoảng 1.350 ha/42 vùng tập trung, diện tích trên 20 ha/vùng) tại 18 xã của 5 quận, huyện (Từ Liêm: 631,5ha;

Mê Linh: 464,5ha; Tây Hồ: 212,5ha; Đan Phượng: 104,1ha và Thường Tín: 130,8ha) Còn lại là các diện tích trồng phân tán tại các xã, phường, sản xuất nhỏ

lẻ, một số mới được chuyển đổi từ diện tích các cây trồng kém hiệu quả hoặc sản xuất 1 vụ trong năm Chủng loại hoa, cây cảnh chính: hoa Hồng 770ha, chiếm 38,3%; hoa Cúc 450 ha, chiếm 22,4%; hoa Đào 288,2ha, chiếm 14%; các loại hoa khác và cây cảnh 500,8 ha chiếm25,3% Hàng năm đã cung ứng cho thị trường 1.000 - 1.100 triệu cành hoa; 0,8 -1,0 triệu chậu hoa và 1,0 - 1,2 triệu cây cảnh các loại

Bên cạnh Hà Nội, Sapa cũng là vùng trồng hoa rất nổi tiếng cung cấp hoa cho khắp thị trường miền Bắc và xuất khẩu Sapa là nơi có khí hậu ôn đới tương đối thuận lợi cho việc phát triển hoa cây cảnh, đặc biệt là hoa ôn đới Nhạy bén

Trang 32

với thị trường, Trung tâm hoa cây cảnh thuộc Viện di truyền đã nhập một số hoa thảm mới từ nước ngoài để gieo trồng đáp ứng một phần không nhỏ thị trường như: Pansy, Viola, Tuy lip, Geranium

Ở miền Nam, Đà Lạt là trung tâm trồng hoa chủ yếu Diện tích trồng hoa của Đà Lạt khoảng 200 – 250 ha gồm các loại: hoa Hồng, Cúc, cẩm Chướng, Lily, Đồng Tiền, Địa Lan Hoa của Đà Lạt có chất lượng tốt hơn so với cả nước được tiêu thụ chủ yếu ở Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, nhiều tỉnh khác và còn xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, Trung Quốc và Đài Loan

Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phụ cận ngoài việc sản xuất hoa cắt cành còn chuyên sản xuất hoa trồng chậu và trồng thảm, phục vụ nhu cầu hoa của người dân thành phố mà còn cung cấp cho các công ty, công viên gồm các loại hoa như: cúc Vạn thọ lùn, Cúc mâm xôi, Mẫu Đơn, Mào gà, Hồng tỉ muội, Cúc Bách Nhật Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 20 loại hoa trồng thảm khác nhau là sản phẩm của quá trình sản xuất vừa nhập nội và tuyển chọn giống Nghề sản xuất hoa cây cảnh ở Việt Nam đã có từ lâu đời nhưng chỉ được coi là một ngành kinh tế hàng hóa có giá trị từ những năm 1980 Trong công cuộc chuyển đổi cơ cấu cây trồng thì nghề trồng hoa, cây cảnh là nghề mang lại lợi nhuận cao và giải quyết việc làm cho nhiều người lao động ở thành phố cũng như ở nông thôn Với tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng thì tốc độ phát triển của ngành hoa cây cảnh cũng tăng theo và được thể hiện ở bảng sau

Bảng 2.1 Tốc độ phát triển của ngành hoa, cây cảnh giai đoạn 2000 - 2011

2000 (lần)

Ghi chú: Số liệu thống kê và điều tra tổng hợp của Viện Nghiên cứu Rau quả, 2012

Nguồn: Đặng Văn Đông (2013)

Trang 33

Theo bảng số liệu trên cho thấy, năm 2000 diện tích hoa năm 2011 tăng 2,4 lần, giá trị sản lượng tăng 7,2 lần (đạt 6.800 tỷ đồng, trong đó xuất khẩu xấp xỉ

50 triệu USD) Mức tăng giá trị thu nhập/ha là 3,0 lần

Nhu cầu thị trường hoa của Việt Nam trong giai đoạn 2000-2011 trung bình 9%/năm Mức độ tiêu dùng hoa của người dân đô thị năm 2000 là 25000đ/người/năm, đến năm 2011 tăng lên 52.000đ/người/năm

Theo thống kê của Cục Trồng trọt cho thấy, năm 2014, cả nước có khoảng 22.671,94 ha diện tích trồng hoa, trong đó các tỉnh miền Bắc có 9.237,6 ha, miền Nam có khoảng 13.434,3 ha Diện tích cây cảnh, cây thế, cây bon sai ở phía Bắc cao gần gấp đôi các tỉnh phía Nam (8.172,4 và 4.133,8 ha) Thu nhập bình quân cây hoa, cây cảnh trên cả nước năm 2014 là 285 triệu đồng/ha/năm So với giá trị thu nhập/ha canh tác toàn ngành trồng trọt là 82-83 triệu đồng/ha/năm, mức thu nhập gần gấp 3,5 lần Thống kê cho thấy, trong vòng 10 năm gần đây (2005-2015) diện tích hoa đã tăng hơn 2,3 lần, giá trị sản lượng tăng 7,2 lần (đạt 6.500

tỷ đồng, trong đó xuất khẩu xấp xỉ 50 triệu USD)

Như vậy, ở Việt Nam với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa tăng cao thì việc thiết kế các khu công viên vui chơi giải trí là việc làm cần thiết Do đó, nhu cầu về hoa nói chung và nhu cầu về hoa thảm nói riêng là rất lớn Bởi vậy việc nghiên cứu tuyển chọn những giống mới, cũng như việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật mới nhằm nâng cao chất lượng hoa trồng thảm là hướng đi phù hợp với yêu cầu phát triển chung của thế giới

2.2.5 Tình hình nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật trên cây hoa liên quan đến nội dung nghiên cứu

Năng suất cây trồng nói chung và cây hoa nói riêng phụ thuộc vào các yếu

tố như giống, ánh sáng, nhiệt độ, nước và dinh dưỡng Trong điều kiện sản xuất, việc điều khiển các yếu tố nước và dinh dưỡng dễ hơn nhiều các yếu tố khác, trong đó điều chỉnh dinh dưỡng là yếu tố quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng và sức chống chịu của cây trồng Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng: mức tăng năng suất cây trồng có mối quan hệ rất chặt chẽ với số lượng, chủng loại và cách sử dụng các loại phân bón trong canh tác Căn cứ vào mức độ cần thiết của các nguyên tố đối với cây hoa, có thể chia làm 2 loại:

- Các chất dinh dưỡng rất cần cho cây hoa, đó là các chất sinh dưỡng nếu thừa, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình sinh trưởng và phát triển của cây

Trang 34

- Các chất dinh dưỡng cần thiết nhưng có điều kiện cho cây hoa, là các nguyên tố có tác dụng tích cực đối với từng chức năng của cây Căn cứ vào số lượng của các nguyên tố chứa trong cơ thể cây hoa, có thể chia làm 3 loại: + Các nguyên tố đa lượng, có trong cơ thể thực vật với lượng từ vài phần trăm đến vài phần nghìn: N, P, K, Ca, Mg, Si, S

+ Các nguyên tố vi lượng, có trong cơ thể thực vật với lượng rất nhỏ khoảng vài phần nghìn: Cu, Zn, Mo, Mn, Co

+ Các nguyên tố siêu vi lượng có trong cơ thể thực vật với lượng cực nhỏ khoảng vài phần triệu: Rb, Cs, Se, Cd…

+ Các nguyên tố vi lượng và siêu vi lượng chủ yếu là tham gia vào quá trình trao đổi chất thứ cấp hoặc là một thành phần của sản phẩm trao đổi chất Thiếu hoặc thừa những nguyên tố này cũng đều có hại cho sinh trưởng của cây biểu hiện bên ngoài là sự xuất hiện màu lá không bình thường, xuất hiện nốt, gân lá không bình thường Trong thực tế sản xuất trừ những vùng sinh lý đặc biệt, nói chung không có tính trạng thừa và thiếu vi lượng Nhưng trong dịch dinh dưỡng nếu thiếu vi lượng hoặc tỷ lệ không thích hợp sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng và ra hoa của cúc (Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga, 2007)

a Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng cho hoa cây cảnh trồng chậu và trồng thảm trên thế giới

Dinh dưỡng là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ đến sự sinh trưởng, phát triển của cây Việc cung cấp dinh dưỡng hợp lý cho cây trồng nói chung và cây hoa nói riêng là biện pháp hữu hiệu để nâng cao năng suất và chất lượng hoa Mỗi nguyên tố dinh dưỡng có vai trò khác nhau nhưng đều hết sức quan trọng đối với hoa Vì vậy phân bón phải đảm bảo đầy đủ và cân đối mới nâng cao năng suất và chất lượng hoa Nếu thiếu dinh dưỡng cây sẽ còi cọc, chậm lớn, hoa nhỏ, yếu, không đạt tiêu chuẩn chất lượng trang trí Nhưng nếu thừa dinh dưỡng, cây sẽ phát triển quá mức, vống cao, dễ bị đổ và sâu bệnh, ra hoa muộn và chất lượng hoa cũng kém Chính vì vậy, Jiang Quing Hoi (2002) đã kết luận: Các nguyên tố vi lượng, vitamin đầy đủ và tỉ lệ thích hợp giúp cây hoa phát triển cân đối để đạt năng suất hoa cao và phẩm chất tốt

Lawtence and Neverell (1950), ở Anh sử dụng hỗn hợp đất mùn + than bùn + cát thô (tính theo thể tích) có tỷ lệ 2:1:1 để gieo hạt, còn để trồng cây thì theo tỉ

lệ 7:3:2 Ở Mỹ công thức phối trộn (tính theo thể tích) thành phần hỗn hợp bầu

Trang 35

bao gồm mùn sét và mùn cát sét và mùn cát có tỷ lệ 1:2:2; 1:1:1 hay 1:2:0 đồng thời cho thêm 5,5 - 7,7g bột đá vôi và 7,7 - 9,6g supe photphat cho 1 đơn vị thể tích đều cho hiệu quả đáng kể (Limhengjong Mohd, 1997)

Lawtence and Neverell (1950) cho biết: Ở Anh bổ sung 1,5kg đá vôi nghiền

và 3 kg Supephotphat 20% P2O5 vào 1m3 hỗn hợp giá thể và hỗn hợp đối với cây trồng là 1,5kg đá vôi nghiền + 8,5kg phân bazơ hoặc 12kg phân NPK dạng 5-10-

5 cho 1m3 hỗn hợp bầu là hợp lí

Còn theo Bunt (1965), hỗn hợp bầu gieo hạt nên bổ sung 2,4kg đá vôi nghiền + 0,6kg supephotphat 20% + 285g KNO3, còn ở hỗn hợp bầu trồng cây thì bổ sung 1,8kg đá vôi nghiền + 1,8kg đá vôi + 1,5kg supephotphat 20% + 740g KNO3 + l,2kg NH4N03

Sanjaya (1992), khi nghiên cứu ảnh hưởng của 6 công thức xử lý chất điều tiết sinh trưởng là IBA (axit indol butyric), IAA (axit indol axetic), NAA (Naphyl axetic axit), Biorota, Rootonef và đối chứng không xử lý, đã chỉ ra IBA là có hiệu quả cao nhất trong việc nâng cao số lượng rễ cũng như chiều dài rễ

Sims (1995) qua các nghiên cứu của mình cũng cho rằng thông qua các biện pháp kỹ thuật và công nghệ cho phép sử dụng giá thể trên những vùng đất nghèo dinh dưỡng, do đó làm tăng hàm lượng đạm trong đất, tăng chất lượng cây

và giảm thời gian sản xuất Danai and Tongmai (1995), khi đánh giá về ảnh hưởng của phân bón lá, mật độ, khoảng cách và các giai đoạn thu hoạch hoa kết luận: Khoảng cách cây tăng làm giảm chiều cao cây, nhưng lại làm tăng chiều rộng lá và chiều dài lá Việc bón phân qua lá đã làm tăng số lượng lá cây, mức phân bón là là 150ppm N-K (Đạm-Kali) đã là tăng độ bền hoa Việc thu hoạch là

9,3 ngày còn ở 25 x 25cm là 8,7 ngày và thu muộn 75% số hoa nở là 8,7 ngày

Stoffella and Graetz (1996), khi nghiên cứu về giá thể nhận thấy: sử dụng chất thải hữu cơ là tiền đề làm tăng giá trị thương mại của các loại giá thể Theo Jin Pi (2000), việc phối hợp một số loại phân bón có ảnh hưởng đến sinh trưởng, ra hoa và chất lượng hoa của Layơn Các thí nghiệm phân bón ngoài đồng đã sử dụng phân bón Phlatoson 4D (20N : 10P : 15K : 6Mg Các nguyên tố khoáng, vi lượng) ở mức 0,2 kg/m2 dùng bón lót Bón thúc cùng với phân Volldunger (14N : 7P : 12K + nguyên tố khoáng) ở các mức 0,15 kg/m2 và 0,3 kg/m2, bón thúc trong 5 lần cho các giống Peter Pears, Nuvalax và Joselita Kết quả thu được cho thấy: khi bón Phlatoson 4D đơn lẻ đã cho số lượng hoa tự/bông

Trang 36

lớn hơn, bông hoa dài nhất; cành hoa, độ tươi hoa và trọng lượng củ cao hơn

so với dạng phân đang sử dụng ngoài bón đại trà Khi bón phối hợp Phlatoson 4D với Volldunger ở mức 0,3 kg/m2 ngoài việc nâng cao chất lượng hoa cắt, còn cho năng suất củ giống cao nhất

Theo Gao Jun Ping (2001), khi nghiên cứu ảnh hưởng của hoá chất đến sự nảy mầm, sinh trưởng, ra hoa, năng suất và tạo củ layơn trên giống lai Psitacinus đã cho biết các hoá chất Thiourea 1000 – 2000 ppm; Ethrel 50 –

100 ppm hoặc KN03 2000 ppm làm tăng khả năng nảy mầm của củ Hoá chất Kinetin 25 ppm cho chiều cao cây, số lá và tăng lượng củ cao hơn cả

b Tình hình nghiên cứu về phân bón cho cây hoa, cây cảnh ở Việt Nam

Một trong những nội dung quan trọng của việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng hoa chậu đó là nghiên cứu về phân bón Nguyễn Xuân Linh (2005) khi nghiên cứu về phân bón cho cây cúc đã khẳng định nếu được bón đầy đủ và cân đối các loại phân: phân hữu cơ (phân bắc, phân chuồng, nước giải, phân vi sinh), phân vô cơ (đạm, lân, kali) và các loại phân vi lượng (Cu, Fe, Zn, Mo, Bo, Co) sẽ sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng hoa cao Phân vi lượng tuy cần ít nhưng không thể thiếu và không thể thay thế được Loại phân này nên bón qua lá vào thời kỳ cây con với nồng độ thấp từ 0,01- 0,02%

Theo Nguyễn Hạc Thúy (2001), phân bón qua lá gồm phân hóa học (vô cơ), phân hữu cơ (xác bã động, thực vật,…) và phân hữu cơ có nguồn gốc EDTA và các Aminoacid thuỷ phân từ các chất hữu cơ giàu protein (phân pomior) Tác giả

đã xác định phân có tỷ lệ đạm cao (30:10:10) phù hợp cho cây con, những cây đang nảy chồi mới, những cây sau khi cắt hoa Phân có tỷ lệ lân cao (6:30:30) kích thích ra rễ, hoa, làm cho lá bớt màu xanh, giảm lượng nước ở trong lá, tăng khả năng đề kháng của cây Phân có tỷ lệ kali cao (10:20:30) giúp cây khỏe, chống hạn, sâu, bệnh tốt So với cây trồng khác thì cây lan cần lượng kali tương đối nhiều vì mục đích chính của nuôi trồng lan là thưởng thức hoa Kali giúp hoa

có màu sắc đẹp, bền, thường sử dụng phân có tỷ lệ kali vào lúc cây lan có hoa Việt Chương và Nguyễn Việt Thái (2002) đã xác định tỷ lệ bón phân N:P:K phù hợp cho từng giai đoạn sinh trưởng của lan như N:P:K loại 30:10:10 thúc đẩy tốt cho việc tăng trưởng, ra lá lan Loại 10:20:10 bón thúc cho lan ra hoa sẽ cho hiệu quả cao Loại 10:10:20 thúc đẩy lan ra rễ tốt Loại 10:20:30 làm tăng sức chịu đựng và sức đề kháng cho lan

Trang 37

Theo Phạm Thị Liên (2002) bón phân thường được chú trọng đến 3 nguyên

tố chính N, P, K với rất nhiều tỷ lệ tùy thuộc theo mục đích sử dụng, loài lan, thời kỳ sinh trưởng của lan Ngoài ra còn có thể kết hợp thêm các nguyên tố vi lượng như đồng (Cu), sắt (Fe), kẽm (Zn)… và một số vitamin cần thiết khác Tuy nhiên, trong cây lan nước chiếm xấp xỉ 90%, chỉ 2% là các nguyên tố khoáng chất nên nếu bón nhiều phân sẽ tạo ức chế sinh trưởng của cây, làm cháy rễ, vì vậy việc bón phân hết sức linh động, phụ thuộc vào thời tiết, vào từng giai đoạn sinh trưởng của cây

Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội (2003) đưa ra kết luận: bổ sung dinh dưỡng khoáng vào giá thể cho 5 loại cây trồng: cây hồng Đà Lạt, cây cảnh, hoa giống, ớt và cà chua là 0,36N + 1,04 P205 + 0,17 K20 cây sinh trưởng

và phát triển tốt hơn khi không bón bổ sung

Tác giả Nguyễn Thị Hải (2006), khi nghiên cứu loại giá thể và các loại phân bón lá thích hợp cho cúc Vàng pha lê và cúc Mâm xôi trồng chậu có kết luận: cúc Vàng pha lê và cúc Mâm xôi sinh trưởng phát triển tốt nhất, chất lượng hoa đạt cao nhất với thành phần giá thể gồm: Trấu hun + Đất + Mùn rơm (1:1:1) Nguyễn Xuân Hải và Nguyễn Thị Kim Lý (2014), khi nghiên cửu ảnh hưởng của giá thể và dinh dưỡng cho cây hoa cúc sau khi nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào kết luận: ở giai đoạn vườn ươm, trên các giá thể đất - trấu hoặc cát - trấu, bón với liều lượng 20kg đạm Ure/ha, 20kg Superphotphat và 20kg Kaliclorua/ha là thích hợp nhất cho cây hoa cúc

Đỗ Thị Thu Lai (2008), khi nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất chất lượng hoa cúc vàng Mai và hoa Xô đỏ trồng chậu

có kết luận bón bổ sung phân bón NPK Lâm Thao cho cây hoa cúc sinh trưởng phát triển tốt, chất lượng hoa đạt cao nhất

Phạm Thị Thanh Hải (2009), qua nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển, nhân giống và ảnh hưởng của phân bón lá đối với hoa Xôn (Salvia splendens) trồng thảm tại Hà Nội đã cho biết: giống Salvia đỏ đậm phù hợp nhất với việc trồng hoa thảm tại Hà Nội trong vụ Đông Xuân Đồng thời điểm phun phân bón lá sau khi cây hồi xanh, 5 ngày phun một lần đến khi xuất hiện nụ hoa đầu tiên sẽ tạo điều kiện cho cây hoa Salvia đỏ dậm sinh trưởng, phát triển mạnh cho năng suất, chất lượng hoa cao và phân bón có hiệu quả nhất là Gre- Po Tác giả Lê Thị Thu Hương (2009), đã đưa ra được công thức giá thể, phân

Trang 38

bón lá và phương pháp bấm ngọn hiệu quả nhất khi nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa cúc Vạn

thọ lùn (Tagetes patula L.) và Lộc Khảo (Phlox drummoldi Hook.)

Tác giả Phạm Thị Thanh Hải (2009) cho thấy việc phun phân bón Gre-Po qua lá định kì 5 ngày/lần cho tới khi xuất hiện nụ hoa đầu tiên sẽ tạo điều kiện cho cây sinh trưởng, phát triển mạnh đồng thời cây sẽ cho năng suất và chất lượng hoa cao nhất Trên cây hoa tô liên trồng chậu việc phun phân bón lá Komix (BEC 201) hàng tuần giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt, số hoa trên cây nhiều, chất lượng hoa cao (Phạm Thị Minh Phượng và cs., 2010)

Tác giả Trần Thị Ngọc Mai (2010) khi nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể, phân bón đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa cúc mặt trời, cúc Vạn thọ lùn trồng chậu kết luận trong các loại phân bón sử dụng, dung dịch phân B (N, P,

K là 0,94; 0,2; 0,48 gr/l) phù hợp nhất cho cây cúc mặt trời và cúc vạn thọ lùn trồng chậu sinh trưởng, phát triển và cho ra hoa

Nghiên cứu trên cây hoa Tô liên, Phạm Thị Minh Phượng và cs (2010) đã kết luận phân bón Bình Điền (NPK: 20:20:15+ TE) giúp cây sinh trưởng tốt, tăng chất lượng hoa qua đó kéo dài thời gian trang trí thảm hoa

Theo kết quả nghiên cứu vải kỹ thuật trong sản xuất hoa, cây cảnh của tác giả Phạm Thị Minh Phượng và cs (2011) đã lựa chọn được loại vải kỹ thuật 2 (chế tạo từ sợi nhân tạo dày 1,5cm, khả năng trữ nước và cấp nước cho 1 lần lượt

là 101,7ml và 80,3ml) cho cúc vạn thọ lùn, cúc mặt trời và đồng tiền đơn, vải kỹ thuật 1 (chế tạo từ sợi nhân tạo dày 1,5cm, khả năng trữ và cấp nước cho một lần tưới lần lượt là 108,1ml và 60ml) Lựa chọn được loại phân bón lá Pomior 198 phù hợp cho cây cúc vạn thọ lùn trồng chậu sinh trưởng và phát triển ra hoa

2.2.6 Tình hình nghiên cứu, sản xuất phân viên nén

Ở Việt Nam công tác nghiên cứu và sản xuất phân viên nén do PGS.TS Nguyễn Tất Cảnh chủ trì tiến hành, được bắt đầu vào năm 2000, đề tài nghiên cứu được tiến hành trong 3 năm 2000- 2002, đến năm 2003 được Bộ Giáo Dục Đào Tạo nghiệm thu Từ năm 2004- 2006 PGS.TS Nguyễn Tất Cảnh đã chỉ đạo tiến hành sản xuất thử nghiệm để hoàn thiện quy trình áp dụng vào sản xuất phân viên nén

Những ưu điểm dễ nhận thấy của phân viên nén:

- Viên phân cứng nên dễ dàng đóng gói và vận chuyển

Trang 39

- Do phân được nén lại nên có thể tiến hành bón một lần cho cả vụ, dễ thực hiện việc cơ giới hóa, rất dễ thực hiện nên được sự chấp nhận của bà con nông dân

- Bón phân viên nén không phải phụ thuộc vào thời tiết, trời mưa cũng có thể bón được

- Tiết kiệm được một lượng phân bón đáng kể

Với những ưu điểm nổi bật như trên, hiện nay phân viên nén đang được sử dụng ngày càng nhiều, chủ yếu từ tỉnh Quảng Nam trở ra, được sử dụng nhiều ở các tỉnh phía Bắc và các tỉnh miền Trung

2.2.7 Nghiên cứu về phân bón lá

Các chất điều tiết sinh trưởng của thực vật là những chất có bản chất hoá học khác nhau nhưng đều có vai trò rất quan trọng trong quá trình điều khiển sinh trưởng Tuỳ thuộc vào các chất khác nhau mà chúng có thể tham gia vào các quá trình cơ bản như: điều khiển quá trình phát chồi, tăng trưởng chiều cao, đường kính thân, điều khiển quá trình ra lá, ra hoa, ra rễ (đối với cành giâm, cành chiết…)

Danai and Tongmai (1995), khi đánh giá về ảnh hưởng của phân bón lá, mật độ khoảng cách và các giai đoạn thu hoạch hoa đã cho thấy chiều cao cây giảm với khoảng cách cây, nhưng lại làm tăng chiều rộng và chiều dài lá Việc bón phân qua lá đã làm tăng số lượng lá/cây, mức bón phân là 150 ppm N-K (Đạm-Kali) đã làm tăng độ bền hoa Việc thu hoạch hoa ở khoảng cách 15x15cm

và 20x20cm cho tuổi thọ trung bình hoa là 9,3 ngày còn ở 25x25cm là 8,7 ngày

và thu muộn 75% số hoa nở là 8,7 ngày

Theo Thông tin Khoa học kỹ thuật rau hoa quả (1997) và Nguyễn Mạnh Khải, Nguyễn Quang Thạch (1999), việc sử dụng các loại chế phẩm và chất kích thích sinh trưởng như Spray N-grow (SNG) 1%, Atonik 0,5%, GA3 50ppm đều

có tác dụng rõ rệt tới sự sinh trưởng phát triển của cúc Vàng Đài Loan

Trong đó GA3 tác động mạnh ở giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng, làm tăng chiều cao cây và rút ngắn thời gian sinh trưởng, nâng cao tỷ lệ hoa và kéo dài độ bền hoa cắt Hai loại thuốc SNG 1% và GA3 100ppm cũng có ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng phát triển của cúc CN93 trong vụ Đông, làm tăng tỷ lệ nở hoa, đặc biệt là chiều cao cây, mang lại hiệu quả kinh tế cao

Trang 40

Năm 1999, khi nghiên cứu hiệu ứng tăng trưởng thực vật của chế phẩm Oligoalgiat chế tạo bằng kỹ thuật bức xạ, trên cây hoa cúc Đồng tiền Nhật Bản (Yellow Nobita), tác giả Lê Quang Luận và các cộng sự ở Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt đã kết luận: xử lý Oligoalginat với nồng độ tối ưu 80ppm đã làm tăng chiều cao cây (11,2 - 25,9%), số lá (6,13 - 13,7%), đường kính hoa (3,2 -

10,4%) và khối lượng cành mang hoa (12,5 - 48,4%) Ngoài ra báo cáo khoa học

của trường Đại học nông nghiệp I (1997) cũng đã kết luận, SNG 1% đã làm tăng đường kính bông ở nụ 3cm, nhưng không có hiệu quả ở loại nụ 1,5cm, làm cho hoa nở sớm hơn so với đối chứng Đối với cúc vàng hè khi phun thuốc này cũng cho sự hình thành sớm, làm tăng cường đường kính bông và tỷ lệ nở hoa cao hơn

so với đối chứng

Trung tâm Hoa cây cảnh Viện Di truyền Nông nghiệp cũng đã sử dụng kích thích tố của Công ty Thiên Nông với liều lượng 1gr thuốc pha trong nước sạch rồi nhúng phần gốc của cành vào khoảng 30 phút, sau đó đem phần dung dịch thuốc còn lại pha thêm 5gr phân bón lá và phun lại lên cành giâm, cứ 3 - 5 ngày phun dung dịch này 1 lần, có thể đảm bảo từ 80 - 90% số cây ra rễ với thời gian rút ngắn hơn so với đối chứng từ 2 - 4 ngày, phương pháp này thường được áp dụng cho việc nhân giống cúc vào mùa hè để đạt hiệu quả cao Sự ra hoa của cây phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, đặc biệt là yếu tố ngoại cảnh trong đó các Phytohormon đóng vai trò quan trọng

Hoàng Minh Tấn và Nguyễn Quang Thạch (1993), đã nghiên cứu để cây cúc hè có thể ra hoa vào mùa đông bằng xử lý GA3 nồng độ 20 - 25ppm phun vào đỉnh sinh trưởng và GA3 ở nồng độ 10 - 50ppm có thể làm tăng chiều cao

cây hoa cúc hoặc sử dụng CCC (Chlor Cholin Chlirid) 0,25% - 1% có tác dụng

ức chế chiều cao của cúc trồng trong chậu Ngoài ra để loại bỏ tác động xấu của Etylen tác nhân gây già hoá ở hoa có thể dùng AgNCl > 3, muối Clo của các kim loại nặng như Titan, Nicken và một số chất có tác dụng đối kháng với Etylen như Auxin, GA3, Xytokinin có thể ngăn cản quá trình già hóa Sử dụng dung dịch có Sacaroza và các chất kể trên để cắm hoa trong thời gian 6 - 8 giờ trước khi bảo quản lạnhcó tác dụng giữ màu xanh của lá và cành rất tốt, sau khi thu hoạch có thể bảo quản kho lạnh với nhiệt độ là thời gian giữ tối đa từ 16 - 24 tuần Dung dịch giữ cho hoa cúc tươi lâu có thể sử dụng 50g/1 Sucrose + 600 mg/1 AgN03

hoặc 50 g/1 Sucrose + 200 mg/1 HQS (8- Hydroxyquinoline sulphate) và 50 g/1 Sacrose + 4 mg/l Physan đều có thể kéo dài độ bền hoa cắt

Ngày đăng: 20/11/2018, 14:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
47. Gao Jun Ping (2001). “Summing up report 12 years production cut flower of China”, Chinese Beijing Technique Sciene publicher, pp 175 – 185, 189 – 200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Summing up report 12 years production cut flower of China
Tác giả: Gao Jun Ping
Năm: 2001
50. Limhengjong Mohd (1997). “Cut Flower production in Malaysia”. Malaysia agricultural research and development istitute. pp. 1 – 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cut Flower production in Malaysia
Tác giả: Limhengjong Mohd
Năm: 1997
51. Sanjaya.L. (1992). “Effect of plant growth regualator on rooting of bud cutting of Chrysanthemum”. Bulletin/Horticulture. Indonesia. pp. 77 – 82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of plant growth regualator on rooting of bud cutting of Chrysanthemum
Tác giả: Sanjaya.L
Năm: 1992
1. Cao Kỳ Sơn, Nguyễn Văn Bộ và Bùi Đình Dinh (1998). Sử dụng chế phẩm bón qua lá – một tiến bộ kỹ thuật trong sử dụng phân bón lá ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu khoa học. Viện Nông hóa Thổ nhưỡng. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.quyển 3. tr. 511-519 Khác
2. Đặng Văn Đông và Đỗ Thị Lưu (1997). Ảnh hưởng của một số loại thuốc kích thích đến sinh trưởng, phát triển của cây hoa cúc CN93. Kết quả nghiên cứu khoa học về rau quả 1995 – 1997. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 124-128 Khác
3. Đặng Văn Đông (2000). Điều tra hiện trạng sản xuất hoa cúc ở Hà Nội và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất, chất lượng hoa cúc. Luận văn thạc sĩ nông nghiệp. Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Khác
4. Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc (2003). Công nghệ mới trồng hoa cho thu nhập cao cây hoa cúc. Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội Khác
5. Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc (2004). Công nghệ mới trồng hoa cho thu nhập cao cây hoa lily. Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội Khác
6. Đặng Văn Đông (2013). Kỹ thuật sản xuất hoa thương mại. Bài giảng cho cao học. tr. 1-2 Khác
7. Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga (2007). Giáo trình cây hoa. Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội. tr. 8 Khác
8. Đỗ Thị Thu Lai, Nguyễn Thị Kim Lý và Hoàng Xuân Lam (2006). Nghiên cứu tuyển chọn một số giống hoa thảm phục vụ trang trí ở khu vực Lăng. Báo cáo khoa học. tr. 1 – 24 Khác
9. Đỗ Thị Thu Lai (2008). Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng hoa cúc vàng Mai và Sô đỏ trồng chậu phục vụ trang trí ở khu vực Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Quảng Trường Ba Đình. Luận văn thạc sĩ nông nghiệp. Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Khác
10. Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch và Trần Văn Phẩm (2000). Giáo trình sinh lý thực vật. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác
11. Hoàng Ngọc Thuận (2009). Kỹ thuật trồng hoa và cây cảnh. Bài giảng cho các lớp cao học Khác
12. Jiang Quing Hai (2004). Hỏi đáp về kỹ thuật trồng hoa cây cảnh tập I (Trần Văn Mão dịch). Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác
13. Jiang Quing Hai (2004). Hỏi đáp về kỹ thuật trồng hoa cây cảnh tập II (Trần Văn Mão dịch). Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác
14. Jiang Quing Hai (2004). Hỏi đáp về kỹ thuật trồng hoa cây cảnh tập III (Trần Văn Mão dịch). Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác
15. Lê Thị Thu Hương (2009). Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng hoa Vạn Thọ lùn lùn và Lộc Khảo trồng trong chậu phục vụ trang trí tại Hà Nội. Luận văn thạc sĩ nông nghiệp. Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội Khác
16. Lê Xuân Tảo (2004). Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật và xây dựng quy trình công nghệ sản xuất hoa chậu ở vùng Hà Nội. Đề cương nghiên cứu khoa học và công nghệ. Viện Di truyền Nông nghiệp. tr. 2-3 Khác
17. Nguyễn Đức Khiêm (2005). Giáo trình côn trùng nông nghiệp. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w