1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Một số vấn đề triết học văn hóa

163 365 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Dựa trên quan điểm triết học của Mác, luận án trình bày và phân tích một số nội dung chủ yếu của triết học văn hoá như: sự hình thành, phát triển, bản chất của văn hoá trong hoạt động

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐẶNG HÀ CHI

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRIẾT HỌC VĂN HÓA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội, 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Xác nhận của Chủ tịch hội đồng Người hướng dẫn khoa học:

GS TS Hồ Sĩ Quý PGS TS Nguyễn Anh Tuấn

Hà Nội, 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Những kết quả và nội dung của luận án là trung thực, chưa được công bố ở những công trình nghiên cứu khác

Tác giả

Đặng Hà Chi

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VĂN HOÁ VÀ TRIẾT HỌC VĂN HOÁ 6

1.1 Những nghiên cứu về văn hóa trong triết học trước Mác 6

1.2 Những nghiên cứu tư tưởng của Mác về văn hóa 15

1.3 Các nghiên cứu chính sau Mác về văn hóa 18

1.4 Về khái niệm triết học văn hóa và những vấn đề của luận án 30

Chương 2 VẤN ĐỀ VĂN HOÁ TRONG TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC 37

2.1 Các quan điểm triết học Tây Âu Phục hưng - Cận đại về văn hóa 37

2.1.1 Từ chủ nghĩa nhân văn Phục hưng đến chủ nghĩa duy lý cổ điển: cá nhân tự do và lý tính 37

2.1.2 Chủ nghĩa lịch sử Tây Âu Cận đại về sự phát triển của văn hóa và con người 42

2.2 Quan điểm của triết học Khai sáng Pháp - Đức Cận đại về văn hóa 45

2.2.1 Chủ nghĩa tự nhiên về văn hóa trong triết học Khai sáng Pháp 45

2.2.2 Sự tiếp nối chủ nghĩa tự nhiên về văn hóa trong triết học Khai sáng Đức 51

2.3 Các quan điểm về văn hóa trong triết học Đức thế kỷ XVIII – giữa thế kỷ XIX 56

2.3.1 Quan điểm của Kant về văn hóa 56

2.3.2 Quan điểm của các nhà lãng mạn Đức thế kỷ XVIII về văn hoá 66

2.3.3 Quan điểm của Hegel về văn hoá 71

Kết luận chương 2 75

Chương 3 NHẬN THỨC VĂN HOÁ TRONG TRIẾT HỌC MÁC 77

3.1 Các nguyên tắc duy vật biện chứng trong nhận thức văn hóa 77

3.1.1 Sự phê phán của Mác và Ăngghen quan niệm duy tâm về văn hoá 77

3.1.2 Nguyên tắc khách quan 79

3.1.3 Nguyên tắc trừu tượng hoá 83

3.2 Lao động xã hội phổ biến - thực thể của văn hóa 89

3.2.1 Lao động xã hội phổ biến - nguồn gốc của văn hoá 89

Trang 5

3.2.2 Đặc điểm của lao động xã hội phổ biến 92

3.3 Nguyên tắc lịch sử trong nhận thức văn hóa 96

3.3.1 Sự đa dạng và thống nhất lịch sử của văn hóa 96

3.3.2 Mối tương quan cái đặc thù và cái phổ biến trong sự phát triển văn hóa 102

Kết luận chương 3 107

Chương 4 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC VĂN HOÁ 109

4.1 Tính có mục đích và bản chất văn hóa của hoạt động người 109

4.1.1 Sự hoạt động tự giác có mục đích của con người 109

4.1.2 Đối tượng hoá như một biểu hiện bản chất văn hóa của hoạt động người 113

4.2 Văn hóa và tự nhiên 117

4.2.1 Văn hóa trong sự tương tác con người - tự nhiên 117

4.2.2 Một số đặc điểm của văn hóa biểu hiện qua mối quan hệ con người - tự nhiên 120

4.2.3 Tính chủ động của con người trong mối quan hệ văn hóa - tự nhiên 123

4.3 Tính lịch sử - cụ thể của văn hóa và ý nghĩa văn hóa của lịch sử 126

4.3.1 Tính lịch sử - cụ thể của văn hóa 126

4.3.2 Ý nghĩa văn hóa của lịch sử 128

4.4 Văn hóa và sự phát triển con người trong các hình thức lịch sử-cụ thể 131

4.4.1 Sự trao truyền giá trị văn hóa giữa các thế hệ người 131

4.4.2 Văn hoá và sự phát triển con người trong lịch sử 134

4.4.3 Văn hóa, lao động và phát triển con người ở Việt Nam 139

Kết luận chương 4 145

KẾT LUẬN 146

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 149

TÀI LIỆU THAM KHẢO 150

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Không phải ngẫu nhiên mà trong những năm gần đây các vấn đề triết học của văn hóa lại gây ra sự quan tâm to lớn và lôi cuốn sự chú ý của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước nhiều như vậy Điều đó là do bản thân cuộc sống, những điểm đặc thù và những xu hướng chủ đạo của thời đại lịch sử hiện nay, thực tiễn đổi mới xây dựng đất nước ta theo hướng hiện đại, nhằm đạt tới xã hội “dân chủ, công bằng

và văn minh”, quy định Đối với Việt Nam, nơi đang tạo dựng những tiền đề của chủ nghĩa xã hội thì việc nghiên cứu những vấn đề lý luận, trong đó có những vấn

đề triết học văn hóa lại càng có ý nghĩa cấp thiết, bởi đó là sự suy ngẫm không thể lảng tránh về những việc cần làm để vừa giữ gìn và phát huy bản sắc vừa hiện đại hóa văn hóa dân tộc Việc đạt tới một trình độ văn hóa nhất định là tiền đề quan trọng để đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, như Lênin đã đặc biệt nhắc nhở và nhấn mạnh, bởi vì đây là sự quá độ bao gồm cả bước ngoặt đột phá trong lĩnh vực văn hóa Những triển vọng phát triển của xã hội Việt Nam hiện nay không thể tách rời quan niệm đúng về sự tiến bộ của văn hóa, bản chất, nguồn gốc, động lực và các yêu cầu của nó Điều đó đòi hỏi phải nghiên cứu và giải quyết các vấn đề về bản chất của văn hóa, về mối tương quan của văn hóa với xã hội, văn hóa

và con người, văn hóa và tự nhiên, văn hóa và hoạt động Đó đều là những vấn đề thuộc thẩm quyền của phân tích triết học về hiện tượng văn hóa Sự phân tích triết học về văn hóa có ý nghĩa cả lý luận lẫn thực tiễn Nó còn có giá trị tự thân, bởi lẽ ngoài sự phản tư triết học thì văn hóa chỉ có thể được nhận biết dưới dạng các biểu hiện riêng biệt của nó, chứ không phải như một chỉnh thể lịch sử - xã hội Sự phân tích triết học còn có ý nghĩa phương pháp luận định hướng cho các lĩnh vực khoa học nhân văn khác nghiên cứu các hiện tượng và động thái văn hóa cụ thể

Triết học văn hóa là một ngành khoa học mới mẻ ở Việt Nam và sự xuất hiện của nó trong hệ thống các khoa học nghiên cứu về văn hóa hiện nay đã gây ra nhiều

ý kiến trái ngược nhau Có ý kiến cho rằng nó không thực sự cần thiết, hoặc không thể chứng tỏ được sự khác biệt về đối tượng nghiên cứu với một ngành khoa học cũng nghiên cứu về văn hóa đã đạt được các thành tựu bước đầu là văn hóa học Thậm chí, có người còn phủ nhận sự tồn tại của bộ môn khoa học này Vì thế với tư cách là một người nghiên cứu về triết học và triết học văn hóa, chúng tôi muốn

Trang 7

thông qua luận án này để xác định tính độc lập và tư cách tồn tại của triết học văn hóa trong hệ thống các khoa học về văn hóa Muốn vậy thì phải chứng minh được

sự tồn tại lâu dài của hiện tượng văn hóa gắn với lịch sử ngàn đời của nhân loại đã luôn là đối tượng suy ngẫm của tiền nhân qua các thời đại Đến C Mác các vấn đề

về nguồn gốc, bản chất, chủ thể sáng tạo của văn hóa đã đòi hỏi phải có sự giải quyết thực sự khoa học Thông qua cách giải quyết của Mác các vấn đề đó, ngày nay chúng ta phải làm rõ hơn các cơ sở lý luận, phương pháp luận và nguyên tắc, phương pháp nghiên cứu đặc thù của triết học văn hóa

Tiếp đến, cần phải thấy rằng, để chính sách thực tiễn trong lĩnh vực văn hóa được nhất quán thì nó cần phải dựa trên một cơ sở triết học xác định Vì thế, trong điều kiện mới hiện nay nghiên cứu triết học văn hóa phải dựa trên và gắn kết hữu cơ với việc giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tiến tới nền kinh tế tri thức trong bối cảnh hội nhập hòa cùng xu thế toàn cầu hóa chung của nhân loại trong thế kỷ XXI

Những vấn đề văn hóa, xây dựng văn hóa là những vấn đề được Đảng cộng sản Việt Nam quan tâm chú ý ngay từ những ngày đầu thành lập Sự hưởng ứng tích cực của đông đảo quần chúng nhân dân với các thành tựu văn hóa và việc tạo lập các điều kiện cho hoạt động sáng tạo văn hóa, cho sự nở rộ bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam, sự phát huy và xử lý lại có phê phán những thành tựu của quá khứ và đấu tranh với các tư tưởng và xu hướng phản nhân văn, trái ngược với thuần phong

mỹ tục của dân tộc trong lĩnh vực văn hóa - tất cả chúng và những vấn đề khác nữa đều xuất hiện và được giải quyết ở khắp các thời kỳ phát triển rất khó khăn của đất nước ta suốt hơn 70 năm qua Trong việc nhận diện và giải quyết chúng, ngay từ đầu chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa đã dựa trên học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Thực tiễn đã hoàn toàn xác nhận tính đúng đắn trong đường lối do những lãnh tụ tiền bối của Đảng cộng sản Việt Nam

(ví dụ: Trường Chinh với Đề cương văn hoá Việt Nam 1943) khởi thảo, mà theo đó

việc giành chính quyền về tay giai cấp công nhân, nông dân ở Việt Nam phải trở thành cơ sở và phương tiện đạt tới sự phát triển kinh tế và văn hóa tiên tiến Hồ Chí Minh cũng đã có đóng góp to lớn vào việc phát triển lý luận mácxit về văn hóa

Trang 8

Hiện nay, việc Đảng và Nhà nước ta quan tâm tới phát triển văn hóa xuất phát ngay từ tính tất yếu thực tiễn phải giải quyết các nhiệm vụ kinh tế - xã hội hiện đang rất gay gắt ở nước ta Đảng ta đã xác định, văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, là nền tảng tinh thần nâng đỡ mọi mặt đời sống xã hội Mặt khác, trước quá trình hội nhập và phát triển hiện nay của thế giới, toàn cầu hóa trở thành một xu thế phát triển tất yếu, sự phát triển đất nước còn cần phải đối mặt với quá trình hội nhập văn hóa, việc giữ gìn bản sắc văn hóa cũng là một trong những yêu cầu quan trọng không thể tách rời trong quá trình

đó Mối liên hệ nội tại giữa phát triển văn hóa và giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội trong quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội đã được Lênin nhấn mạnh trong những năm đầu chính quyền Xô Viết: “Cần phải xây dựng nền kinh tế Xô Viết; nhưng muốn thế mà chỉ biết đọc biết viết thôi thì không đủ Chúng

ta còn phải nâng trình độ văn hóa lên thật nhiều” [74, 213]

Chỉ những người có văn hóa mới có thể tạo lập các hình thức đời sống xã hội mới Thế mà các mặt khách quan và chủ quan của sự cải biến xã hội lại luôn quy định lẫn nhau, bởi lẽ khi làm biến đổi thế giới xung quanh, con người cũng định hình bản thân mình như nhân cách có khả năng hoạt động cải biến trên cơ sở nắm bắt tốt các tri thức, kỹ năng, thao tác lao động Sự cần thiết nâng cao văn hóa của nhân dân là còn để tăng cao hơn nữa năng suất lao động xã hội, để hoàn thiện các quan hệ xã hội, và để phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và để hoạt động quản

lý được tốt hơn… Điều này lại càng cấp thiết trong bối cảnh chúng ta đang triển khai sâu rộng cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ theo chiều rộng sang theo bề sâu, phát triển nguồn nhân lực, cải cách thể chế và tái cơ cấu các ngành sản xuất Tất cả đều đòi hỏi phải nâng cao nhiều hơn nữa hiệu quả và chất lượng công việc, củng cố tổ chức và kỷ luật Văn hóa lao động và tư duy sáng tạo trở thành tối cần thiết đối với mỗi người lao động trong hoàn cảnh đó Mặt khác, việc nâng cao văn hóa của quần chúng do các nhu cầu nội tại của sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước đặt ra, cũng đồng nghĩa với sự hiện thực hóa các lý tưởng nhân đạo chủ nghĩa về phát triển nhân cách con người ngày càng đầy đủ và toàn diện hơn, như Mác đã dự định

Như vậy là cần phải vạch rõ và luận chứng cho mối liên hệ nội tại của các quá trình đó Và sự luận chứng đó cần phải dựa trên một cơ sở lý luận triết học xác định

Trang 9

Cơ sở đó, theo chúng tôi, chỉ có thể là cách hiểu duy vật về lịch sử, vì thế một vấn đề cũng rất cấp thiết liên quan đến triết học văn hoá là phải hiểu lại cho đúng thực chất của cách hiểu này Ngoài ra, cũng rất cần một lý luận triết học văn hoá đúng đắn để

có thể quy tụ, dẫn dắt các ngành khoa học khác về văn hoá có những tìm tòi đúng hướng để cùng nhau thúc đẩy văn hoá nước nhà có thêm những khởi sắc Với những

lý do đó NCS chọn Một số vấn đề triết học văn hoá làm đề tài luận án của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: Thông qua việc khảo sát các quan điểm triết học văn hoá trong

lịch sử triết học Tây Âu trước Mác và của Mác, Ăngghen, luận án làm sáng tỏ những vấn đề phương pháp luận nghiên cứu văn hóa, nội dung cơ bản của triết học văn hoá theo tinh thần mácxít

- Nhiệm vụ: + Trình bày và phân tích những nội dung cơ bản của triết học

văn hoá từ thời cận đại đến trước Mác

+ Luận chứng cho cách tiếp cận duy vật lịch sử (phương pháp nghiên cứu) của Mác trong nghiên cứu văn hoá: những nguyên tắc biện chứng duy vật chủ đạo trong việc vạch ra bản chất của văn hoá

+ Dựa trên quan điểm triết học của Mác, luận án trình bày và phân tích một

số nội dung chủ yếu của triết học văn hoá như: sự hình thành, phát triển, bản chất của văn hoá trong hoạt động cải biến đối tượng của con người, một số biểu hiện cụ thể của mối quan hệ văn hoá - tự nhiên - phát triển con người ở các thời đại lịch sử

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: một số vấn đề chủ yếu của triết học văn hoá

- Phạm vi: các quan điểm điển hình về văn hoá từ thời Phục hưng đến nay

Nói rộng ra, phần lịch sử hình thành triết học văn hóa là một nội dung của luận án này nhằm định hướng cho việc vận dụng nhất quán nguyên tắc thống nhất lịch sử - lôgíc để không rơi vào tình trạng thấy triết học văn hóa như một môn khoa học đã cho sẵn, mà phải là “kết quả cùng với quá trình sinh thành ra nó” Điều này đặc biệt quan trọng đối với một ngành khoa học còn mới mẻ và đang chịu nhiều nghi ngờ về tính hợp pháp tồn tại của mình như triết học văn hóa

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: luận án được thực hiện dựa trên quan điểm duy vật lịch sử

mácxít về bản chất hoạt động xã hội của con người, quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý

Trang 10

thức xã hội, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng và những thành tựu nghiên cứu triết học văn hóa mới được công bố gần đây

- Phương pháp: luận án dựa vào nguyên lý duy vật biện chứng về mối liên hệ

phổ biến và phát triển, sử dụng các phương pháp phân tích - tổng hợp, thống nhất lịch sử - lôgic, đi từ trừu tượng đến cụ thể, hệ thống - cấu trúc, văn bản học

5 Đóng góp mới của luận án

- Luận án khảo cứu, phân tích và trình bày có hệ thống, qua đó làm rõ những nội dung triết học văn hóa ở khía cạnh lịch sử hình thành của khoa học này: giới thiệu được một số quan niệm về bản chất của văn hóa, những vấn đề văn hóa được quan tâm từ bình diện triết học qua một số giai đoạn lịch sử ở tây Âu trước Mác

- Thông quan việc nêu và phân tích một số nguyên tắc phương pháp luận trong nhận thức của Mác về văn hóa, luận án đã định hình được các vấn đề mà triết học văn hóa đã và đang phải giải quyết như đối tượng, phương pháp nghiên cứu, từ đó luận chứng được tính độc lập của phân ngành triết học này so với các khoa học khác cũng nghiên cứu về văn hóa

- Bằng việc vận dụng những nguyên tắc đó để phân tích về mặt lí luận một số vấn đề triết học văn hóa: bản chất văn hóa của hoạt động người; văn hóa và tự nhiên; văn hóa và sự phát triển con người trong lịch sử xã hội, luận án chứng minh những giá trị của triết học Mác trong nghiên cứu văn hóa và định hướng cho các ngành khoa học khác nghiên cứu về văn hóa

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Có thể coi luận án là một nghiên cứu chuyên khảo tương đối hoàn chỉnh về những vấn đề triết học cơ bản của lý luận văn hoá Luận án đã khảo sát đối tượng,

cơ sở lý luận và phương pháp luận của triết học văn hóa, bản chất và sự vận động của văn hoá, mối liên hệ của nó với tự nhiên, xã hội, với hoạt động con người

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy

và học tập triết học Mác - Lênin và lý luận về văn hoá

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục công trình của tác giả liên quan đến luận án, Danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 14 tiết

Trang 11

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VỀ VĂN HOÁ VÀ TRIẾT HỌC VĂN HOÁ

Chương này theo quan niệm của chúng tôi và cũng là yêu cầu mà các nghiên cứu hàn lâm phải thỏa mãn được là không chỉ đơn giản liệt kê các tài liệu, hay tác giả nào đã viết liên quan đến đề tài Đối với chúng tôi chương này thực sự sẽ là tổng quan các nghiên cứu, các quan điểm, chứ không đơn thuần là mô tả xem tài liệu hay tác giả này khác nói gì về vấn đề luận án quan tâm, mà quan trọng hơn là do dung lượng luận án có hạn nên chương Tổng quan này thực chất đã phải gánh đỡ nhiều nội dung mà lẽ ra sẽ được trình bày ở chương 2, 3 Do vậy, phần các nghiên cứu tư tưởng triết học văn hóa trước và sau Mác đều khá sâu, gần như trình bày lịch sử vấn

đề chứ không chỉ là điểm tài liệu Nhờ đó có thể làm rõ được bức tranh chung về nghiên cứu văn hóa, của những tác giả nào, độ nông sâu, phong phú của chúng đến đâu Còn tên tài liệu, nơi và thời gian xuất bản thì NCS sẽ trình bày đúng quy định không mấy khi viết tên công trình ở trong Tổng quan mà dùng số trong ngoặc vuông [số thứ nhất chỉ số thứ tự, số thứ hai chỉ số trang của tài liệu] để gửi về Danh mục tài liệu ở cuối luận án Do độ dài luận án bị giới hạn chặt chẽ nên việc trình bày như vậy cũng giúp tiết giảm được một số trang

1.1 Những nghiên cứu về văn hóa trong triết học trước Mác

Trong triết học và khoa học, các phạm trù (khái niệm) thường hình thành muộn hơn rất nhiều so với thời gian xuất hiện của các đối tượng mà chúng phản ánh Cũng vậy, phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng, với văn hóa - hiện tượng phổ biến đã có lịch sử hàng vạn năm, nhưng phải mãi đến thế kỷ XVIII khi thời đại Khai sáng thay thế thời đại Phục hưng, thì thuật ngữ “văn hóa” mới được sử dụng ở châu

Âu [xem: 103; 38] Như A A Migolatev - một giáo sư Nga nghiên cứu văn hóa nhận xét, “Không phải ngẫu nhiên mà chính là vào thời điểm này văn hóa mới tự khẳng định vị trí hợp pháp của mình” [91] Sau thời Trung cổ kéo dài cả ngàn năm, khi con người - chủ thể và khách thể của văn hóa - đã bắt đầu thoát khỏi sự thống trị của kinh viện tôn giáo và những hình thái thế giới quan thánh thần, họ mới có những điều kiện lịch sử để tách ra khỏi cái thế giới vây quanh và xem xét sự tồn tại của mình trong mối liên hệ với văn hóa Từ đây văn hóa được quan niệm không phải là sự tồn tại của

Trang 12

tự nhiên hay là sản vật do Chúa trời sinh ra, mà là sản phẩm từ quá trình lịch sử con người xây dựng môi trường sống của mình và chính bản thân mình

Vì thế có thể chỉ ra nhiều giai đoạn lịch sử trong sự tiến hoá của các quan niệm triết học xã hội về văn hóa như tác giả nêu trên và V.M Rôdin [114] đã chỉ ra Giai đoạn thứ nhất gắn với hệ thần thoại, các tín ngưỡng bí truyền sơ kỳ và đa thần giáo, rồi gắn với sự xuất hiện các tôn giáo lớn (Do thái giáo, Phật giáo, Ky tô giáo, Hồi giáo), kế đến là gắn với thời Cổ đại và Trung cổ Lúc đó thuật ngữ “văn hóa” còn chưa được dùng, nhưng thời này ở phương Đông (Ai Cập, Trung Hoa, Ấn Độ, Trung

và Cận Đông) cũng như ở phương Tây (Hy Lạp, La Mã cổ đại) con người đã đạt được những thành tựu văn hóa rực rỡ và chúng đã được phản ánh cả trong triết học Các nhà tư tưởng lớn của thời cổ đại như Khổng tử (551 - 479 TCN), Đemocrite (460

- 371 TCN), Socrate (469 - 399 TCN), Platon (427 - 347 TCN), Aristote (384 - 322 TCN), Epicure (341 - 270 TCN)… bằng các tư tưởng của mình đã làm giàu thêm cho cách hiểu về văn hóa

Nhiều tài liệu lịch sử triết học mà chúng tôi tiếp cận được đều cho rằng, các nhà ngụy biện (Protagor, Georgy, Gippi…) vốn đứng trên lập trường tương đối chủ nghĩa về phương pháp luận ở Hy Lạp cổ đại là những người đầu tiên chỉ ra được tính chất đối lập giữa khởi điểm tự nhiên và cái đích thực mang tính người, cái đạo đức (như quan niệm thời đó về thế giới văn hóa của con người) Nét nổi bật của thế giới

tự nhiên là luôn biến đổi, không bền vững, vì vậy, theo các nhà ngụy biện, nhận thức của con người về nó cũng mang tính tương đối Nhận thức đó không đủ độ tin cậy, thiếu khách quan Do vậy, kết luận là, tồn tại của con người không hoàn thiện và thiếu bền vững, nó cần phải quay trở lại với tự nhiên, hoà nhập vào tự nhiên Từ đó, nhận thức luận của các nhà nguỵ biện đã quy định lập trường phê phán của họ đối với môi trường văn hóa sống do con người tạo ra cho chính mình [xem: 51, 133-134]

Những người theo phái khắc kỷ (Antisfen, Diogen Sinovsky, Cratet…) còn phủ nhận văn hóa một cách cực đoan hơn nữa Họ cự tuyệt những nguyên tắc và quy phạm đạo đức đã được xã hội Hy Lạp thừa nhận chủ yếu bằng cách hành xử, bằng lối sống

“thiếu văn hoá”, ngang tàng của mình Họ tuyên bố con người có quyền tự do tinh thần tuyệt đối, không cần đạo đức, có thể chà đạp các quy ước xã hội và các luật lệ của nhà nước để chọn cách sống bị xem là nhục nhã muôn đời: “không cộng đồng, không nhà cửa, không quê cha đất tổ” [Trích theo: 91, 3] Trên thực tế, họ sống bên ngoài xã hội,

Trang 13

bất chấp văn hóa, và như những “công dân thế giới” họ thực sự không phụ thuộc và không nhận ra sự chống đối xã hội trong lối sống của mình

Kiểu sống có tính chất phản kháng của các tín đồ chủ nghĩa khắc khổ trong

xã hội chiếm nô rất bất công với họ, mặc dù là rất phản văn hóa, song sau này vẫn được duy trì ít nhiều ở nơi này nơi khác trên trái đất Ví dụ, một số quan điểm khắc

kỷ chủ nghĩa Hy Lạp (thế kỷ III - I TCN) hay chủ nghĩa khổ hạnh Ky tô giáo vốn chối bỏ nền văn hóa thế tục tồn tại xung quanh nó Ở phương Đông hiện tượng tương tự như lối sống tu ép xác nêu trên cũng có ở những người luyện môn Iôga, hay thời hiện đại ở phong trào Hippy của một số thanh niên buông thả thất vọng về các giá trị của xã hội công nghiệp Những người theo chủ nghĩa khổ hạnh từ cổ xưa cho đến ngày nay đều muốn đẩy thái độ chống đối văn hóa hoàn toàn của mình đến chỗ cực đoan nhất (nghèo khổ, hành khất, ngây dại, dâm loạn, mất hết liêm sỉ…), và bằng cách đó nhấn mạnh mâu thuẫn hiện tồn không thể giải quyết được giữa con người và xã hội nơi họ sống

Đến thời Trung cổ, đa phần các quan niệm về văn hóa đều mang tính tôn giáo - thần bí Tuy nhiên, ngay cả ở Thomas Aquinas (1225 - 1274) - nhà triết học

và thần học tiêu biểu, người đã hệ thống hoá tri thức kinh viện Ky tô giáo chính thống, thì cũng cho rằng con người vốn được Thiên chúa ban cho các đặc điểm của một giá mang văn hóa [xem: 50, 130-131] Đối với tri thức tôn giáo cổ điển thì cá nhân là “sinh vật cao quý nhất trong toàn thể giới tự nhiên có trí khôn” [4, I, q.20, a.1] Đồng thời với việc bảo vệ quyền năng tối cao của Giáo hoàng La Mã, cũng như Aristote, Aquinas đã xuất phát từ nhận định rằng con người là một sinh vật xã

hội, do vậy là một vật mang văn hóa Như JA Gurevich trong tác phẩm Các phạm

trù văn hóa trung cổ [xem: 24, 57] nhận xét, triết học về văn hóa thời trung cổ đã

tồn tại dưới hình thức một thứ “thần học văn hóa” Nhưng như thế cũng không có nghĩa là, “thời đại Trung cổ không sử dụng lý trí con người, không phải nó cắt đứt quan hệ với nguồn tư tưởng cổ đại Hy-La Trái lại, thời đại Trung cổ vẫn nghiên cứu và giảng dạy Aristote, nhưng chỉ khai thác khía cạnh “luận lý” (tức lôgic học - NCS) trong hệ thống tư tưởng của triết gia đó” [138, 47-48]

Thời đại Phục hưng ở châu Âu (thế kỷ XIV-XVI), như nhà nghiên cứu V.M Mezhuev nhận xét, là thời kỳ đặc biệt đánh dấu sự quá độ từ văn hóa Trung cổ sang văn hóa Cận đại [Xem: 90, 14-20] Trong lĩnh vực triết học và thi ca giai đoạn này

Trang 14

Đante đã có những tác phẩm triết học và chính trị mang nội dung toàn nhân loại và mang đậm ý nghĩa nhân đạo Niềm tin vào những khả năng vô hạn của lý tính con người được thể hiện trong các tác phẩm của những nhà triết học lớn người Italia thế

kỷ XV như Pico Mirandira và Lorenso Valla, những người đã lên tiếng đòi giải phóng con người khỏi chủ nghĩa khổ hạnh Ky tô giáo Các tác phẩm trong lĩnh vực nghệ thuật mang tính nhân đạo của các nhà tư tưởng thời Phục hưng đã có những ảnh hưởng rất sâu rộng về mặt văn hóa Trước hết phải kể đến những kiệt tác của Leonardo de Vinchi, Raphael, Mikelangelo… Cũng như ở thời Cổ đại, thời đại Phục hưng đã khôi phục lại địa vị của kiến trúc thế tục (cung điện, tượng đài…) Văn hoá Phục hưng đã đem lại cho châu Âu và thế giới những tác phẩm thấm nhuần tinh thần nhân đạo như những bản nhạc của Petrarky, truyện ngắn của Boccachio (“Decameron”), bi kịch của Shakespeare, văn xuôi của Servantes (“Don Kihote), các tác phẩm châm biếm của Rabelais (1494 - 1553) [xem 138, 72-107] và của Rotterdamsky, các tác phẩm triết học - đạo đức đầy tư tưởng phóng khoáng hoài nghi của Montaigne (1533 - 1592) [xem 138, 108-159]

Các nhà nghiên cứu đều cho rằng, Phục hưng là thời kỳ con người dần được coi là trung tâm của sự phát triển văn hóa thế giới Các nhà nhân văn chủ nghĩa theo thuyết con người là trung tâm trong khi xem con người là mục tiêu của sự tiến hoá

xã hội, đều đã tập trung chú ý vào giá trị tự thân của con người, bảo vệ các quyền tự

do và mưu cầu hạnh phúc cá nhân Đúng như Ăngghen nhận định trong Biện chứng

của tự nhiên, họ là những người khổng lồ xây dựng nền thống trị hiện đại của giai

cấp tư sản trong cuộc đảo lộn vĩ đại nhất, có tính chất tiến bộ mà lịch sử nhân loại chưa từng biết [xem 82, 459-460] Từ kho tàng văn hóa Cổ đại các nhà hoạt động Phục hưng rất đề cao tính người trong các quan điểm triết học của Socrates và Epicure Phát huy truyền thống văn hóa thời Cổ đại các nhà Phục hưng đã khơi dậy

từ đó hệ vấn đề con người, coi con người là đấng sáng tạo ra chính số phận của mình, là những vĩ nhân, đứng ngang hàng trên trần gian với Thượng đế Họ đã bảo

vệ được một luận điểm triết học văn hóa quan trọng rằng, không phải sự trực quan

giản đơn, mà hoạt động cải tạo, can thiệp vào tự nhiên, mới là phương thức tồn tại

của con người trong thế giới Có thể nói, chính xây dựng là đặc trưng của hoạt động

con người, nếu không có nó thì không có văn hóa

Trang 15

Những thành tựu của thời kỳ Phục hưng trong lĩnh vực nghệ thuật đã được các nhà triết học của thời này giải thích như là bằng chứng về việc gán cho cái đẹp một ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống con người và là cái hình thành nên nhân cách phát triển cao Những tư tưởng mới mẻ đó đã được N Machiavelli (1469 - 1527) đề ra trong lĩnh vực chế độ nhà nước và xã hội [xem 138, 49-53] Vào thời Phục hưng đã xuất hiện học thuyết về các quyền tự nhiên của con người Ước vọng dựng xây một môi trường sống xã hội - văn hóa cao đẹp mang tính người đã thể hiện trong việc xây nên các xã hội không tưởng (utopia) Sau quan niệm của Platon

từ thời Cổ đại về một nhà nước lý tưởng và hoàn hảo, vào thời gian này đã xuất hiện

Không tưởng của Thomas More (1478 - 1535) và Thành phố mặt trời của Tommazo

Campanella (1568-1639) [xem 50, 148-151]

Nếu như vào thời Trung cổ, văn hóa tôn giáo đã ngự trị ở châu Âu suốt thời gian dài và quyền lực của Nhà thờ mà đại diện là Thánh toà Vatican đã đóng vai trò hàng đầu, thì cuộc cải cách tôn giáo của M Luther (1483 - 1546) và J Calvin (1509

- 1564) đã dẫn tới việc xét lại căn bản những giáo lý và thiết chế cơ bản của Ky tô giáo Cuộc cải cách đó đã khẳng định rằng, con người cần phải chịu trách nhiệm cá nhân trước Chúa trời chứ không phải là thông qua nhà thờ [xem 49, 72-73] Các cuộc chiến tranh tôn giáo khởi đầu ở châu Âu đã dẫn đến chỗ nhiều nước đã phải

mở rộng các quyền tự do chính trị và tôn giáo Uy tín của Nhà thờ đã dần nhường chỗ cho uy tín của quyền lực thế tục, của nhà nước Các cuộc cách mạng ở Hà Lan (thế kỷ XVI) và ở Anh (thế kỷ XVII) đã không chỉ có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị, mà cả về văn hóa - xã hội, thể hiện rõ một điều là, tự do, tính khoan dung tín ngưỡng dần dần được khẳng định Nhà thờ tách khỏi nhà nước [xem: 138, 167-181] Nhờ đó, văn hóa thế tục đã bắt đầu đóng vai trò chủ đạo ở các nước châu Âu

và cả ngoài biên giới của nó Cùng với khí thế cách mạng phản phong lên cao và việc thiết lập chế độ cộng hoà tư sản, thì nền văn hóa chính trị mới cũng từng bước được hình thành Những tư tưởng yêu chuộng tự do đặc trưng cho xã hội công dân

và nhà nước pháp quyền phát triển mạnh mẽ

Thời kỳ Phục hưng đã chuẩn bị những tiền đề cần thiết về mặt kinh tế - xã hội (mà trước hết là nền sản xuất công xưởng và những mối quan hệ lao động làm thuê gắn liền với nó) cho sự phát triển của sản xuất và các thị trường quốc gia và xét đến cùng là cho việc xác lập những nguyên tắc tự do kinh tế, nền văn hóa mới của

Trang 16

doanh nghiệp tư nhân và cạnh tranh Như vậy, vào thời Phục hưng, quan niệm triết học xã hội về văn hóa đã được cụ thể hoá thành lý luận và thực tiễn phát triển xã hội, trong quá trình tiến hoá của bản thân văn hóa, của học thuyết về con người, chính trị (nhà nước), tôn giáo (nhà thờ) và đời sống kinh tế Vào thời đó, các phát kiến địa lý vĩ đại, hay việc Copernic đưa ra thuyết nhật tâm, cũng như các thành tựu khoa học tự nhiên và y học… khác đã có ý nghĩa văn hóa chung

Trên cơ sở tư tưởng Phục hưng - một cơ sở có tầm ý nghĩa to lớn về các mặt thế giới quan, vào thời Cận đại đã bắt đầu hình thành các quan niệm khá hoàn chỉnh lấy văn hóa làm đối tượng của suy ngẫm triết học Trong phần này chúng tôi sẽ điểm lại các nghiên cứu chính về quan điểm của một số triết gia thời Cận đại về văn hóa, những gì liên quan đến nó và những biểu hiện của nó Nhiều học giả hiện đại

đã nhất trí rằng, khái niệm văn hóa và sự nghiên cứu nó đã hình thành trong lòng sâu tư tưởng triết học khi bàn đến vấn đề tính đặc thù và các cơ sở của nghiên cứu lịch sử về xã hội và con người [xem 114, 74] Do vậy, các tư tưởng triết học văn hóa bao gồm “các cách tiếp cận… nghiên cứu bản chất, mục đích và giá trị của văn hóa, các điều kiện và các hình thức biểu hiện của nó Có rất nhiều cách tiếp cận như vậy trong triết học và các khoa học xã hội nhân văn nói chung và triết học văn hóa

“thường hoá ra là đồng nhất với triết học lịch sử” [xem 114, 80] Theo V.M Mezhuev, “triết học làm sáng tỏ không phải quan hệ lý luận, mà là quan hệ thực tiễn của con người với văn hóa; vạch rõ không phải đơn giản điều kiện để con người có tri thức về văn hóa, mà là vạch rõ điều kiện để con người tồn tại trong văn hóa…” [trích theo: 114, 75] Con người trong trường hợp này được hiểu không phải là “con người nói chung”, mà là mô hình nhân cách, cá tính đang được toàn bộ nền văn hóa châu Âu hình thành, trở thành kẻ sáng tạo và tác nhân của nó

Đáng lưu ý quan điểm của giáo sư triết học Đại học Hắc Long Giang Trung Quốc - Y Tuấn Khanh Theo ông, từ thời Cổ đại Hy Lạp, chủ nghĩa duy lý luôn là một trong những tinh thần cơ bản của văn hoá phương Tây, các nhà triết học Hy Lạp Cổ đại trên tầng diện bản thể luận “lý tính vũ trụ”, kiến tạo nên văn hoá duy lý của người phương Tây: thế giới là một kết cấu tồn tại hợp lý tính (logos), con người với tư cách là vật tồn tại của lý tính có thể thông qua lý tính để nắm bắt kết cấu của thế giới, từ đó khống chế và thao túng giới tự nhiên Trong thời cận hiện đại, chủ nghĩa duy lý này kết hợp với khoa học hiện đại, hình thành nên chủ nghĩa duy lý kỹ

Trang 17

thuật Một mặt, người ta tin rằng con người có thể dựa vào lý tính dùng kỹ thuật để khống chế và chinh phục vô độ giới tự nhiên mà không cần viện dẫn bất kỳ một thực thể hoặc lực lượng siêu nhiên nào; mặt khác, người ta tin rằng kết quả của việc con người bằng lý tính và chinh phục bằng kỹ thuật đối với giới tự nhiên tất nhiên

sẽ là sự tăng cường tự do và tính chủ thể của con người, và sẽ dẫn tới sự giải phóng

và hoàn thiện viên mãn cuối cùng của con người Chủ nghĩa duy lý kỹ thuật này trong mấy thế kỷ luôn là lực lượng chống đỡ chủ yếu về mặt văn hoá cho sự phát triển khoa học kỹ thuật và nền văn minh công nghiệp phương Tây [xem 67]

Còn Mezhuev đã chỉ ra rằng, sau khi xuất hiện ở thế kỷ XVII “ý niệm về văn hóa” bởi các nhà duy lý và cả duy kinh nghiệm như Bacơn (1561 - 1626), Descartes (1596 - 1650), Hobbes (1588 - 1679), đến Xpinoza (1632 - 1677), Locke (1632 - 1704), Leibniz (1646 - 1716)…, thì văn hóa được các nhà Khai sáng hiểu là “cái đồng nghĩa với sự hoàn thiện con người về mặt đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ, với nghĩa rộng là về lý tính, trong quá trình phát triển lịch sử của nó… ý niệm này đã đưa vào nhận thức lịch sử quan niệm về trật tự, tính ràng buộc với nhau và tính có trình tự của tiến trình lịch sử,… nó bao hàm trong mình quan niệm về các đặc điểm tồn tại

và phát triển của con người trước hết là trong khuôn khổ lịch sử châu Âu” [trích theo 114, 82] Điều này diễn ra lần đầu tiên vào thế kỷ XVIII, khi ở Pháp và nhiều nước châu Âu hình thành phong trào Khai sáng - một sự tổng hợp nhất định các tư tưởng triết học, xã hội, chính trị, các trào lưu văn hóa mang nội dung dân chủ chống lại chế độ chuyên chế phong kiến, sự o ép của Nhà thờ Ky tô giáo

Các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, đối với I Kant (1724 - 1804), Khai sáng là thời đại phát triển lịch sử tất yếu của nhân loại, bản chất của nó là sử dụng rộng rãi lý tính con người để hiện thực hoá tiến bộ xã hội Chỉ có thể phát huy và vận dụng lý tính với điều kiện có tự do, thông qua việc vượt qua sự áp bức nô dịch, nhờ sự hoàn thiện đạo đức của con người để phát triển xã hội Nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hoàng đã điểm lại các lý giải theo nhiều cách khác nhau “vấn đề văn hóa trong hệ thống triết học của I Kant” [42, 39] và cho rằng Kant đã kế thừa từ các triết gia cổ đại quan niệm về đạo đức như là nội dung chung và tiêu chí của phát triển văn hóa Trong quan niệm của mình về mệnh lệnh tuyệt đối ông đã trình bày

tư tưởng cơ bản về đạo đức trong quan hệ của con người với nhau Về thực chất, Kant muốn nói về một nền văn hóa giao tiếp đích thực của con người, một nền văn

Trang 18

hóa phải trở thành quy luật có tính phổ biến Ý nghĩa của nó đối với Kant lớn đến mức ông đã so sánh quy luật đó với những điều kiện tồn tại loài người, bởi vậy ông thấy có hai thứ khiến tâm hồn ông tràn đầy cảm xúc ngạc nhiên thú vị - đó là bầu trời đầy sao và quy luật đạo đức trong ta Liên quan đến vai trò của các nội dung văn hóa, con người có thể có khả năng đối sánh các giá trị vĩnh hằng của văn hóa nằm rất xa ngoài giới hạn môi trường sống trực tiếp của mình [xem 130 và 132] Ở đây ý nghĩa của khoa học như một thành tố quan trọng của văn hóa là hết sức to lớn Nhưng như Migolatev đã ghi nhận, Kant lại không đồng tình với ý kiến của Socrate cho rằng cái thiện và tri thức là trùng hợp với nhau và thiếu hiểu biết là nguồn gốc

duy nhất của sự vô đạo đức Trong công trình Siêu hình học đạo đức Kant đã xác

nhận tính tự trị của đạo đức, tính độc lập về nguyên tắc và giá trị tự thân của các nguyên tắc đạo đức [91, 7] Rõ ràng, Kant đã cho rằng lý tính thực hành (đạo đức) đứng trên lý tính lý luận (tri thức), bởi ông gắn văn hóa trước hết với hành vi ứng xử của con người, còn tri thức vẫn là cái thứ yếu Cái chính yếu trong bản chất con người

là tự do, mà văn hóa hành xử lại bắt nguồn từ tự do đạo đức Còn bản thân tự do đó lại dựa trên cơ sở ý thức và việc thực hiện nghĩa vụ của con người trước chính mình

và những người khác Như vậy, quan niệm về văn hóa đạo đức của Kant đã vượt khỏi phạm vi chủ nghĩa duy lý Khai sáng của Socrate và những người cùng thời ở Pháp

Những tư tưởng của Kant về văn hóa, những quan điểm trong lĩnh vực này của các nhà tư tưởng nửa cuối thế kỷ XVII đến đầu XIX như Herder, Fishter, Shelling đã được vận dụng một cách sáng tạo và phát triển phong phú hơn trong quan niệm triết học văn hóa của Hegel (1770 - 1831) [xem 42, 67-78] Hegel đã

xem xét sâu sắc hệ vấn đề này trong các tác phẩm lớn như Hiện tượng học tinh

thần, Những bài giảng về lịch sử triết học, Những nguyên lý triết học pháp quyền,

Mỹ học, Khoa học lôgíc… Điểm đặc thù của quan niệm Hegel về văn hóa là, ông

kiến giải nó như là sự hiện thực hoá lý tính thế giới Sự tự thực hiện của ý niệm tuyệt đối trong lòng của lôgíc học, của tự nhiên, cái chủ thể, cái khách thể và tinh thần tuyệt đối được Hegel xét như một quá trình lịch sử mà trong đó, văn hóa là yếu

tố nội tại của cái tuyệt đối Mặc dù bị thần bí hoá, nhưng tư tưởng về sự phát triển

có tính phổ biến của văn hóa đã mang ý nghĩa nổi bật Nhờ cách tiếp cận đó, toàn

bộ sự tiến hoá của loài người đã được coi như một dòng văn hóa thống nhất, từ đó tách ra các hình thức mang tính lịch sử của từng khu vực và dân tộc như tôn giáo,

Trang 19

nghệ thuật, khoa học, pháp luật, đạo đức… Quan niệm triết học văn hóa của Hegel cũng đã nhấn mạnh rằng, văn hóa tinh thần của loài người dưới dạng ý niệm tuyệt đối có nguồn gốc bên trong, tự nhận thức và tự phát triển, còn các hình thức của nó thì không là các bản chất độc lập, mà chỉ là các biểu hiện cụ thể của lý tính thế giới

Như E.V Ilenkov nhận xét, ưu điểm của cách hiểu này là văn hóa được lý giải trên bình diện rộng nhất, nó như là phương thức hình thành sự tồn tại của con người và loài người, như là thực thể tinh thần toàn thế giới tự khai triển ra Tuy nhiên, cách hiểu này cũng có hạn chế là quá trừu tượng và không đánh giá đúng tính độc lập tương đối của các hình thức văn hóa của mỗi dân tộc và nhất là của từng cá nhân Thành thử, ở Hegel, các hình thức đó không mang giá trị tự thân, chúng là do

lý tính (tinh thần) thế giới gán cho con người từ bên ngoài, “bằng sự phát triển của văn hóa đã có từ trước khi có con người” [trích theo: 91, 8] Thế giới tinh thần của con người chỉ là sự sao lặp, tái hiện các giai đoạn, thời đoạn và hình thức phát triển của ý niệm tuyệt đối mà thôi Lịch sử của văn hóa tinh thần và bản chất của nó đã được Hegel trình bày như là sự chuyển hoá của tinh thần phi nhân cách, nhận thức mình trong quá trình thay thế tuần tự các hệ hình và hình thức văn hóa khác nhau Theo đó, cái tạo dựng nên nó và nhận thức nó không phải là chủ thể tổng hợp - loài người; đấng sáng tạo nên văn hóa là Lý tính độc lập với con người, mà xét cho cùng

là cái gì đó siêu nhiên, ở bên ngoài Trong sự hình dung cụ thể của Hegel, Lý tính

đó chính là Chúa trời Như thế chủ nghĩa duy lý bao trùm lên tất cả của Hegel cũng được áp cả sang lĩnh vực văn hóa Điều này dẫn đến việc văn hóa bị quy giản về tư duy lý luận, lôgíc học, hoạt động nhận thức, về khoa học, và do vậy giá trị tuyệt đối của văn hóa là phát triển tính phổ biến của tư duy [xem 131]

Như vậy, trong quan niệm của Hegel lý tính bắt nguồn không phải từ tư duy tổng hợp của con người, mà ở trên cá nhân, trên con người, nằm ngoài con người, tự tồn tại khách quan, siêu nghiệm Hegel đã đồng nhất khoa học với văn hóa Đành rằng, vai trò của khởi điểm duy lý trong văn hóa rất lớn, nhưng nếu xét về bản chất

và nội dung thực tế, thì văn hóa là một hiện tượng còn rộng lớn và hàm súc hơn rất nhiều so với khoa học Văn hóa là thành quả không chỉ của hoạt động tư duy, mà là của toàn bộ hoạt động cảm tính của con người Cho dù sau này Hegel có phân biệt văn hóa lý luận và văn hóa thực tiễn, thì điều đó cũng không giúp ông tránh được sự phê phán này Nghĩa là văn hóa không chỉ tuân theo cái logos, mà còn tuân theo

Trang 20

những sai khiến của trái tim đầy cảm xúc Lịch sử là sự thống nhất của ý niệm khách quan và sự đam mê chủ quan của con người Cách ghi nhận này của Hegel về

sự thống nhất giữa hai yếu tố chủ quan và khách quan trong quá trình lịch sử, trong

sự hình thành và phát triển của văn hóa là bắt nguồn từ quan niệm của ông về tính tất yếu lịch sử của việc con người hướng tới tự do Ít nhất là cũng đã nhấn mạnh rằng chính con người sáng tạo nên văn hóa, phát triển, làm giàu và hoàn thiện những giá trị vĩ đại của họ Song Hegel cũng ý thức được rằng, để làm chủ văn hóa con người cần phải có những nỗ lực rất lớn và biết tự kiềm chế bằng lý trí Theo định nghĩa tuyệt đối về văn hóa, nó là sự giải phóng và công việc giải phóng bậc cao Công cuộc này cần được dẫn dắt bởi tư duy biện chứng siêu vượt được nghiên cứu bởi lôgíc học với chữ L viết hoa (Lênin), lôgíc biện chứng, mà như đánh giá của Nguyễn Huy Hoàng, chính là Lôgíc văn hóa của nhân loại [42, 72] Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với sự đánh giá này

1.2 Những nghiên cứu tư tưởng của Mác về văn hóa

Tác giả Hồ Sĩ Quý cho rằng “chỉ có vài lần C Mác và Ph Ăngghen trực tiếp

nhắc đến thuật ngữ văn hóa” [108, 30] và Lê Thuý Hạnh cũng viết, Mác “rất hiếm

khi sử dụng khái niệm văn hóa” [29, 60], nhưng trong học thuyết của ông, tư tưởng

về văn hóa được thể hiện sinh động và sâu sắc mà có thể dựa vào đó để tìm ra nhiều chỉ dẫn lý luận và phương pháp luận hữu ích cho nghiên cứu và thực hành văn hóa, bởi nó là sự tiếp nối và phát triển các quan niệm về văn hóa từ toàn bộ truyền thống triết học trước đó với tư cách một hiện thực mang tính người rất gần nghĩa với quá trình đào luyện Nếu trong quan niệm của Kant, văn hóa được xem xét trước hết trong bối cảnh sự tiến bộ ý thức đạo đức của chủ thể, còn quan niệm triết học văn hóa của Hegel lại mang tính chất duy tâm khách quan, thì Mác đã giải thích nó trong khuôn khổ cách hiểu duy vật về lịch sử, đặt nó trong học thuyết hình thái kinh

tế - xã hội Dựa trên phương thức sản xuất khác nhau, mỗi hình thái đều sản sinh ra văn hóa mà dấu hiệu khu biệt của nó là đặc trưng giai cấp Nhưng không chỉ đơn giản có vậy, theo nhiều tác giả trong và ngoài nước, Mác kết hợp cách hiểu về văn hóa theo thuyết hình thái với quan niệm về nó như một chỉnh thể lịch sử xác định, bao gồm trong nó cả những thành tựu văn hóa kế thừa của các hình thái trước đó [Xem 134] Sự kết hợp này cho phép có được cái nhìn rộng hơn về văn hóa, bởi vì văn hóa, nguồn gốc của nó, sự tiến hoá và những kết quả của nó đã được thấy ra

Trang 21

trong sự thống nhất với sự phát triển lịch sử của xã hội chứ không phải như một cái

gì đó cô lập, tự đủ và có giá trị tự thân, bị quy định bởi chính mình Hơn thế, Mác còn khắc phục được cách tiếp cận siêu hình, kiểu liệt kê các sản phẩm văn hóa, coi

nó chỉ là kết quả của những thành tựu do kế thừa; để xác nhận tính biện chứng của văn hóa thì phải hiểu nó như là một quá trình hoạt động của con người, tổng hoà những yếu tố gắn kết chặt chẽ và tương tác với nhau, thống nhất với nhau nhờ những phẩm chất hệ thống xác định

Lê Ngọc Anh (2003) trong bài báo [2] đã khẳng định, Mác đưa ra một quan niệm độc đáo về văn hoá: coi văn hoá là toàn bộ những thành quả, cả vật chất, lẫn tinh thần, được tạo ra nhờ hoạt động lao động sáng tạo của con người, là “giới tự nhiên thứ hai” Theo đó, văn hoá chính là khái niệm phản ánh tính đặc thù của hoạt động con người trong thế giới Ranh giới phân biệt giữa phương thức hoạt động sống của con người với phương thức hoạt động sinh tồn của loài vật chính là văn hoá, văn hoá thể hiện sự giải phóng của con người khỏi thế giới tự nhiên và thế giới thần thánh Như vậy, Mác đã làm rõ tính đặc thù và nội dung của hoạt động người Điều này có thể còn được tìm thấy trong nhiều tác phẩm khác của Mác và Ăngghen,

đặc biệt trong Bản thảo kinh tế những năm 1857 - 1859 [88 và 89] và Tư bản [84 và

85] Tuy nhiên, chúng cũng là đối tượng phân tích của luận án này, nên chúng tôi dành lại để viết ở phần nội dung

Nhưng ngay ở đây đã có thể nói, cách tiếp cận như thế của Mác đối với văn hóa được tác giả Hồ Sĩ Quý, nối tiếp các nhà triết học Liên Xô, định danh là tiếp cận hoạt động [xem 108] và được Nguyễn Huy Hoàng phân tích so sánh bằng loạt

bài báo như Sơ bộ đối chiếu khái niệm “văn hóa” trong triết học C Mác với khái

niệm “văn hóa” trong triết học cổ Trung Hoa và Tiếp cận hoạt động trong triết học văn hóa, hoặc Tiếp cận hoạt động của C Mác - cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu và phát triển văn hóa con người ngày nay [xem 42, 23-37 và 138-167]

Rộng hơn, tác giả đã nêu ra các (4) cách tiếp cận macxit chủ yếu thường được dùng trong nghiên cứu văn hóa và có lẽ, ít nhiều chúng cũng đã thể hiện ở Mác [xem 42, 24-26] Điểm chung của tất cả các cách tiếp cận này là bằng cách này hay khác đều

cố gắng vận dụng các nguyên lý của triết học macxit mà trước hết là vận dụng nhận thức duy vật lịch sử của Mác làm cơ sở phương pháp luận nghiên cứu của mình, và cũng đều khẳng định văn hóa là một hiện tượng xã hội và để hiểu bản chất của nó

Trang 22

thì không có con đường nào khác là phải xem xét văn hóa trong chính sự vận hành

và phát triển của hoạt động sống xã hội vốn có chủ thể, như là cả một khối cá thể được liên kết với nhau bởi một cộng đồng xã hội lịch sử [xem 42, 130], tức là con người trong tổng thể các mối quan hệ xã hội sản sinh ra tổng thể các đồ vật có giá trị trong quá trình lịch sử Con người không chỉ khám phá các thuộc tính tự nhiên của sự vật mà còn cho chúng một hình thức mới: hình thức nhân hoá Những kinh nghiệm, tri thức, thị hiếu, sức lực, khả năng và nhu cầu của rất nhiều thế hệ khác nhau đã in dấu ấn trong các hình thức này Các vật trở thành đồ vật trong thế giới con người, mang hình thức nhân hoá chỉ khi nó mang trong mình một thuộc tính đặc biệt - một nội dung xã hội Theo E.V Ilenkov [62] và Mezhuev [xem 90, 131], chính Mác đã xác định thuộc tính đó như khả năng của vật này trở thành đại diện của quan hệ xã hội, trở thành hình thức mà trong đó người này tồn tại cho người khác, xã hội tồn tại cho con người và con người đối xử với chính bản thân mình như một thực thể xã hội Như vậy giá trị văn hóa của đồ vật chính là mức độ nó trở thành đồ vật của thế giới con người, là mức độ con người trở thành người như thế nào Thế thì mối quan hệ của con người với đồ vật lại là mối quan hệ với chính bản thân mình và với người khác

Do vậy, theo Hồ Sĩ Quý, đã đến lúc cần bổ sung cho cách tiếp cận giá trị và hoạt động của Mác trong nghiên cứu văn hóa thêm “quan điểm coi văn hóa như một cấu trúc nằm ở tầng sâu đời sống xã hội, quy định toàn bộ hoạt động xã hội” [108, 30] nhằm đề cao vai trò của các nhân tố văn hóa liên hệ với nhân tố con người trong việc phát triển toàn xã hội nói chung và từng lĩnh vực nói riêng Thực ra, sự bổ sung, mở rộng này vẫn nằm trong khuôn khổ tiếp cận biện chứng của Mác về mối quan hệ mâu thuẫn giữa tiền đề và kết quả, mục đích và phương tiện trong hoạt động của con người xã hội Mục đích cuối cùng của phát triển xã hội, như Mác quan niệm, là sự phát triển toàn diện tự do của mọi người, mặt khác, xã hội là kết quả hoạt động sáng tạo của mỗi người Trong các quan hệ mâu thuẫn đó, thì văn hóa là

“cái thứ ba - trung gian”, là cơ chế để giải quyết nó, bởi lẽ phát triển và mở rộng phương thức hoạt động, quan hệ xã hội và khả năng sáng tạo của con người là mục đích đồng thời cũng là động lực, là nhân tố quyết định sự tiến bộ xã hội

Liên quan đến các nghiên cứu tư tưởng Lênin về văn hóa, có thể kể ra các

công trình ít nhiều có liên quan của Hoàng Văn Vinh (1996), Một số vấn đề lý luận

Trang 23

văn hoá thời kỳ đổi mới [142]; Nguyễn Khoa Điềm (2001), Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trước thềm thế kỷ mới [21];

Đỗ Huy (2003), Thẩm định chức năng của văn hóa trên bình diện triết học Macxit

[54] Các tác giả đã nêu tên đều tập trung làm rõ việc Lênin đã kế thừa, phát triển

tư tưởng của Mác, Ăngghen về văn hóa và một số quan điểm của Người trong lĩnh vực này như sự nhấn mạnh tính giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân của văn hóa, luận điểm về hai dòng văn hóa của văn hóa dân tộc trong xã hội phân chia giai cấp Đặc biệt,các tác giả đã chỉ rõ quan điểm của Lênin về sự cần thiết và quy luật kế thừa trong xây dựng nền văn hóa mới, tạo lập những tiền đề văn hóa cần thiết trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Đây là những nội dung nghiên cứu rất quan trọng mà luận án sẽ tham khảo ở tiết 4.4

Tóm lại, phần lớn các nghiên cứu về văn hóa của các tác giả trong và ngoài nước mà chúng tôi biết đều không thể bỏ qua việc xem xét quan niệm của Mác, Ăngghen, Lênin về văn hóa, cách tiếp cận của các ông trong nghiên cứu văn hóa và những hiện tượng, biểu hiện có liên quan đến nó Luận án này cũng không là ngoại

lệ, chúng tôi sẽ làm rõ hơn các vấn đề đó ở chương 3

1.3 Các nghiên cứu chính sau Mác về văn hóa

Ở phần này chúng tôi muốn nói đến các nghiên cứu rất đa dạng ở thời cận hiện đại về văn hóa, trong đó có những hạt nhân tư tưởng về triết học văn hóa ở nghĩa hiện đại của khái niệm này Đây cũng là những cơ sở để chúng tôi thêm chắc tin rằng, tiếp cận duy vật lịch sử (hoạt động) đối với nghiên cứu văn hóa trong triết học macxit có căn cứ khoa học và thực tiễn, đồng thời cũng là cách tiếp cận bao quát hơn cả

a) Văn hóa trong quá trình tiến hoá của nhân loại Các nhà nhân học nổi tiếng

đã tập trung công sức nghiên cứu sự tiến hoá của văn hóa Theo hướng này đi đầu là Harbert Spencer, L.H Morgan, và đặc biệt là E.B Tylor (1832 - 1917) với tác phẩm

Văn hoá nguyên thuỷ (Primitive Culture), xuất bản lần đầu năm 1871 [139] Trong

công trình này ông khảo sát quá trình tiến hoá văn hóa thông qua sự chuyển hoá của các hình thái tín ngưỡng - tôn giáo: Hồn linh giáo - Bái vật giáo - Thiên nhiên giáo -

Đa thần giáo - Nhất thần giáo Phát hiện này có giá trị khoa học cao, giúp giải thích được nhiều hành vi của con người nguyên thuỷ Trong chương 4 luận án cũng sẽ dựa vào những tư tưởng của ông kết hợp với quan điểm macxit để luận chứng cho

Trang 24

cách hiểu của luận án về bản chất của văn hóa Tuy nhiên, tư tưởng của ông là tiến hoá luận đơn tuyến, vì thế nó sẽ dẫn đến sự xem xét cứng nhắc các nền văn hóa khác nhau, bởi cho rằng, sự khác nhau về văn hóa ở các nơi chẳng qua là “sự trễ” về thời gian, chứ thực chất thì nhanh hay chậm các nền văn hóa đều phải đi qua những giai đoạn tiến hoá như nhau

Sau này nhiều nhà nghiên cứu đã phản bác lại thuyết của Tylor bằng những

chứng cứ dân tộc học mới và đi theo hướng khác (có chung tên gọi là Phản tiến hoá

luận), theo đó các nền văn hóa đều bình đẳng với nhau, các đặc trưng cao, thấp, dã

man, văn minh… là vô nghĩa trong các nghiên cứu so sánh văn hóa Các đại diện của khuynh hướng này là F Boas (1858 - 1942) và L Strauss (1908 - 2009)

Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa vẫn tiếp tục đường lối tiến hoá luận của Tylor Những người này hoặc nêu ra những quan điểm mới về tiến hoá văn hóa Chẳng hạn, J Steward (1902 - 1972), - học trò của A L Kroeber (1876 - 1960), - là người đứng trên lập trường macxit và đi theo cách tiếp cận sinh thái học, nhấn mạnh

sự thích nghi của văn hóa cá nhân với những điều kiện môi trường riêng biệt Theo ông, các nền văn hóa không có cùng những bước phát triển tương tự nhau, chúng có thể tiến hoá theo nhiều mô hình khác nhau tuỳ thuộc vào các điều kiện môi trường của nó Bên cạnh đó, có những người như M Harris (học trò của F Boas, và rất hứng thú với các bài giảng của J Steward), đặc biệt là L White (1890 - 1975) vẫn tiếp tục khẳng định tiến hoá luận đơn tuyến bằng những dữ liệu dân tộc học mới, được phát hiện đầy đủ và xác đáng hơn từ giữa thế kỷ XIX Sau những điều tra khảo sát ở Mozambia, Harris quyết định đi theo chủ nghĩa duy vật và nhấn mạnh hệ thống sản xuất là quan trọng đối với bất kỳ sự nhận thức nào về văn hóa Còn White không đưa ra thuyết tiến hoá đa chiều, mà cũng như các nhà tiến hoá luận đơn tuyến, ông nhìn nhận tiến hoá văn hóa là sự phát triển từ đơn giản tới phức tạp thể hiện ở ba lĩnh vực: kỹ thuật, xã hội và hệ tư tưởng, trong đó kỹ thuật đóng vai trò quan trọng nhất, những thay đổi công nghệ sản xuất sẽ ảnh hưởng đến các thiết chế

xã hội và hệ thống giá trị Kế đó M Fried (1923 - 1986) vốn chịu ảnh hưởng của White và Steward đã đưa ra thuyết tiến hoá mới lý giải về sự phát triển của bất bình đẳng xã hội và đề xuất những giai đoạn tiến hoá từ các xã hội bình quân chủ nghĩa đến phân chia giai cấp, phân tầng xã hội và nhà nước [149, 72]

Trang 25

b) Văn hóa và lịch sử Ở khía cạnh nghiên cứu này phải kể đến F Boas đã

nêu tên ở trên - cha đẻ ngành nhân học Hoa Kỳ Ông chính là người khởi xướng chủ

nghĩa đặc thù lịch sử Tuy ủng hộ thuyết tiến hoá sinh học, song ông phản đối lý

thuyết tiến hoá rộng về văn hóa Ông tìm cách chứng minh rằng, các nền văn hóa có nhiều điểm tương đồng bởi nhiều lý do, gồm cả sự giao lưu và thương mại, nhấn mạnh tính quyết định của hoàn cảnh lịch sử Ông cho rằng, các môi trường tương ứng hay những biến cố lịch sử đã tạo ra những đặc điểm văn hóa tương tự nhau, độc lập với những quá trình tiến hoá chung khác Do vậy, sự có mặt những điểm chung

đó không thể được coi là bằng chứng cho những giai đoạn tiến hoá văn hóa chung [149, 35-36] Chúng tôi đánh giá cao ý kiến của Boas cho rằng, khi giải thích các hiện tượng văn hóa tộc người thì cần xem xét chúng ở 3 khía cạnh: điều kiện môi trường, đặc điểm tâm lý và những liên kết lịch sử, trong đó liên kết lịch sử là quan trọng nhất Từ đó, theo ông, cách giải thích đúng nhất về các hiện tượng văn hóa là đặt chúng vào sự phát triển lịch sử của các xã hội đã làm chúng nảy sinh và phát triển Tuy nhiên, ông đã cực đoan khi cho rằng, mỗi một văn hóa của một xã hội là kết quả những điều kiện môi trường và lịch sử của xã hội đó và chỉ có thể hiểu được văn hóa ấy trong bối cảnh đó, như vậy ông đã không thừa nhận một lý thuyết văn hóa tổng quát [149, 36]

L Strauss lại có quan điểm khác về mối quan hệ giữa văn hóa và lịch sử, tuy vẫn theo chủ nghĩa tương đối văn hóa Theo ông, các hiện tượng văn hóa, các nền

văn hóa không đồng nhất, nhưng chúng có những khuôn mẫu nền tảng chung nằm trải dài suốt lịch sử Cấu trúc luận trong nghiên cứu nhân học của ông tập trung

khám phá những khuôn mẫu đó Theo ông, mỗi hình thái văn hóa là tập hợp các ký hiệu tuỳ tiện, vấn đề là phải tìm được cấu trúc của các ký hiệu đó, tức là xem xem những ký hiệu (những yếu tố văn hóa) ấy liên hệ với nhau bằng cách nào để hình thành nên một hệ thống toàn diện [149, 80]

Ngược lại, các nhà chức năng luận trong nghiên cứu văn hóa lại đánh giá

thấp vai trò của lịch sử đối với văn hóa Họ cho rằng, hoạt động của hệ thống hiện hành trong một xã hội cụ thể là quan trọng hơn cả, vì thế họ không chú ý đến việc tái cấu trúc văn hóa mà tập trung nghiên cứu các xã hội y như nó không thay đổi theo thời gian [149, 51]

Trang 26

c) Văn hóa và xã hội Trong vấn đề này Durkheim (1858 - 1917) - người sáng lập ngành xã hội học Pháp cho rằng, xã hội nào cũng vậy đều có một thực thể được ông gọi là “ý thức tập thể” Chính nó quyết định hệ thống giá trị, những niềm tin và hành vi của các thành viên Về thực chất khái niệm này có nhiều điểm tương

tự với một số khái niệm văn hóa ở thời hiện nay Mặc dù coi “ý thức tập thể” là một thực thể mang tính tâm lý, nhưng Durkheim không giải thích nó bằng hành vi tâm

lý cá nhân, mà đơn vị thích hợp cho sự phân tích này là những sự kiện xã hội: những luật lệ xã hội và những quy chuẩn hành vi tồn tại trước khi cá nhân sinh ra, khi trưởng thành trong xã hội, cá nhân phải học hỏi và tuân theo [xem 18, 30-35] Với khái niệm này ông muốn nhấn mạnh sự tồn tại khách quan của một văn hóa với

tư cách là những biểu thị chung nhất mà mỗi thành viên trong xã hội nhất định phải

có Điều này không có gì mới lạ trong lịch sử tư tưởng triết học, bởi từ Plato đến Hegel và Mác đều đã nói như vậy, Durkheim chỉ là người thực chứng hoá luận điểm

đó dựa trên những dữ liệu xã hội học và nhân học Nhưng điểm đáng chú ý là ở cách tiếp cận này (kết hợp cách tiếp cận macxit), văn hóa được xem là một thành tố trong cấu trúc của phương thức sản xuất - một hình thức tổ chức xã hội toàn diện Mỗi phương thức sản xuất nó ở dạng đặc thù (tức là có một văn hóa riêng), mà người ta có thể nắm bắt được hình thức đặc thù ấy thông qua các biểu thị chung nhất của các thành viên trong một xã hội xác định

Nhiều nhà nghiên cứu sau này đã đi theo và phát triển tư tưởng văn hóa xã

hội đó L Kroeber là một trong những người tiêu biểu như vậy Trong cuốn Siêu cơ

thể sống ông đã tiếp tục tư tưởng của Durkheim và cho rằng, mặc dù con người là

giá mang văn hóa nhưng không vì thế mà việc nghiên cứu văn hóa lại bị thu hẹp về tâm lý học cá nhân Khác với thầy mình là Boas, ông cho rằng cá nhân không giữ vai trò quan trọng trong sự biến đổi và phát triển văn hóa, chính xã hội mới là cơ sở quy định văn hóa, do vậy, yếu tố cá nhân cũng ít quan trọng trong phân tích văn hóa, tuy nhiên về phương pháp ông đã lưu ý tới việc dung hoà phương pháp tổng thể - thực chứng với phương pháp tham dự - dân tộc học, trong đó quan điểm chủ đạo vẫn là: văn hóa giữ vai trò quyết định những hành vi của cá nhân [xem 149, 39-40] Văn hóa chính là khuôn mẫu vượt quá và kiểm soát cá nhân Ông đã minh hoạ

lý thuyết này bằng cách nêu ra dẫn chứng rằng, các khuôn mẫu nghệ thuật thời trang và công nghệ xuất hiện và biến mất một cách độc lập với nghệ sĩ, các nhà thiết

Trang 27

kế và phát minh như thế nào Ở Việt Nam nhà nghiên cứu Đoàn Văn Chúc cũng có

quan điểm tương tự [14, 289-290] (thực ra, ở ông khái niệm thời kiểu đã thay thế

cho khái niệm khuôn mẫu)

Các nhà chức năng luận, như đã nói ở trên, đều tập trung nghiên cứu văn hóa trong quan hệ với xã hội B Malinowski (1884 - 1942) và A.R Radcliffe-Brown trong một biến thể của chức năng luận là trường cấu trúc - chức năng đã đầu tư tìm hiểu các thiết chế văn hóa duy trì sự cân bằng và sự liên kết với nhau của một xã hội như thế nào [149, 46] Khác với Malinowski, Radcliffe-Brown thiên về nghiên cứu

so sánh các nền văn hóa khác nhau để tìm các quy luật xã hội chi phối hành vi, hơn

là điều tra sâu vào một nền văn hóa cụ thể Ông sử dụng nguyên tắc “đồng dạng

(tương tự) cơ thể sống” của Spencer, trong đó có công thức: cấu trúc hữu cơ - tập

hợp các mối liên hệ giữa các thực thể vào các nghiên cứu nhân học văn hóa Tư

tưởng này cũng đã ảnh hưởng mạnh đến các nhà nghiên cứu Anh sau này như E Vans-Pritchard, I Schapera, A Richard [149, 49]

d) Văn hóa với sự hình thành và phát triển nhân cách Đầu thế kỷ XX các nghiên cứu văn hóa bắt đầu chịu ảnh hưởng mạnh từ các tư tưởng phân tâm học của

S Freud (1856-1939), từ đó xuất hiện những xu hướng nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa và nhân cách Ở hướng này có thể kể tên 2 nhà khoa học Mỹ là M Mead

(1901-1978) - người đã cùng với chồng của mình viết tác phẩm Những đặc điểm của

người Balin chứng minh được những kỹ thuật nuôi dưỡng trẻ em đã ảnh hưởng đến

nhân cách người Balin như thế nào [xem 149, 56] và A Kardiner (1891 - 1981) đã

dựa vào luận điểm của S Freud trong cuốn Nguồn gốc của văn hoá và tôn giáo [xem

23] rằng, những kinh nghiệm ban đầu của đứa trẻ quyết định niềm tin tôn giáo của chúng sau này, để xây dựng một lý thuyết về cơ chế tác động qua lại giữa văn hóa và nhân cách Ông cho rằng, kể từ khi những cách thức nuôi dạy trẻ như kỷ luật, cai sữa

và làm vệ sinh thân thể… (gọi là những thiết chế ban đầu) đã được chuẩn mực hoá

tổng quát trong một xã hội, thì tất cả những thành viên của xã hội đó phải chấp nhận những ảnh hưởng cơ bản như vậy lên sự phát triển nhân cách của họ Kết quả là những thiết chế ban đầu của xã hội sẽ dẫn đến sự hình thành cấu trúc nhân cách cơ bản của con người Ngược lại, nhân cách ảnh hưởng đến văn hóa thông qua việc tạo

ra thiết chế thứ hai kiểu như tôn giáo… [xem 149, 59]

Trang 28

e) Văn hóa và môi trường địa lý - nhân văn, môi trường tự nhiên Đi đầu nghiên cứu mối quan hệ này là các nhà khoa học Đức như E Rassen, L Frobenius

và F Grebner Học giả thứ nhất phủ nhận sự phát triển thống nhất của văn hóa loài người và cho rằng, văn hóa chịu sự quy định của những hoàn cảnh, điều kiện địa lý Theo ông, các dân tộc khác nhau ít có khả năng sinh ra các hiện tượng văn hóa giống nhau, nếu có giống nhau thì đó là kết quả của sự vay mượn Frobenius đã dùng những kết quả điền dã của mình ở châu Phi để củng cố và phát triển thêm luận

điểm này Trên cơ sở học thuyết vay mượn đó Grebner đã xây dựng thuyết vòng

văn hóa với ý tưởng cơ bản là: mỗi hiện tượng văn hóa chỉ phát sinh một lần ở một

trung tâm, còn nếu nó có lặp lại ở các vùng khác thì là do nó được truyền bá đến từ một trung tâm đầu tiên, vì thế nhiệm vụ là phải nghiên cứu sự phân bố địa lý của các hiện tượng văn hóa và tìm “vòng văn hóa” [xem 31, 94-96]

F Boas là người có ảnh hưởng nhiều nhất đến các nhà nghiên cứu về văn hóa gắn với môi trường tự nhiên bao quanh, trong đó có người học trò xuất sắc của

ông là Kroeber Trong công trình Vùng tự nhiên và vùng văn hóa của thổ dân Bắc

Mỹ, ông đã trình bày khá thuyết phục hệ bản đổ phân bố sinh vật, địa chất, khí

tượng liên quan đến văn hóa của thổ dân [xem 149, 40] Một học trò của Kroeber là

J Steward sau này đã tiếp tục phát triển cách tiếp cận sinh thái học văn hóa vào phân tích các hiện tượng văn hóa Ông nhấn mạnh đến sự thích nghi của văn hóa cá nhân với những điều kiện môi trường riêng biệt Theo ông, “những nền văn hóa ở trong những môi trường tương tự nhau sẽ có xu hướng phát triển theo những quá trình giống nhau và sẽ tạo nên những đáp trả tương tự đối với những thách thức của môi trường” [xem 149, 64] Ông gọi sự kết hợp chặt chẽ những đặc điểm văn hóa

đó với những phong tục là hạt nhân văn hóa

Bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ trước các nhà triết học Xô Viết cũng đã bắt tay nghiên cứu hệ vấn đề văn hóa với nhiều cách tiếp cận khác nhau trong khuôn khổ triết học macxit Đây cũng là thời kỳ xác định tính độc đáo của tư tưởng

về văn hóa ra đời ở Liên Xô khác với những tư tưởng tương tự ở các nước khác Do dung lượng chương tổng quan và toàn luận án có hạn, nghiên cứu sinh sẽ chỉ tập trung bàn luận các quan điểm nghiên cứu liên quan đến tiếp cận hoạt động mà luận

án này cũng là một sự kế thừa và làm sâu sắc thêm Trong rất nhiều định nghĩa và khái niệm về văn hóa được sử dụng trên thế giới hiện nay, quan điểm coi văn hóa là

Trang 29

một hoạt động đã là xuất phát điểm và rất căn bản đối với các nhà nghiên cứu văn hóa thời Liên Xô, đến mức như S Makarian viết sau đó hai thập niên - vào năm 1983: “có thể coi việc giải thích văn hóa như là hoạt động” đã “được công nhận rộng rãi” trong giới nghiên cứu Xô Viết [xem 90, 446] Ngay cả hiện nay ở Nga vẫn còn khá đông học giả ủng hộ và kế tục quan điểm đó Cần phải nói luôn rằng, việc tổng quan các quan điểm về cách tiếp cận hoạt động ở các nhà triết học Liên Xô - Nga đã được tác giả Nguyễn Huy Hoàng - cũng là một tín đồ nhiệt thành của cách tiếp cận này - thực hiện rất chi tiết và đầy đủ [xem 42, 138-167]

Ở đây chúng tôi sẽ chỉ đi sâu vào lịch sử và thực chất các quan điểm khác nhau ở các nhà triết học Liên Xô có cùng cách tiếp cận hoạt động Nó đã khởi nguồn từ sự suy tư triết học về con người và hoạt động người Đi tiên phong trong cách tiếp cận này là các nhà triết học Xô Viết E.V Ilenkov (1924 - 1979), Yu.N Davydov, G.S Batischep… Họ đã bắt đầu nghiên cứu theo cách tiếp cận này dưới ảnh hưởng trực tiếp từ các tác phẩm Mác thời trẻ (trước 1846) Họ đã biến “hoạt động” thành một khái niệm quan trọng trong việc giải thích bản chất con người S

Batischep (1969) trình bày rõ điều này trong công trình Bản chất hoạt động của con

người là một nguyên lý triết học và N Davydov (1983) viết trong Lao động và tự do

[xem 90, 447]

Nói riêng về Batischep thì ông là một trong số những người đầu tiên sử dụng nguyên lý hoạt động để giải thích văn hóa Ông viết: “Văn hóa của loài người hiện ra… dưới dạng được vật thể hoá, như là thành quả khổng lồ của lao động trước đó Hoạt động sống của nhiều thế hệ ngưng tụ lại và được thể hiện qua tính chất của các

sự vật - phương tiện kỹ thuật, tác phẩm nghệ thuật, sách vở… toàn bộ những thứ đó cần được khai thác,… khai khẩn, được chủ thể hoá, được tăng thêm sức sống, biến tính chất của “sự vật” trở thành nội dung hoạt động mới, thành khả năng sáng tạo mới… Chỉ trong ngọn lửa sống động của lao động con người thì các giá trị văn hóa mới có thể sống, chuyển hoá và phong phú thêm” [xem 90, 447]

Trong công trình xuất bản năm 1974 E.V Ilenkov cũng đã có cùng đánh giá như thế về hoạt động - văn hóa [62, Bút ký 8] Khi bàn về bản chất của tư duy (mà Ilenkov coi là “cái tư tưởng”, và cái này cũng chính là văn hóa), ông viết: “Cái tư

tưởng là chức năng đặc biệt của con người như là chủ thể hoạt động lao động xã

hội, được thực hiện dưới những hình thức đã được tạo ra bởi sự phát triển trước đó”

Trang 30

[62, 330-365] Hoạt động là sự thống nhất biện chứng giữa “giải đối tượng hoá” và

“đối tượng hoá”, trong đó hành vi thứ nhất chính là việc con người biến đổi chính mình thành người kế thừa tập thể xã hội, kế thừa văn hóa của xã hội ấy, còn hành vi thứ hai là việc con người biến mình thành kẻ sáng tạo ra nền văn hóa ấy Như vậy, hoạt động đối tượng là việc xây dựng văn hóa như là một thể thống nhất giữa khai

thác và sáng tạo Quan điểm tổng quát về văn hóa của Ilenkov nhấn mạnh “tất cả

các hình thức văn hoá thực chất chỉ là các hình thức hoạt động của chính con người” [46, 363] Chính ông không có tham vọng sáng lập ra một học thuyết như là

một bộ môn đặc biệt và độc lập (kiểu như triết học văn hóa), mà cho rằng, khái niệm văn hóa chỉ có quyền tồn tại trong thành phần của một học thuyết triết học chỉnh thể về con người Nhưng chính cách hiểu mà ông là một trong những người đầu tiên khởi xướng, sẽ được chúng tôi lấy làm cơ sở để triển khai luận án của mình Sở dĩ xuất hiện cách tiếp cận hoạt động trong nghiên cứu văn hóa là vì, trước

đó (và bây giờ cũng không kém) rất phổ biến quan điểm coi văn hóa là một tổng số trực quan cảm tính các thành quả hoạt động vật chất và tinh thần mà con người gặt hái được trong suốt chiều dài lịch sử Hạn chế của quan điểm này là ở chỗ, trong khi xếp văn hóa vào số những kết quả đã được đối tượng hoá, nó lại che mất trong các kết quả đó chính cái vừa mới đem lại cho chúng vị thế là đối tượng của văn hóa Dĩ nhiên, văn hóa sinh ra từ hoạt động của con người, nhưng từ đó tuyệt nhiên chưa thể suy ra được rằng, bất cứ sản phẩm hoạt động nào cũng là văn hóa Tương tự như vậy, dù tất cả đều nhất trí rằng, văn hóa là hiện tượng phi tự nhiên, là kết quả của lao động con người, là phương thức sống của con người trong xã hội và lịch sử, nhưng liệu điều đó có nghĩa mọi thứ phi tự nhiên đều là văn hóa?, rằng nó bao gồm bất cứ sản phẩm lao động nào, gồm tất cả những gì bắt gặp trong lịch sử và xã hội hay không? Con người không gọi kết quả hoạt động của loài vật là văn hóa chỉ vì theo một nghĩa nào đó chúng cũng lao động, vậy thì điều gì trong hoạt động của con người làm cho kết quả của nó có ý nghĩa văn hóa Chính cách đặt vấn đề như thế đã chuyển sự chú ý của nhà nghiên cứu từ kết quả hoạt động sang quá trình đó, sang việc làm rõ bản chất đặc trưng cho con người cả từ kết quả, lẫn từ quá trình hoạt động Như vậy là đã rõ hai phương án “kết quả” và “quá trình” trong nghiên cứu về văn hóa, mà tương ứng có thể gọi một cách tương đối là phương án “thống kê - giá trị” và “hoạt động”

Trang 31

Phù hợp với cách tiếp cận của luận án, chúng tôi chỉ đi sâu hơn vào phương

án “hoạt động” Đối với nó quan trọng là nguyên tắc phát triển của bản thân chủ thể hành động đang tìm hình thức thể hiện thuần tuý bề ngoài ở những kết quả hoạt động, nó nhấn mạnh tính linh động, tính khả biến trong sự tồn tại của con người trong thế giới Ngoài các nhà triết học Xô Viết nêu trên (gồm cả Markarian) thì còn

có thể lần lượt kể thêm những người theo phương án thứ hai này ở Liên Xô cũ (và Nga hậu Xô Viết), cũng như ở Việt Nam trước nay Mặc đù đều nhất trí thừa nhận ý nghĩa quyết định của hoạt động đối với văn hóa, cùng lý giải về văn hóa trên cơ sở hoạt động, nhưng giữa họ vẫn có những khác biệt nhỏ Chẳng hạn, N.S Zlobin, L.N Kogan, V.M Mezhuev, E.A Baller, A.I Arnoldov… thường thể hiện nhận thức văn hóa như là quá trình hoạt động sáng tạo, họ nghiên cứu văn hóa thông qua lăng kính của quá trình sản xuất tinh thần, của hoạt động và phát triển tự do của cá nhân Còn các nhà triết học khác như V.E Davidovich, Yu.A Zhdanov, A.A Pachemkin (thường được gọi là trường phái Rostov trên sông Đông - nơi phát triển

tư tưởng Ilenkov) và M.S Kagan, E.S Markarian, Z.I Fainburg… lại coi văn hóa là một phương thức (thậm chí là công nghệ) hoạt động đặc thù của con người, “lấy những vấn đề liên quan đến tính chất chung của văn hóa như là những tính chất tổng hợp của hệ thống xã hội làm đối tượng nghiên cứu” [trích theo: 90, 452] Quan điểm như vậy cho phép “nắm bắt” văn hóa trong sự tồn tại cốt yếu của nó mà không

bị hạn chế bởi xác nhận mô tả theo thuyết hiện tượng luận Ở trình độ phân tích triết học - xã hội, việc khẳng định văn hóa là công nghệ nhân tạo của hành động cho chúng ta thấy tính chất chung phổ biến của nó, thấy định nghĩa trừu tượng nhất về nó” [trích theo: 90, 466] Luận án cũng sẽ chú ý vận dụng quan điểm này ở chừng

mực cho phép (Tiện thể nói thêm V.E Davidovich chính là tác giả cuốn sách Dưới

lăng kính triết học nổi tiếng đã xuất bản bằng tiếng Việt cách nay hơn 10 năm được

độc giả Việt Nam đón nhận rất nồng nhiệt)

Sơ lược như thế để thấy rằng, trong phương án thứ hai, có hai quan điểm thì quan điểm nào cũng chỉ thực sự dựa trên một mặt của hoạt động con người là chính

- cá nhân hoặc xã hội, điều này chứng tỏ việc kết hợp nhận thức về văn hóa theo các vấn đề nhân học và xã hội học vào một khối thống nhất như các học giả phương Tây nêu trên thường làm, là rất phức tạp và khó khăn Nhân học và xã hội học hiện nay vẫn là hai nhánh nhận thức khá khác nhau và điều này chứng tỏ vị thế xung

Trang 32

khắc và mâu thuẫn của con người trong xã hội hiện đại: khi hướng về xã hội chúng

ta đánh mất con người, khi hướng về con người chúng ta lại lâm vào thế phải phê phán xã hội Dòng triết học macxit Liên Xô đẩy sự phân hoá đó về hai quan điểm thoạt nhìn thì có vẻ trái ngược nhau, nhưng thực ra lại là sự bổ sung lẫn nhau khiến cho sự hình dung về văn hóa trở nên đầy đủ, toàn diện hơn Một bên chỉ coi hoạt động tích cực, sáng tạo ra cái mới (còn tái tạo, bảo tồn và phục chế thì không) mới

là thực thể của văn hóa, còn bên kia lại xem văn hóa chỉ là những kết quả hoạt động người vốn có thể được sử dụng làm phương tiện và cơ chế cho quá trình hoạt động sau đó, tức là được sử dụng ở chức năng công nghệ

f) Tình hình nghiên cứu văn hóa ở Việt Nam Đào Duy Anh là người có công

mở đầu trong việc xây dựng cơ sở lý luận cho nghiên cứu văn hóa ở Việt Nam

Trong cuốn Việt Nam văn hóa sử cương (1938) [1], Ông là người đầu tiên đưa ra ý

niệm mang tính khoa học về văn hóa, theo đó, “văn hóa tức là sinh hoạt”, chứ không chỉ là những tư tưởng học thuật của loài người Những cái này dĩ nhiên nằm trong phạm vi của văn hóa, song sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội, cùng hết thảy các phong tục, tập quán bình thường cũng phải nằm trong phạm vi văn hóa Hai tiếng văn hóa dùng để chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người Khi coi văn hóa là sinh hoạt, Ông đã đồng nhất văn hóa với xã hội, nhưng cần hiểu điều đó trong bối cảnh ngôn ngữ khoa học ở Việt Nam nửa đầu thế

kỷ XX chưa thật phát triển, thì đó là một kiểu thức sinh tồn của một xã hội, nói như ngày nay, là hệ thống các khuôn mẫu ứng xử

Bên cạnh Đào Duy Anh, trong số những người đi đầu trong lĩnh vực khảo tả

các hình thái văn hóa của người Việt phải kể đến Phan Kế Bính (tái bản 1990): Việt

Nam phong tục [8]; Toan Ánh (tái bản 1998): Phong tục Việt Nam [3] Những tác

phẩm kiểu này đã là những tài liệu khoa học không thể thiếu đối với những người muốn nghiên cứu văn hóa Việt Nam Từ chúng các nhà khoa học ngày nay có thể so sánh, đối chiếu (lịch đại) để tìm thấy những biến đổi về cấu trúc cũng như chức năng của các hiện tượng văn hóa Muộn hơn đôi chút là thế hệ các nhà nghiên cứu Việt Nam được trang bị các kiến thức khoa học của phương Tây để khảo cứu văn hóa, xã hội Việt Nam Đó là các học giả Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Khoan, Trần Văn Giáp, Nguyễn Thiện Lâu [xem 124, 284]… Sự nghiệp nghiên cứu của các ông gắn liền với Viện Viễn đông bác cổ Pháp (EFEO) và đóng góp lớn nhất của họ là

Trang 33

các chuyên khảo về văn hóa ở các làng quê truyền thống của người Việt Ví dụ, Nguyễn Văn Huyên công bố hàng loạt công trình về văn hóa làng xã (hiện nay đều

đã được sưu tập lại và in thành 2 tập dày dặn Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt

Nam [56]) Có thể nói rằng, những nghiên cứu này không chỉ là những tài liệu dân

tộc chí quý hiếm, mà còn là những ví dụ điển hình về sự vận dụng thành công các quan điểm và phương pháp dân tộc học, nhân học nhằm giải mã các hiện tượng văn hóa ở Việt Nam

Từ rất sớm, vào những năm 40 của thế kỷ trước Hồ Chí Minh đã nêu một quan niệm rất nổi tiếng về văn hóa [92, 431], mà theo đánh giá của GS Hồ Sĩ Quý thì “định nghĩa về văn hóa của Hồ Chí Minh còn khúc chiết và tường minh không thua kém bất kỳ một định nghĩa nổi tiếng nào khác” [108, 31] Tiếp theo phải kể

đến định nghĩa của Trường Chinh trong cuốn sách Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt

Nam (1949): “Văn hóa là một vấn đề rất lớn, bao gồm cả văn học nghệ thuật, khoa

học, triết học, phong tục, tôn giáo… Có người cho văn hóa với văn minh là một Nhưng trong lịch sử có nhiều dân tộc chưa có văn minh song đã có văn hóa Văn hóa súc tích, phát triển tới mức nào đó mới thành văn minh” [dẫn theo: 14, 46] Từ những năm 1960 nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam được đào tạo chính quy theo hướng macxit mà nhiều trong số họ trở thành những người nổi tiếng như Nguyễn

Từ Chi, Phan Hữu Dật, Vương Hoàng Tuyên, Bế Viết Đẳng, Đặng Nghiêm Vạn…

đã có công phác thảo chân dung văn hóa của các tộc người sinh sống tại miền Bắc Việt Nam [xem các tác giả số 19; 75; 140]

Phải sau 1975 các nghiên cứu về văn hóa các tộc người từ Quảng Trị trở vào cực Nam mới được tiến hành và cũng từ mốc thời gian này những ảnh hưởng từ các

tư tưởng khoa học xã hội - nhân văn của thế giới thời kỳ đầu và giữa thế kỷ XX mới thực sự lan toả vào giới khoa học và giảng dạy đại học Việt Nam Từ đây văn hóa được xem như một đối tượng nghiên cứu riêng biệt theo quan điểm của các khoa học khác nhau: nhân học, xã hội học, tâm lý học, triết-mỹ học Trước đó các nghiên cứu về văn hóa thường được trình bày trong các công trình văn học - nghệ thuật hoặc văn nghệ dân gian Những năm đầu sau thống nhất đất nước, ở các trường đại học khoa học xã hội Việt Nam mới chỉ có giáo trình dân tộc học là đề cập trực tiếp đến khái niệm văn hóa, nội dung và phương pháp nghiên cứu nó Có thể coi các

giáo trình của Đoàn Văn Chúc như Những bài giảng về văn hóa (1994) [13] được

Trang 34

viết theo quan điểm nhân học - xã hội học (sau này được xuất bản thành 2 tập Văn

hóa học (1997) [14] và Xã hội học văn hóa (1997) [15]) và Lý luận văn hóa trong

cuốn Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta (1999) [143]

của Hoàng Vinh theo quan điểm triết học - chính trị học, là những giáo trình đại học

đầu tiên ở nước ta về khoa học văn hóa Kế đó đã có thêm những giáo trình như Cơ

sở văn hóa Việt Nam do cố GS Trần Quốc Vượng chủ biên (1997, 2001) [148], Cơ

sở văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm (1997) [123], Lịch sử văn hóa Việt Nam truyền thống giản yếu của Nguyễn Thừa Hỷ (1999) [60] Bên cạnh đó nhiều bài

nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Huyên đã đưa ra những cách nghiên cứu văn hóa Việt Nam [57], nghiên cứu về con người và hoạt động sáng tạo của con người [58] cũng là những chỉ dẫn rất sâu sắc trong vấn đề nghiên cứu văn hóa hiện nay

Nhiều công trình của các tác giả ở các viện nghiên cứu đã có những đóng góp quan trọng về lý thuyết hoặc phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu văn hóa, do vậy phần nhiều trong chúng đã trở thành những giáo trình chuyên đề cho những người đang theo học các ngành về văn hóa Có thể kể đến các nghiên cứu

theo quan điểm địa văn hóa của Trần Quốc Vượng (1999): Việt Nam cái nhìn địa

văn hóa [147], của Phạm Đức Dương (2000): Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á [17], hoặc Tiếp cận văn hóa dưới góc độ ngôn ngữ học [94] của Phan

Ngọc (1999), hoặc nữa tiếp cận vùng văn hóa: Văn hóa vùng và phân loại vùng văn

hóa Việt Nam [125] của Ngô Đức Thịnh (chủ biên - 1992), hay những công trình có

tính cách phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu văn hóa tộc người và văn hóa

dân gian như các công trình của Nguyễn Từ Chi (1996): Góp phần nghiên cứu văn

hóa và tộc người [11], của Đinh Gia Khánh (2000): Mối quan hệ giữa truyền thống

và cách tân trong sự hình thành và phát triển của các giá trị thẩm mỹ dân gian [68,

141-149], của Tô Ngọc Thanh (1994): Mấy vấn đề phương pháp luận về văn hóa

dân tộc Mường [119], của Nguyễn Huy Hoàng (1993): Tiếp cận hoạt động của Mác

- cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu và phát triển văn hóa, con người ngày nay [39],… Tuy nhiên, cho đến nay ở nước ta vẫn chưa có những công trình

nghiên cứu và giảng dạy có tính hệ thống về lý luận văn hóa, từ khái niệm, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu liên ngành, mà mới chỉ có các mũi nhọn ở dân tộc chí, dân tộc học và văn hóa dân gian Do vậy rất cần phải đẩy mạnh hơn các nghiên cứu triết học văn hóa để tạo cơ sở lý luận và phương pháp luận tốt cho các

Trang 35

nghiên cứu liên ngành xã hội học - tâm lý học - nhân học văn hóa góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn của văn hóa đương đại

1.4 Về khái niệm triết học văn hóa và những vấn đề của luận án

Như thế, có thể thấy, từ lâu và hiện nay văn hóa đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học Triết học với tư cách “sự kết tinh văn hóa” (Mác) chính là khoa học có lịch sử lâu đời nhất về nhận thức văn hóa Ngay từ thời Hy -

La cổ đại những hiện tượng được coi là “cultura” (văn hóa) đã xuất hiện và được bàn thảo không ít, nhưng phải đến thế kỷ XVIII mới xuất hiện thuật ngữ và dần dần

mới định hình khái niệm “văn hóa” để đến nửa sau thế kỷ XIX mới ra đời triết học

văn hóa như một phân ngành của triết học Lần đầu tiên cụm từ triết học văn hóa

(kunturphilosophie) được A Muler - một đại biểu của trường phái lãng mạn Đức dùng vào đầu thế kỷ này - dùng để chỉ sự suy tư về văn hóa khi phải bàn đến những vấn đề chung khái quát liên quan đến sự tồn tại, phát triển của xã hội Tuy nhiên,

cùng với sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của bộ môn văn hóa học được xem như

khoa học tổng hợp về văn hóa - là khoa học tích hợp các ngành nhân học (dân tộc chí, dân tộc học), xã hội học - thì vai trò của chuyên ngành triết học văn hóa dường như bị suy giảm Triết học văn hóa như một bộ môn độc lập nghiên cứu văn hóa, có còn giữ vai trò và thực hiện chức năng gì trong nghiên cứu văn hóa nữa hay không? Trả lời khẳng định cho câu hỏi này không chỉ là sự xác nhận cho tư cách pháp nhân

của môn triết học văn hóa, mà với luận án này còn có ý nghĩa sống còn liên quan

đến sự tồn vong đối tượng nghiên cứu của nó

Trước hết, cần nói rằng, trong thành phần tri thức đương đại về văn hóa, triết học văn hóa giữ vị trí đặc biệt mà văn hóa học không thể thay thế Sự khác biệt ở đây cũng tựa như sự khác nhau giữa triết học xã hội và xã hội học, giữa triết học lịch sử và sử học, giữa triết học chính trị và chính trị học [xem: 90, 18], giữa triết học về con người và nhân học…

Thật không dễ để phân định rạch ròi ranh giới giữa triết học văn hóa và văn hóa học Từ đó, có không ít ý kiến trái ngược từ các nhà nghiên cứu về vấn đề này Một số học giả (như E.A Orlôva) khi đem nhận thức khoa học về văn hóa đối lập với nhận thức triết học về văn hóa đã cho rằng, “cách tiếp cận triết học với việc nghiên cứu văn hóa mang tính tiên nghiệm (tức siêu hình) và “không đạt tới đối với

sự kiểm tra kinh nghiệm”” [114, 75] Các nhà nhân học văn hóa Mỹ (như L White)

Trang 36

[xem 90, 19] cũng đặt triết học văn hóa đối lập với văn hóa học, thậm chí còn cho rằng, văn hóa học đang phủ nhận, bác bỏ triết học Từ đó, theo các học giả này rõ ràng không cần có triết học văn hóa

Lệch sang một thái cực khác, một số học giả khác lại diễn giải triết học văn hóa là tri thức khoa học khái quát nhất về văn hóa, là thứ tựa như khoa học về “văn hóa nói chung” [xem 90, 41] Từ đó tất yếu dẫn đến đồng nhất triết học văn hóa với văn hóa học (vốn được nhiều người định nghĩa là lý luận chung về văn hóa) Quan điểm này chỉ là trường hợp riêng của truyền thống dài lâu đã từng coi triết học là khoa học của các khoa học Do vậy, trong quá trình hình thành tiến tới là khoa học độc lập, văn hóa học chắc chắn phải trải qua giai đoạn triết học, mà như V.M Rôđin, thì “có thể gọi một cách ước lệ giai đoạn thứ nhất là giai đoạn triết học Bản thân “ý niệm văn hóa” được kiến tạo ở đây” [114, 213]

Nhiều nhà triết học Đức và Nga lại khẳng định chắc chắn sự tồn tại độc lập của triết học văn hóa Họ đặt ra nhiệm vụ phải phân định thế nào là một nhà triết học văn hóa, quan hệ giữa triết học và triết học văn hóa là như thế nào Ngay ở vấn

đề này cũng có các ý kiến khác nhau Quan điểm thứ nhất của những người theo

chủ nghĩa Kant mới (trường phái Baden) cho rằng, bất kể môn triết học nào cũng là triết học văn hóa và lịch sử triết học văn hóa có thể trùng với toàn bộ lịch sử triết học [xem 90, 20] Sở dĩ như vậy là bởi bản chất của sự phản tư triết học chính là ở chỗ, bất kỳ đối tượng nào của nó cũng được khám phá như một hiện tượng văn hóa

Và nhà triết học, dù có nói bất kỳ điều gì về tự nhiên, xã hội hay con người thì vẫn

là nói về văn hóa; do đó, một triết gia có thể không coi mình là nhà triết học văn hóa, nhưng triết học của họ lại chính là như vậy [xem 90, 20] Thậm chí, các nhà triết học trường phái Baden như Windelband và Rickert còn tuyên bố, họ đã có triết học văn hóa rồi thì còn cần gì thêm văn hóa học nữa Quan niệm này lại quá cực đoan khi xác định phạm vi của triết học văn hóa rộng quá, không thể đánh đồng triết học văn hóa với triết học lịch sử nói riêng, chứ chưa nói đến với “toàn bộ triết học”

Quan điểm thứ hai lại khẳng định sự tồn tại của triết học văn hóa và nó không phải là toàn bộ, mà chỉ là một phần của triết học Chúng tôi ủng hộ quan điểm này bởi không thể coi tất cả những gì các nhà triết học đã và đang viết về văn hóa là triết học văn hóa, và cũng không phải mọi thứ viết về văn hóa đều liên quan đến triết học về nó Nhưng phải thấy, như toàn bộ phần tổng quan ở trên đã chỉ ra,

Trang 37

những tư tưởng về văn hóa đã luôn luôn được đặt ra và phát triển trong lịch sử triết học, tạo ra những tiền đề cho sự xuất hiện và trực tiếp nuôi dưỡng văn hóa học trong lòng sâu của nó, nhưng vẫn không hề mất đi, mà tiếp tục tồn tại với nhiệm vụ

mà theo M.S Kagan, là lập mô hình lý thuyết về văn hóa một cách “trọn vẹn và đầy

đủ các hình thái tồn tại cụ thể của nó, cho thấy cấu trúc, sự vận hành và sự phát triển của nó” Còn tác giả cuốn sách Các phạm trù văn hóa trung cổ nổi tiếng - P.S

Gurevich cũng định nghĩa tương tự: “Triết học văn hóa là môn triết học được định

hướng để hiểu thấu đáo một nền văn hóa về mặt triết học như là một hiện tượng tổng hợp và có tính bao trùm” [trích theo 90, 21] Hoặc IU.N Davydov còn viết rõ hơn “Triết học văn hóa là một ngành của triết học nghiên cứu về bản chất và ý nghĩa của văn hóa” [trích theo: 29, 57]

Song bên cạnh đó cũng có những định nghĩa về văn hóa học hao hao giống định nghĩa về triết học văn hóa Chẳng hạn, A.A Radughin viết: “Văn hóa học là ngành khoa học nhân văn nghiên cứu bản chất, những quy luật tồn tại và phát triển của văn hóa, nghiên cứu ý nghĩa nhân bản của văn hóa và phương pháp tìm hiểu văn hóa” [111, 36] Như vậy, hai định nghĩa đều khẳng định, cả triết học văn hóa lẫn văn hóa học đều nghiên cứu văn hóa ở tầng bản chất và các phương diện ý nghĩa Song dù sao chúng cũng khác nhau, và phải phân định sự khác nhau đó như thế nào? Hẳn là, không thể tìm sự khác nhau đó trong đối tượng nghiên cứu của chúng là văn hóa, mà phải ở đặc thù của tri thức triết học và tri thức khoa học về văn hóa [xem 90, 22] Đặc thù đó là ở chỗ: cùng xuất thân và bị quy định bởi một nền văn hóa, nhưng triết học và khoa học về văn hóa lại có những cách phản ánh khác nhau Những tiêu chí khoa học nghiêm cẩn khiến văn hóa học hạn chế sự phụ thuộc (can thiệp) của chủ thể vào nền văn hóa đã nuôi dưỡng nó, buộc nó phải rất khách quan, còn triết học không tách khỏi hoàn cảnh văn hóa của nó, mà ở thời đại nào cũng đều tìm cách giải đáp vấn đề mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể, đều mang dấu ấn tính chủ thể của con người Do vậy, thông qua triết học văn hóa người

ta có thể phản tư về nền văn hoá của chính mình [xem 90, 23-44] Đây là đặc thù làm cho triết học văn hóa không chỉ khác với văn hóa học, mà còn khác với các lĩnh vực nhận thức triết học khác Sự phản tư giúp con người có nhận thức về bản thân mình, về cái Tôi và phân biệt mình với những người khác Hơn nữa, “các sự phản tư

Trang 38

triết học và phương pháp luận giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển của văn hóa học ở giai đoạn hiện đại” [114, 214-215]

Chính vì sự phản tư được thực hiện trong triết học văn hóa nên vấn đề văn hóa mới thường xuyên được đề cập trong lịch sử triết học Mỗi thời đại đều có các quan niệm, kiến giải khác nhau về văn hóa Do vậy, không có tư tưởng về văn hóa chung cho mọi thời đại Trong khi đó, các tri thức khoa học về văn hóa chỉ ghi nhận, mô tả rất khách quan những gì vốn có trong thế giới độc lập với những đánh giá về nó Cho nên, tri thức khoa học về văn hóa thường phải luôn đúng ngay cả khi hoàn cảnh không gian, thời gian thay đổi Nhưng tư tưởng triết học văn hóa lại phải luôn được con người đặt ra và giải quyết Triết học văn hóa và văn hóa học đều thuộc dạng tri thức khoa học tổng hợp, mang tính trừu tượng hoá cao và chủ yếu là tư duy dựa trên khái niệm Tuy nhiên, trong triết học văn hóa các khái niệm đã được nâng lên tầm lý luận, nó không chỉ dừng lại ở sự tổng hợp tri thức kinh nghiệm hay khoa học, mà còn hàm chứa gì đó lớn hơn Nếu như dưới hình thức các khái niệm khoa học, văn hóa được mô tả một cách khách quan như vốn có, thì dưới dạng lý luận triết học nó còn được phản ánh từ góc độ

lý tưởng, tức là còn hàm chứa cái mà con người dùng làm chuẩn mực và hình mẫu Sở dĩ như vậy là bởi, dưới con mắt nhà triết học, văn hóa luôn mang tính hướng đích (xem tiết 4.1 luận án này) Đối với nhà triết học, văn hóa không đơn giản là cái mà họ trải nghiệm trong cuộc đời, mà chính là việc họ làm cho sự trải nghiệm đó có giá trị nhân văn Tư tưởng triết học văn hóa đã được hình thành như thế bằng cách ghi nhận ý nghĩa đó trong hình thức khái niệm

Như thế, triết học trở thành tấm gương giúp con người tự nhận thức về nền văn hóa của chính mình, còn khoa học về văn hóa lại cung cấp cho con người những hiểu biết và cứ liệu về rất nhiều nền văn hóa khác với của họ Như Mezhuev

đã chỉ ra “Văn hóa học là sự hiểu biết về các nền văn hóa khác nhau trong sự khác

nhau giữa chúng, triết học văn hóa là nhận thức của con người về sự đồng nhất văn hóa hay nói cách khác là sự tự nhận thức văn hóa của anh ta” [90, 37] Hai dạng tri

thức này gắn bó và bổ trợ cho nhau, bởi con người không thể hiểu rõ về văn hóa của mình, nếu không biết các nền văn hóa khác; còn có hiểu biết phong phú về các nền văn hóa khác nhau, song lại không rõ cái gì có ý nghĩa với mình thì điều đó cũng thành vô nghĩa Thiếu các tri thức khoa học (chứng cứ, dữ liệu) thì nghiên cứu văn

Trang 39

hóa chỉ là tư tưởng đã được trừu tượng hoá; còn thiếu lập luận triết học thì các chứng cứ, dữ liệu khoa học về văn hóa sẽ không đủ lý giải ý nghĩa tồn tại của văn hóa là gì, không giúp con người lý giải mình là ai về mặt văn hóa, phải sống, ứng

xử ra sao cho phù hợp với văn hóa của mình Trong khi đó, “sống có văn hóa” mới

là ý nghĩa đích thực mà con người cần hướng đến Đây cũng là điều quan tâm của triết học mọi thời đại, khi nó đưa tự do con người vào nền tảng của văn hóa làm thành một yếu tố phân biệt văn hóa “của mình” với văn hóa khác

Triết học và văn hóa học không chỉ khác nhau về đặc thù tri thức, mà còn về phương pháp luận “Đối với văn hóa học, cũng như các khoa học bộ phận khác, triết học là phương pháp luận chung, xuất phát từ đó văn hóa học đề ra các phương pháp nhận thức riêng của mình” [91, 9] Nếu coi văn hóa học là một khoa học liên ngành, thì nó cũng có thể là cơ sở phương pháp luận của toàn bộ hệ thống các khoa học về văn hóa Trong khi đó, triết học văn hóa còn thực hiện các chức năng của nó bên ngoài phạm vi tri thức văn hóa học Các kết luận của triết học văn hóa có thể được nhiều khoa học khác (mỹ học, đạo đức học, sử học…) sử dụng với tư cách là cơ sở

lý luận và phương pháp luận, mặc dù các khoa học này không trực tiếp nghiên cứu văn hóa Còn đối với các khoa học nghiên cứu văn hóa thì ngày nay triết học văn hóa vẫn giữ vai trò là cơ sở lý luận, phương pháp luận của chúng Rôđin viết “Triết học hiện đại không phủ định văn hóa và lý luận văn hóa Ngược lại triết học văn hóa thực hiện các chức năng phương pháp và giá trị luận quan trọng đối với các khoa học về văn hóa, cũng như lịch sử văn hóa” [114, 231]

Việc phân tích mối tương quan và xác định ranh giới giữa triết học văn hóa

và văn hóa học cũng giúp hình dung rõ hơn vai trò, tư cách pháp nhân của triết học văn hóa Triết học nghiên cứu văn hóa bằng các thao tác tư duy và phương pháp nhận thức riêng của mình, mà điểm khác biệt nhất so với văn hóa học là, nó “không nghiên cứu những biểu hiện đa dạng của văn hóa mà lập luận, chứng minh bản thân khả năng tồn tại của nó trên thế giới (dĩ nhiên là cả khả năng nhận thức nó) Với tư cách như vậy thì nó chính là triết học văn hóa” [90, 18] Dù văn hóa là khách thể rất

đa dạng, nhưng triết học về nó không thể bao trùm toàn bộ triết học, nó cũng không thay thế được các bộ môn triết học khác và ngược lại, cũng không bộ môn triết học nào có thể thay thế nó, cho dù không ít ngành như triết học thẩm mỹ, triết học tôn giáo, triết học xã hội - chính trị… đều đề cập đến một số biểu hiện của văn hóa,

Trang 40

nhưng không ngành nào trong số đó đặt ra nhiệm vụ nhận thức thấu đáo tính nguyên vẹn và phổ cập của văn hóa Và giải quyết nhiệm vụ này, theo chúng tôi, là

lý do cho sự tồn tại của triết học văn hóa Và vấn đề không phải là nhà triết học này hay khác có dùng hay không dùng từ “văn hóa”, mà ở chỗ họ có cái nhìn triết học (có tư tưởng) về văn hóa Điều này càng đúng với trường hợp của Mác Rất hiếm khi ông sử dụng khái niệm văn hóa, nhưng trong các tác phẩm của ông tư tưởng về văn hóa đã được thể hiện sinh động và sâu sắc Đó là sự tiếp nối và phát triển quan niệm văn hóa từ thời Cận đại (đặc biệt là từ triết học Cổ điển Đức) với tư cách “một hiện thực phổ quát, mang tính người” và văn hóa gần nghĩa với quá trình đào luyện

(bindung) [90, 55] Do vậy, chúng tôi hiểu Triết học văn hóa là bộ môn khoa học

nghiên cứu về nguồn gốc, bản chất, và các điều kiện, khả năng tồn tại trong thế giới của văn hóa, kể cả khả năng nhận thức nó bằng tư duy lý luận

Liên quan đến một số thuật ngữ được dùng đến trong luận án này hoặc khá

gần với thuật ngữ triết học văn hóa, thì chúng tôi cho rằng triết học văn hóa được hiểu gần như trùng khít với triết học của văn hóa Nó khác với tư tưởng triết học

văn hóa ở chỗ, triết học văn hóa là một hệ thống tri thức đã được định hình đầy đủ

có đối tượng và phương pháp nghiên cứu khá chuyên biệt với các hệ vấn đề nhất

định; trong khi đó tư tưởng triết học văn hóa mới chỉ dừng lại ở mức các tri thức

khá lẻ tẻ, chưa thật đầy đủ, toàn diện về nguồn gốc, cơ sở, bản chất… của văn hóa,

và nhất là chưa có một hệ nguyên tắc, phương pháp nghiên cứu riêng làm sáng tỏ

đối tượng của mình Nó cũng khác với triết học về văn hóa thường được hiểu là sự

suy tư mang tính triết lý, triết học về một số vấn đề riêng rẽ nào đó của văn hóa

Tương tự như vậy Một số vấn đề triết học về văn hóa thì cũng chỉ là nêu và phân

tích một số vấn đề của việc nghiên cứu văn hóa dưới nhãn quan triết học, tức là những vấn đề có vẻ nằm ngoài triết học, mà chưa thật sự đụng chạm tới những vấn

đề của bản thân triết học trong nghiên cứu văn hóa (như vấn đề đối tượng, phương pháp nghiên cứu và sự khu biệt với các khoa học khác cũng nghiên cứu về vấn đề)

Trong chương mở đầu, luận án đã nêu ra và phân tích khá nhiều các nghiên cứu trong và ngoài nước điển hình nhất liên quan đến các tư tưởng về văn hóa qua các thời kỳ lịch sử Qua đó chúng tôi nhận thấy rằng, những tài liệu trực tiếp đề cập đến triết học văn hóa - đối tượng nghiên cứu của luận án này - còn khá mỏng Sự khảo sát tài liệu còn giúp chúng tôi nắm bắt được tiến trình hình thành tri thức triết

Ngày đăng: 25/08/2017, 23:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (Tái bản 1951), Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Bốn phương, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Nhà XB: NXB Bốn phương
2. Lê Ngọc Anh (2003), “Quan niệm của C. Mác về văn hoá trong “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844” và ý nghĩa hiện thời của nó trong hoạt động văn hoá”, Tạp chí Triết học (9), tr. 11 - 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm của C. Mác về văn hoá trong “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844” và ý nghĩa hiện thời của nó trong hoạt động văn hoá”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Lê Ngọc Anh
Năm: 2003
3. Toan Ánh (Tái bản 1998), Phong tục Việt Nam, NXB Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục Việt Nam
Nhà XB: NXB Đồng Tháp
4. Thomas Aquinas (2005), Tổng luận thần học, Phần I, q.20, a.1; Giáo hội Công giáo Việt Nam xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng luận thần học
Tác giả: Thomas Aquinas
Năm: 2005
5. Huỳnh Công Bá (2008), Lịch sử văn hóa Việt Nam, NXB Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn hóa Việt Nam
Tác giả: Huỳnh Công Bá
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2008
6. Ban Tư tưởng - Văn hóa trung ương (2000): Một số văn kiện của Đảng về công tác tư tưởng - văn hóa, (Tài liệu nội bộ) Tập 2 (1986 - 2000), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện của Đảng về công tác tư tưởng - văn hóa
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
7. Hoàng Chí Bảo (1993), “Ảnh hưởng của văn hóa đối với việc phát huy nguồn nhân lực con người”, Tạp chí Triết học (1), tr. 13 - 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của văn hóa đối với việc phát huy nguồn nhân lực con người”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1993
8. Phan Kế Bính (Tái bản 1990), Việt Nam phong tục, NXB Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Nhà XB: NXB Đồng Tháp
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Trung tâm Ngôn ngữ - Văn hóa (1998), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo - Trung tâm Ngôn ngữ - Văn hóa
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin
Năm: 1998
10. Bộ Văn hóa Thông tin và Thể thao (1992), Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa
Tác giả: Bộ Văn hóa Thông tin và Thể thao
Nhà XB: NXB Văn hoá - Thông tin
Năm: 1992
11. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: NXB Văn hoá - Thông tin
Năm: 1996
12. Nguyễn Trọng Chuẩn (1995), “Đôi điều suy nghĩa về giá trị và sự biến đổi của các giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường”, Tạp chí Triết học (1), tr. 3 - 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều suy nghĩa về giá trị và sự biến đổi của các giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1995
13. Đoàn Văn Chúc (1994), Những bài giảng về văn hóa, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về văn hóa
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: NXB Văn hoá - Thông tin
Năm: 1994
14. Đoàn Văn Chúc (1997), Văn hóa học, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: NXB Văn hoá - Thông tin
Năm: 1997
15. Đoàn Văn Chúc (1997), Xã hội học văn hóa, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội 16. Hoàng Sơn Cường (1995), “Từ “văn” đến “hoá” - văn hóa sự phát triển theolôgíc cuộc sống”, Tạp chí Triết học (3), tr. 33 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học văn hóa", NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội 16. Hoàng Sơn Cường (1995), “Từ “văn” đến “hoá” - văn hóa sự phát triển theo lôgíc cuộc sống”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Đoàn Văn Chúc (1997), Xã hội học văn hóa, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội 16. Hoàng Sơn Cường
Nhà XB: NXB Văn hoá - Thông tin
Năm: 1995
17. Phạm Đức Dương (2000), Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á
Tác giả: Phạm Đức Dương
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2000
18. E. Durkheim (1993), Các quy tắc của phương pháp xã hội học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy tắc của phương pháp xã hội học
Tác giả: E. Durkheim
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1993
19. Bế Viết Đẳng, Khổng Diễn, Nguyễn Văn Huy (Tái bản 1992), Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
20. V.E. Đaviđôvich (2003), Dưới lăng kính triết học, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới lăng kính triết học
Tác giả: V.E. Đaviđôvich
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
21. Nguyễn Khoa Điềm (2001), “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trước thềm thế kỷ mới”, Tạp chí Tư tưởng văn hóa (5), tr. 3 - 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trước thềm thế kỷ mới”, "Tạp chí Tư tưởng văn hóa
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w