Khoa học về đất đaiKhoa học về đất đai là mônkhoa họcnghiên cứuđất, coi đối tượng nghiên cứu này như là mộttài nguyên thiên nhiêntrên bề mặtTrái Đất, nghiên cứu khoa học đất bao gồm nghi
Trang 1Khoa học về đất đai
Khoa học về đất đai là mônkhoa họcnghiên cứuđất,
coi đối tượng nghiên cứu này như là mộttài nguyên
thiên nhiêntrên bề mặtTrái Đất, nghiên cứu khoa học
đất bao gồm nghiên cứuhình thành,phân loạivà xây
dựng bản đồ đất; các thuộc tính vật lý, hóa học, sinh
học, và độ phì nhiêu của đất; cũng như nghiên cứu các
thuộc tính này trong mối liên hệ với việc sử dụng và
quản lý đất đai…
Đôi khi thuật ngữ này được nhắc tới như là các nhánh
của khoa học đất, chẳng hạn thổ nhưỡng học và
edaphology⁇ (môn khoa học nghiên cứu đất đai như
môi trường sinh sống cho thực vật và các sinh vật khác),
chúng được sử dụng như là từ đồng nghĩa với khoa học
đất Sự đa dạng các tên gọi gắn với môn khoa học này
có liên quan đến một loạt các khái niệm có mối liên
quan ực vậy, các nhàkỹ nghệ,nông học,hóa học,
địa chất,địa lý,sinh học,vi sinh học,lâm học,khảo cổ
họccũng như các chuyên gia trongquy hoạch khu vực,
tất cả đều đóng góp những kiến thức bổ sung về đất và
làm cho khoa học đất phát triển hơn nữa
Vì sự hiểu biết về khoa học đất là quan trọng đối với
áp dụng thực tế của một loạt các ngành khoa học khác
nhau, nó là một điều không bất thường khi có thể tìm
thấy các chuyên gia về đất trong các khoa học có liên
quan Các chuyên gia này đôi khi trong ngành của
mình được nói đến như là những nhà khoa học về đất,
làm cho người ta bối rối khi nói đến các nhà khoa học
này Để phân biệt họ với các chuyên gia khác trong lĩnh
vực đất đai, các nhà khoa học chuyên nghiệp về đất tại
Mỹcó thể lấy đăng ký và chứng chỉ chuyên nghiệp
1 Lịch sử khoa học đất
1.1 Justus von Liebig
Những khái niệm sớm nhất về đất dựa trên tư tưởng
phát triển bởi nhà hóa học ngườiĐức,Justus von Liebig
(1803–1873), cũng như các thay đổi và cô đọng bởi các
nhà khoa học nông nghiệp đã làm trên các mẫu đất
trong phòng thí nghiệm, nhà kính cũng như trên các
cánh đồng nhỏ Đất ít khi được khảo sát dưới độ sâu
của lớp trồng trọt Các nhà hóa học này đưa ra thuyết
“bảng cân bằng” của dinh dưỡng cho thực vật Đất được
coi là một thùng chứa tĩnh (nhiều hay ít) của các chất
dinh dưỡng cho cây cối—đất có thể sử dụng và thay
thế Khái niệm này vẫn còn giá trị khi áp dụng trong
phạm vi của khoa học đất hiện đại, mặc dù quan niệm
có ích của đất ẩn chứa sau các khái niệm lấy đi chất
dinh dưỡng từ đất bởi cây trồng và sự trả lại của chúng trong các dạng phân bón hữu cơ, vôi và phân hóa học Các nhà địa chất học đầu tiên nói chung chấp nhận thuyết bảng cân bằng về độ màu mỡ của đất và áp dụng chúng trong phạm vi chuyên ngành của họ Họ mô tả đất như là các loại đá đã bị phân hủy —granit, sa thạch, sét tảng v.v Tuy nhiên, họ đã đi xa hơn và mô tả bằng cách nào các quá trình phong hóa đã biến đổi các vật liệu này và các quá trình địa chất đã hình thành ra các dạng đất như thế nào, chẳng hạn như các loại đất băng tích, bồi tích, hoàng thổ và thềm đại dương Chuyên khảo năm1891của nhà địa chất N S Shaler (1841–
1906) về nguồn gốc và bản chất tự nhiên của đất đã tổng quát hóa các khái niệm địa chất về đất ở thời điểm cuốithế kỷ 19
Những công việc lập bản đồ địa hình đất đai đầu tiên
đã ra đời để giúp nông dân xác định đất đai phù hợp với các loại hình quản lý khác nhau và để giúp họ xác định loại cây trồng nào cũng như việc quản lý đất đai nào phù hợp nhất với các loại hình đất cụ thể trong trang trại của họ Rất nhiều người làm công việc này đầu tiên
là các nhà địa chất bởi vì chỉ có các nhà địa chất là có khả năng chuyên môn trong việc áp dụng các phương thức cần thiết và trong tương quan khoa học phù hợp với việc nghiên cứu đất Họ cho rằng đất chủ yếu là sản phẩm của các quá trình phong hóa trong sự hình thành địa chất, được xác định bởi các thù hình đất và các thành phần đá Phần lớn các bản đồ địa hình phát hành trước năm1910đã chịu ảnh hưởng lớn của các khái niệm này Những bản đồ xuất bản từ năm1910
đến năm1920dần dần bổ sung thêm các sự cô đọng lớn và thừa nhận nhiều đặc trưng của đất nhưng vẫn giữ nền tảng của các khái niệm địa chất
uyết bảng cân bằng trong dinh dưỡng của thực vật
đã thống trị trong các phòng thí nghiệm và khái niệm địa chất thống trị các lĩnh vực nghiên cứu Cả hai cách tiếp cận đã được giảng dạy trong nhiều khóa học cho đến tận cuối những năm 1920 Mặc dù các khái niệm nói chung là có ích hơn và rộng rãi hơn về đất đã được phát triển bởi một số nhà khoa học về đất, đặc biệt là E.W Hilgard (1833–1916) và G.N Coffey (George Nelson Coffey) tại Mỹ cũng như các nhà khoa học về đất khác
ở Nga, nhưng các dữ liệu cần thiết để tạo ra những khái niệm rộng lớn hơn này đã đến từ các công trình nghiên cứu về địa hình đất đai
1
Trang 21.2 V.V.Dokuchaev
Các nền tảng khoa học của khoa học đất như
là một khoa học tự nhiên đã được thiết lập bởi
các công trình cổ điển của Dokuchaev Trước
đây, đất được coi là sản phẩm của sự chuyển
hóa hóa lý của đá, mà thực vật rút ra được các
khoáng chất dinh dưỡng từ những chất nền
của chúng Đất và đá trên thực tế là ngang
hàng nhau.
Dokuchaev cho rằng đất như là một thực thể tự
nhiên có nguồn gốc và lịch sử phát triển riêng,
là thực thể với những quá trình phức tạp và
đa dạng diễn ra trong nó Đất được coi là khác
biệt với đá Đá trở thành đất dưới ảnh hưởng
của một loạt các yếu tố tạo thành đất như khí
hậu, cây cỏ, khu vực, địa hình và tuổi eo
ông, đất có thể được gọi là các tầng trên nhất
của đá không phụ thuộc vào dạng; chúng bị
thay đổi một cách tự nhiên bởi các tác động
phổ biến của nước, không khí và một loạt các
dạng hình của các sinh vật sống hay chết.
Nguồn: Krasil'nikov, N.A (1958) Vi sinh vật
đất và các thực vật bậc cao hơn
Bắt đầu từ năm1870, trường phái Nga về khoa học đất
dưới sự lãnh đạo củaV.V.Dokuchaev(1846–1903) và
N.M Sibirtsev (1860 –1900) đã phát triển khái niệm
mới về đất Những nhà nghiên cứu Nga coi đất như là
một thực thể tự nhiên độc lập, mỗi loại có thuộc tính
duy nhất được tạo ra bởi tổ hợp duy nhất của khí hậu,
các vật chất sống, nguyên liệu gốc, địa hình và thời
gian Họ giả thiết rằng các thuộc tính của mỗi loại đất
phản ánh các hiệu ứng tổ hợp của một tập hợp cụ thể
các yếu tố phát sinh có trách nhiệm trong việc hình
thành đất Hans Jenny sau đó nhấn mạnh sự liên quan
về chức năng của các thuộc tính của đất và sự hình
thành đất Các kết quả của công trình này đã được
người Mỹ biết đến thông qua lần xuất bản năm1914
cuốn sách của K.D.Glinka bằng tiếng Đức và đặc biệt
là thông qua bản dịch tiếng Anh của C.F.Marbut năm
1927
Các khái niệm của người Nga là một cuộc cách mạng
Các thuộc tính của đất về tổng thể không còn dựa trên
các điều suy diễn từ bản chất tự nhiên của đá hay từ
khí hậu hoặc các yếu tố môi trường khác khi xem xét
một cách độc lập hay tổng thể; mà nó là của bản thân
đất một cách trực tiếp, sự biểu đạt tổng thể của các yếu
tố này có thể xem xét trong hình thái học của đất Khái
niệm này bắt buộc rằng mọi thuộc tính của đất phải
xem xét một cách tổng thể trong giới hạn của một thực
thể tự nhiên độc lập hoàn toàn Nói ngắn gọn thì điều
này đã làm cho khoa học đất trở thành hiện thực
Sự hưởng ứng ban đầu đối với khái niệm mới và sự ra
đời của một ngành mới trong khoa học đất đã làm cho
một số người cho rằng việc nghiên cứu đất có thể tiến
hành mà không cần có sự liên hệ với các khái niệm cũ
có nguồn gốc từ địa chất học vànông hóa Nhưng điều ngược lại mới là sự thật Bên cạnh việc thiết lập các nền tảng mới cho khoa học đất với những nguyên lý cơ bản của nó, khái niệm mới đã làm cho các ngành khoa học khác thậm chí trở thành có ích hơn Hình thái học đất cung cấp một nền tảng vững chắc trên đó người ta
có thể nhóm các kết quả quan trắc, thực nghiệm và các kinh nghiệm thực tế cũng như để phát triển các nguyên
lý tổng quát để có thể dự báo trước các tính chất của các loại đất
1.3 C.F.Marbut
Dưới sự lãnh đạo của Marbut, khái niệm của người Nga
đã được mở rộng ra và làm thích ứng với các điều kiện tại Mỹ Khái niệm này nhấn mạnh các mặt cắt thiết diện đất riêng biệt nhằm hạ thấp tầm quan trọng của các đặc trưng bên ngoài của đất và địa chất bề mặt Bằng cách nhấn mạnh thiết diện của đất, các nhà khoa học
về đất ban đầu có xu hướng không chú ý tới biến thiên
tự nhiên của các loại đất mà nó có thể chỉ là một sự kiện thực tế trong phạm vi một khu vực nhỏ Không chú ý tới sự biến thiên của đất đã làm giảm nghiêm trọng giá trị của các loại bản đồ mà trong đó chỉ ra khu vực của từng loại đất
Ngoài ra, sự nhấn mạnh ban đầu về các thiết diện nguồn gốc đất đã lớn đến mức cho rằng các vật chất không có trong mặt cắt thiết diện nguồn gốc (chẳng
hạn như các bồi tích (alluvium) gần thời gian đó) đã
không được coi là đất Sự phân biệt rõ ràng đã được đưa
ra giữa đá phong hóa và sự hình thành đất Mặc dù sự phân biệt giữa các tập hợp các tiến trình này là có ích trong một số mục đích nhưng đá và các khoáng chất phong hóa và sự hình thành đất nói chung là không phân biệt được
Khái niệm về đất đã dần dần được mở rộng trong những năm sau thời kỳ1930, chủ yếu thông qua sự hợp nhất
và cân bằng Sự nhấn mạnh chính là nhằm vào mặt cắt thiết diện đất Sau năm1930, các nghiên cứu hình thái học đã mở rộng từ các hố đơn thành các rãnh dài hay một loạt các hố trong khu vực có loại đất này Hình thái học của đất thành ra được mô tả bởi một dãy các thuộc tính có độ lệch từ khái niệm trung tâm thay vì bởi một thiết diện "điển hình” đơn giản Sự phát triển của các
kỹ thuật dành cho các nghiên cứu khoáng chất học của đất sét cũng nhấn mạnh sự cần thiết của các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
Marbut nhấn mạnh rằng sự phân loại đất phải dựa trên hình thái học thay vì dựa trên các học thuyết về nguồn gốc đất, bởi vì các học thuyết là phù du và thay đổi Ông
có lẽ đã đánh giá quá cao điểm này để bỏ qua những nghiên cứu của những người khác khi họ cho rằng đất đai có những đặc trưng nào đó mà không cần thiết phải khảo sát đất Marbut cố gắng làm rõ rằng việc khảo sát đất đai tự nó là chủ yếu trong phát triển hệ thống phân loại đất và trong việc tạo ra các bản đồ đất đai có ích
Trang 3Mặc dù vậy, công trình của Marbut biểu lộ những hiểu
biết cá nhân của ông về những đóng góp của địa chất
học đối với khoa học đất Sự phân loại đất năm1935của
ông phụ thuộc nhiều vào khái niệm "đất bình thường”,
sản phẩm của sự cân bằng trong khu vực ở đó sự xói
mòn theo thời gian giữ được tốc độ tiến triển của sự
hình thành đất
Sự phân loại và mở rộng các khái niệm của khoa học
đất cũng làm nảy sinh sự nhấn mạnh tăng lên trên các
bản đồ đất đai chi tiết Các khái niệm thay đổi với sự
nhấn mạnh tăng lên trên các loại cây trồng dự báo là
sinh lợi đối với mỗi loại đất được chỉ ra trên bản đồ
Rất nhiều mô tả cũ hơn của các loại đất đã không được
định lượng đầy đủ và các đơn vị phân loại cũng quá
hỗn tạp để có thể thu được lợi ích và quản lý các dự
báo cần thiết để lập kế hoạch quản lý của từng trang
trại cá nhân hay các cánh đồng
Trong những năm thập niên1930, sự hình thành của
đất đã được giải thích theo thuật ngữ của các tiến trình
được hiểu rất lỏng lẻo, chẳng hạn như “podzol hóa”, "đá
ong hóa” và “vôi hóa” Các tiến trình này được cho là
các tiến trình duy nhất có trách nhiệm đối với các thuộc
tính phổ biến được quan sát của đất đai trong khu vực
Năm1941, Factors of Soil Formation (Các yếu tố hình
thành đất) củaHans Jenny(1899–1992), một hệ thống
của thổ nhưỡng học định lượng, đã tổng quát hóa một
cách súc tích và minh họa rất nhiều nguyên lý cơ bản
của khoa học đất hiện đại cho tới ngày đó Từ năm1940,
thời gian được coi là có tầm quan trọng lớn hơn cả trong
số các yếu tố hình thành đất, và các nghiên cứu hình
thái địa chất học đã trở thành quan trọng trong việc
xác định thời gian mà các nguyên liệu ban đầu ở một
khu vực bất kỳ là chủ thể của các tiến trình hình thành
đất Trong khi ấy, những tiến bộ trong hóa học đất, vật
lý học đất, khoáng chất học đất và sinh học đất cũng
như trong các khoa học cơ bản nằm dưới chúng đã bổ
sung các công cụ mới để nghiên cứu sự hình thành đất
Kết quả là sự hình thành của đất đã được xem xét như
là tổ hợp của nhiều tiến trình vật lý, hóa học, sinh học
có liên quan với nhau Các tiến trình này là chủ thể để
nghiên cứu định lượng trong vật lý đất, hóa học đất,
sinh học đất, khoáng chất học đất Sự định hướng chú
ý cũng chuyển từ nghiên cứu các thuộc tính tổng thể
nói chung của đất đai sang các chi tiết cùng biến đổi
của các bộ phận riêng rẽ, bao gồm cả các quan hệ bản
chất đối với bản chất
1.5 Guy Smith
Trong cả hai phân loại của Marbut và phân loại năm
1938của Bộ Nông nghiệp Mỹ, các lớp đã được mô tả
chủ yếu theo các thuật ngữ định tính Các lớp không
được định nghĩa một cách định lượng để có thể cho
phép các ứng dụng của các nhà khoa học khác nhau phù hợp với hệ thống Chưa có một hệ thống nào liên kết rõ ràng các lớp của các phạm trù cao hơn thành các loại đất và các phân nhóm của chúng để sử dụng trong các bản đồ đất đai ở Mỹ Cả hai hệ thống phản ánh các khái niệm và học thuyết về nguồn gốc đất của thời gian
đó, tự chúng chủ yếu là định tính trong các đặc trưng Phiên bản sửa đổi năm1949của hệ thống năm 1938
đã sửa chữa một số thiếu hụt nhưng cũng phản ánh sự cần thiết đánh giá lại các khái niệm và nguyên lý Hơn
15 năm các công trình dưới sự chỉ đạo của Guy Smith cuối cùng đã cho ra một hệ thống phân loại đất mới Nó
trở thành hệ thống phân loại chính thức của National
Cooperative Soil Survey của Mỹ năm1965và đã được xuất bản năm1975như là Hệ thống phân loại đất: Một
hệ thống cơ bản của phân loại đất để tạo và diễn giải các bản đồ địa hình đất đai Hệ thống của Smith đã được Mỹ
và nhiều quốc gia khác chấp nhận làm hệ thống phân loại đất chính thức
Một yếu tố khác cũng có ảnh hưởng lớn đến các bản đồ địa hình đất đai, đặc biệt trong những năm1960 Trước năm1950, ứng dụng chủ yếu của các loại bản đồ này là dành cho nông nghiệp, chăn nuôi và lâm nghiệp Các ứng dụng để làm đường giao thông đã được thừa nhận
ở một số bang sớm nhất là vào những năm cuối thập niên1920, và các diễn giải về đất đã có trong sổ tay tra cứu của nhiều kỹ sư cầu đường ở một số bang trong những năm thập niên1930và1940 Ngoài ra, sự thay đổi trong các bản đồ địa hình trong giai đoạn này chủ yếu là để phục vụ cho nhu cầu của nông nghiệp, chăn nuôi và lâm nghiệp Trong những năm1950 và1960
các sử dụng bản đồ địa hình cho các mục đích phi nông nghiệp đã tăng lên nhanh chóng Điều này tạo ra nhu cầu lớn trong thông tin về các hiệu ứng của đất trong các ứng dụng phi nông nghiệp này
Nguồn: Soil Survey Staff (1993) Soil Survey Manual USDA Handbook 18
2 Thực tiễn của khoa học đất
Một cách kinh điển thì các nhà khoa học về đất
có xu hướng chuyên môn hóa trong một trong năm lĩnh vực chuyên ngành: vi sinh học, thổ nhưỡng học, edaphology⁇, vật lý học hay hóa học Các sự phân biệt giữa các nhánh này của khoa học đất thông thường bị nhòe đi trong quá trình thực hành Các chuyên gia khoa học đất nói chung hiện nay tiến hành các nghiên cứu về hóa học đất, vật lý học đất, vi sinh học đất, thổ nhưỡng học và áp dụng khoa học đất trong các nhánh liên quan Một cố gắng đáng chú ý diễn ra trong giới các nhà khoa học đất tại Mỹ vào năm2004là Soil ality Initiative
(Sáng kiến chất lượng đất) Vấn đề trung tâm của nó là phát triển các chỉ số về sức khỏe của đất đai và sau đó giám sát chúng trong vai trò như là người quản lý của hành tinh này theo cách thức có thể đem lại cho con
Trang 4người sự nuôi dưỡng dài hạn Sự cố gắng này bao gồm
các kiến thức về các chức năng của các lớp vỏ vi sinh
học của đất và khai thác các tiềm năng để cô lập cacbon
trong khí quyển thành các chất hữu cơ trong đất
Vai trò truyền thống hơn của các nhà khoa học về đất là
lập bản đồ đất đai Phần lớn các khu vực tại Mỹ hiện nay
đã được lập bản đồ địa hình đất đai, trong đó bao gồm
các bảng diễn giải, chẳng hạn các thuộc tính của đất hỗ
trợ hay hạn chế các hoạt động và sử dụng như thế nào
Khoa học phân loại đất được chấp nhận trên phạm vi
quốc tế cho phép liên hệ thống nhất các đặc trưng của
đất với các chức năng của nó Các kết quả thu được từ
bản đồ địa hình quốc gia và quốc tế đã cung cấp cho
những nhà chuyên môn sự hiểu biết thống nhất trong
các chức năng ở thang độ phong cảnh Các chức năng
phong cảnh mà các nhà khoa học đất kêu gọi sự chú ý
dường như rơi vào sáu lĩnh vực sau:
• Xử lý các ất thải trên cơ sở đất
• Các hệ thống tự hoại
• Phân bón hữu cơ
• Cácchất rắn sinh họcđô thị
• chế biến chất thải từ thức ăn và có sợi
• Nhận dạng và bảo vệ các khu vực nguy cấp về
môi trường
• Các loại đất nhạy cảm và không ổn định
• Đất ngập lụt
• Các địa thế duy nhất hỗ trợmôi trường sống
có giá trị và sựđa dạng hệ sinh thái
• ản lý hiệu suất tối ưu trong sử dụng đất
• Lâm học
• Nông học
• ản lýchất dinh dưỡng
• ản lýnước
• ực vật tự nhiên
• Đồng cỏ
• ản lý ất lượng nước tối ưu
• ản lýnước bề mặt
• Kiểm soáttrầm tíchvàxói mòn
• Sửa ữa và phục hồi các loại đất đã bị hư hại
• Phục hồi đất đã khai thác quặng
• Lụt lội và hư hại lớn
• Ô nhiễm
• Duy trì các sử dụng mong muốn
• Bảo tồnđất
Còn có các ứng dụng thực tế khác của khoa học đất mà dường như không rõ ràng từ quan điểm của việc lập các bản đồ địa hình
• Xác định niên đại bằng phóng xạ: đặc biệt các
kiến thức của thổ nhưỡng học khu vực được sử dụng để xác định các hoạt động trước đây trong khu vực
• Tầng khảo cổ: ở đó các quá trình hình thành
đất và các đặc tính bảo tồn có thể cung cấp thông tin cho nghiên cứu về cácvị trí khảo
cổ
• Hiện tượng địa chất
• Lở đất
• Cácđứt gãy động đất
• ay đổi đất để thực hiện các sử dụng mới
• ủy tinh hóađối với cácchất thải phóng xạ
• Làm giàu vi khuẩn trong đất để làm giảm các
chất ô nhiễm (xử lý sinh học)
• Cô lập cacbon
2.1 Các lĩnh vực nghiên cứu của khoa học đất
• ổ nhưỡng học
• Nguồn gốc đất
• Hình thái học đất
• Vi hình thái học đất
• Phân loại đất
• Vật lý học đất
• cơ họcvàkỹ thuật đất
• Khoáng vậthọc đất
• Hóa học đất
• Hóa sinh học đất
• Vi sinh học đất
• Edaphology⁇
2.2 Các lĩnh vực ứng dụng của khoa học đất
• Bản đồ địa hình
• ản lý đất đai
• Các phương pháp tiêu chuẩn trong phân tích
• Độ màu mỡ của đất / ản lý và cải tạođộ màu mỡ
Trang 5• Các nghiên cứuhệ sinh thái
• ay đổi khí hậu
• Các nghiên cứu vềlưu vựcvàđất ngập lụt
2.3 Các ngành khoa học liên quan
• Nông nghiệp học
• Nông học
• ản lýthủy lợi
• Nhân loại học
• tầng khảo cổ
• Môi trường học
• Sinh thái học phong cảnh
• Địa chất học
• Hóa địa chất sinh học
• Vi sinh học địa chất
• Địa mạo học
• Địa chất thủy văn
• ản lý chất thải
• Khoa họcđất ngập lụt
3 Các bài liên quan
• IUSS
• IECA
4 Tham khảo
5 Liên kết ngoài
• Certified Professional Soil Scientist
• Registered Professional Soil Scientist(PDF)
Trang 66 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh
• Khoa học về đất đai Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Khoa_h%E1%BB%8Dc_v%E1%BB%81_%C4%91%E1%BA%A5t_%C4%91ai? oldid=24080167Người đóng góp: Mxn, DHN, Vương Ngân Hà, DHN-bot, Doãn Hiệu, Qbot, Meotrangden, Tranletuhan, Phương Huy,
TuHan-Bot, Anbuihai, Cheers!-bot, MerlIwBot, AlphamaBot, Addbot, TuanUt-Bot!, AlphamaBot3 và 3 người vô danh
• Tập_tin:Commons-logo.svg Nguồn: https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/4/4a/Commons-logo.svgGiấy phép: Public
domain Người đóng góp: is version created by Pumbaa, using a proper partial circle and SVG geometry features (Former versions used to be slightly warped.) Nghệ sĩ đầu tiên: SVG version was created byUser:Grunt and cleaned up by 3247 , based on the earlier PNG version, created by Reidab
• Creative Commons Aribution-Share Alike 3.0