1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Khoa học về đất đai

6 235 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 86,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khoa học về đất đaiKhoa học về đất đai là mônkhoa họcnghiên cứuđất, coi đối tượng nghiên cứu này như là mộttài nguyên thiên nhiêntrên bề mặtTrái Đất, nghiên cứu khoa học đất bao gồm nghi

Trang 1

Khoa học về đất đai

Khoa học về đất đai là mônkhoa họcnghiên cứuđất,

coi đối tượng nghiên cứu này như là mộttài nguyên

thiên nhiêntrên bề mặtTrái Đất, nghiên cứu khoa học

đất bao gồm nghiên cứuhình thành,phân loạivà xây

dựng bản đồ đất; các thuộc tính vật lý, hóa học, sinh

học, và độ phì nhiêu của đất; cũng như nghiên cứu các

thuộc tính này trong mối liên hệ với việc sử dụng và

quản lý đất đai…

Đôi khi thuật ngữ này được nhắc tới như là các nhánh

của khoa học đất, chẳng hạn thổ nhưỡng học và

edaphology⁇ (môn khoa học nghiên cứu đất đai như

môi trường sinh sống cho thực vật và các sinh vật khác),

chúng được sử dụng như là từ đồng nghĩa với khoa học

đất Sự đa dạng các tên gọi gắn với môn khoa học này

có liên quan đến một loạt các khái niệm có mối liên

quan ực vậy, các nhàkỹ nghệ,nông học,hóa học,

địa chất,địa lý,sinh học,vi sinh học,lâm học,khảo cổ

họccũng như các chuyên gia trongquy hoạch khu vực,

tất cả đều đóng góp những kiến thức bổ sung về đất và

làm cho khoa học đất phát triển hơn nữa

Vì sự hiểu biết về khoa học đất là quan trọng đối với

áp dụng thực tế của một loạt các ngành khoa học khác

nhau, nó là một điều không bất thường khi có thể tìm

thấy các chuyên gia về đất trong các khoa học có liên

quan Các chuyên gia này đôi khi trong ngành của

mình được nói đến như là những nhà khoa học về đất,

làm cho người ta bối rối khi nói đến các nhà khoa học

này Để phân biệt họ với các chuyên gia khác trong lĩnh

vực đất đai, các nhà khoa học chuyên nghiệp về đất tại

Mỹcó thể lấy đăng ký và chứng chỉ chuyên nghiệp

1 Lịch sử khoa học đất

1.1 Justus von Liebig

Những khái niệm sớm nhất về đất dựa trên tư tưởng

phát triển bởi nhà hóa học ngườiĐức,Justus von Liebig

(1803–1873), cũng như các thay đổi và cô đọng bởi các

nhà khoa học nông nghiệp đã làm trên các mẫu đất

trong phòng thí nghiệm, nhà kính cũng như trên các

cánh đồng nhỏ Đất ít khi được khảo sát dưới độ sâu

của lớp trồng trọt Các nhà hóa học này đưa ra thuyết

“bảng cân bằng” của dinh dưỡng cho thực vật Đất được

coi là một thùng chứa tĩnh (nhiều hay ít) của các chất

dinh dưỡng cho cây cối—đất có thể sử dụng và thay

thế Khái niệm này vẫn còn giá trị khi áp dụng trong

phạm vi của khoa học đất hiện đại, mặc dù quan niệm

có ích của đất ẩn chứa sau các khái niệm lấy đi chất

dinh dưỡng từ đất bởi cây trồng và sự trả lại của chúng trong các dạng phân bón hữu cơ, vôi và phân hóa học Các nhà địa chất học đầu tiên nói chung chấp nhận thuyết bảng cân bằng về độ màu mỡ của đất và áp dụng chúng trong phạm vi chuyên ngành của họ Họ mô tả đất như là các loại đá đã bị phân hủy —granit, sa thạch, sét tảng v.v Tuy nhiên, họ đã đi xa hơn và mô tả bằng cách nào các quá trình phong hóa đã biến đổi các vật liệu này và các quá trình địa chất đã hình thành ra các dạng đất như thế nào, chẳng hạn như các loại đất băng tích, bồi tích, hoàng thổ và thềm đại dương Chuyên khảo năm1891của nhà địa chất N S Shaler (1841–

1906) về nguồn gốc và bản chất tự nhiên của đất đã tổng quát hóa các khái niệm địa chất về đất ở thời điểm cuốithế kỷ 19

Những công việc lập bản đồ địa hình đất đai đầu tiên

đã ra đời để giúp nông dân xác định đất đai phù hợp với các loại hình quản lý khác nhau và để giúp họ xác định loại cây trồng nào cũng như việc quản lý đất đai nào phù hợp nhất với các loại hình đất cụ thể trong trang trại của họ Rất nhiều người làm công việc này đầu tiên

là các nhà địa chất bởi vì chỉ có các nhà địa chất là có khả năng chuyên môn trong việc áp dụng các phương thức cần thiết và trong tương quan khoa học phù hợp với việc nghiên cứu đất Họ cho rằng đất chủ yếu là sản phẩm của các quá trình phong hóa trong sự hình thành địa chất, được xác định bởi các thù hình đất và các thành phần đá Phần lớn các bản đồ địa hình phát hành trước năm1910đã chịu ảnh hưởng lớn của các khái niệm này Những bản đồ xuất bản từ năm1910

đến năm1920dần dần bổ sung thêm các sự cô đọng lớn và thừa nhận nhiều đặc trưng của đất nhưng vẫn giữ nền tảng của các khái niệm địa chất

uyết bảng cân bằng trong dinh dưỡng của thực vật

đã thống trị trong các phòng thí nghiệm và khái niệm địa chất thống trị các lĩnh vực nghiên cứu Cả hai cách tiếp cận đã được giảng dạy trong nhiều khóa học cho đến tận cuối những năm 1920 Mặc dù các khái niệm nói chung là có ích hơn và rộng rãi hơn về đất đã được phát triển bởi một số nhà khoa học về đất, đặc biệt là E.W Hilgard (1833–1916) và G.N Coffey (George Nelson Coffey) tại Mỹ cũng như các nhà khoa học về đất khác

ở Nga, nhưng các dữ liệu cần thiết để tạo ra những khái niệm rộng lớn hơn này đã đến từ các công trình nghiên cứu về địa hình đất đai

1

Trang 2

1.2 V.V.Dokuchaev

Các nền tảng khoa học của khoa học đất như

là một khoa học tự nhiên đã được thiết lập bởi

các công trình cổ điển của Dokuchaev Trước

đây, đất được coi là sản phẩm của sự chuyển

hóa hóa lý của đá, mà thực vật rút ra được các

khoáng chất dinh dưỡng từ những chất nền

của chúng Đất và đá trên thực tế là ngang

hàng nhau.

Dokuchaev cho rằng đất như là một thực thể tự

nhiên có nguồn gốc và lịch sử phát triển riêng,

là thực thể với những quá trình phức tạp và

đa dạng diễn ra trong nó Đất được coi là khác

biệt với đá Đá trở thành đất dưới ảnh hưởng

của một loạt các yếu tố tạo thành đất như khí

hậu, cây cỏ, khu vực, địa hình và tuổi eo

ông, đất có thể được gọi là các tầng trên nhất

của đá không phụ thuộc vào dạng; chúng bị

thay đổi một cách tự nhiên bởi các tác động

phổ biến của nước, không khí và một loạt các

dạng hình của các sinh vật sống hay chết.

Nguồn: Krasil'nikov, N.A (1958) Vi sinh vật

đất và các thực vật bậc cao hơn

Bắt đầu từ năm1870, trường phái Nga về khoa học đất

dưới sự lãnh đạo củaV.V.Dokuchaev(1846–1903) và

N.M Sibirtsev (1860 –1900) đã phát triển khái niệm

mới về đất Những nhà nghiên cứu Nga coi đất như là

một thực thể tự nhiên độc lập, mỗi loại có thuộc tính

duy nhất được tạo ra bởi tổ hợp duy nhất của khí hậu,

các vật chất sống, nguyên liệu gốc, địa hình và thời

gian Họ giả thiết rằng các thuộc tính của mỗi loại đất

phản ánh các hiệu ứng tổ hợp của một tập hợp cụ thể

các yếu tố phát sinh có trách nhiệm trong việc hình

thành đất Hans Jenny sau đó nhấn mạnh sự liên quan

về chức năng của các thuộc tính của đất và sự hình

thành đất Các kết quả của công trình này đã được

người Mỹ biết đến thông qua lần xuất bản năm1914

cuốn sách của K.D.Glinka bằng tiếng Đức và đặc biệt

là thông qua bản dịch tiếng Anh của C.F.Marbut năm

1927

Các khái niệm của người Nga là một cuộc cách mạng

Các thuộc tính của đất về tổng thể không còn dựa trên

các điều suy diễn từ bản chất tự nhiên của đá hay từ

khí hậu hoặc các yếu tố môi trường khác khi xem xét

một cách độc lập hay tổng thể; mà nó là của bản thân

đất một cách trực tiếp, sự biểu đạt tổng thể của các yếu

tố này có thể xem xét trong hình thái học của đất Khái

niệm này bắt buộc rằng mọi thuộc tính của đất phải

xem xét một cách tổng thể trong giới hạn của một thực

thể tự nhiên độc lập hoàn toàn Nói ngắn gọn thì điều

này đã làm cho khoa học đất trở thành hiện thực

Sự hưởng ứng ban đầu đối với khái niệm mới và sự ra

đời của một ngành mới trong khoa học đất đã làm cho

một số người cho rằng việc nghiên cứu đất có thể tiến

hành mà không cần có sự liên hệ với các khái niệm cũ

có nguồn gốc từ địa chất học vànông hóa Nhưng điều ngược lại mới là sự thật Bên cạnh việc thiết lập các nền tảng mới cho khoa học đất với những nguyên lý cơ bản của nó, khái niệm mới đã làm cho các ngành khoa học khác thậm chí trở thành có ích hơn Hình thái học đất cung cấp một nền tảng vững chắc trên đó người ta

có thể nhóm các kết quả quan trắc, thực nghiệm và các kinh nghiệm thực tế cũng như để phát triển các nguyên

lý tổng quát để có thể dự báo trước các tính chất của các loại đất

1.3 C.F.Marbut

Dưới sự lãnh đạo của Marbut, khái niệm của người Nga

đã được mở rộng ra và làm thích ứng với các điều kiện tại Mỹ Khái niệm này nhấn mạnh các mặt cắt thiết diện đất riêng biệt nhằm hạ thấp tầm quan trọng của các đặc trưng bên ngoài của đất và địa chất bề mặt Bằng cách nhấn mạnh thiết diện của đất, các nhà khoa học

về đất ban đầu có xu hướng không chú ý tới biến thiên

tự nhiên của các loại đất mà nó có thể chỉ là một sự kiện thực tế trong phạm vi một khu vực nhỏ Không chú ý tới sự biến thiên của đất đã làm giảm nghiêm trọng giá trị của các loại bản đồ mà trong đó chỉ ra khu vực của từng loại đất

Ngoài ra, sự nhấn mạnh ban đầu về các thiết diện nguồn gốc đất đã lớn đến mức cho rằng các vật chất không có trong mặt cắt thiết diện nguồn gốc (chẳng

hạn như các bồi tích (alluvium) gần thời gian đó) đã

không được coi là đất Sự phân biệt rõ ràng đã được đưa

ra giữa đá phong hóa và sự hình thành đất Mặc dù sự phân biệt giữa các tập hợp các tiến trình này là có ích trong một số mục đích nhưng đá và các khoáng chất phong hóa và sự hình thành đất nói chung là không phân biệt được

Khái niệm về đất đã dần dần được mở rộng trong những năm sau thời kỳ1930, chủ yếu thông qua sự hợp nhất

và cân bằng Sự nhấn mạnh chính là nhằm vào mặt cắt thiết diện đất Sau năm1930, các nghiên cứu hình thái học đã mở rộng từ các hố đơn thành các rãnh dài hay một loạt các hố trong khu vực có loại đất này Hình thái học của đất thành ra được mô tả bởi một dãy các thuộc tính có độ lệch từ khái niệm trung tâm thay vì bởi một thiết diện "điển hình” đơn giản Sự phát triển của các

kỹ thuật dành cho các nghiên cứu khoáng chất học của đất sét cũng nhấn mạnh sự cần thiết của các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

Marbut nhấn mạnh rằng sự phân loại đất phải dựa trên hình thái học thay vì dựa trên các học thuyết về nguồn gốc đất, bởi vì các học thuyết là phù du và thay đổi Ông

có lẽ đã đánh giá quá cao điểm này để bỏ qua những nghiên cứu của những người khác khi họ cho rằng đất đai có những đặc trưng nào đó mà không cần thiết phải khảo sát đất Marbut cố gắng làm rõ rằng việc khảo sát đất đai tự nó là chủ yếu trong phát triển hệ thống phân loại đất và trong việc tạo ra các bản đồ đất đai có ích

Trang 3

Mặc dù vậy, công trình của Marbut biểu lộ những hiểu

biết cá nhân của ông về những đóng góp của địa chất

học đối với khoa học đất Sự phân loại đất năm1935của

ông phụ thuộc nhiều vào khái niệm "đất bình thường”,

sản phẩm của sự cân bằng trong khu vực ở đó sự xói

mòn theo thời gian giữ được tốc độ tiến triển của sự

hình thành đất

Sự phân loại và mở rộng các khái niệm của khoa học

đất cũng làm nảy sinh sự nhấn mạnh tăng lên trên các

bản đồ đất đai chi tiết Các khái niệm thay đổi với sự

nhấn mạnh tăng lên trên các loại cây trồng dự báo là

sinh lợi đối với mỗi loại đất được chỉ ra trên bản đồ

Rất nhiều mô tả cũ hơn của các loại đất đã không được

định lượng đầy đủ và các đơn vị phân loại cũng quá

hỗn tạp để có thể thu được lợi ích và quản lý các dự

báo cần thiết để lập kế hoạch quản lý của từng trang

trại cá nhân hay các cánh đồng

Trong những năm thập niên1930, sự hình thành của

đất đã được giải thích theo thuật ngữ của các tiến trình

được hiểu rất lỏng lẻo, chẳng hạn như “podzol hóa”, "đá

ong hóa” và “vôi hóa” Các tiến trình này được cho là

các tiến trình duy nhất có trách nhiệm đối với các thuộc

tính phổ biến được quan sát của đất đai trong khu vực

Năm1941, Factors of Soil Formation (Các yếu tố hình

thành đất) củaHans Jenny(1899–1992), một hệ thống

của thổ nhưỡng học định lượng, đã tổng quát hóa một

cách súc tích và minh họa rất nhiều nguyên lý cơ bản

của khoa học đất hiện đại cho tới ngày đó Từ năm1940,

thời gian được coi là có tầm quan trọng lớn hơn cả trong

số các yếu tố hình thành đất, và các nghiên cứu hình

thái địa chất học đã trở thành quan trọng trong việc

xác định thời gian mà các nguyên liệu ban đầu ở một

khu vực bất kỳ là chủ thể của các tiến trình hình thành

đất Trong khi ấy, những tiến bộ trong hóa học đất, vật

lý học đất, khoáng chất học đất và sinh học đất cũng

như trong các khoa học cơ bản nằm dưới chúng đã bổ

sung các công cụ mới để nghiên cứu sự hình thành đất

Kết quả là sự hình thành của đất đã được xem xét như

là tổ hợp của nhiều tiến trình vật lý, hóa học, sinh học

có liên quan với nhau Các tiến trình này là chủ thể để

nghiên cứu định lượng trong vật lý đất, hóa học đất,

sinh học đất, khoáng chất học đất Sự định hướng chú

ý cũng chuyển từ nghiên cứu các thuộc tính tổng thể

nói chung của đất đai sang các chi tiết cùng biến đổi

của các bộ phận riêng rẽ, bao gồm cả các quan hệ bản

chất đối với bản chất

1.5 Guy Smith

Trong cả hai phân loại của Marbut và phân loại năm

1938của Bộ Nông nghiệp Mỹ, các lớp đã được mô tả

chủ yếu theo các thuật ngữ định tính Các lớp không

được định nghĩa một cách định lượng để có thể cho

phép các ứng dụng của các nhà khoa học khác nhau phù hợp với hệ thống Chưa có một hệ thống nào liên kết rõ ràng các lớp của các phạm trù cao hơn thành các loại đất và các phân nhóm của chúng để sử dụng trong các bản đồ đất đai ở Mỹ Cả hai hệ thống phản ánh các khái niệm và học thuyết về nguồn gốc đất của thời gian

đó, tự chúng chủ yếu là định tính trong các đặc trưng Phiên bản sửa đổi năm1949của hệ thống năm 1938

đã sửa chữa một số thiếu hụt nhưng cũng phản ánh sự cần thiết đánh giá lại các khái niệm và nguyên lý Hơn

15 năm các công trình dưới sự chỉ đạo của Guy Smith cuối cùng đã cho ra một hệ thống phân loại đất mới Nó

trở thành hệ thống phân loại chính thức của National

Cooperative Soil Survey của Mỹ năm1965và đã được xuất bản năm1975như là Hệ thống phân loại đất: Một

hệ thống cơ bản của phân loại đất để tạo và diễn giải các bản đồ địa hình đất đai Hệ thống của Smith đã được Mỹ

và nhiều quốc gia khác chấp nhận làm hệ thống phân loại đất chính thức

Một yếu tố khác cũng có ảnh hưởng lớn đến các bản đồ địa hình đất đai, đặc biệt trong những năm1960 Trước năm1950, ứng dụng chủ yếu của các loại bản đồ này là dành cho nông nghiệp, chăn nuôi và lâm nghiệp Các ứng dụng để làm đường giao thông đã được thừa nhận

ở một số bang sớm nhất là vào những năm cuối thập niên1920, và các diễn giải về đất đã có trong sổ tay tra cứu của nhiều kỹ sư cầu đường ở một số bang trong những năm thập niên1930và1940 Ngoài ra, sự thay đổi trong các bản đồ địa hình trong giai đoạn này chủ yếu là để phục vụ cho nhu cầu của nông nghiệp, chăn nuôi và lâm nghiệp Trong những năm1950 và1960

các sử dụng bản đồ địa hình cho các mục đích phi nông nghiệp đã tăng lên nhanh chóng Điều này tạo ra nhu cầu lớn trong thông tin về các hiệu ứng của đất trong các ứng dụng phi nông nghiệp này

Nguồn: Soil Survey Staff (1993) Soil Survey Manual USDA Handbook 18

2 Thực tiễn của khoa học đất

Một cách kinh điển thì các nhà khoa học về đất

có xu hướng chuyên môn hóa trong một trong năm lĩnh vực chuyên ngành: vi sinh học, thổ nhưỡng học, edaphology⁇, vật lý học hay hóa học Các sự phân biệt giữa các nhánh này của khoa học đất thông thường bị nhòe đi trong quá trình thực hành Các chuyên gia khoa học đất nói chung hiện nay tiến hành các nghiên cứu về hóa học đất, vật lý học đất, vi sinh học đất, thổ nhưỡng học và áp dụng khoa học đất trong các nhánh liên quan Một cố gắng đáng chú ý diễn ra trong giới các nhà khoa học đất tại Mỹ vào năm2004là Soil ality Initiative

(Sáng kiến chất lượng đất) Vấn đề trung tâm của nó là phát triển các chỉ số về sức khỏe của đất đai và sau đó giám sát chúng trong vai trò như là người quản lý của hành tinh này theo cách thức có thể đem lại cho con

Trang 4

người sự nuôi dưỡng dài hạn Sự cố gắng này bao gồm

các kiến thức về các chức năng của các lớp vỏ vi sinh

học của đất và khai thác các tiềm năng để cô lập cacbon

trong khí quyển thành các chất hữu cơ trong đất

Vai trò truyền thống hơn của các nhà khoa học về đất là

lập bản đồ đất đai Phần lớn các khu vực tại Mỹ hiện nay

đã được lập bản đồ địa hình đất đai, trong đó bao gồm

các bảng diễn giải, chẳng hạn các thuộc tính của đất hỗ

trợ hay hạn chế các hoạt động và sử dụng như thế nào

Khoa học phân loại đất được chấp nhận trên phạm vi

quốc tế cho phép liên hệ thống nhất các đặc trưng của

đất với các chức năng của nó Các kết quả thu được từ

bản đồ địa hình quốc gia và quốc tế đã cung cấp cho

những nhà chuyên môn sự hiểu biết thống nhất trong

các chức năng ở thang độ phong cảnh Các chức năng

phong cảnh mà các nhà khoa học đất kêu gọi sự chú ý

dường như rơi vào sáu lĩnh vực sau:

• Xử lý các ất thải trên cơ sở đất

• Các hệ thống tự hoại

Phân bón hữu cơ

• Cácchất rắn sinh họcđô thị

• chế biến chất thải từ thức ăn và có sợi

• Nhận dạng và bảo vệ các khu vực nguy cấp về

môi trường

• Các loại đất nhạy cảm và không ổn định

Đất ngập lụt

• Các địa thế duy nhất hỗ trợmôi trường sống

có giá trị và sựđa dạng hệ sinh thái

• ản lý hiệu suất tối ưu trong sử dụng đất

Lâm học

Nông học

• ản lýchất dinh dưỡng

• ản lýnước

• ực vật tự nhiên

Đồng cỏ

• ản lý ất lượng nước tối ưu

• ản lýnước bề mặt

• Kiểm soáttrầm tíchvàxói mòn

• Sửa ữa và phục hồi các loại đất đã bị hư hại

• Phục hồi đất đã khai thác quặng

• Lụt lội và hư hại lớn

• Ô nhiễm

• Duy trì các sử dụng mong muốn

• Bảo tồnđất

Còn có các ứng dụng thực tế khác của khoa học đất mà dường như không rõ ràng từ quan điểm của việc lập các bản đồ địa hình

• Xác định niên đại bằng phóng xạ: đặc biệt các

kiến thức của thổ nhưỡng học khu vực được sử dụng để xác định các hoạt động trước đây trong khu vực

• Tầng khảo cổ: ở đó các quá trình hình thành

đất và các đặc tính bảo tồn có thể cung cấp thông tin cho nghiên cứu về cácvị trí khảo

cổ

Hiện tượng địa chất

Lở đất

• Cácđứt gãy động đất

• ay đổi đất để thực hiện các sử dụng mới

ủy tinh hóađối với cácchất thải phóng xạ

• Làm giàu vi khuẩn trong đất để làm giảm các

chất ô nhiễm (xử lý sinh học)

Cô lập cacbon

2.1 Các lĩnh vực nghiên cứu của khoa học đất

ổ nhưỡng học

Nguồn gốc đất

• Hình thái học đất

• Vi hình thái học đất

Phân loại đất

• Vật lý học đất

cơ họcvàkỹ thuật đất

Khoáng vậthọc đất

• Hóa học đất

• Hóa sinh học đất

• Vi sinh học đất

Edaphology⁇

2.2 Các lĩnh vực ứng dụng của khoa học đất

Bản đồ địa hình

• ản lý đất đai

• Các phương pháp tiêu chuẩn trong phân tích

• Độ màu mỡ của đất / ản lý và cải tạođộ màu mỡ

Trang 5

• Các nghiên cứuhệ sinh thái

ay đổi khí hậu

• Các nghiên cứu vềlưu vựcvàđất ngập lụt

2.3 Các ngành khoa học liên quan

Nông nghiệp học

Nông học

• ản lýthủy lợi

Nhân loại học

tầng khảo cổ

Môi trường học

Sinh thái học phong cảnh

Địa chất học

Hóa địa chất sinh học

Vi sinh học địa chất

Địa mạo học

Địa chất thủy văn

ản lý chất thải

• Khoa họcđất ngập lụt

3 Các bài liên quan

IUSS

IECA

4 Tham khảo

5 Liên kết ngoài

Certified Professional Soil Scientist

Registered Professional Soil Scientist(PDF)

Trang 6

6 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh

• Khoa học về đất đai Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Khoa_h%E1%BB%8Dc_v%E1%BB%81_%C4%91%E1%BA%A5t_%C4%91ai? oldid=24080167Người đóng góp: Mxn, DHN, Vương Ngân Hà, DHN-bot, Doãn Hiệu, Qbot, Meotrangden, Tranletuhan, Phương Huy,

TuHan-Bot, Anbuihai, Cheers!-bot, MerlIwBot, AlphamaBot, Addbot, TuanUt-Bot!, AlphamaBot3 và 3 người vô danh

• Tập_tin:Commons-logo.svg Nguồn: https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/4/4a/Commons-logo.svgGiấy phép: Public

domain Người đóng góp: is version created by Pumbaa, using a proper partial circle and SVG geometry features (Former versions used to be slightly warped.) Nghệ sĩ đầu tiên: SVG version was created byUser:Grunt and cleaned up by 3247 , based on the earlier PNG version, created by Reidab

Creative Commons Aribution-Share Alike 3.0

Ngày đăng: 25/08/2017, 11:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN