1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình giáo dục học

171 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 32,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU Để đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập học phần: Giáo dục học, tài liệu biên soạn nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về khoa học giáo dục, các yếu tố ảnh hư

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

KHOA SP TIỂU HỌC – MẦM NON

GIÁO TRÌNH (Lưu hành nội bộ)

GIÁO DỤC HỌC (Dành cho sinh viên các ngành ĐHSP)

Tác giả: Nguyễn Thị Xuân Hương Hoàng Thị Tường Vi

Năm 2016

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 4

Chương 1 5

GIÁO DỤC HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC 5

1.1 GIÁO DỤC LÀ MỘT HIỆN TƯỢNG XÃ HỘI ĐẶC BIỆT 5

1.2 CHỨC NĂNG CỦA GIÁO DỤC 7

1.3 ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA GIÁO DỤC HỌC 10

1.4 SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIÁO DỤC HỌC 14

1.5 HỆ THỐNG CÁC KHOA HỌC VỀ GIÁO DỤC VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁO DỤC HỌC VỚI CÁC KHOA HỌC KHÁC 19

Chương 2 23

GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH 23

2.1 SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CỦA CON NGƯỜI 23

2.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH 25

Chương 3 32

MỤC ĐÍCH, MỤC TIÊU GIÁO DỤC VÀ HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN 32

3.1 KHÁI NIỆM MỤC ĐÍCH, MỤC TIÊU GIÁO DỤC VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA MỤC ĐÍCH, MỤC TIÊU GIÁO DỤC 32

3.2 MỤC ĐÍCH GIÁO DỤC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 35

3.3 HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN 48

Chương 4 52

NGƯỜI GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 52

4.1 VAI TRÒ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 52

4.2 ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG SƯ PHẠM CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 56

4.3.YÊU CẦU VỀ PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 60

4.4 MỐI QUAN HỆ CÔNG TÁC CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG HOẠT ĐỘNG SƯ PHẠM 63

Trang 3

4.5 VẤN ĐỀ BỒI DƯỠNG, HOÀN THIỆN NHÂN CÁCH CỦA NGƯỜI GIÁO

VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 64

CHƯƠNG 5 67

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA LÝ LUẬN DẠY HỌC 67

5.1 QUÁ TRÌNH DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 67

5.2 NGUYÊN TẮC DẠY HỌC 75

CHƯƠNG 6 79

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 79

6.1 NỘI DUNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 79

6.2 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 86

6.3 PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 95

6.4 HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 98

CHƯƠNG 7 110

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA LÝ LUẬN GIÁO DỤC 110

7.1.QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC 110

7.2 NGUYÊN TẮC GIÁO DỤC 122

7.3 PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC 128

7.3.1 Khái niệm 128

Chương 8 137

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 137

8.1 KHÁI NIỆM NỘI DUNG GIÁO DỤC 137

8.2 NỘI DUNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 139

Chương 9 157

NGƯỜI GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 157

9.1 VAI TRÒ CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 157

9.2 NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 161

9.3 PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC CỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP 169

9.4 NHỮNG YÊU CẦU ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP 170

TÀI LIỆU THAM KHẢO 171

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Để đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập học phần: Giáo dục học, tài liệu biên

soạn nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về khoa học giáo dục, các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách, mục đích, mục tiêu giáo dục và hệ thống giáo dục quốc dân, người giáo viên THPT; Lý luận dạy học và giáo dục ở trường trung học (quá trình, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức ); Hiểu rõ các đặc điểm, nhiệm vụ của hoạt động dạy học và giáo dục ở trường trung học phổ thông Trên

cơ sở đó, sinh viên có khả năng vận dụng kiến thức của học phần vào thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhà giáo nói chung và của người giáo viên trung học nói riêng Hình thành các kỹ năng tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục ở trường trung phổ thông Nội dung tài liệu thể hiện trong 9 chương:

Chương 1 Giáo dục học là một khoa học

Chương 2 Giáo dục và sự phát triển nhân cách

Chương 3 Mục đích, mục tiêu giáo dục và hệ thống giáo dục quốc dân

Chương 4 Người giáo viên trung học phổ thông

Chương 5 Những vấn đề cơ bản của lý luận dạy học

Chương 6 Tổ chức hoạt động dạy học ở trường phổ thông

Chương 7 Những vấn đề cơ bản của lý luận giáo dục

Chương 8 Tổ chức hoạt động giáo dục ở trường phổ thông

Chương 9 Người giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông

Trong quá trình biên soạn tài liệu không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong đồng nghiệp và sinh viên góp ý để tài liệu hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Trang 5

Chương 1 GIÁO DỤC HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC

1.1 GIÁO DỤC LÀ MỘT HIỆN TƯỢNG XÃ HỘI ĐẶC BIỆT

1.1.1 Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt

Từ khi xuất hiện trên trái đất, để tồn tại và phát triển, loài người đã bắt tay vào lao động Bằng lao động, con người đã sử dụng toàn bộ năng lực bản chất của mình tác động vào thế giới tự nhiên để làm ra của cải vật chất để duy trì sự tồn tại của con người, thông qua đó thúc đẩy sự phát triển xã hội Trong quá trình đó, con người được cải tạo và ngày càng phát triển, hoàn thiện

Cùng với lao động, loài người phải nhận thức thế giới khách quan, không ngừng nắm bắt những quy luật, những thuộc tính bản chất về thế giới và vận chúng vào thực tiễn cải tạo thế giới Những kinh nghiệm trong lao động sản xuất, sinh hoạt xã hội cũng như nhận thức được tích lũy, khái quát hóa, hệ thống hóa ngày càng phong phú, đa dạng

Trong quá trình đó, loài người nảy sinh nhu cầu truyền thụ lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm đã tích lũy được Một mặt, làm cho những kinh nghiệm xã hội đó không những không mất đi, không lãng quên mà còn được bảo tồn, lưu giữ, kế tục, ngày càng phong phú lên Mặt khác, quan trọng hơn là chuẩn bị cho thế hệ sau có đủ năng lực để bước vào cuộc sống, lao động, sản xuất, không chỉ duy trì sự tồn tại của mình mà còn thông qua đó thúc đẩy sự phát triển xã hội Nhờ sự tiếp nhận những kinh nghiệm xã hội mà thế hệ trước truyền lại, những thế hệ sau tái tạo năng lực bản chất của lòai người thành năng lực bản chất cho chính mình để trở thành những chủ thể xã hội Các thế hệ đi sau vì thế mà bao giờ cũng có sự phát triển với trình độ cao hơn các thế hệ đi trước Hiện tượng

đó gọi là sự giáo dục

Vậy giáo dục hiểu theo nghĩa rộng nhất là sự truyền thụ kinh nghiệm xã hội từ thế hệ trước cho thế hệ sau nhằm chuẩn bị cho thế hệ sau bước vào cuộc sống

Với ý nghĩa đó, giáo dục ra đời từ khi xã hội mới hình thành, do nhu cầu của xã hội

và trở thành một yếu tố cơ bản để là phát triển xã hội Giáo dục là một hoạt động có ý thức của con người nhằm vào mục đích phát triển của chính con người và phát triển xã hội Vì vậy giáo dục là một hiện tượng xã hội và là một nhu cầu tất yếu của xã hội

Tuy nhiên, giáo dục ban đầu thực hiện một cách đơn giản, trực tiếp trong lao động và trong cuộc sống, được thực hiện bởi người lớn, ở mọi lúc, mọi nơi Khi xã hội ngày càng phát triển lên, kinh nghiệm xã hội được đúc kết ngày càng nhiều, yêu cầu của xã hội đối với con người ngày càng cao, các loại hình xã hội ngày càng mở rộng hơn thì giáo dục theo phương thức trực tiếp không còn phù hợp nữa mà đòi hỏi một phương thức giáo dục có hiệu quả hơn Giáo dục gián tiếp theo phương thức nhà trường, được thực hiện một cách chuyên biệt ra đời và ngày càng phát triển đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu của xã hội Do

đó xã hội càng phát triển, giáo dục ngày càng trở nên phức tạp, đa dạng và mang tính

Trang 6

chuyên biệt hơn Sự phát triển đó là yêu cầu tất yếu của xã hội và do sức mạnh to lớn của

giáo dục tạo ra sự phát triển xã hội

1.1.2 Tính quy định của xã hội đối với giáo dục

Giáo dục là một hiện tượng xã hội có tác động mạnh mẽ đến xã hội và chịu sự chi phối sâu sắc của các mặt đời sống xã hội Tính quy định của xã hội đối với giáo dục thể

hiện ở những tính chất sau:

1.1.2.1 Tính lịch sử - xã hội của giáo dục

Sự ra đời và phát triển của giáo dục gắn liền với sự ra đời và phát triển của xã hội Một mặt nó phục vụ cho sự phát triển xã hội, xã hội không thể phát triển thêm một bước nào nếu không có những điều kiện cần thiết do giáo dục tạo ra Mặt khác, sự phát triển của giáo dục luôn chịu sự quy định của xã hội thông qua những yêu cầu ngày càng cao và những điều kiện ngày càng thuận lợi Chính vì vậy mà trình độ phát triển của giáo dục phản ánh những đặc điểm phát triển của xã hội

Như vậy, ở mỗi giai đoạn phát triển xã hội nói chung và ở mỗi quốc gia nói riêng sẽ

có một nền giáo dục tương ứng Nền giáo dục phong kiến đã phản ánh những đặc trưng của

xã hội phong kiến với một nền nông nghiệp lạc hậu, trì trễ và có vai trò to lớn trong việc duy trì sự bền vững của xã hội phong kiến trong cả nghìn năm Khi cuộc cách mạng công nghiệp thành công ở châu Âu đưa nhân lọai bước sang một nền văn minh mới - nền văn minh công nghiệp - cùng một lúc nền giáo dục mới ra đời Đó là nền giáo dục theo phương thức nhà trường, có khả năng giáo dục đồng loạt, được tổ chức một cách khoa học, cung cấp cho nền kinh tế công nghiệp đội ngũ những người lao động đồng bộ, có trình độ cao Trong thời đại ngày nay, nền giáo dục của mỗi quốc gia đang không ngừng cải cách, đổi mới thích ứng với xu hướng phát triển mới mẻ và năng động của toàn nhân loại Sự đổi mới giáo dục trở thành một yêu cầu cấp bách và sống còn của mỗi quốc gia

Sự phát triển giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã hội thể hiện trên tất cả các mặt, các yếu tố của nền giáo dục: mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, hình thức tổ chức giáo dục, chính sách giáo dục…Sự khác nhau của các yếu tố trên cũng đều do sự quy định của các đặc điểm phát triển giáo dục

1.1.2.2 Tính giai cấp của giáo dục

Trong xã hội có giai cấp thì giáo dục tất yếu mang tính giai cấp vì giai cấp cầm quyền bao giờ cũng nắm vững giáo dục, sử dụng giáo dục Một mặt giáo dục trở thành công cụ đắc lực đấu tranh giai cấp nhằm bảo vệ và củng cố địa vị thống trị của giai cấp Giáo dục

có chức năng truyền bá hệ tư tưởng, đường lối, quan điểm, chính sách giai cấp Mặt khác, giai cấp thống trị biến giáo dục thành phương tiện để đào tạo lớp người trung thành, phục

vụ đắc lực cho sứ mệnh của giai cấp mình

Tính giai cấp quy định mục đích giáo dục, hệ thống giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, hình thức tổ chức giáo dục… Nói tóm lại tính giai cấp chi phối toàn

bộ nền giáo dục trong xã hội có giai cấp Ví dụ: trong xã hội phong kiến, giáo dục nhằm đào tạo những con người giáo điều, buộc phải học, phải làm một cách máy móc, rập khuôn

Trang 7

những điều đã nói trong sách, phục vụ một cách mù quáng cho giai cấp phong kiến nắm chính quyền

Còn trong xã hội ta, nền giáo dục mang tính chất giai cấp công nhân, được tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhằm mục tiêu chung là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, tạo mọi cơ hội cho mọi người đều được

đi học, đều được phát triển mọi mặt về nhân cách và trở thành những công dân, người sáng

tạo, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước

1.1.2.3 Tính kế thừa của giáo dục

Giáo dục bao giờ cũng mang tính kế thừa, vì đó là những kinh nghiệm, những thành tựu của nhân loại đúc kết qua quá trình xây dựng và phát triển giáo dục theo lịch sử phát triển của xã hội

Tính kế thừa của giáo dục đòi hỏi: một mặt tiếp nhận có chọn lọc, có phê phán những yếu tố tích cực của nền giáo dục cũ, làm cho nó phù hợp với hoàn cảnh mới, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn giáo dục mới Mặt khác, mạnh dạn xóa bỏ, loài trừ những yếu tố lạc hậu, lỗi thời thay thế vào đó những yếu tố mới mẻ, tích cực và tiên tiến của thế giới để có thể xây dựng một nền giáo dục vừa mang tính truyền thống, vừa mang tính hiện đại, phù hợp với tình hình đất nước trong thời kỳ hiện nay

Giáo dục Việt Nam đang trong giai đoạn đổi mới mang tính đột phá Một mặt vừa phải kế thừa những thành quả của hơn 60 năm nền giáo dục cách mạng và truyền thống hơn 4000 nghìn năm văn hiến của dân tộc Mặt khác, phải tiếp nhận những thành tựu tiên tiến của các nền giáo dục thế giới cũng như những thành tựu của nền giáo dục khoa học- công nghệ hiện đại của nhân loại để hiện đại hóa nền giáo dục nước nhà, xây dựng một nền giáo dục mang tầm thời đại, có đủ khả năng để đào tạo ra những thế hệ con người phát triển hài hòa, thực hiện thành công sự nghiệp CNH - HĐH đất nước

1.2 CHỨC NĂNG CỦA GIÁO DỤC

1.2.1 Chức năng kinh tế - sản xuất

Bất kỳ một nước nào muốn phát triển kinh tế, sản xuất thì phải có đủ nhân lực và nhân lực phải có chất lượng cao Nhân lực là lực lượng lao động của xã hội, là đội ngũ những người lao động đang làm việc trong tất cả các ngành nghề, các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội… đảm bảo cho xã hội vận động và phát triển đúng quy luật

Chức năng kinh tế - sản xuất của giáo dục thể hiện tập trung nhất thông qua việc đào

tạo nguồn nhân lực Cụ thể là giáo dục đào tạo những con người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất nhân cách cao, giáo dục tạo ra sức lao động mới một cách khéo

léo, tinh xảo, hiệu quả để thay thế sức lao động cũ mất đi, vừa tạo sức lao động mới cao hơn, góp phần tăng năng suất lao động, đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội

Chính giáo dục đã tái sản xuất sức lao động xã hội, tạo ra lực lượng trực tiếp sản xuất và

quản lý xã hội với trình độ, năng lực cao Giaó dục giúp cho mọi thành viên trong xã hội các cơ hội được mở mang trí tuệ, trau dồi nhân cách, phát triển các sức mạnh tinh thần và thể chất để vươn lên làm chủ trong lao động, trong cuộc sống cộng đồng Khi mọi thành

Trang 8

viên trong xã hội đều được tiếp nhận một nền giáo dục đúng đắn thì xã hội thực sự được tái sản xuất sức lao động với chất lượng cao hơn Người lao động, do kết quả đào tạo của nhà trường sẽ được phát triển hài hòa các năng lực chung và riêng và do đó xã hội sẽ được tăng thêm sức lao động mới thay thế sức lao động cũ bị mất đi Sức lao động mới có chất lượng hơn sẽ đem lại năng suất lao động nhiều hơn

Đặc biệt trong xã hội hiện đại, khi trình độ phát triển của nền kinh tế là do trình độ của con người được giáo dục và đào tạo ra quyết định thì vai trò của giáo dục càng được

khẳng định Trong nền kinh tế thị trường, nguồn nhân lực còn được gọi là nguồn vốn nhân

lực (cùng với nguồn vốn tài nguyên, nguồn vốn sản xuất và nguồn vốn khoa học – công

nghệ) với tư cách là một nhân tố tăng trưởng kinh tế Trong các nguồn vốn thì vốn nhân

lực được coi quan trọng nhất bởi lẽ nó không đơn thuần là một nguồn vốn mà nó còn giữ vai trò chủ thể đối với các nguồn vốn khác, nó quyết định khả năng khai thác và hiệu quả

sử dụng các nguồn vốn khác Theo lí thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại, tỉ lệ tăng GDP

phụ thuộc vào tốc độ tăng của các yếu tố đầu vào: nhân lực, vốn sản xuất, tài nguyên, khoa

học – công nghệ và hiệu quả sử dụng chúng Tuy nhiên những nghiên cứu của các nhà kinh

tế học, quản lý xã hội và quản lý kinh tế đã thừa nhận vốn và kỹ thuật chỉ góp một phần nhỏ vào tăng trưởng kinh tế, còn phần rất quan trọng của “sản phẩm thặng dư” gắn liền với chất lượng nguồn nhân lực (trình độ được giáo dục về thể lực, trí lực, tâm lực) Vai trò của nhân lực ở chỗ, trước hết nó là một đầu vào của tăng trưởng GDP, sau nữa nó còn có ý nghĩa quyết định đối với tỷ lệ tăng của các nguồn lực khác

Để thực hiện tốt chức năng kinh tế- sản xuất, giáo dục phải thỏa mãn một số yêu cầu

cơ bản sau đây:

- Giáo dục phải gắn bó với sự phát triển kinh tế - sản xuất, thỏa mãn các yêu cầu phát

triển kinh tế - sản xuất trong từng giai đoạn cụ thể

- Xây dựng một hệ thống ngành nghề cân đối, đa dạng phù hợp với sự phát triển kinh

tế- sản xuất của đất nước

- Các loại hình cán bộ kỹ thuật và công nhân phải đảm bảo tính cân đối, tránh tình trạng thừa thầy, thiếu thợ, đồng thời phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất cao, thỏa mãn các yêu cầu sản xuất hiện đại

Như vậy, với chức năng kinh tế - sản xuất giáo dục là động lực chính thúc đẩy nền kinh tế phát triển và giáo dục phải đi trước sự phát triển kinh tế - xã hội Khi nền khoa học

và công nghệ đạt đến trình độ phát triển cao, nhu cầu xã hội đa dạng, người lao động phải

là những người có trình độ học vấn cao, có kiến thức rộng, có tay nghề vững, có tính năng động, sáng tạo… thì giáo dục phải đào tạo nhân lực một cách có hệ thống, chính qui ở trình

độ cao

1.2.2 Chức năng chính trị - xã hội

Bên cạnh chức năng tái sản xuất sức lao động xã hội, giáo dục còn mang chức năng

chính trị - xã hội Giáo dục không đứng ngoài chính trị mà nó là phương thức tuyên truyền,

phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách… của một chế độ chính trị, giai cấp hay chính

Trang 9

đảng cầm quyền Giáo dục trực tiếp truyền bá hệ tư tưởng chính trị, đường lối chính sách của giai cấp nắm quyền và trực tiếp đào tạo chuẩn bị cho thế hệ trẻ tham gia vào cuộc

sống, bảo vệ chế độ chính trị, xã hội đương thời

Xã hội nào cũng có cấu trúc của nó – đó là một tổng thể, một tập hợp bao gồm các

bộ phận, các yếu tố tạo thành xã hội như cộng đồng xã hội, dân tộc, giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội.v.v… đã được hình thành một cách lịch sử – tự nhiên, tất yếu khách quan trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Giáo dục tác động đến cấu trúc xã hội là tác động đến tập hợp các bộ phận xã hội và tính chất của các mối quan hệ giữa các bộ phận

đó Trong xã hội phong kiến, giáo dục góp phần không nhỏ trong việc khoét sâu thêm sự phân chia giai cấp, xây dựng một cấu trúc xã hội mang tính chất giai cấp và đẳng cấp rõ rệt Những chính sách giáo dục phân biệt, bất bình đẳng trong xã hội phong kiến đã duy trì

vị trí đối kháng giữa các đẳng cấp và giai tầng xã hội Giáo dục xã hội chủ nghĩa góp phần làm cho cấu trúc xã hội trở nên thuần nhất hơn bằng cách xoá bỏ sự phân chia giai cấp và làm cho các tầng lớp xích lại gần nhau Nền Giáo dục xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền giáo dục “của dân, do dân, vì dân”, nền giáo dục bình đẳng cho tất cả mọi người, giáo dục góp phần nâng cao trình độ học vấn chung đã làm cho các tầng lớp xã hội được xích lại gần nhau Nhờ đó, trong xã hội ta các tầng lớp xã hội tuy khác nhau về lợi ích xã hội, về tính chất và trình độ xã hội, về hoạt động và phát triển xã hội, song cùng đoàn kết, hợp tác

đấu tranh xây dựng xã hội nhằm đạt tới mục tiêu chung: “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân

chủ, công bằng,văn minh”

1.2.3 Chức năng tư tưởng – văn hóa

Giáo dục có tác dụng to lớn đến việc xây dựng một hệ tư tưởng chi phối toàn xã hội, hình thành ở mỗi cá nhân thế giới quan, tư tưởng chính trị, ý thức, tình cảm và hành vi đạo đức phù hợp với các chuẩn mực xã hội “Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” (Điều 3, chương I, Luật giáo dục 2005) Nền giáo dục Việt Nam phải phục vụ mục đích chính trị tốt đẹp và tư tưởng cao quý của Đảng Cộng sản Việt Nam, hướng tới mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước giàu mạnh

Giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế

hệ, quá trình này giúp cho mỗi cá nhân tích lũy kiến thức, mở mang trí tuệ, hình thành và nâng cao trình độ văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ cho mỗi cá nhân và cho toàn xã hội Một quốc gia giàu mạnh là một quốc gia có nền kinh tế vững mạnh, khoa học công nghệ tiên tiến, chính trị bền vững và trình độ dân trí cao Giáo dục góp phần xây dựng và nâng cao trình độ dân trí – trình độ văn hóa chung cho toàn xã hội Nền giáo dục không chỉ hướng vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực mà còn hướng vào quá trình phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước

Giáo dục không chỉ thực hiện sứ mệnh lịch sử là chuyển tải nền văn hóa của thế hệ này cho thế hệ kia mà còn là phương thức đặc trưng cơ bản để bảo tồn và phát triển nền văn hóa của dân tộc và nhân loại Giáo dục bảo tồn, phát triển nền văn hoá dân tộc và nhân

Trang 10

loại thông qua các con đường giáo dục, trong đó dạy học là con đường cơ bản nhất Thông qua các con đường giáo dục học sinh không chỉ biết gìn giữ mà còn có khả năng làm phong phú, sáng tạo thêm những giá trị văn hóa, những loại hình văn hóa đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc…

Tóm lại, thông qua ba chức năng xã hội, giáo dục đã góp phần vào sự phát triển của

xã hội, đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao về sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan

hệ xã hội, ý thức xã hội… Đặc biệt, trong thời đại ngày nay, giáo dục được quan niệm không chỉ là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng, mà nó còn là một bộ phận thuộc hạ

tầng cơ sở, “Giáo dục không chỉ là sự phản ánh đơn thuần các lực lượng kinh tế và xã hội

đang họat động trong một xã hội Nó còn là một phương tiện quan trọng để cấu thành các lực lượng kinh tế - xã hội và văn hóa và quyết định chiều hướng phát triển của các lực lượng này Đến lượt mình động lực của các lực lượng này lại tác động đến đặc điểm của giáo dục Do vậy, có một mối quan hệ vòng tròn trong mối quan hệ qua lại giữa giáo dục

và một lọat các nhân tố xã hội và con người khác” (Raja Roy Singh) Thế giới coi giáo

dục là động lực cơ bản, là đòn bẩy mạnh mẽ, là điều kiện tiên quyết thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Đảng CSVN khẳng định phát triển giáo dục là “quốc sách hàng đầu” và “ đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển bền vững nhất”

1.3 ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA GIÁO DỤC HỌC

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu của giáo dục học

Phần đông các nhà giáo dục học đều xác định giáo dục học có đối tượng nghiên cứu

rất rõ ràng - đó là quá trình giáo dục với hàm nghĩa rộng (còn gọi là quá trình sư phạm tổng thể), bao quát toàn bộ các tác động giáo dục và dạy học được định hướng theo mục đích xác định, được tổ chức một cách hợp lý, khoa học nhằm hình thành và phát triển nhân cách người học

*Đặc điểm của quá trình sư phạm tổng thể

Qúa trình sư phạm tổng thể có những đặc điểm sau:

- Là một dạng vận động, phát triển liên tục của các hiện tượng, tình huống giáo dục

và dạy học, được tổ chức thực hiện theo những quy trình xác định

- Là một dạng vận động xã hội, có quan hệ gián tiếp với các quá trình khác (kinh tế, chính trị…) nhưng được tổ chức một cách chuyên biệt (theo quy luật của giáo dục)

- Trong quá trình giáo dục luôn có sự tác động qua lại của các thành phần tham gia: người dạy (chủ thể tác động) và người học (chủ thể hoạt động) trong đó nhà giáo dục giữ vai trò chủ đạo và chủ thể hoạt động độc lập, sáng tạo

Qúa trình sư phạm tổng thể là một hệ thống gồm nhiều yếu tố: Mục đích và nhiệm vụ giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, phương tiện giáo dục, nhà giáo dục, người được giáo dục, kết quả giáo dục Toàn bộ các yếu tố này vận động và phát triển, quan hệ biện chứng với nhau, thúc đẩy lẫn nhau trong cùng một hệ thống và đều bị chi phối bởi các quá trình kinh tế - xã hội, các nhân tố lịch sử - xã hội cụ thể

Trang 11

Giáo dục học nghiên cứu những mối quan hệ giữa các yếu tố của quá trình sư phạm tổng thể cũng như giữa quá trình sư phạm tổng thể với môi trường của nó, để phát hiện được những quy luật của chúng Từ đó xác lập phương phướng, giải pháp để tổ chức các quá trình giáo dục, phát triển giáo dục nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn những yêu cầu của

sự phát triển xã hội

*Cấu trúc của quá trình giáo dục

- Qúa trình giáo dục là sự thống nhất của hai quá trình bộ phận: quá trình dạy học và quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp) Cả hai quá trình đều thực hiện chức năng chung của giáo dục trong việc hình thành nhân cách toàn diện Song mỗi quá trình đều có chức năng trội của mình và dựa vào chức năng trội đó để thực hiện các chức năng khác nhau

Chức năng trội của quá trình dạy học là trau dồi học vấn, là truyền thụ và lĩnh hội một

hệ thống tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo, nhận thức và hành động

Chức năng trội của quá trình giáo dục là xây dựng một hệ thống niềm tin, lý tưởng, động cơ, thái độ, tính cách, thói quen, là hình thành những phẩm chất thế giới quan chính trị, đạo đức…của cá nhân

- So sánh quá trình dạy học và giáo dục:

Về chức

năng,

nhiệm vụ

Có thế mạnh trong việc hình thành các

biểu tượng, khái niệm, định luật, lý

thuyết, các kỹ năng, kỹ xảo nghĩa là

ảnh hưởng của nó thiên về trí tuệ, nhận

thức

Có thế mạnh trong việc hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, nguyên tắc hành vi đạo đức…nghĩa là ảnh hưởng của nó thiên về thái độ, cảm xúc, tâm hồn

Về hình

thức

Khi dạy học, các hình thức thường

được sử dụng là: giờ lên lớp, xemine,

thực hành thí nghiệm…

Trong quá trình giáo dục thì các hình thức thường được sử dụng là: sinh hoạt tập thể, hoạt động xã hội, tham quan, lao động xã hội – công ích…

Về quản

Người lãnh đạo quá trình dạy học chủ

yếu là thầy giáo

Người lãnh đạo là đại diện của tập thể học sinh như lớp trưởng, cán bộ đoàn,

Trang 12

đội với sự giúp đỡ của các thầy giáo chủ nhiệm

- Qúa trình giáo dục tổng thể cũng như quá trình giáo dục bộ phận đều được tạo nên bởi các yếu tố sau:

* Mục đích, nhiệm vụ giáo dục

Mục đích giáo dục có thể được coi là “đơn dặt hàng” của xã hôị đối với nền giáo dục về mẫu nhân cách người được giáo dục, mà giáo dục cần đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội về giáo dục con người lao động trong từng giai đoạn phát triển lịch sử của

xã hội

Để thực hịên tốt mục đích này, giáo dục phải hoàn thành tốt các nhiệm vụ giáo dục: giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất và giáo dục lao động Những nhiệm vụ này liên hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau và thâm nhập vào nhau

Mục đích và nhiệm vụ giáo dục được coi là yêú tố hàng đầu của quá trình giáo dục tổng thể hoặc bộ phận vì nó định hướng cho sự vận động và phát triển của toàn bộ quá trình giáo dục này cũng như cho sự vận động và phát triển của các yếu tố khác

*Nội dung giáo dục:

Nội dung giáo dục bao gồm hệ thống những giá trị xã hội mà người được giáo dục cần tiếp nhận để phát triển nhân cách theo những yêu cầu mà xã hội đặt ra Đó là hệ thống những giá trị nhân văn, đạo đức, văn hóa, khoa học, công nghệ…được lựa chọn trong kho tàng giá trị của nhân loại

Nội dung giáo dục, về cơ bản, được phản ánh trong chương trình và sách giáo khoa

Nó tạo nên nội dung hoạt động thống nhất cho nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm

đạt mục đích giáo dục đã định

*Phương pháp và phương tiện giáo dục

Phương pháp và phương tiện giáo dục quy định những cách thức và những phương tiện hoạt động của nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm hoàn thành nhiệm vụ giáo dục và đạt được mục đích giáo dục đã định

Phương pháp và phương tiện giáo dục là hai yếu tố độc lập nhưng trong thực tiễn giáo dục, chúng luôn được thực hiện trong mối liên hệ biện chứng với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau và tạo ra sức sống cho nhau

* Nhà giáo dục

Nhà giáo dục cùng tập thể sư phạm của họ đóng vai trò định hướng, tổ chức, điều khiển, điều chỉnh và đánh giá hoạt động nhận thức và tự giáo dục của người được giáo dục Nói gọn lại, đó là vai trò chủ đạo của nhà giáo dục

*Người được giáo dục

Người được giáo dục, cùng với tập thể của họ một mặt là đối tượng giáo dục, tiếp nhận sự tác động có định hướng của nhà giáo dục; mặt khác là chủ thể nhận thức, chủ thể

tự giáo dục Hai vai trò thống nhất với nhau, trong đó vai trò chủ thể là cơ bản nhất

Trang 13

*Kết quả giáo dục

Kết quả giáo dục là trình độ phát triển nhân cách của người được giáo dục đạt được sau mỗi quá trình giáo dục nhất định và sau toàn bộ quá trình giáo dục Đồng thời kết quả này cũng được coi là kết quả sinh động của sự vận động và phát triển của quá trình giáo dục bộ phận và của quá trình giáo dục tổng thể

Những yếu tố trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại và thống nhất với nhau Ví dụ: mục đích, nhiệm vụ giáo dục có vai trò định hướng cho sự vận động và phát triển của các yếu tố khác; về phần mình các yếu tố khác lại phục vụ cho việc hoàn thành các nhiệm vụ giáo dục và đạt được mục đích giáo dục đề ra

Những yếu tố trên đây có mối liên hệ mật thiết, tác động qua lại, thống nhất với môi trường kinh tế - xã hội và môi trường khoa học - công nghệ

Các môi trường đặt ra các yêu cầu cho quá trình giáo dục ngày càng cao, đòi hỏi quá trình giáo dục phải đào tạo ra những người công dân, những người lao động theo mẫu nhân cách nhất định, mặt khác, lại tạo điều kiện thuận lợi để quá trình này đạt đựơc những kết quả với chất lượng và hiệu quả cao

*Cả quá trình giáo dục tổng thể lẫn các quá trình giáo dục bộ phận và từng yếu tố của

nó đều là đối tượng nghiên cứu của giáo dục học

1.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của giáo dục học

- Nghiên cứu bản chất của giáo dục và mối quan hệ giữa giáo dục với các bộ phận khác của xã hội

- Nghiên cứu các qui luật của giáo dục

- Nghiên cứu các nhân tố của HĐGD (mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức giáo dục… ) Từ đó tìm tòi con đường nâng cao chất lượng và hiệu quả HĐGD

Cùng với sự phát triển và đổi mới giáo dục, nhiều vấn đề mới trong thực tiễn nảy sinh, đòi hỏi sự đáp ứng của Giáo dục học trong giai đoạn mới Vì vậy nhiệm vụ của Giáo dục học còn thể hiện ở việc giải quyết những vấn đề sau:

- Nghiên cứu và hoàn thiện những vấn đề thuộc phạm trù phương pháp luận khoa học giáo dục

- Nghiên cứu góp phần giải quyết mâu thuẫn lớn giữa yêu cầu vừa phải phát triển nhanh qui mô giáo dục, vừa phải nâng cao chất lượng trong khi khả năng và điều kiện đáp ứng yêu cầu còn nhiều hạn chế

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn giáo dục trong nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục trong những điều kiện mới…

- Các vấn đề trong hệ thống giáo dục quốc dân, trong quản lý giáo dục và đào tạo…

1.3.3 Phương pháp luận nghiên cứu giáo dục học

Phương pháp luận được hiểu là lý thuyết về các nguyên tắc để tiến hành các phương pháp, các hình thức hoạt động nhận thức khoa học, là hệ thống các quan điểm, các nguyên tắc chỉ đạo hoạt động chủ thể Phương pháp luận trong giáo dục học được xem là sự tổng

Trang 14

hợp các luận điểm về nhận thức giáo dục và cải tạo, biến đổi thực tiễn giáo dục Những quan điểm phương pháp luận là kim chỉ nam hướng dẫn các nhà khoa học, tìm tòi, nghiên cứu khoa học, có thể để cập một số quan điểm phương pháp luận nghiên cứu giáo dục như sau:

- Quan điểm duy vật biện chứng: Khi nghiên cứu các nhà khoa học phải xem xét sự vật, hiện tượng, quá trình giáo dục trong mối quan hệ phức tạp của chúng, đồng thời khi nghiên cứu phải xem xét đối tượng trong sự vận động và phát triển

- Quan điểm lịch sử - logic: Yêu cầu khi sử dụng phải phát hiện nguồn gốc nảy sinh, quá trình diễn biến đối tượng nghiên cứu trong không gian và thời gian với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể

- Quan điểm thực tiễn: Yêu cầu khi nghiên cứu giáo dục cần phải xuất phát từ thực tiễn, phải khái quát để tìm ra quy luật phát triển của chúng từ thực tiễn, kết quả nghiên cứu được kiểm nghiệm trong thực tiễn và phải ứng dụng trong thực tiễn

- Quan điểm hệ thống: Khi nghiên cứu đối tượng phải phân tích chúng thành những

bộ phận để xem xét một cách sâu sắc và toàn diện, phải phân tích mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, các quá trình cũng như mối quan hệ giữa các bộ phận trong sự vật, hiện tượng và quá trình đó

* Các phương pháp nghiên cứu giáo dục học

- Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết bao gồm:

+ Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết

+ Phương pháp mô hình hóa

- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn bao gồm:

+ Phương pháp quan sát

+ Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi

+ Phương pháp phỏng vấn

+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục

+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm

+ Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

+ Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp sử dụng toán thống kê

1.4 SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIÁO DỤC HỌC

1.4.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của khoa học giáo dục

* Trong thời kỳ cổ đại, giáo dục được xem là một trong những mặt hoạt động xã hội bình thường trong cuộc sống hàng ngày gắn với tiến trình phát triển chung của xã hội Vào thời kỳ này xuất hiện các nhà tư tưởng giáo dục nổi tiếng như: Khổng Tử (551 - 479 TCN); Xôcrát (469 - 399 TCN); Arixtôt (384 - 322 TCN); Platôn (427 - 347 TCN)

- Xôcơrát (469 - 399 TCN): là nhà giáo dục thực hành, ông quan niệm giáo dục phải giúp con người tìm thấy, tự khẳng định chính bản thân mình, vì thế tư tưởng của ông mang giá trị nhân văn rất cao Trong hoạt động giáo dục ông nổi tiếng là nhà sáng tạo Bao giờ

Trang 15

ông cũng nêu câu hỏi để người học suy nghĩ, tự tìm lời giải đáp Trong 40 năm hoạt động, ông đã nêu cao tấm gương đức hạnh của mình, tình yêu chân lí và sự can đảm trong việc bảo vệ chân lí…

- Platôn (427 - 347 TCN): là học trò của Xôcơrát, ông đã có công sưu tập, ghi lại và xuất bản phần lớn các tác phẩm của Xôcơrát Theo ông, việc giáo dục trước hết liên quan tới đạo đức, tâm lí học, xã hội học Ông cho rằng, sống đạo đức trước hết là sống công bằng, một cá nhân được xem là công bằng khi nội tâm đảm bảo được sự thăng bằng giữa 3

yếu tố: dục vọng, sự can đảm và lý trí, nhưng “hành động của con người chỉ hợp lý nếu cái

bụng và trái tim chịu sự phục tùng cái đầu” Ông cũng cho rằng, con người và xã hội chỉ

có thể đạt tới hạnh phúc bởi một nền giáo dục quốc gia Mỗi con người phải được giáo dục như nhau ngay từ ngày đầu Đây là quan điểm tiến bộ, song không phù hợp với thể chế của

xã hội nô lệ

- Khổng Tử (551 – 479 TCN): là nhà giáo vĩ đại của Trung Hoa cổ đại và của nhân loại Ông quan niệm giáo dục con người phải nhằm mục đích đào tạo nên những người nhân nghĩa, có phẩm hạnh Trong quá trình hoạt động giáo dục, Khổng Tử đã sáng tạo và vận dụng nhiều phương pháp giáo dục tiến bộ so với đương thời Ông đã dùng cách gợi

mở, đi từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ để nắm vững vấn đề; ông đòi hỏi người phải luyện tập, nề nếp và thói quen trong học tập, theo hướng “ôn cũ để biết cái mới” Để gắn nội dung giáo dục với cuộc sống, ông còn dùng phương pháp đối thoại, yêu cầu học sinh liên hệ những điều đã học vào thực tế hàng ngày…

Vào thời cổ đại, nhiều nhà tư tưởng giáo dục đồng thời cũng là nhà khoa học, triết học, do đó các tư tưởng giáo dục thường phát triển và được trình bày trong các tác phẩm triết học và khoa học nói chung…

* Ở phương Tây, vào thời kỳ trung cổ, vai trò độc tôn của nhà thờ đã có ảnh hưởng rất rõ nét đối với sự phát triển của nhà trường nói chung và về tư tưởng giáo dục nói riêng Giáo dục học chưa xuất hiện với tư cách là một khoa học độc lập

Ở Tây Âu, vào thời kỳ Trung cổ, triết học cùng giáo dục chủ yếu phục vụ cho thần học Thời ấy chỉ có các trường của giáo hội, các nhà tôn giáo chủ trương kết hợp và dung hòa lý trí, sự phát triển trí tuệ với niềm tin tôn giáo, chính đó là sự thể hiện nguồn gốc nảy sinh ra triết học kinh viện, nhằm chứng minh rằng niềm tin bao giờ cũng định hướng và ở

vị trí cao hơn trí tuệ, có trước trí tuệ và khoa học

Đến thế kỷ XII - XIII ở Tây Âu đã hình thành ba loại trường: Trường tu viện; trường của nhà thờ và trường dòng Lúc đầu ở các loại trường này chỉ dạy giáo lý, kinh bản Sau

đó dạy thêm số học, hình học, thiên văn và âm nhạc Bên cạnh trường tôn giáo có hệ thống

giáo dục kỵ sĩ, với nội dung giáo dục “Bảy đức tính của kỵ sĩ”: Cưỡi ngựa, bơi, dùng giáo,

đấu kiếm, đi săn, đánh cờ, làm thơ Thực chất giáo dục tôn giáo và giáo dục kị sĩ ở Tây Âu đều phục vụ cho chế độ phong kiến thần quyền đương thời

Trang 16

* Đến cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV khi mầm mống của xã hội tư bản xuất hiện, nhân loại bước vào thời đại Phục hưng Các nhà tư tưởng nhân văn tiên tiến xuất hiện, tạo nên nhu cầu, động lực mới thúc đẩy giáo dục phát triển với tư tưởng giáo dục tiến bộ: Vượt

ra khỏi khuôn khổ giáo dục kinh viện - tôn giáo, hướng về chủ nghĩa nhân văn Các nhà nhân văn chủ nghĩa chủ trương đề cao giá trị con người, cho rằng con người cần được phát triển toàn diện Chính bước quá độ từ chế độ phong kiến qua chủ nghĩa tư bản đã làm xuất hiện những hệ thống tri thức mới ra đời, trong đó có nhiều khoa học tách ra khỏi triết học Giáo dục học từ đây cũng tồn tại và phát triển như là một khoa học độc lập do công của nhà giáo dục học vĩ đại Tiệp Khắc Comenxki (1592 - 1670) Ông là nhà lý luận và là nhà

tư tưởng giáo dục đã đề cao giáo dục phổ cập, việc dạy tiếng mẹ đẻ trong các nhà trường

và nêu ra luận chứng chặt chẽ trong tác phẩm nổi tiếng: “Phép giảng dạy vĩ đại” Rất nhiều

nguyên tắc dạy học vẫn được sử dụng đến ngày nay như: Nguyên tắc trực quan, nguyên tắc tính khoa học và tính hệ thống trong dạy học vv… đã được nêu bật trong tác phẩm ấy Sau Comenxki, xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu giáo dục học, như Lốccơ (1632 - 1701), Rútxô (1712 - 1778),… trong đó phải kể đến Petxtalogi, ông đặc biệt nhấn mạnh tác dụng của việc kết hợp lao động với học tập, nhấn mạnh tác dụng vai trò của trực quan trong dạy học và giáo dục và vạch ra một hệ thống các phương pháp giáo dục chung

Cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội tư bản, kinh tế - xã hội, văn hóa và khoa học phát triển rất nhanh, giáo dục đã được nâng cao Tuy vậy, mâu thuẫn xã hội cũng

đã xuất hiện và ngày càng gay gắt, tất cả đều được phản ánh rõ nét trong hệ tư tưởng, trong đời sống xã hội

* Vào nửa đầu thế kỷ XIX cùng với sự phát triển chung của khoa học, giáo dục học cũng đã phát triển và thể hiện sự đấu tranh gay gắt giữa các quan điểm lí luận giáo dục của giai cấp tư sản và lợi ích giáo dục của nhân dân Nhiều nhà giáo dục tiến bộ, như A Dixtécvéc (1790 - 1866), A XanhXimông (1760 - 1837)… đã tiếp tục phát triển quan điểm giáo dục của Petxtalozi, họ không những kế thưa tư tưởng giáo dục tiến bộ của ông mà còn phát triển, làm phong phú thêm, xây dựng cơ sở cho các quan điểm giáo dục xã hội chủ nghĩa về sau, nâng cao tầm tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa trong giáo dục

* Cùng với sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác vào những năm 40 của thế kỷ XIX, giáo dục học tiếp tục phát triển với cơ sở phương pháp luận khoa học, làm cho giáo dục học tiếp thu, kế thừa và phát huy được toàn bộ thành tựu của các tư tưởng giáo dục tiến bộ của nhân loại, gắn liền với sự phát triển và tiến bộ của giáo dục với công cuộc đấu trành giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức bóc lột, mọi tệ nạn xã hội, góp phần tổ chức lại xã hội theo hướng xã hội chủ nghĩa Cùng với sự phát triển những giá trị tinh hoa trong di sản giáo dục của nhân loại, học thuyết Mác - Lênin về giáo dục đã chứng minh một cách khoa học các vấn đề có tính quy luật trong giáo dục như: Sự hình thành con người, tính quy định của kinh tế - xã hội đối với giáo dục, tính lịch sử của giáo dục trong tiến trình phát triển của xã hội và vai trò của giáo dục trong điều kiện xã hội có giai cấp

Trang 17

Những luận điểm trên đã được xem là các quan điểm cơ bản, có vai trò định hướng cho mọi quá trình nghiên cứu, ứng dụng các vấn đề lý luận và thực tiễn giáo dục, giúp

cho giáo dục học ngày càng phong phú và phát triển sâu rộng như ngày nay

1.4.2 Xu thế phát triển hiện nay của giáo dục học ở Việt Nam

Trên cơ sở đánh giá thực trạng giáo dục nước ta trong thời gian qua, phân tích bối cảnh trong nước và ngoài nước, nhận định về thời cơ và thách thức đối với giáo dục trong thời kỳ mới, Đảng ta đã đưa ra các quan điểm chỉ đạo thực tiễn giáo dục Việt Nam trong giai đoạn mới - công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1992), Luật Giáo dục(2005), Chiến lược phát triển giáo dục 2011-

2020 đã thể hiện những quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục ở nước ta như sau:

1 Phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nâng cao vai trò các tổ chức, đoàn thể chính trị, kinh tế, xã hội trong phát triển giáo dục Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển Thực hiện các chính sách ưu đãi đối với giáo dục, đặc biệt là chính sách đầu tư và chính sách tiền lương; ưu tiên ngân sách nhà nước dành cho phát triển giáo dục phổ cập và các đối tượng đặc thù

2 Xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, tiên tiến, hiện đại, xã hội chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục vùng khó để đạt được mặt bằng chung, đồng thời tạo điều kiện để các địa phương và các cơ sở giáo dục có điều kiện bứt phá nhanh, đi trước một bước, đạt trình độ ngang bằng với các nước có nền giáo dục phát triển.Xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội bình đẳng để ai cũng được học, học suốt đời, đặc biệt đối với người dân tộc thiểu số, người nghèo, con em diện chính sách

3 Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển giáo dục gắn với phát triển khoa học và công nghệ, tập trung vào nâng cao chất lượng, đặc biệt chất lượng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành để một mặt đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đảm bảo an ninh quốc phòng; mặt khác phải chú trọng thỏa mãn nhu cầu phát triển của mỗi người học, những người có năng khiếu được phát triển tài năng

4 Hội nhập quốc tế sâu, rộng về giáo dục trên cơ sở bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ, định hướng xã hội chủ nghĩa Mở rộng giao lưu hợp tác với các nền giáo dục trên thế giới, nhất là với các nền giáo dục tiên tiến hiện đại; phát hiện và khai thác kịp thời các cơ hội thu hút nguồn lực có chất lượng

1.4.3 Xu thế phát triển hiện nay của giáo dục học thế giới

Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, sự hình thành nền kinh tế tri thức, xã hội thông tin và xu thế toàn cầu hóa… đã tác động mạnh mẽ đến tất

Trang 18

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục Xu thế phát triển giáo dục thế giới đã được UNESCO khái quát thành 21 điểm với các tư tưởng chủ yếu:

- Giáo dục thường xuyên phải là điểm chủ đạo của mọi chính sách giáo dục; giáo dục suốt đời, giáo dục bằng mọi cách, giáo dục cho mọi người, xây dựng một xã hội học tập Giáo dục phải làm cho mỗi người trở thành người dạy và người kiến tạo nên sự tiến bộ văn hóa của bản thân

- Giáo dục không chỉ dạy cho con người có học vấn mà phải thực hành, thực nghiệm

để có tay nghề, vào đời không bỡ ngỡ Phát triển giáo dục gắn liền với phát triển kinh tế -

xã hội, chú ý giáo dục hướng nghiệp để có thể lập thân, lập nghiệp

- Giáo dục trẻ em trước tuổi đến trường phải là một mục tiêu lớn trong chiến lược giáo dục Giáo dục phổ thông cơ sở phải là mục tiêu hàng đầu của chính sách giáo dục

- Giáo viên phải được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục hơn là những chuyên gia truyền đạt kiến thức Việc giảng dạy phải thích nghi với người học chứ không phải áp đặt máy móc buộc người học tuân theo

Các nước trên thế giới đang tiến hành cải cách giáo dục theo các hướng lớn sau:

- Tăng cường giáo dục nhân văn

- Công nghệ - thông tin

- Đào tạo những con người vừa có tri thức, vừa có kỷ năng, năng lực thực sự đóng góp vào sự phát triển xã hội

- Hiện đại hóa các phương pháp day học – giáo dục

Nền giáo dục Việt Nam cũng đang trên con đường đổi mới nhằm đáp ứng với những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Các giải pháp chiến lược phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay là:

- Tăng cường các nguồn lực cho giáo dục – đào tạo

- Xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy - người học

- Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục – đào tạo và tăng cường cơ sở vật chất các trường học

- Đổi mới công tác quản lý giáo dục

- Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục

*Các định hướng phát triển giáo dục trên thế giới và trong nước ở trên đã vạch ra cho Giáo dục học những nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu:

- Nghiên cứu và hoàn thiện các vấn đề về phương pháp luận khoa học giáo dục

- Nghiên cứu hoàn thiện các cơ sở lý luận và thực tiễn của giáo dục trong giai đoạn mới, xác định mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục và sự phát triển kinh tế - xã hội

- Nghiên cứu các vấn đề về đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học – giáo dục đáp ứng với sự phát triển thực tiễn

- Nghiên cứu ứng dụng các thành tựu của khoa học – công nghệ vào quá trình dạy học – giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục…

Trang 19

Tóm lại, tất cả các vấn đề trong Giáo dục học đều cần phải được nghiên cứu, phát triển và hoàn thiện theo hướng nâng cao tính khoa học, tính thực tiễn, làm cho Giáo dục học góp phần thúc đẩy mạnh mẽ nến giáo dục quốc dân đáp ứng với đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội

1.5 HỆ THỐNG CÁC KHOA HỌC VỀ GIÁO DỤC VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA GIÁO DỤC HỌC VỚI CÁC KHOA HỌC KHÁC

1.5.1 Hệ thống các khoa học về giáo dục

- Giáo dục học có những phân môn sau đây:

+ Lịch sử giáo dục học : Muốn phát triển đúng hướng, giáo dục học luôn phải vận

dụng “nguyên tắc lịch sử trong nội dung và phương pháp nghiên cứu” Như vậy, lịch sử giáo dục học có vai trò quan trọng trong hệ thống các khoa học giáo dục trước hết đối với giáo dục học Nhờ quán triệt quan điểm đối với các hiện tượng giáo dục (của các thời đại khác nhau) nhà nghiên cứu sẽ phát hiện đúng đắn bản chất xã hội của giáo dục ở từng thời đại và hiểu được tiến trình phát triển và đổi mới liên tục của giáo dục Lịch sử giáo dục cung cấp cho giáo dục học các tư tưởng giáo dục tiên tiến, kiệt xuất, dựa trên sự kế thừa có chọn lọc có phê phán các thành tựu và lí luận giáo dục có giá trị trong nước và trên thế giới, giúp cho giáo dục học luôn phát triển, luôn đổi mới, bắt kịp xu thế của thời đại

+ Những vấn đề chung của giáo dục học: nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất của

giáo dục học, cụ thể là: chứng minh giáo dục học là một khoa học; trình bày những lý luận, những định luật cơ bản về sự hình thành và phát triển nhân cách; giới thiệu mục đích giáo dục, những quan điểm, những nguyên tắc giáo dục cơ bản nhất; hệ thống giáo dục quốc dân; giới thiệu về vai trò của người thầy giáo trong quá trình dạy học và giáo dục

+ Lý luận dạy học: Nghiên cứu quá trình dạy học với tư cách là một quá trình sư

phạm bộ phận, một phương tiện để trau dồi học vấn, phát triển năng lực và giáo dục các phẩm chất nhân cách thông qua hoạt động đồng thời giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xão, nhận thức và hành động cho học sinh Lý luận dạy học nghiên cứu bản chất và các quy luật của quá trình dạy học, nêu ra được các nguyên tắc chỉ đạo, phương pháp thực hiện và nội dung cần thiết, hình thức và phương pháp thích hợp và cuối cùng là đánh giá kết quả dạy học

+ Lý luận giáo dục: Nghiên cứu quá trình sư phạm với tư cách là một quá trình sư

phạm bộ phận, nhằm hình thành niềm tin, lí tưởng, động cơ, thái độ và thói quen hành vi trong cuộc sống Lý luận giáo dục nghiên cứu bản chất và tính quy luật của quá trình giáo dục, thiết kế nội dung, xây dựng nguyên tắc, tìm ra các phương pháp và các hình thức tổ

chức giáo dục và đánh giá kết quả về mặt giáo dục các phẩm chất nhân cách của học sinh

+ Lý luận về quản lý nhà trường: Nghiên cứu quá trình tổ chức và điều khiển công

tác giáo dục nhà trường, các cấp học khác nhau Nhiệm vụ của lý luận quản lý nhà trường

là nghiên cứu bản chất, cấu trúc, các tính quy luật vận hành quá trình đó, xác định nội dung, nguyên tắc và triển vọng phát triển của nó nhằm hoàn thiện cái cũ, xây dựng cái mới trong các hình thức tổ chức, phương pháp và biện pháp hoạt động quản lí Nhân lõi của lý

Trang 20

luận quản lý nhà trường là những vấn đề quản lý nội bộ nhà trường, đặc biệt là những vấn

đề về tổ chức và lãnh đạo quá trình sư phạm trong nhà trường

- Giáo dục học nằm trong hệ thống của khoa học giáo dục nhưng bản thân nó cũng

bao gồm nhiều phân môn khác nhau như: giáo dục học nhà trẻ, mẫu giáo, giáo dục học cho lứa tuổi đi học

- Trong thực tế giáo dục học còn được nghiên cứu và giảng dạy ở từng ngành chuyên môn – nghề nghiệp (giáo dục học y học, giáo dục học quân sự, giáo dục học kĩ thuật…)

- Ngành giáo dục học đặc biệt cũng là một bộ phận của giáo dục học có nhiệm vụ

chuyên nghiên cứu những vấn đề dạy học và giáo dục những trẻ khuyết tật về thị giác, thính giác hoặc chậm phát triển về ngôn ngữ, trí tuệ

- Đối với thực tiễn hoạt động ở nhà trường các bộ môn phương pháp dạy học bộ môn

có vai trò quan trọng như: Bộ môn phương pháp dạy học toán, văn, sử, địa, sinh, kĩ thuật,

v.v còn gọi là “lí luận dạy học bộ môn"

Tuy đối tượng nghiên cứu có khác nhau nhưng các phân môn giáo dục học đều có cơ

sở chung là lí luận giáo dục học đại cương, từ những kiến thức và kỹ năng này mà vận dụng, đáp ứng cho việc giáo dục ở các lĩnh vực khác nhau

1.5.2 Mối quan hệ giữa giáo dục học và các khoa học khác

Như đã nói ở trên, giáo dục là một hiện tượng xã hội, giáo dục do xã hội quy định vì thế giáo dục học là một khoa học xã hội Trong quá trình hoạt động và phát triển, giữa giáo dục học với các hoạt động khoa học xã hội cũng như khoa học tự nhiên có mối liên hệ mật thiết với nhau Những ngành khoa học liên quan mật thiết với giáo dục học là: triết học, sinh lý học, tâm lý học, đạo đức học…

* Giáo dục học với Triết học

Triết học là khoa học nghiên cứu các quy luật chung nhất của thế giới về sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người, cho nên nó cũng là nền tảng khoa học cho sự phát triển của giáo dục học Đồng thời có một số vấn đề chung mà cả triết học và giáo dục học đều quan tâm nghiên cứu Đó là các vấn đề: sự hình thành con người và mục đích giáo dục; mối liên hệ giữa quá trình giáo dục với các quá trình xã hội khác; lý luận về hoạt động của con người và phương pháp đào tạo con người…

*Giáo dục học với Tâm lý học

Tâm lý học có vai trò rất quan trọng đối với giáo dục học vì tâm lý học cung cấp cho giáo dục học những tri thức khoa học các cơ sở chế biến và các điều kiện tổ chức các quá trình bên trong của sự hình thành nhân cách con người, theo từng lứa tuổi, trong từng loại hoạt động, làm cơ sở đáng tin cậy cho việc tổ chức các quá trình sư phạm

* Giáo dục học với sinh lý học

Sinh lý học được coi là cơ sở tự nhiên của giáo dục học Việc nghiên cứu giáo dục học phải dựa vào các dự kiện của sinh lý học về sự phát triển của hệ thống thần kinh cấp cấp cao, về đặc điểm các loại hình thần kinh, về đặc điểm của hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai, về sự phát triển và vận hành của các cơ quan cảm giác, về hệ thống tim mạch và

Trang 21

hô hấp, về các đặc điểm phát triển của hệ thống cơ thể… Ví dụ: từ đặc điểm phát triển của lứa tuổi học sinh trung học cơ sở mà chúng ta quy đinh nội dung, phương pháp học tập, lao động, vui chơi một cách khoa học

* Giáo dục học với Điều khiển học

Điều khiển học là khoa học hiện đại nảy sinh vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và kỹ thuật Là khoa học điều khiển tối ưu các hệ thống động phức tạp, là khoa học nghiên cứu logic của những quá trình trong tự nhiên và trong xã hội, xác định những cái chung quy định những điều kiện vận hành các qúa trình đó Cái chung đó

có mặt của một trung tâm điều khiển, có mặt khách thể bị điều khiển và sự thực hiện điều khiển thông qua các kênh liên hệ thuận và nghịch

Qúa trình giáo dục là một hệ thống phức tạp mà trung tâm điều khiển là giáo viên và đối tượng điều khiển là học sinh…

Tóm lại mối liên hệ của các khoa học trên đây đối với giáo dục học là hết sức chặt chẽ Dựa vào các thành tựu của các khoa học, giáo dục học đã hoàn thiện từng bước lý luận khoa học của mình và ngày càng đem đến hiệu quả cao trong công tác giáo dục học sinh 1.6 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA GIÁO DỤC HỌC

1.6.1 Giáo dục theo nghĩa rộng

Giáo dục hàm nghĩa là sự hình thành có mục đích và có tổ chức những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, hình thành thế giới quan, bộ mặt đạo đức và thị hiếu thẩm

mỹ cho con người; với nghĩa rộng nhất, khái niệm này bao hàm cả giáo dưỡng, dạy học và tất cả những yếu tố tạo nên những nét tính cách và phẩm hạnh của con người, đáp ứng các yêu cầu của kinh tế - xã hội

Quan niệm về giáo dục ngày nay được mở rộng hơn, vì vậy các định nghĩa trong các tài liệu của giáo dục học thường không bao quát được tất cả các khía cạnh của vấn đề Ví dụ: trước đây quan niệm về giáo dục được hiểu là giáo dục cho các đối tượng ở lứa tuổi đi học; chỉ thực hiện liên tục và có hệ thống ở nhà trường; nội dung chủ yếu là đào tạo học sinh có kiến thức, kỹ năng, thái độ tương ứng với nội dung, chương trình, kế hoạch đào tạo thông qua một số môn học…Nhưng cùng với sự phát triển và tiến bộ xã hội, người ta hiểu giáo dục cho tất cả mọi người, được thực hiện bất cứ không gian và thời gian nào thích hợp với từng loại đối tượng bằng các phương tiện khác nhau, với các kiểu học tập đa dạng, trong đó người học đóng vai trò “trung tâm”, thực hiện theo phương thức đa dạng hóa, năng động, thích ứng với mọi biến đổi, là trách nhiệm của nhà nước, trách nhiệm của tất cả

các ngành, của tất cả mọi người trong xã hội

1.6.2 Giáo dục theo nghĩa hẹp

Là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là quá trình hình thành thế giới quan khoa học, niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm của người học Qúa trình giáo dục theo nghĩa hẹp được thực hiện không chỉ thông qua môn đạo đức mà trong cả các mặt của đời sống ở nhà trường, gia đình và xã hộị

Trang 22

1.6.3 Giáo dưỡng

Giáo dưỡng là một thụât ngữ được dùng trong các tài liệu ở nước ta từ những năm 60 của thế kỷ XX

Giáo dưỡng được hiểu theo 2 nghĩa có liên quan mật thiết với nhau;

+ Theo nghĩa thứ nhất: giáo dưỡng là quá trình nắm vững tri thức, kỹ năng và kỹ xảo

có hệ thống của người học được thực hiện bằng con đường học tập (trong nhà trường và tự học theo nhiều hình thức)

+ Theo nghĩa thứ hai: giáo dưỡng là kết quả của quá trình đó

Vì vậy, có thể nói rằng, giáo dưỡng vừa là quá trình, vừa là kết quả nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo có hệ thống ở người học

*Ở đây có mấy điểm đáng chú ý:

Nếu theo nghĩa thứ hai thì thuật ngữ giáo dưỡng đồng nghĩa với thuật ngữ học vấn Học vấn được hiểu là kết quả của việc nắm vững hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, những vốn kinh nghiệm của người học thực sự biến thành vốn kinh nghiệm của bản thân

và có thể vận dụng chúng có hiệu quả vào cuộc sống

Học vấn theo nghĩa này được phân theo nhiều trình độ: trình độ học vấn tiểu học, trình độ học vấn trung học cơ sở, trình độ học vấn cao đẳng, trình độ học vấn sau đại học Nếu hiểu theo nghĩa thứ nhất, thì thuật ngữ giáo dưỡng có thể hiểu là quá trình trau dồi học vấn…Qúa trình này có thể được tiến hành trong nhà trường dưới sự chỉ đạo của giáo viên và cũng có thể được tiến hành ngoài nhà trường dưới hình thức tự học

1.6.4 Dạy học

Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là quá trình, dưới tác dụng chủ đạo của giáo viên, người học tự giác, tích cực, độc lập: nắm vững những tri thức,và những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy, đồng thời hình thành những phẩm chất hoạt động trí tuệ; trên cơ sở đó, hình thành và phát triển thế giới khách quan khoa học, những phẩm chất đạo đức của người công dân, người lao động Với nghĩa này, dạy học được coi là một hoạt động đặc trưng của nhà trường và là một con đường cơ bản nhất để tiến hành giáo dục và giáo dưỡng

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP

1 Đối tượng của giáo dục học là gì? Trong điều kiện hiện nay, đối tượng của giáo dục học có thay đổi không?

2 Phân biệt 3 khái niệm cơ bản của giáo dục học: giáo dục, giáo dưỡng và dạy học

3 Tại sao nói giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt?

4 Phân tích cấu trúc quá trình sư phạm tổng thể

Trang 23

Chương 2 GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH

2.1 SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CỦA CON NGƯỜI

2.1.1 Khái niệm con người, nhân cách trong giáo dục học

2.1.1.1 Khái niệm con người trong giáo dục học

Con người là thực thể của tự nhiên (sinh vật sống có ý thức, có ngôn ngữ, có não và

vỏ não phát triển đến mức độ cao) và tuân theo những quy luật của tự nhiên

Con người là một thực thể xã hội: sản phẩm của xã hội, mang bản chất xã hội; mọi thuộc tính, phẩm chất của con người đều được hình thành thông qua sự tác động của xã hội, thông qua mối quan hệ người- người (quy luật xã hội)

Cái tự nhiên và cái xã hội tồn tại trong con người không tách biệt nhau mà thống

nhất, hoà nhập, chi phối, ức chế lẫn nhau C.Mác đã khẳng định: “ bản chất con người

không phải là cái gì chung chung trừu tượng, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội” Nhận định này cho thấy:

- Con người tồn tại trong rất nhiều mối quan hệ, quan tâm đến các mối quan hệ của con người chính là để hiểu rõ bản chất con người

- Bản chất con người bao giờ cũng được bộc lộ, được thể hiện ra trong chính cuộc sống, trong hoạt động đa dạng và phong phú của nó

Vậy, con người là sản phẩm của lịch sử xã hội, là thực thể mang bản chất xã hội bao gồm những phẩm chất, thuộc tính có ý nghĩa xã hội được hình thành trong quá trình sống

và do kết quả của sự tác động qua lại giữa con người với con người trong xã hội Con người là chủ thể hoạt động, là lực lượng sáng tạo ra hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội

Với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay, con người được coi là nhân tố quyết định cho sự phát triển Nhận thức sâu sắc về vai trò của con người trong sự phát triển kinh

tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã xác định:

- Coi mục tiêu, động lực chính của sự phát triển là vì con người và do con người

- Đặt con người vào vị trí trung tâm chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

- Khơi dậy tiềm năng của mọi cá nhân, tập thể lao động và cả cộng đồng dân tộc trong việc thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước

Quan điểm trên cần được quán triệt trong mọi hoạt động của đời sống xã hội ở nước

ta và trong chính quá trình học tập, tu dưỡng của học sinh, sinh viên hiện nay

2.1.1.2 Khái niệm nhân cách trong giáo dục học

Nhân cách là một khái niệm quan trọng trong giáo dục học, nhưng rất phức tạp Đã

có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu và đưa ra những quan niệm khác nhau về nhân cách

GS Phạm Minh Hạc “Vấn đề con người trong công cuộc đổi mới”-Hà Nội) cho rằng: Nhân cách là tổ hợp các thái độ, thuộc tính tâm lý riêng trong quan hệ hành động của từng

Trang 24

người với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật do loài người sáng tạo, với xã hội và với cá nhân

GS.TS Nguyễn Quang Uẩn khẳng định: “Khi nói đến nhân cách ta hiểu đó là sự thống nhất giữa phẩm chất và năng lực, giữa đức và tài, đó là một tổ hợp thống nhất giữa bốn nhóm thuộc tính tâm lý cơ bản của nhân cách: xu hướng, tính cách, khí chất và năng lực (“Gía trị, định hướng giáo dục nhân cách và giá trị”- Hà Nội, 1995)

Theo truyền thống và trong đời sống, người Việt Nam xem nhân cách con người gồm hai mặt đức và tài, phẩm chất và năng lực Đức nói lên mối quan hệ giữa con người với con người Tài nói lên mối quan hệ giữa con người với công việc Mặc dù có quan điểm khác nhau, nhưng nhìn chung các tác giả đều nhấn mạnh các điểm sau:

- Một hệ thống các thuộc tính ổn định của con người Những thuộc tính này rất đa dạng, bao gồm các mặt: đức, trí, thể ,mỹ…

- Mỗi cá nhân có một nhận cách riêng

- Nhân cách có ở con người đã phát triển, định hình về mặt xã hội, đã trở thành một chủ thể xã hội

- Bản chất nhân cách gồm hai mặt: mặt tự nhiên và mặt xã hội, trong đó mặt xã hội có

ý nghĩa quyết định

Trong giáo dục học nhân cách được hiểu là tất cả các nét, các mặt, các phẩm chất có

ý nghĩa xã hội trong một con người cụ thể Những thuộc tính này được hình thành trong quá trình tác động qua lại giữa người đó với người khác trong xã hội Cùng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, hàng loạt đặc điểm, thuộc tính, thái độ… của họ được biến đổi và trở thành những đặc điểm, thuộc tính người đích thực - tính xã hội - đạo đức

2.1.2 Khái niệm về sự hình thành và phát triển nhân cách

Con người mới sinh ra chưa có nhân cách, nhân cách phản ánh bản chất xã hội của mỗi cá nhân và chỉ hình thành và phát triển trong hoạt động và giao tiếp Chính trong qúa trình sống, hoạt động, giao tiếp, học tập, vui chơi con người đã tự hình thành và phát triển nhân cách

Sự phát triển nhân cách là sự biến đổi, sự tăng trưởng của mỗi cá nhân về mọi mặt theo xu hướng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Nó bao gồm sự tăng trưởng về số lượng và chất lượng của mỗi cá nhân, bao gồm sự phát triển về mặt thể chất, sự phát triển

về mặt tâm lý, xã hội của con người: Sự phát triển về mặt thể chất: đó là sự tăng trưởng về chiều cao, trọng lượng cơ thể, sự phát triển của các cơ bắp, sự hoàn thiện của các giác quan, hệ thần kinh và về mặt sinh lý của con người; Sự phát triển về mặt tâm lý: biểu hiện

ở sự biến đổi cơ bản trong quá trình nhận thức, tình cảm, ý chí, hành động, đặc biệt là sự hình thành và hoàn thiện các thuộc tính tâm lý của cá nhân; Sự phát triển về mặt xã hội: Thể hiện sự biến đổi trong cách ứng xử của mỗi cá nhân với mọi người xung quanh, ở sự tích cực của cá nhân khi tham gia vào các hoạt động xã hội

Trang 25

2.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH

2.2.1 Vai trò của di truyền trong sự phát triển nhân cách

2.3.1.1 Khái niệm

Di truyền là sự tái tạo lại ở trẻ những thuộc tính sinh học nhất định của thế hệ trước

Đó là sự truyền lại từ thế hệ trước đến thế hệ sau những thuộc tính và những đặc điểm sinh học nhất định đã được ghi lại trong chương trình của hệ thống gen

Ví dụ: màu tóc, màu da, hình thái có thể, đặc điểm hệ thần kinh, cấu trúc giải phẩu, khuôn mặt, vóc dáng…

Một số thuộc tính mà đứa trẻ có ngay sau khi chào đời gọi là thuộc tính bẩm sinh 2.2.1.2 Vai trò của di truyền trong sự phát triển nhân cách

Trong lý luận Giáo dục học, vấn đề di truyền những tư chất và những năng lực thuộc một hoạt động nào đó là vấn đề quan trọng thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học và hoạt động thực tiễn giáo dục

- Di truyền tạo tiền đề vật chất cho sự phát triển nhân cách Nhờ có di truyền vật chất

“người”: một cơ thể khỏe mạnh, hệ thần kinh bình thường, các giác quan đầy đủ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhân cách

- Di truyền tạo ra sức sống bản chất của con người, tạo điều kiện thuận lợi, sự dễ

dàng cho con người phát triển mạnh mẽ trong các dạng hoạt động tương ứng về nghệ thuật, khoa học và lao động, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách

Ví dụ: Nhiều người bẩm sinh có giọng nói và hát tốt, trí nhớ lạ thường, óc toán học… Chính những tư chất này tạo điều kiện thuận lợi giúp con người hoạt động trong các lĩnh vực tương ứng

Như C.Mác cho rằng con người là một thực thể tự nhiên, trực tiếp hơn nữa là thực thể sống, con người được phú cho những sức mạnh tự nhiên, những sức sống đã trở thành thực thể tự nhiên hoạt động; sức mạnh này tồn tại trong con người dưới dạng những tư chất

và những năng lực ở dạng say mê (C.Mác và F.Ăngghen Trích tác phẩm ở đầu thời kỳ)

- Di truyền chỉ tạo ra tiền đề, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhân cách,

chúng không vạch ra xu hướng phát triển cũng như không giới hạn trình độ phát triển Bởi

lẽ di truyền có trở thành hiện thực hay không, hoặc trở thành hiện thực ở mức độ nào còn phụ thuộc vào sự đam mê, hứng thú học tập, hứng thú, tính tích cực, tự giác học tập, tu dưỡng rèn luyện của mỗi cá nhân

- Những yếu tố di truyền không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhân

cách của con người, trong một số trường hợp nó còn gây khó khăn, cạn trở sự phát triển nhân cách của mỗi cá nhân

Ví dụ: những em bé sinh ra đã bị khuyết tật như câm, mù, điếc, thiệu năng trí tuệ, chậm phát triển ngôn ngữ…do di truyền từ ông, bà, cha mẹ, hoặc do các tác động khác Trong những trường hợp này, yếu tố bẩm sinh bất lợi cho quá trình hình thành và phát triển nhân cách cho các em Bởi các em sẽ gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sống, học tập,

Trang 26

trong giao tiếp với mọi người xung quanh, đặc biệt là lĩnh vực học tập Nếu các em không

có nghị lực, không có sự quan tâm chu đáo của gia đình thì nhiều em sẽ trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội

Qua đây chúng ta có thể khẳng định rằng, yếu tố di truyền có vai trò rất quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân Di truyền có liên quan đến việc hình thành các năng lực hoạt động trong lĩnh vực nhất định Di truyền không quy định

xu hướng phát triển nhân cách của cá nhân, cũng không giới hạn trình độ phát triển nhân cách Xu hướng và trình độ phát triển nhân cách chủ yếu phụ thuộc vào giáo dục và ảnh

hưởng của môi trường xã hội

2.2.2 Vai trò của môi trường trong sự phát triển nhân cách

xóm và nhóm bạn thân

2.2.2.1 Vai trò của môi trường trong sự phát triển nhân cách

Khi nói đến vai trò của môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách, người ta thường nói đến vai trò của môi trường xã hội Tâm lý học và Giáo dục học mác xít chứng minh rằng, nhân cách con người chỉ có thể hình thành và phát triển trong những điều kiện xã hội Vai trò đó được thể hiện ở các mặt sau:

- Môi trường đưa ra những yêu cầu khách quan đối với cá nhân con người trong

những giai đoạn lịch sử nhất định Thực chất đó là mô hình, kiểu nhân cách con người mà

xã hội xem là mục tiêu phấn đấu phải xây dựng cho bằng được, đồng thời cũng phải xem

đó là nguồn động lực cho sự phát triển liên tục của xã hội Mặt khác, mỗi thành viên xã hội cũng phải coi đó là mẫu nhân cách Là mục tiêu của bản thân để học tập, tu dưỡng, rèn luyện theo mô hình nhân cách đó nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội

- Môi trường tạo ra các phương tiện, điều kiện cho cho sự phát triển nhân cách theo

các yêu cầu khách quan đã xác định Đó là những điều kiện, phương tiện giúp con người

tham gia vào các hoạt động và giao lưu với những nội dung và hình thức đa dạng, phong phú, nhờ đó mà cá nhân có thể chiếm lĩnh được các kinh nghiệm xã hội, các giá trị văn hóa của loại người để hình thành và hoàn thiện nhân cách của bản thân

Trang 27

- Môi trường quan tâm đặc biệt đến khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả những

khả năng vốn có của con người với nhân cách đang phát triển, nhằm không ngừng thúc đẩy

bản thân nó phát triển theo những định hướng mà môi trường xã hội xác định

- Môi trường ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách con người thông qua các mối

quan hệ xã hội đa dạng như: quan hệ giai cấp, dân tộc, gia đình; quan hệ sản xuất, quan hệ

tư tưởng… Nhờ có các quan hệ này mà môi trường và con người tác động qua lại với nhau,trên cơ sở đó nhân cách con người được hình thành và phát triển.Vì thế mỗi người đều cần phải tham gia vào các mối quan hệ cụ thể nhất định nhằm chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội, các giá trị đạo đức nhân văn…Để trên cơ sở đó có thể hình thành, phát triển

và hoàn thiện nhân cách phù hợp với những yêu cầu chung của xã hội

- Môi trường ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách, song ảnh hưởng

đó theo chiều hướng và mức độ khác nhau đối với các loại thành phần xã hội khác nhau, thậm chí ở các cá nhân khác nhau

Bởi vì trong cùng một môi trường xã hội, nhưng mỗi thành viên lại có vị trí xã hội, điều kiện sống, học tập, lao động… khác nhau Vì vậy ảnh hưởng của môi trường đến sự phát triển nhân cách của các thành phần xã hội khác nhau sẽ không hoàn toàn giống nhau Tương tự như vậy, ảnh hưởng của các thành viên xã hội khác nhau đối với môi trường cũng không hoàn toàn giống nhau

Hơn nữa mỗi thành viên xã hội là một cá nhận riêng lẻ Mỗi cá nhân có lập trường, quan điểm, thái độ, năng lực…không hoàn toàn giống nhau Vì vậy, tính chất, mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với sự phát triển cá nhân còn phụ thuộc vào thái độ, lập trường, quan điểm của cá nhân đối với ảnh hưởng đó Cá nhân tiếp thu, chấp nhận hay phản đôí, tùy thuộc vào xu hướng và năng lực của cá nhân tham gia cải tạo môi trường tích cực hay tiêu cực, mạnh hay yếu

- Môi trường không chỉ ảnh hưởng tích cực mà còn ảnh hưởng tiêu cực đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Bởi trong quan hệ với môi trường, một mặt cá nhân

tiếp nhận được những ảnh hưởng tốt Song mặt khác, cá nhân cũng phải chịu ảnh hưởng xấu do môi trường đem lại Những ảnh hưởng tốt, tích cực, những ảnh hưởng xấu tiêu cực đan xen vào nhau, ảnh hưởng đến sự phát triển không đồng đều, thậm chí trái ngược nhau của các yếu tố môi trường

Nhiều khi trong một yếu tố ảnh hưởng lại có tính hai mặt: mặt tích cực và mặt tiêu cực.Trong môi trường xã hội nước ta hiện nay, các yếu tố tích cực rất nhiều, có tác dụng định hướng và tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam nói chung và thế hệ trẻ Việt Nam nói riêng

Môi trường kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay là môi trường kinh tế thị trường, nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự điều tiết của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Điều này kích thích, phát triển ở con người tính năng động hơn, linh hoạt động,

có chí tiến thủ, có khả năng tự lập cao hơn

Trang 28

Tuy nhiên nền kinh tế thị trường cũng có những mặt tiêu cực như: thái độ tôn sùng đồng tiền, coi thường đạo lý, muốn là giàu nhanh chóng bất chấp pháp luật, tình trạng tham

ô, hối lộ…cũng đã và đang tác động không nhỏ đến sự phát triển nhân cách con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ Nếu không có sự định hướng đúng đúng đắn của nhà trường, gia đình và nếu không có ý thức tự giáo dục, rèn luyện của bản thân thì các thành viên trong xã hội sẽ dễ bị tha hóa, biến chất

*Tóm lại, môi trường và nhân cách có sự tác động qua lại lẫn nhau Tác động của môi trường ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển nhân cách và được phản ánh vào nhân cách Mặt khác, tính tích cực của nhân cách cũng tác động đến môi trường nhằm góp phần phát triển môi trường và cũng qua đó nhân cách lại có cơ hội ngày càng hoàn thiện hơn

2.2.3 Giáo dục và sự phát triển nhân cách

2.2.3.1 Khái niệm

Giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng hẹp khác nhau Khi nói đến vai trò của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách, người ta muốn nhấn mạnh đến giáo dục nhà trường Đó là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, có nội dung, phương pháp được thực hiện trong nhà trường nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho người học phù hợp với yêu cầu xã hội và giai đoạn lịch sử nhất định

2.2.3.2 Vai trò của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách

Trong các yếu tố tác động đến sự phát triển nhân cách con người, giáo dục được xem

là yếu tố đóng vai trò chủ đạo Vai trò chủ đạo của giáo dục thể hiện ở nội dung sau:

- Giáo dục là hoạt động có mục đích, có chương trình, có kế hoạch, có nội dung, phương pháp, phương tiện nhằm định hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách Giáo dục diễn ra theo một quá trình được tổ chức chặt chẽ với một mục đích xác định Mục đích này thường phản ánh các yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn phát triển của nó đối với mô hình nhân cách con người mà xã hội yêu cầu Vì vậy nhà giáo dục phải xem đó là cái đích cho họat động của mình, là kim chỉ nam cho hoạt động giáo dục của bản thân, đồng thời phải lấy nó làm chuẩn để đánh giá các hoạt động giáo dục của mình Còn người được giáo dục cũng phải xem đó là cái đích để rèn luyện, phấn đấu, sao cho đạt được với sự nỗ lực cao nhất của bản thân, phải lấy nó làm chuẩn để tự đánh giá kết quả phát triển nhân cách của bản thân

- Giáo dục tổ chức, dẫn dắt sự hình thành và phát triển nhân cách theo mô hình được xác định: Điều này được thể hiện bằng việc xây dựng nội dung, phương pháp, phương tiện giáo dục nhằm đạt đến mục đích đề ra

Giáo dục tổ chức các hoạt động dạy học, hoạt động xã hội, sinh hoạt tập thể…Trong đó dưới sự hướng dẫn, tổ chức và điều khiển của nhà giáo dục, người được giáo dục tự giác, tích cực tham gia để hình thành và phát triển nhân cách theo định hướng

xã định Trong quá trình hoạt động, thường diễn ra sự điều chỉnh của nhà giáo dục và sự tự điều chỉnh của người được giáo dục nhằm giúp cho quá trình phát triển nhân cách của

Trang 29

người được giáo dục không bị lệch hướng Kết quả quá trình này sẽ được nhà giáo dục đánh giá và người được giáo dục tự đánh giá

- Giáo dục có khả năng tác động đến tất cả các mặt và làm phát triển toàn diện nhân cách (thể chất, tâm lý, xã hôi…)

- Giáo dục diễn ra trong suốt cuộc đời Ở vào môi trường giáo dục nhất định, giáo dục thường có những tác động phù hợp với các đặc điểm của lứa tuổi và của mỗi cá nhân, dó

đó khả năng làm phát triển tối ưu cho nhân cách

- Giáo dục được thực hiện trong các cơ quan chức năng chuyên biệt do đội ngũ giáo viên- những người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, hiểu biết đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và có khả năng tổ chức hoạt động phụ trách

Trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong các môi trường sư phạm, nhà giáo dục luôn là tấm gương sáng cho người được giáo dục học tập và noi theo bởi họ là những người hiểu biết, luôn có cách cư xử với mọi hoàn cảnh, mọi tình huống Nhà giáo dục luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ người được giáo dục kịp thời Nhà giáo dục luôn khêu gợi và tạo điều kiện để người được giáo dục phát huy cao nhất những tiềm năng sẳn có của mình, giúp cho quá trình phát triển nhân cách của người được giáo dục đạt hiểu quả các nhất

- Giáo dục không chỉ thích ứng mà còn đi trước hiện thực và thúc đẩy nó phát triển,

đưa con người đến "vùng phát triển gần nhất" Điều đó có giá trị định hướng cho việc xây

dựng mô hình nhân cách con người Việt Nam với tư cách là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội

- Giáo dục có thể điều khiển, điều chỉnh sự phát triển nhân cách thông qua ảnh hưởng chi phối đến các yếu tố khác:

+ Đối với bẩm sinh- di truyền:

Giáo dục tạo những điều kiện thuận lợi để các yếu tố di truyền được bộc lộ và phát triển

Giáo dục có thể phát hiện những yếu tố di truyền có lợi cho một số lĩnh vực hoạt động nào đó (thường gọi là năng khiếu), bồi dưỡng kịp thời, định hướng để phát triển tài năng cho đất nước thông qua hệ thống lớp chọn, trường chuyên, lớp bồi dưỡng năng khiếu, các cuộc thi olympic, thi học sinh giỏi các cấp và hệ thống các trường chuyên biệt khác Giáo dục còn có khả năng cải tạo những yếu tố không thuận lợi do bẩm sinh- di truyền đem lại cho con người Thông qua các trung tâm phục hồi chức năng, trung tâm nuôi dạy trẻ khuyết tật như: câm, mù, điếc, chậm phát triển trí tuệ với đội ngũ chuyên viên được đào tạo chu đáo, cộng với sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật, các trung tâm này

có thể giúp các em nắm được những kiến thức phổ thông, cơ bản, các kỹ năng cần thiết để các em có thể hòa nhập với cuộc sống xung quanh, đặc biệt chương trình giáo dục hòa nhập cộng đồng hiện nay đã và đang được xã hội ủng hộ nhiệt tình

+ Đối với yếu tố môi trường: Môi trường không những tạo ra những yếu tố thuận lợi

mà con mang lại những yếu tố không thuận lợi cho sự hình thành và phát triển nhân cách của người được giáo dục Vì vậy giáo dục có thể:

Trang 30

Phát hiện những yếu tố thuận lợi của môi trường và sử dụng chúng phục vụ cho việc giáo dục con người Giáo dục đã biết kết hợp các môi trường như: nhà trường, gia đình và

xã hội để tạo ra sức mạnh tổng hợp, tạo điều kiện cho người học được giáo dục mọi nơi, mọi chỗ, mọi lúc

Giáo dục có thể hạn chế, khắc phục những yếu tố không thuận lợi của môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người

Qua đây ta thấy, giáo dục có vai trò rất quan trọng không thể thiếu được đối với sự hình thành và phát triển nhân cách, giáo dục đóng vai trò chủ đạo nhưng không phải là

“vạn năng” Sự hình thành và phát triển nhân cách là kết quả phối hợp của nhiều nhân tố tác động Yếu tố giáo dục chỉ có thể phát huy tác dụng khi có sự hỗ trợ, phôí hợp với các yếu tố khác Mặt khác, sự hình thành và phát triển nhân cách thực chất là sự tác động của lại giữa các nhân tố bên trong, bên ngoài, các nhân tố khách quan và chủ quan Vì vậy, cần phải có sự nổ lực, tích cực tự giác, ý thức vươn lên, tự hoàn thiện mình của mỗi cá nhân

2.2.3.3 Mối quan hệ giữa giáo dục và tính tích cực cá nhân trong sự phát triển nhân cách

Không nên quan niệm giáo dục chỉ là sự tác động một chiều của các lực lượng giáo dục đến nhân cách người được giáo dục Giáo dục bao gồm cả hoạt động tích cực, đa dạng của người được giáo dục Chính thông qua những loại hình hoạt động tích cực, tự giác của người học mà nhân cách người học được hình thành và phát triển

Như vậy, giáo dục là sự tác động qua lại giữa người dạy và người học, trong đó người dạy giữ vai trò chủ đạo - người học vừa là đối tượng, vừa là chủ thể tích cực, chủ động nhằm hình thành và phát triển nhân cách

2.2.3.4 Điều kiện để giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách

- Nhà giáo dục cần phải tính đến và phát huy triệt đệ những điều kiện bên trong bao gồm cả sức sống tự nhiên, tư chất vốn có của mỗi người Những tư chất tự nhiên của con người chịu ảnh hưởng khác nhau đối với từng mặt giáo dục, do đó vai trò của giáo dục nhân cách đối với từng mặt giáo dục cũng khác nhau

- Giáo dục phải đi trước và kéo theo sự phát triển của người được giáo dục, nghĩa là người giáo dục đưa ra những yêu cầu cao, vừa sức với người được giáo dục mà họ có thể hoàn thành với sự nổ lực cao nhất

- Để phát huy những điều kiện bên trong, ý thức được chấp nhận được những yêu cầu của nhà giáo dục, như là yêu cầu của chính mình, là nguyện vọng của bản thân và mong muốn thực hiện các yêu cầu đó; giúp họ đề ra những mục tiêu phấn đấu trong các hoạt động và trong cuộc sống, tự thiết kế chương trình, kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng, rèn luyện những phẩm chất và năng lực mới cho bản thân

- Giáo dục trong nhà trường phải kết hợp với giáo dục trong gia đình và xã hội

2.2.4 Hoạt động cá nhân với sự phát triển nhân cách

Trang 31

Các nhà giáo dục cho rằng, mỗi cá nhân người được giáo dục đều tồn tại và vận động, phát triển với hai tư cách: vừa là đối tượng giáo dục, vừa là chủ thể tự giáo dục Song đối với sự hình thành và phát triển nhân cách, người ta thường nhấn mạnh vai trò chủ thể tự giáo dục và chủ thể nhận thức của mỗi cá nhân

Các công trình nghiên cứu cũng đã chứng minh rằng, những tác động tích cực từ bên ngoài, từ môi trường, từ giáo dục có phát huy được tác dụng đối với người được giáo dục hay không, điều đó phụ thuộc vào bản thân cá nhân họ có thể hiện được đầy đủ tư cách chủ thể của mình hay không Đúng như C.Mác đã từng khẳng định, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Các quan hệ đó lại được thể hiện, được duy trì bởi hàng loạt các hoạt động phong phú, đa dạng của con người Nhà Tâm lý học nỗi tiếng của Liên Xô

cũ A.N.Lêônchép cũng đã nhấn mạnh, chính trong các hoạt động, tâm lý, nhân cách con người mới được phát triển, hoàn thiện và nền tảng của nhân cách lại là chính các mối quan

hệ, phụ thuộc giữa các hoạt động của con người do tiến trình phát triển của những hoạt động ấy tạo ra Như vậy, cơ sở để hình thành và phát triển nhân cách chính là hoạt động của cá nhân Nhân cách con người được hình thành và phát triển bao giờ cũng gắn liền với

sự phát triển của hoạt động, của các loại hình hoạt động đa dạng trong cuộc sống của mỗi

- Nhà giáo dục cần có kế hoạch cụ thể, chi tiết trong việc tổ chức hoạt động, phát huy cao độ tính tích cực, tự giác của người được giáo dục trong quá trình tổ chức hoạt động

- Qúa trình tổ chức hoạt động cần phải được tiến hành với những phương pháp, phương tiện hợp lý và có hiệu quả

- Cần hướng dẫn, động viên, khích lệ, kiểm tra, đôn đốc và thường xuyên uốn nắn, điều chỉnh cho người được giáo dục trong các mối quan hệ và giao lưu cũng như trong hoạt động

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VÀ BÀI TẬP

1 Phân tích khái niệm nhân cách

2.Sự phát triển nhân cách là gì? Cho ví dụ minh họa

3 Phân tích đặc điểm đặc trưng của con người truyền thống và hiện đại

4 Phân tích vai trò của yếu tố bẩm sinh- di truyền đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Phê phán những quan điểm sai lầm về vai trò của bẩm sinh di truyền đối với sự phát triển nhân cách

Trang 32

5 Môi trường có vai trò như thế nào đối với sự hình thành và phát triển nhân cách? Cho ví dụ minh họa

6 Phân tích vai trò chủ đạo của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Để thực hiện vai trò đó, giáo dục cần phải thỏa mãn những yêu cầu gì?

*Bài tập:

1 Phân tích nội dung và ý nghĩa hai câu thơ sau đây của Bác Hồ:

“Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên”

2 Nhận dạng nét tính cách đặc trưng của một học sinh giỏi trong lớp

3 Lập phiếu quan sát học sinh trong lớp về tính tích cực tham gia các hoạt động tập thể

4 Làm các bài tập tình huống trong sách “Bài tập giáo dục học”(trang 27,28) của Tác giả Phạm Viết Vượng- NXB GD

Chương 3 MỤC ĐÍCH, MỤC TIÊU GIÁO DỤC VÀ HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN

3.1 KHÁI NIỆM MỤC ĐÍCH, MỤC TIÊU GIÁO DỤC VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA MỤC ĐÍCH, MỤC TIÊU GIÁO DỤC

3.1.1 Khái niệm mục đích, mục tiêu giaó dục

3.1.1.1 Mục đích, mục tiêu

Trước khi tiến hành một họat động nhất định, con người có khả năng ý thức trước sự cần thiết của họat động, dự kiến trước kết quả của hoạt động Khái niệm mục đích, mục tiêu xuất hiện đầu tiên trong lịch sử là từ hoạt động của người lính; ví dụ như khi tập bắn thì đích mà người tập ngắm để bắn trúng có thể là cái bia Người tập bắn nhìn thấy đối tượng cần bắn trúng (cái bia) Cho nên mục đích ở đây là nhìn thấy cái đích cần bắn trúng

là cái bia Từ đó các khái niệm này được sử dụng trong nhiều lĩnh vực cuộc sống như: trước khi làm ngôi nhà …người ta thường hình dung (dự kiến) trước ngôi nhà sẽ làm… Như vậy, trước khi thực hiện họat động nào đó, con người đã xác định được đích đến của họat động, hoạt động để làm gì?

Mục đích được hiểu là sự dự kiến trước (hình dung trước) kết quả của hoạt động

Để hình dung rõ hơn mục đích cần phân tích mục đích ra thành các mục tiêu

Mục tiêu được hiểu là sự cụ thể hóa của mục đích, hình dung mục đích theo các giai đoạn, cấp độ, phạm vi, mức độ nhất định với kết quả cụ thể

Mục tiêu có thể xem xét ở tầm chiến lược (định hướng) và ở phạm vi tác nghiệp (hoạt động) Khi xác định mục tiêu thường dự kiến về số lượng, chất lượng, cơ cấu, chế độ và thể chế

Trang 33

- Mục tiêu (MT) về số lượng là dự kiến số lượng sản phẩm sẽ đạt được Ví dụ như số lượng học sinh vào học, lên lớp, ra trường; số lượng giáo viên đạt chuẩn, vượt chuẩn; số lượng trường học (mầm non, phổ thông, dạy nghề, cao đẳng, đại học)…

- MT về chất lượng là dự kiến sẽ đạt được các yêu cầu của chất lượng sản phẩm Ví

dụ như chất lượng tuyển sinh, chất lượng về học lực và hạnh kiểm, chất lượng tốt nghiệp; Trường chất lượng cao, đào tạo nhân tài và người lao động chất lượng cao

- MT về cơ cấu là dự kiến về các thành phần, cấu trúc đảm bảo cân đối, phù hợp, phong phú, toàn diện Ví dụ như cơ cấu các môn học trong chương trình giáo dục, ngành nghề đào tạo nhân lực, nhân tài, các loại hình trường lớp đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và khoa học – công nghệ trong giai đoạn hiện nay…

- MT về thể chế là xem xét các chế độ, chính sách nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển con người và xã hội Ví dụ như xây dựng thể chế giáo dục hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa có cơ cấu hợp lý, hoàn chỉnh, toàn diện, chế độ linh hoạt, đa dạng; Phát triển các loại hình trường lớp ngoài công lập, cho phép mở các trường học của người nước ngoài; đảm bảo chế độ tiền lương cho nhà giáo; khuyến khích và tạo điều kiện cho việc học và học lên cao…

Liên quan mật thiết với mục tiêu là kết quả đạt được so với mục tiêu Kết quả chính

là mức độ đạt được mục tiêu về các mặt nói trên (số lượng, chất lượng, cơ cấu, thể chế)

3.1.1.2 Mục đích, mục tiêu giáo dục

* Mục đích giáo dục

Giáo dục là một quá trình (có mở đầu, diễn biến, kết thúc) hay được hiểu là một hoạt động (chủ thể và đối tượng hoạt động) Kết quả của quá trình giáo dục hay của hoạt động giáo dục trước hết là sự biến đổi nhân cách của người được giáo dục

Theo cách hiểu mục đích như trình bày ở trên thì mục đích giáo dục là sự dự kiến

trước kết quả của hoạt động giáo dục Kết quả của hoạt động giáo dục chính là nhân cách

của người được giáo dục Vì vậy có thể hiểu mục đích giáo dục là mô hình nhân cách của

con người (người học) mà giáo dục cần đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội trong một giai đọan lịch sử cụ thể

xã hội

- Trong thực tế hoạt động giáo dục có nhiều cấp độ để xác định, vận dụng mục đích giáo dục, để chỉ đạo thực tiễn hoạt động giáo dục nhằm vào những yêu cầu, mức độ cụ thể

Trang 34

của công tác giáo dục, của hệ thống giáo dục, phù hợp với quan điểm và thể chế xã hội đương thời

*Mục tiêu giáo dục

Mục tiêu giáo dục được hiểu là sự cụ thể hóa của mục đích giáo dục, là chuẩn mực của một cấp học, bậc học, một loài trường, một giai đoạn đào tạo nhất định

Có thể rút ra một số nhận xét về mục tiêu giáo dục như sau:

- Kết quả dự kiến của một quá trình hoạt động ngắn

- Có kết quả rõ ràng và đo lường được

- Có thể nêu lên quy trình hoạt động để đạt kết quả

* Mục đích giáo dục có thể được hình dung ở các cấp độ vĩ mô và vi mô

Cấp độ vĩ mô hay còn gọi là mục đích giáo dục tổng quát là nhấn mạnh mục đích chung của toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân, phản ánh các yêu cầu của xã hội đối với một nền giáo dục Chẳng hạn mục đích giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân là trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực và nhân tài của một quốc gia ở một giai đoạn lịch sử nhất định

Cấp độ vi mô hay còn gọi là mục tiêu giáo dục : là sự vận dụng cơ sở lý luận chung

về mục đích chung của giáo dục (tổng quát) để xác định các yêu cầu, nội dung giáo dục đối với từng lĩnh vực giáo dục cụ thể như đối với một ngành học, một cấp học, một trường học ở các giai đoạn nhất định như là mục tiêu giáo dục mầm non, phổ thông (mục tiêu giáo dục tiểu học, THCS, THPT), mục tiêu giáo dục đại học…

Mục đích giáo dục Mục tiêu giáo dục

2 Thời gian thực hiện ngắn

3 Tính xác định của vấn đề

4 Có thể đo được kết quả ở một thời điểm cụ thể

5 Là một bộ phận của mục đích Khi xây dựng mục đích, mục tiêu giáo dục, người ta thường chú ý đến hai loại:

- Mục đích hệ thống: là kết quả dự kiến mà hệ thống giáo dục cần đạt được sau một giai đoạn nhất định Các nhà quản lý thường quan tâm đến hai loại mục đích này

- Mục đích nhân cách: thường được các nhà giáo dục quan tâm, bao gồm:

+ Mục đích nhân cách cá nhân là mô hình con người mà mỗi cá nhân cần phấn đấu để đạt được

+ Mục đích nhân cách xã hội là mô hình con người mà xã hội đào tạo

Hai mô hình này cần đồng nhất với nhau thì mới tạo ra động lực lành mạnh trong quá trình giáo dục

Tóm lại, phạm trù mục đích giáo dục có phạm vi bao quát rộng đối với toàn bộ cấu trúc hệ thống và các lĩnh vực khác nhau của hệ thống giáo dục quốc dân Nó phản ánh yêu

Trang 35

cầu của xã hội, của thời đại về mô hình nhân cách mà xã hội mong đợi, đòi hỏi ở hoạt động giáo dục Đó chính là thể hiện tính dự báo, tính chất lý tưởng và tính định hướng của mục đích giáo dục đối với hoạt động thực tiễn giáo dục

Quá trình xây dựng mục đích giáo dục đòi hỏi phải bám sát cơ sở khoa học và xuất phát từ thực tiễn giáo dục đồng thời cần phải tiếp thu, kế thừa những truyền thống cao đẹp, các tinh hoa của nền giáo dục dân tộc

Tóm lại, mục đích giáo dục là một phạm trù cơ bản của Giáo dục học phản ánh trước kết quả mong muốn trong tương lai của họat động giáo dục Đó là yêu cầu, là ước mơ và

hy vọng vào tương lai của sự phát triển con người, phát triển xã hội

3.1.2 Mối quan hệ giữa mục đích, mục tiêu giáo dục

Đây là mối quan hệ biện chứng gắn bó hữu cơ giữa cái tổng thể và cái bộ phận, giữa cái chung và cái riêng Chúng không bài trừ, phủ định nhau mà chúng nương tựa vào nhau, cái này là cơ sở, là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của cái kia trong mối tương quan,

có tính quy luật trong sự vân động và phát triển giáo dục

* Ý nghĩa của việc xác định mục đích, mục tiêu giáo dục

Mục đích, mục tiêu giáo dục có giá trị định hướng cho tòan bộ hoạt động giáo dục Ở

tầm vĩ mô, việc xác định mục đích giáo dục thường là do các cấp lãnh đạo - quản lý giáo dục thực hiện, đảm bảo cho hệ thống giáo dục phát triển thống nhất với sự phát triển về

chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa…của đất nước; góp phần thực hiện mục tiêu: “Dân giàu

nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Ở các trường học, việc xác định rõ

mục tiêu của hoạt động giáo dục sẽ định hướng cho việc chọn lựa, sử dụng và điều chỉnh

nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục

Mục đích, mục tiêu giáo dục còn là tiêu chuẩn, thước đo đánh giá chất lượng giáo

dục Xem xét chất lượng đầu vào, đầu ra để quyết định tuyển sinh, tuyển dụng, so sánh chất lượng tuyển sinh và yêu cầu về chất lượng tốt nghiệp để quyết định tổ chức các hoạt động giáo dục và huy động các nguồn lực đáp ứng yêu cầu của chất lượng giáo dục

Việc xác định đúng đắn mục đích, mục tiêu giáo dục có tác dụng kích thích tích tích cực hoạt động của con người, tạo động lực cho họat động giáo dục Việc xác định mục đích, mục tiêu giáo dục thường hay quan tâm đến nhu cầu của cuộc sống, của cá nhân do

đó nó có sức hấp dẫn, tạo ra nhu cầu, động cơ cho hoạt động của người học và cả người dạy Vì vậy cần hướng dẫn, tư vấn cho người học xác định và lựa chọn mục tiêu giáo dục 3.2 MỤC ĐÍCH GIÁO DỤC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

3.2.1 Vài nét về sự phát triển mục đích giáo dục Việt Nam trong lịch sử

Mục đích giáo dục là một phạm trù mang tính lịch sử và tính giai cấp Đây chính là quy luật về sự phù hợp tất yếu của giáo dục với trình độ phát triển sức sản xuất xã hội với tính chất của quan hệ sản xuất xã hội

Trong xã hội phong kiến, mục đích giáo dục là hướng vào việc đào tạo mô hình nhân cách người quân tử Coi trọng giáo dục đạo đức, sống theo lý tưởng nhân nghĩa, luôn luôn

nỗ lực phấn đấu theo phương châm "Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ"

Trang 36

Cách mạng tháng Tám thành công, đất nước bước sang trang mới, mục đích của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa giai đoạn này là đào tạo những người lao động có giác ngộ XHCN, yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, kiên cường, gan dạ trong đấu tranh chống Mỹ cứu nước

Sau khi cả nước hoàn toàn độc lập, thống nhất đất nước, sự nghiệp xây dựng và cải tạo xã hội chủ nghĩa được tiến hành, mục đích giáo dục được đặt ra là "đào tạo nên những con người mới, những người làm chủ thể thiết tha yêu nước và có tinh thần quốc tế trong sáng Phải bảo đảm cho thế hệ trẻ dần dần làm chủ được kho tàng văn hóa, kiến thức của loài người, biến những kiến thức thành niềm tin, thành thế giới quan và phương pháp tư duy khoa học, từ đó trang bị cho con người khả năng suy nghĩ sáng tạo và hành động đúng đắn, phù hợp với lý tưởng cao cả, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội" (Văn kiện Đại hộiV)

3.2.2 Mục đích giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

*Quan điểm về sự hình thành và phát triển nhân cách

Nhân cách được hình thành và phát triển dưới những ảnh hưởng của các yếu tố: di truyền, môi trường, giáo dục và hoạt động - giao tiếp cá nhân Sự tương tác biện chứng giữa cá nhân và môi trường thông qua hoạt động và giao tiếp cá nhân làm cho nhân cách hình thành và phát triển C.Mác đã nói: hoàn cảnh sáng tạo ra con người trong chừng mực con người sáng tạo ra hoàn cảnh

Giáo dục là hoạt động được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch, có nội dung, phương pháp khoa học… nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người phù hợp với những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định Tính định hướng của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách biểu hiện thông qua việc giáo dục

có thể thiết kế được mô hình nhân cách có tính toàn vẹn của con người trong xu thế phát triển và tiến bộ xã hội và thiết kế được mục tiêu giáo dục cho các giai đọan khác nhau Quan điểm về vai trò của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách là quan điểm rất cơ bản trong Giáo dục học, nó vừa định hướng cho sự phát triển giáo dục, phát triển kinh tế - xã hội và phát triển con người trong xã hội công nghiệp hiện đại

* Quan điểm về con người phát triển toàn diện và sự phát triển toàn diện nhân cách

Các quan điểm hướng vào sự phát triển toàn diện nhân cách con người đã có một bề dày trong lịch sử Nhưng ở mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ lịch sử, khái niệm phát triển toàn diện nhân cách có một nội dung riêng Sự phát triển của các quan điểm về sự phát triển

Trang 37

toàn diện nhân cách con người trong lịch sử là cơ sở lý luận để xây dựng mục đích giáo dục

Con người phát triển toàn diện là yêu cầu tất yếu, khách quan của xã hội công nghiệp hiện đại (với những đặc điểm cơ bản như : thay đổi nhanh và tính đa dạng, phong phú ngày càng cao); nhưng để phát triển toàn diện nhân cách, cần có những điều kiện nhất định tùy theo khả năng, mong muốn cùng với sự nỗ lực cố gắng của mỗi người và cộng đồng

Từ những cơ sở khoa học, Mác – Ăng ghen đã chỉ ra mô hình về con người phát triển

toàn diện của xã hội tương lai: là con người phát triển cả về trí tuệ, đạo đức, sức khỏe, lao

động và thẩm mỹ; hài hòa về thể chất và tâm hồn, hài hòa giữa cuộc sống cá nhân và xã hội, giữa cái chung và cái riêng Phát triển toàn diện nhân cách là phát triển hết khả năng, đặc tính vốn có của từng cá nhân; chứ không phải làm cho tất cả mọi người đều hoàn toàn giống nhau, đều làm giỏi tất cả mọi việc như nhau

Con người phát triển toàn diện là ước mơ từ ngàn xưa của loài người và là yêu cầu khách quan phù hợp với ước mơ chủ quan của mỗi người trong xã hội hiện đại Và chỉ có

trong xã hội hiện đại, tiến bộ với có đủ điều kiện để phát triển con người toàn diện

Trong lịch sử cũng như trong xã hội hiện đại, việc phát triển toàn diện cho thế hệ đang lớn lên với những đặc trưng bản chất trên vẫn là mục đích lý tưởng của nền giáo dục

các nước

* Những đặc điểm và xu thế phát triển của thời đại

Cuộc cách mạng KH – CN hiện đại, khởi đầu từ giữa thế kỷ XX ngày càng phát triển với những bước đi thần tốc Việc áp dụng những thành tựu KH – CN làm thay đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội Khoa học trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp và nòng cốt, là động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế - xã hội Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ phát triển như “vũ bão” đã thể hiện rõ nét ở các yếu

tố sau:

- “Bùng nổ” thông tin và sự lạc hậu nhanh chóng của thông tin

- Việc sử dụng các thế hệ máy tính điện tử và các phương tiện công nghệ hiện đại vào sản xuất và đời sống ngày càng được gia tăng nhanh chóng

- Việc ứng dụng các thành tựu mới của khoa học – công nghệ vào sản xuất và đời sống đang là cơ hội và thách thức đối với các quốc gia đang phát triển và chính những con người của các quốc gia ấy

Sự phát triển của khoa học - công nghệ với những đặc điểm nói trên đòi hỏi con người phải có khả năng cập nhập và ứng dụng thông tin - công nghệ tiên tiến, sử dụng được phương tiện hiện đại Khả năng tự học để học suốt đời là yêu cầu tất yếu đối với con người trong thời đại ngày nay

Xu thế phát triển của xã hội ngày nay cũng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với con người, đó là:

- Sự hình thành nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin

Trang 38

- Xu thế toàn cầu hóa, xu thế hội nhập, giao lưu quốc tế ngày càng được mở rộng và thân thiện

- Ước muốn về chung sống hòa bình, dân chủ, bình đẳng, công bằng và khả năng gìn giữ hòa bình đang được củng cố

- Các vấn đề có tính toàn cầu như xung đột về sắc tộc, dân tộc, tôn giáo; dân số và sự

di cư tìm kiếm việc làm, suy giảm môi trường và sinh thái, phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng, nạn thất nghiệp đòi hỏi các quốc gia phải quan tâm giải quyết

- Tệ nạn xã hội và bạo hành đang có xu hướng gia tăng trong các nhà trường

Tất cả các vấn đề trên cần được đặt ra, xem xét và giải quyết bắt đầu từ giáo dục, bằng giáo dục

* Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam

Từ những thập kỷ 80 của thế kỷ XX, Việt Nam chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường,

có sự điều tiết của nhà nước Sự biến chuyển của nền kinh tế - xã hội đã ảnh hưởng tích cực đến mỗi cá nhân như:

- Phát huy cao độ tính tích cực, sáng tạo của con người, kích thích con người nắm bắt nhanh nhạy yêu cầu của kinh tế - xã hội

- Đòi hỏi thế hệ trẻ Việt Nam khả năng thích nghi trước những biến đổi của môi trường kinh tế - xã hội, năng động và sáng tạo, có tri thức văn hoá, khoa học, có kĩ thuật nghề nghiệp vững vàng, có phẩm chất đạo đức và thái độ đúng đắn

Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu tổng quát của Chiến

lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 là: Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém

phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hoá Từ đó Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định Chiến lược phát triển giáo dục

và đào tạo (2001-2010) với những quan điểm chủ yếu là:

- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu kinh tế – xã hội

- Giáo dục và đào tạo phải đi trước sự phát triển kinh tế - xã hội

- Đầu tư cho giáo dục là một hướng chính của đầu tư phát triển

- Đa dạng hoá các hình thức đào tạo, thực hiện công bằng trong giáo dục

- Giáo dục và đào tạo phải gắn chặt với yêu cầu phát triển của đất nước và phù hợp với tiến bộ của thời đại

* Những đặc điểm truyền thống dân tộc Việt Nam

- Truyền thống yêu nước, anh hùng

- Truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, lạc quan

- Truyền thống nhân ái

- Truyền thống văn hóa lâu đời

Trang 39

Các giá trị truyền thống đó phải được kế thừa, gìn giữ và phát huy sẽ trở thành nội

lực tiềm năng, sức mạnh của con người Việt Nam…

3.2.2.2 Mục đích giáo dục xét trên bình diện xã hội

Mục đích giáo dục của nền giáo dục XHCN Việt Nam là hình thành và phát triển tòan diện nhân cách con người Việt Nam Mục đích đó được thể hiện cụ thể trong từng giai đọan phát triển của đất nước, gắn chặt với việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế -

xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Mục đích giáo dục trong giai đọan hiện nay đã được khẳng định trong Văn kiện Hôi nghị lần thứ 4 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII

(1993): " Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân

tài "

a Mục tiêu nâng cao dân trí

Xây dựng nền giáo dục phục vụ sự nghiệp nâng cao dân trí – đó là tư tưởng chỉ đạo

toàn bộ sư phát triển giáo dục cùa nước ta Bác Hồ đã đúc kết thành chân lý: “Một dân tộc

đôt là một dân tộc yếu” Vì vậy, ngay sau khi giành độc lập vào tháng 8/1945, một trong

những nhiệm vụ cấp bách là làm sao cho mọi người biết đọc, biết viết, có kiến thức, hiểu biết được quyền lợi và bổn phận của mình Vấn đề nâng cao dân trí trở thành quốc sách và

là mục tiêu hàng đầu của nền giáo dục nước ta

Dân trí được hiểu là trình độ hiểu biết, trình độ văn hóa của người dân trong từng thời

kỳ lịch sử nhất định Dân trí biểu hiện trữ lượng hiểu biết văn hoá của một dân tôc Mặt bằng dân trí được thể hiện bằng số năm học trung bình của người dân một nước vào một thời điểm nhất định

Dân trí có liên quan đến hạnh phúc, lối sống của con người, đến sự phát triển kinh tế -

xã hội của đất nước, đến các vấn đế liên quan đến dân tộc và toàn cầu như vấn đề dân quyền, dân sinh, dân chủ… Một quốc gia có trình độ dân trí cao là quốc gia đó có đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân cao, thể hiện trong đời sống chính trị, văn hóa, đạo đức, truyền thống xã hội, trong ý thức, hành vi của cá nhân…

Hiện nay nước ta đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, nhưng với trình độ này so với các nước trong khu vực và với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta còn phải phấn đấu nâng cao trình độ dân trí rất nhiều

Mục tiêu nâng cao dân trí đến 2020:

- Xây dựng hoàn chỉnh và phát triển bậc học Mầm non cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi Thực hiện và hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm

2015 ; đến năm 2020 ít nhất 30 % trẻ em trong độ tuổi nhà trẻ và 80% trong độ tuổi mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở giáo dục mầm non, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, trong các cơ sở giáo dục mầm non giảm xuống 10%

- Củng cố và nâng cao thành quả giáo dục Tiểu học và xóa mù chữ, duy trì kết quả giáo dục phổ cập THPT Thực hiện và hoàn thành phổ cập giáo dục THPT vào năm 2020 Đến năm 2020 tỷ lệ học sinh học đúng độ tuổi ở Tiểu học là 99%, THCS là 95% và 80%

Trang 40

thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ học vấn THPT và tương đương, có 70% trẻ em khuyết tật được đi học

- Kết quả xóa mù chữ được củng cố bền vững Đến năm 2020 tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 trở lên là 98% và tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 đến 35 là 99% đối với cả nam và nữ

- Phát triển giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn, phấn đấu giảm chênh lệch về phát triển giáo dục giữa các vùng lãnh thổ

Nâng cao dân trí là kết quả tổng hợp của nhiều lĩnh vực giáo dục như giáo dục nhà trường, giáo dục xã hội, giáo dục gia đình, tuy nhiên, giáo dục nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân bao giờ cũng giữ vai trò nòng cốt Để đạt đến trình độ dân trí ngày càng cao, giáo dục luôn phải đổi mới và phát triển liên tục theo hướng nhân văn hoá, xã hội hoá,

đa dạng hoá với những phương thức thích hợp, huy động mọi lực lượng, mọi tiềm năng của xã hội làm giáo dục; nâng cao chất lượng và bảo đảm số lượng giáo viên cho toàn bộ

hệ thống giáo dục

b Mục tiêu đào tạo nhân lực

Nhân lực là lực lượng lao động Nói đến nguồn nhân lực là nói đến sức mạnh trí tuệ, tay nghề, năng lực, phẩm chất, sức khỏe của nhân lực Chất lượng và hiệu quả lao động trong thời đại cách mạng khoa học – công nghệ phụ thuộc vào trình độ đào tạo nhân lực Người lao động có trình độ sẽ luôn luôn tiếp cận với cái mới, năng động sáng tạo trong sản xuất, trong công nghệ, sẽ có năng lực thích nghi cao với những biến động và phát triển của nền kinh tế - xã hội

Trong thực tế, nước ta dồi dào về nhân lực (khoảng trên 50 triệu người) nhưng chất lượng thấp, chưa đáp ứng với những yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước Theo tính toán của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Việt Nam mới có khoảng hơn 64% (Thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tháng 5/2011) lực lượng lao động không qua trường lớp đào tạo nào Trên thực tế, chưa có con số thống kê chính xác về bao nhiêu phần trăm lao động đáp ứng được yêu cầu sử dụng Hiện chất lượng lao động Việt Nam còn nhiều vấn đề cần giải quyết Khi Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới thì chất lượng lao động thấp sẽ có tác động xấu tới khả năng cạnh tranh của nền kinh

tế Đây là ý kiến của phần lớn các chuyên gia lao động khi nói về chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam Vì vậy mục tiêu đào tạo nhân lực ở nước ta càng trở nên cấp thiết

Mục tiêu đào tạo nhân lực đến 2020:

- Đào tạo nhân lực cho sự nghiệp CNH - HĐH, trong đó đặc biệt chú ý nhân lực khoa học – công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề, đào tạo nhân lực cho các lĩnh vực công nghệ ưu tiên (công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa), đào tạo nhân lực cho nông thôn để thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu lao động

Ngày đăng: 24/08/2017, 11:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Sinh Huy (chủ biên), Nguyễn Văn Lê (1997), Giáo dục học đại cương, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học đại cương
Tác giả: Nguyễn Sinh Huy (chủ biên), Nguyễn Văn Lê
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
[2]. Hà Nhật Thăng (chủ biên) (2004), Phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường THPT, NXB ĐH Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường THPT
Tác giả: Hà Nhật Thăng (chủ biên)
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia
Năm: 2004
[3]. Trần Thị Tuyết Oanh (Chủ biên), Phạm Khắc Chương, Phạm Viết Vượng, Bùi Minh Hiền, Nguyễn Ngọc Bảo, Bùi Văn Quân, Phan Hồng Vinh, Từ Đức Văn (2012), Giáo trình Giáo dục học (Tập 1), NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học (Tập 1)
Tác giả: Trần Thị Tuyết Oanh (Chủ biên), Phạm Khắc Chương, Phạm Viết Vượng, Bùi Minh Hiền, Nguyễn Ngọc Bảo, Bùi Văn Quân, Phan Hồng Vinh, Từ Đức Văn
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2012
[4]. Trần Thị Tuyết Oanh (Chủ biên), Phạm Khắc Chương, Phạm Viết Vượng, Nguyễn Văn Diện, Lê Tràng Định (2013), Giáo trình Giáo dục học (Tập 2), NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học (Tập 2)
Tác giả: Trần Thị Tuyết Oanh (Chủ biên), Phạm Khắc Chương, Phạm Viết Vượng, Nguyễn Văn Diện, Lê Tràng Định
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2013
[6]. Phạm Viết Vượng (2007), Bài tập Giáo dục học, NXB ĐHSP, Hà Nội. Cập nhật nội dung các văn bản của Bộ Giáo dục & Đào tạo: Khung phân phối chương trình giáo dục phổ thông; Quy chế đánh giá, xếp loại HS THPT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập Giáo dục học
Tác giả: Phạm Viết Vượng
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w