GD là một hiện tượng của xã hội, nảy sinh từ nhu cầu của xã hội, tồn tại và phát triển cùng với xã hội loài người nên nó có mối quan hệ mật thiết với xã hội và chịu sự quy định của xã hộ
Trang 1Đề Cương Giáo Dục Học
PHẦN 1 – GIÁO DỤC HỌC ĐẠI CƯƠNG Chương 1 – Giáo Dục Học Là Một Khoa Học
1 GD LÀ MỘT HIỆN TƯỢNG XH
1.1 Bản chất, nguồn gốc của giáo dục
Bản chất của GD là sự truyền thụ kinh nghiệm của người này cho người khác, của thế hệ trước cho thế hệ sau (kinh nghiệm lao động, kinh nghiệm giao tiếp, ứng xử )
Nguồn gốc của GD: Bắt đầu từ lao động, sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, GD cũng
bắt đầu manh nha Nguồn gốc của GD bắt đầu từ lao động, vì trong quá trình tác động vào thế giới khách quan con người đã tiếp thu và tích lũy được những kinh nghiệm và truyền lại cho người khác, cho thế hệ sau để ứng dụng vào trong quá trình lao động sau đó đạt hiệu quả cao hơn
Cơ chế phát triển chủ yếu của động vật là di truyền Ở con người, cơ chế phát triển là lĩnh hội kinh nghiệm xã hội lịch sử loài người, những kinh nghiệm cá thể và kinh nghiệm xã hội lịch sử được truyền lại qua nhiều thế hệ
Nhờ có GD mà xã hội loài người mới duy trì sự tồn tại, phát triển và đạt được những thành tựu ngày càng rực rỡ
GD ban đầu được thực hiện thông qua việc truyền thụ kinh nghiệm của người này cho người khác, chưa
có một cơ quan chuyên trách đảm nhiệm việc GD, nó có thể được tiến hành một cách tự giác hoặc tự phát ở trong gia đình hoặc cộng đồng Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, người ta nhận thấy cần phải có những cá nhân và những cơ quan chuyên phụ trách việc GD thế hệ trẻ để đạt hiệu quả cao, từ đó trường học và thầy giáo ra đời Và như vậy, bên cạnh GD của gia đình, GD của xã hội thì còn có GD của cơ quan chuyên trách đó là nhà trường Ngày nay, việc GD trong nhà trường đã được tổ chức ngày càng khoa học và chặt chẽ với mục đích, nội dung, kế hoạch, chương trình, phương pháp, phương tiên, nhân lực cụ thể và dựa trên cơ sở của các khoa học liên quan đến GD con người
* Từ những phân tích trên ta có thể đi đến kết luận: GD là một hiện tượng chỉ có trong xã hội loài người, bản chất của GD là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử-xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có GD
mà các thế nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ
sở đó xã hội loài người không ngừng tiến lên Hoạt động GD ngày càng được tổ chức chặt chẽ, bài bản, hiêu quả dựa trên những cơ sở khoa học.
1.2 Tính chất của GD
Tính chất của GD là những thuộc tính cơ bản để phân biệt nó với các hiện tượng khác GD có các tính chất sau:
1.2.1 Tính phổ biến và vĩnh hằng của GD
Tính phổ biến nghĩa là GD có mặt ở mọi nơi và mọi lúc
Tính vĩnh hằng nghĩa là GD tồn tại và phát triển cùng với xã hội loài người, nó tồn tại mãi mãi, chừng nào còn xã hội loài người thì chừng đó GD còn tồn tại
GD có tính chất phổ biến và vĩnh hằng vì GD gắn bó chặt chẽ với sự phát triển xã hội và phát triển cá nhân
- Để xã hội loài người có thể duy trì sự tồn tại và phát triển ngày càng cao thì cần phải có quá trình GD Những kinh nghiệm, vốn hiểu biết của người này, của thế hệ trước cần phải đươc truyền lại cho người khác và cho thế hệ sau để ứng dụng vào trong quá trình lao động, cải tạo thế giới khách quan đạt hiệu quả cao Những kinh nghiệm và vốn hiểu biết đó lại được tích lũy và làm phong phú thêm và lại được tiếp tục truyền qua các thế hệ tiếp sau Nhờ vậy mà xã hội loài người, nền văn minh nhân loại phát triển và tiến bộ không ngừng
- Bên cạnh việc GD phục vụ cho sự phát triển xã hội thì GD còn là phương tiện để phát triển cá nhân:
“Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri đạo” một người mà không có GD thì không thể trở thành con người theo đúng ý nghĩa của nó, nhờ có GD mà cá nhân có thể phát triển về nhân cách và trở thành chủ thể trong các hoạt động Nhờ có GD mà những tiềm năng, tố chất của con người được khơi dậy, bộc lộ và phát triển GD cũng làm cho con người phát triển toàn diện về mọi mặt
1.2.2 Tính quy định của xã hội đối với GD
Trang 2GD là một hiện tượng của xã hội, nảy sinh từ nhu cầu của xã hội, tồn tại và phát triển cùng với xã hội loài người nên nó có mối quan hệ mật thiết với xã hội và chịu sự quy định của xã hội.
Trình độ sản xuất, tính chất quan hệ sản xuất, cấu trúc xã hội, hệ tư tưởng, khoa học kỹ thuật, văn hóa, phong tục tập quán… của một xã hội, trong mỗi giai đoạn nhất định sẽ quy định tính chất, mục đích, mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện GD của xã hội đó Nói cách khác, GD được tổ chức phù hợp với xã hội và đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội
Ví dụ, GD thời thực dân phong kiến khác với GD sau khi Cách mạng Tháng 8 thành công (khác về mục đích, tổ chức, nội dung….) Cải cách GD (1950 và 1956) ở nước ta cũng là làm cho GD phù hợp với tính chất, điều kiện và yêu cầu của xã hội
Xét cho đến cùng thì tính chất của xã hội quyết định tính chất GD, nhưng đó không phải là mối quan hệ một chiều, giữa GD và xã hội có mối quan hệ biện chứng với nhau Nếu tính GD phù hợp với xã hội, GD đáp ứng được những yêu cầu của xã hội thì nó góp phần quan trọng vào sự phát triển xã hội Ngày nay, về cơ bản mọi người đã thống nhất và nhấn mạnh đầu tư cho GD là đầu tư cho phát triển, nhiều nước trong đó có Việt Nam đã coi việc phát triển GD là một trong những quốc sách hàng đầu
Tính quy định của xã hội đối với GD thể hiện rõ nhất ở tính lịch sử và tính giai cấp của GD
1.2.3 Tính lịch sử của GD
GD là một hiện tượng xã hội, chịu sự quy định của xã hội nên có tính lịch sử cụ thể Tính lịch sử thể hiện ở chỗ:
- GD phản ánh sự phát triển của xã hội
- Mỗi thời kỳ lịch sử, mỗi phương thức sản xuất đều có nền GD tương ứng
- Tính lịch sử thể hiện rõ nhất ở việc thay đổi mục đích, nội dung, cách thức tổ chức GD qua mỗi thời kỳ lịch sử
Bài học là xây dựng và tổ chức GD phải phù hợp với điều kiện lịch sử xã hội
1.2.4 Tính giai cấp của GD
Trong xã hội có giai cấp thì GD mang tính giai cấp GD phản ánh đặc điểm và lợi ích giai cấp Giai cấp thống trị xã hội sử dụng GD để duy trì và bảo vệ quyền lợi của mình thông qua việc truyền bá và xây dựng ý thức hệ của giai cấp
GD là vũ khí của đấu tranh giai cấp
1.2.5 Tính nhân văn, đại chúng, dân tộc và quốc tế
Tính nhân văn là một nền GD lấy con người làm gốc, tôn trọng phẩm giá con người GD hướng vào duy trì và phát triển các giá trị chung của nhân loại qua các thời kỳ, phát triển tất cả năng lực và phẩm chất cao đẹp của con người
Tính đại chúng của GD thể hiện ở chỗ nó cung cấp cơ hội GD đồng đều cho mọi tầng lớp trong xã hội, hướng tới cả những đối tượng đặc biệt Ngày nay, GD được tiến hành suốt đời, GD cho mọi người, GD được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục trong suốt cuộc đời con người (thậm chí ngay cả khi chưa ra đời-thai giáo) Tính đại chúng còn thể hiện ở chỗ hướng tới sự đa dạng về văn hóa, tôn trọng sự khác biệt văn hóa.Tính nhân văn và đại chúng có được là phụ thuộc vào chính sách của giai cấp cầm quyền Trong lịch sử, không phải lúc nào và ở đâu giáo dục cũng có tính chất này
Tính dân tộc của GD thể hiện ở chỗ nó phản ánh những đặc điểm và lợi ích dân tộc, bản sắc dân tộc Mỗi dân tộc khác nhau có quan niệm khác nhau về GD truyền thống văn hóa
Tính quốc tế: giáo dục hiện nay giúp con người có thể hòa nhập vào thế giới thuận lợi hơn Có nhiều giá trị được giáo dục chung cho cả nhân loại Xu thế hội nhập, hợp tác trong lĩnh vực giáo dục ở phạm vi toàn cầu đang được đẩy mạnh
Kết luận: Trong xã hội loài người có những hiện tượng sẽ mất đi (ví dụ như pháp luật, tôn giáo sẽ mất đi khi xã hội loài người phát triển, khoa học phát triển), nhưng GD tồn tại vĩnh hằng cùng với sự tồn tại và phát triển của loài người, GD chịu sự quy định của xã hội nhưng cũng tác động trở lại xã hội; GD mang tính lịch
sử, giai cấp, nhân văn, đại chúng, dân tộc và quốc tế Phải ưu tiên phát triển GD trong mọi hoàn cảnh, coi GD
là quốc sách hàng đầu, GD phải phục vụ giai cấp cầm quyền nhưng mọi người đều có quyền được GD, việc xây dựng và tổ chức GD phải theo bối cảnh lịch sử, không nên dập khuôn, máy móc, đồng thời cũng biết tiếp thu những tinh hoa văn hóa, kinh nghiệm GD trong lịch sử cũng như của các nước
Ngoài những tính chất chung của GD, mỗi nền GD của một chế độ, của một xã hội có những tính chất đặc trưng, phản ánh tính chất của xã hội đó Tính chất nền GD của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Trang 3Nam được ghi trong Luật GD như sau: Nền GD Việt Nam là nền GD xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.
2 GD học là một khoa học
Khoa học là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực khách quan dưới dạng khái niệm, quy luật, định lý, phạm trù
UNESCO đã phân chia làm 5 lĩnh vực khoa học chung đó là:
+ Khoa học tự nhiên và chính xác
+ Khoa học xã hội và nhân văn
+ Khoa học kỹ thuật
+ Khoa học sức khỏe+ Khoa học nông nghiệp
Để trở thành một bộ môn khoa học cần có các điều kiện cơ bản sau:
- Xác định được đối tượng nghiên cứu;
- Có phương pháp nghiên cứu;
- Có hệ thống khái niệm, phạm trù về đối tượng nghiên cứu;
- Xác đinh được các nhiệm vụ nghiên cứu
Thời kỳ phong kiến, ở Trung Quốc từ thời nhà Hán trở đi, tư tưởng của Khổng Tử được giai cấp thống trị tiếp thu có chọn lọc để cho phù hợp với chế độ phong kiến, và từ đó nền GD phong kiến Trung Quốc lấy Nho giáo làm tư tưởng chính thống Tư tưởng nho giáo này cũng là tư tưởng chính thống của nhiều nước á đông trong đó có Việt Nam
Ở châu Âu, chế độ chiếm hữu nô lệ kết thúc được tính từ khi đế quốc La Mã sụp đổ vào năm 476 và bước vào thời kỳ phong kiến phân quyền Quyền lực tập trung trong tay vua, quý tộc, các lãnh chúa và giáo hội (đại biều là các tăng lữ) Giai cấp bị trị, bị bóc lột là nông nô, người lao động Tầng lớp thống trị dùng tôn giáo để ru ngủ quần chúng nhân dân, tuyên truyền rằng chúa trời đã an định số phận con người, nếu chịu được những khổ cực, chịu ạn bài thì kiếp sau sẽ được lên thiên đàng, các tư tưởng khoa học tiến bộ bị bài bác, bị cấm đoán, thậm chí những ai nói ra những điều trái với giáo điều, trái với lời dạy của chúa thì dù đó
là tư tưởng khoa học, chân lý khách quan cũng có thể bị tử hình Chính vì vậy người ta nói châu Âu đã chìm dưới đêm trường trung cổ (khoảng 1000 năm liên tục, từ thế kỷ IX đến thế kỷ XIV), khoa học và niềm tin vào sức mạnh của con người bị ngăn cản, chỉ có sự bất công và vô lý
Nhưng sự phản động, lạc hậu cũng không thể làm mất đi quy luật của sự phát triển, nó chỉ kìm hãm sự phát triển ở mức độ nào đó Ở châu Âu, cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV, mầm mống của xã hội tư bản xuất hiện, nhiều công trường sản xuất ra đời, đánh dấu thời kỳ suy tàn của chế độ phong kiến và cũng là lúc bình minh của chủ nghĩa tư bản đang lên Giới trí thức lúc này đã công khai bày tỏ các tư tưởng tiến bộ, họ đã tạo
ra những cuộc cách mạng kỳ vĩ về nhiều phương diện, trong đó chủ yếu là về khoa học, văn học, nghệ thuật Với khẩu hiệu “học tập Hy Lạp cổ đại”, châu Âu bước vào thời kỳ văn hóa phục hưng (thế kỷ XIV đến thế
kỷ XVI) Ăng ghen đã nhân xét đây là: “thời đại khổng lồ sản sinh ra những con người khổng lồ”
Về GD, các nhà tư tưởng nhân văn tiến bộ, trong đó có Tomat Morơ (1478-1535) và T Campanenle (1568-1639) đã đưa ra các quan điểm đề cao giá trị con người và con người cần được phát triển toàn diện thông qua GD Đỉnh cao là J.a Comenxki (1592-1670), người đã có công phát triển và hệ thống hóa những tri thức về GD ở thời kỳ này để đáp ứng đòi hỏi to lớn của việc dạy học trong hệ thống các trường lớp được
mở rộng do sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp và thủ công nghiệp ở châu Âu lúc đó Với những tác phẩm lý luận, trong đó chứa đựng những quan điểm tiến bộ, khoa học, đề cập tới nhiều vấn đề của GD như mục đích, nội dung, phương pháp, nguyên tắc, tổ chức GD trong nhà trường… nên ông được coi là người chính thức tách GD học trở thành một khoa học độc lập, là ông tổ của nền sư phạm cận đại Sử gia Mi sơ lê người Pháp đã gọi ông là “một thiên tài rức rỡ, một nhà phát minh mãnh liệt, một Galile của GD” những tác phẩm của ông đã có ảnh hưởng mạnh mẽ tới GD của thời kỳ đó (và cả sau này), nhà sử học Mỹ là Bơt lơ đã cho rằng “ảnh hưởng của của ông trong GD thời kỳ này có thể so sánh với ảnh hưởng của Copecnich và Niu tơn trong khoa học cận đại, của Bêcơn và Đề cac tơ trong triết học cận đại”
Từ đó đến nay, tri thức về GD học ngày càng được bổ sung và phát triển Những người có công lớn trong việc tiếp tục phát triển GD học là J.Lôc cơ (1632- 1701), J.J Jut xô (1712-1778), C.A Hen vê ti uýt
Trang 4(1715-1771), D.Đi đơ rô (1713-1748), Pét xta logi (1746-1827), Phơrơben (1782-1852), Đixtecvec 1866), K.Đ.Usinxky (1824-1870).
Đến giữa thế kỷ XIX, với sự xuất hiện của học thuyết Mác (và sau này được Lênin tiếp tục phát triển
và hoàn thiện nên gọi là chủ nghĩa Mác-Lênin), học thuyết mang tính khoa học và cách mạng cao, đã vạch ra được những quy luật khách quan của sự vận động xã hội và sự hình thành nhân cách, đã mở ra những khả năng thực tế của việc cải biến xã hội và con người Chủ nghĩa Mác đã trở thành cơ sở phương pháp luận khoa học của trường phái GD Mác-Lênin Đặc trưng của trường pháp GD Mác- Lênin là: được xây dựng trên nền tảng tư tưởng, lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, kế thừa những tư tưởng GD tiến bộ của quá khứ; tiếp thu những tri thức hiện đại của các khoa học nghiên cứu về xã hội, con người và về hoạt động của con người; là luận cứ khoa học cho đường lối, chính sách GD của đảng cộng sản; gắn chặt với
sự nghiệp xây dựng xã hội và nhà trường xã hội chủ nghĩa
2.2 Đối tượng và nhiệm vụ của GD học
Đối tượng nghiên cứu của một khoa học là một phần của thế giới khách quan mà lĩnh vực đó tập trung nghiên cứu Việc xác định đúng đối tượng nghiên cứu rất quan trọng vì nó giúp nhà khoa học đi đúng trọng tâm, không bị trệch hướng trong nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu của GD học
Đối tượng nghiên cứu của GD học là quá trình GD con người Đó là quá trình hình thành và phát
triển nhân cách con người, được tổ chức có mục đích, có kế hoạch và được thực hiện thông qua mối quan hệ
xã hội giữa người GD và người được GD (Giáo dục học chủ yếu nghiên cứu quá trình giáo dục của nhà trường, của các cơ sở giáo dục, quá trình giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ)
2.2.2 Nhiệm vụ của GD học
Sau đây là những nhiệm vụ khái quát của GD học:
- Giải thích nguồn gốc phát sinh, phát triển và bản chất của hiện tượng GD, tìm ra các quy luật chi phối quá trình GD, chi phối sự phát triển của hệ thống GD quốc dân, nhằm tổ chức chúng đạt tới hiệu quả cao nhất;
- Xây dựng chương trình GD và đào tạo dựa trên cơ sở dự đoán xu hướng phát triển của xã hội hiện đại, khả năng phát triển của khoa học công nghệ trong tương lai;
- Nghiên cứu, tìm tòi các phương pháp và phương tiện GD mới trên cơ sở các thành tựu của khoa học
và công nghệ hiện đại nhằm nâng cao chất lượng GD và đào tạo;
- Nghiên cứu và xây dựng các lý thuyết GD mới và các khả năng ứng dụng các lý thuyết đó vào thực tiễn GD
2.3 Một số khái niệm cơ bản của GD học
Với đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu trên, GD học đã có được một hệ thống khái niệm: GD theo nghĩa rộng (quá trình sư phạm); GD theo nghĩa hẹp; dạy học; mục đích, mục tiêu, nguyên lý GD; phương pháp, phương tiên GD và dạy học; hình thức dạy học; đức dục, trí dục, mỹ dục … Các khái niệm này vạch
ra bản chất của quá tình GD tổng thể cũng như các quá trình bộ phận và các thành tố của quá trình đó Những khái niệm trên sẽ lần lượt được nghiên cứu trong các phần tiếp theo Sau đây chỉ giới thiệu ba khái niệm cơ bản của GD học là: GD (nghĩa rộng), dạy học, GD (nghĩa hẹp)
Khái niệm giáo dục có thể hiểu và được sử dụng ở nhiều cấp độ
Giáo dục hiểu theo nghĩa rộng nhất đó là sự truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội từ người này qua người khác, từ thế hệ trước cho thế thế hệ sau Đó là hoạt động có mục đích, của những lực lượng khác nhau trong xã hội nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người
Ở cấp độ nhà trường - đơn vị được xã hội giao nhiệm vụ chuyên trách giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ thì giáo dục được hiểu theo hai cấp độ: Giáo dục theo nghĩa rộng hay còn gọi là quá trình sư phạm và giáo dục theo nghĩa hẹp Trong đó, giáo dục hiểu theo nghĩa rộng sẽ bao hàm dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp Sau đây là nội dung cụ thể của 3 khái niệm này:
2.3.1 GD theo nghĩa rộng
GD theo nghĩa rộng (hay còn gọi là quá trình sư phạm) được hiểu là quá trình tác động có mục đích, có
tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của các nhà GD trong nhà trường (cơ quan GD) tới học sinh nhằm giúp hình thành nhân cách cho học sinh (hình thành đạo đức, tình cảm, thể chất, thẩm mỹ, trí tuệ, năng lực, xu hướng ) Ở cấp độ này, GD bao gồm: Quá trình dạy học và quá trình GD theo nghĩa hẹp
GD ở đây được xem xét như một quá trình hình thành nhân cách dưới tác động tự giác, có ý thức và
việc tổ chức quá trình đó chủ yếu do những người có kinh nghiệm, có chuyên môn gọi là nhà giáo dục-nhà
Trang 5giáo đảm nhiệm Nơi tổ chức quá trình đó một cách có hệ thống , có kế hoạch chặt chẽ nhất là nhà trường
Cần phân biệt quá trình giáo dục với quá trình xã hội hóa cá nhân và quá trình hình thành con người
Quá trình xã hội hóa cá nhân là quá trình hình thành nhân cách, làm cho đứa trẻ trở thành một thành của
xã hội, mang những giá trị của xã hội, nhưng chỉ bao hàm các tác động do những nhân tố xã hội (trong đó có giáo dục), vừa mang tính chất tự giác, có mục đích, có tổ chức, vừa mang tính tự phát, ngẫu nhiên Để có quá trình này, cá nhân phải tham gia vào đời sống xã hội và thông qua đó lĩnh hội kinh nghiệm xã hội đồng thời tác động trở lại các thành viên trong xã hội
Quá trình hình thành con người là quá trình là một quá trình phát triển con người về mặt sinh học, mặt tâm lý và mặt xã hội, mang tính chất tăng trưởng về lượng và biến đổi về chất Quá trình này diễn ra do ảnh hưởng của nhân tố bên trong ( như bẩm sinh, di truyền, tính tích cực của chủ thể…), và các nhân tố bên ngoài (môi tường, hoàn cảnh, xã hội, giáo dục) Các tác động này có thể là tự phát, ngẫu nhiên không kiểm soát được hoặc là các tác động có ý thức, có mục đích, có tổ chức kiểm soát được
2.3.2 Dạy học
Là một bộ phận của quá trình GD theo nghĩa rộng, là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm giúp cho người học lĩnh hội những tri thức khoa học, kỹ năng hoạt động nhận thức và thực tiễn, phát triển các năng lực hoạt động sáng tạo, trên cơ sở đó hình thành thế giới quan khoa học và các phẩm chất nhân cách của người học theo mục đích GD
Nói cách khác, dạy học là quá trình tổ chức, điều khiển và hướng dẫn của giáo viên nhằm giúp học sinh tích cực, chủ động nắm vững kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, phát triển tư duy, trí tuệ và thái độ tích cực theo mục tiêu của giáo dục
Chức năng trội của dạy học là hình thành kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và phát triển tư duy, trí tuệ cho học sinh
2.3.3 GD theo nghĩa hẹp
Quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp là một bộ phận của quá trình GD theo nghĩa rộng, là quá trình tác động của nhà giáo dục đến người được giáo dục để làm cho người được GD dục có nhận thức, thái độ, hành vi, thói quen đúng, phù hợp với các yêu cầu, chuẩn mực của xã hội thông qua tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho người được giáo dục
2.4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của GD học
Nghiên cứu khoa học là một dạng lao động đặc biệt, phức tạp nhất của con người, nhằm mục đích phát hiện ra bản chất, quy luật của sự vật hiện tượng, giải quyết những vấn đề còn tồn tại của lý thuyết và thực tiễn, và tìm kiếm giải pháp cải tạo thế giới
Nghiên cứu GD là một lĩnh vực nghiên cứu khoa học, nhằm phát hiện ra bản chất, quy luật của GD, giải quyết các vấn đề còn tồn tại trong lý luận và thực tiễn GD, từ đó làm cơ sở khoa học để tổ chức hoạt động
GD đạt hiệu quả cao
Trước khi nghiên cứu các vấn đề lý luận hoặc thực tiễn GD, người nghiên cứu phải lập đề cương nghiên cứu (phác thảo cấu trúc của đề tài và các công việc phải làm), trong đó có phần giả thiết khoa học, nghĩa là đưa ra phán đoán về vấn đề nghiên cứu, sau đó lựa chọn và sử dụng các phương pháp để chứng minh giả thiết đó
Phương pháp có nhiều tầng bậc, phương pháp nghiên cứu ở tầng bậc cao nhất, gọi là phương pháp luận, nó có tác dụng chỉ đạo, định hướng để quá trình nghiên cứu đi đúng hướng, đạt hiệu quả cao và phản ánh chính xác đối tượng nghiên cứu
Phương pháp luận của GD học được rút ra từ những quy luật của triết học duy vật biện chứng, từ tiếp cận hệ thống, tiếp cận lịch sử, tiếp cận thực tiễn…
3.4.1 Phương pháp luận
- Quan điểm duy vật biện chứng: Khi nghiên cứu, các nhà khoa học phải xem xét sự vật, hiện tượng, quá trình GD trong các mối quan hệ phức tạp của chúng, đồng thời khi nghiên cứu phải xem xét đối tượng trong sự vận động và phát triển
- Quan điểm lịch sử-logic: Yêu cầu khi nghiên cứu phải phát hiện nguồn gốc này sinh, quá trình diễn biến, tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng trong những điều kiện không gian và thời gian cụ thể nhằm phát hiện ra quy luật tất yếu của quá trình này
- Quan điểm hệ thống: Khi nghiên cứu phải phân tích chúng thành những bộ phận hợp thành để xem xét chúng một cách sâu sắc và toàn diện, phải phân tích mối quan hệ giữa các bộ phận đó
- Quan điểm thực tiễn: Khi nghiên cứu phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và đáp ứng nhu cầu thực tiên, góp phần giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh từ thực tiễn GD Kết quả nghiên cứu phải được kiểm nghiệm và ứng dụng trong thực tiễn
Trang 62.4.2 Phương pháp cụ thể
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
+ Phân tích lý thuyết là thao tác phân chia bằng trí óc các tài liệu lý thuyết thành các đơn vị kiến thức, cho phép ta có thể tìm hiểu những dấu hiệu đặc thù, cấu trúc của lý thuyết
+ Tổng hợp lý thuyết là sự liên kết các yếu tố, các thành phần để tạo thành một tổng thể
Phân tích và tổng hợp cho phép xây dựng được cấu trúc của các vấn đề cần nghiên cứu, hai quá trình này luôn đi cùng nhau trong nghiên
- Phương pháp mô hình hóa
Là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng và quá trình GD dựa vào mô hình của chúng Mô hình đối tượng là hệ thống các yếu tố vật chất và tinh thần Mô hình tương tự như đối tượng nghiên cứu và tái hiện những mối liên hệ cơ cấu, chức năng, nhân quả của đối tượng Nghiên cứu trên mô hình sẽ giúp các nhà khoa học khám phá ra bản chất, quy luật của đối tượng
- Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát trong nghiên cứu GD là phương pháp thu thập thông tin về sự vật, hiện tượng, quá trình GD trên cơ sở tri giác trực tiếp các hoạt động GD và các điều kiện khách quan của hoạt động đó Quan sát trực tiếp đối tượng GD nhằm phát hiện ra những biến đổi của chúng trong những điều kiện cụ thể,
từ đó phân tích nguyên nhân và rút ra những kết luận về quy luật vận động của đối tượng Mục đích quan sát
để phát hiện, thu thập thông tin về vấn đề nghiên cứu và xác định giả thiết nghiên cứu
- Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng phiếu hỏi
Là phương pháp khá phổ biến trong khoa học xã hội nói chung và trong nghiên cứu GD nói riêng Thực chất của phương pháp này là sử dụng bảng câu hỏi đã được soạn sẵn với một hệ thống câu hỏi đặt ra cho người trả lời nhằm thu thập thông tin cho vấn đề nghiên cứu, nó được sử dụng nghiên cứu trên diện rộng Vấn đề quan trọng là phải xây dựng được hệ thống câu hỏi có chất lượng và sắp xếp các câu hỏi theo các nguyên tắc nhất định để thu thập thông tin khách quan, chính xác, đầy đủ
- Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp phỏng vấn trong nghiên cứu GD được tiến hành thông qua tác động trực tiếp giữa người hỏi và người được hỏi nhằm thu thập thông tin phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu Nguồn thông tin trong phỏng vấn là từ những câu trả lời, hành vi, cử chỉ của người được hỏi trong quá trình phỏng vấn
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm GD
Kinh nghiệm GD là tổng thể những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà người làm công tác GD đã tích lũy được trong công tác GD
Tổng kết kinh nghiệm GD là vận dụng lý luận về khoa học GD để thu thập, phân tích, đánh giá thực tiễn
GD, từ đó rút ra những khái quát có tính chất lý luận Đó là những khái quát về nguyên nhân, điều kiện, biện pháp, bước đi tới thành công hay thất bại, đặc biệt là tìm ra quy luật phát triển của các sự kiện GD nhằm tổ chức tốt hơn các quá trình GD tiếp theo
Những kinh nghiệm này cần được kiểm nghiệm và bổ sung bằng cách thông qua các hội thảo khoa học, qua các phương tiện thông tin, vận dụng ở các địa bàn và các phạm vi khác nhau
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thực nghiệm xuất hiện trong các khoa học đã đánh dấu một bước ngoặt lớn chuyển từ sự quan sát, mô tả bề ngoài sang sự phân tích về mặt định tính và định lượng những mối quan hệ bản chất, những thuộc tính cơ bản của các sự vật hiện tượng
Thực nghiệm sư phạm là phương pháp thu nhận thông tin về sự thay đổi số lượng và chất lượng trong nhận thức và hành vi của các đối tượng GD do nhà khoa học tác động nên bằng một số tác nhân điều khiển
và đã được kiểm tra
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động sư phạm
Là phương pháp mà nhà nghiên cứu thông qua các sản phẩm sư phạm để tìm hiểu tính chất, đặc điểm, tâm lý của con người và cả hoạt động đã tạo ra sản phẩm ấy nhằm tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng của quá trình GD
- Phương pháp chuyên gia
Trang 7Là phương pháp thu thập thông tin khoa học, đánh giá một sản phẩm khoa học bằng cách sử dụng trí tuệ một đội ngũ chuyên gia có trình độ cao về một lĩnh vực nhất định, nhằm phân tích hay tìm ra giải pháp tối
ưu cho sự kiện GD nào đó Phương pháp này được thực hiện thông qua các hội thảo, đánh giá, nghiệm thu công trình khoa học
- Phương pháp sử dụng toán thống kê
Sử dụng toán học trong nghiên cứu GD nhằm sử lý các thông tin đã thu được và thiết lập mối liên hệ, quy luật của đối tượng nghiên cứu Phương pháp này được áp dụng giúp tăng độ tin cậy và làm cơ sở cho việc nghiên cứu lý thuyết
2.5 Hệ thống các khoa học về GD và mối quan hệ của GD học với một số khoa học khác
2.5.1 Hệ thống các khoa học về GD
GD học là một bộ phận (quan trọng) trong hệ thống các khoa học GD, nhưng chính nó cũng bao gồm một hệ thống các khoa học bộ phận và nhiều phân môn
Một số lĩnh vực khoa học về GD gồm:
- Tâm lý học sư phạm: Nghiên cứu các quy luật tâm lý của việc dạy học và GD
- GD học đại cương: nghiên cứu các vấn đề chung của GD và GD học
- GD học lứa tuổi: nghiên cứu việc dạy học và GD ở các giai đoạn lứa tuổi
- GD học khuyết tật: chủ yếu nghiên cứu việc dạy học và GD cho trẻ khuyết tật
- Phương pháp giảng dạy bộ môn (giáo pháp học): nghiên cứu việc giảng dạy các bộ môn khoa học cụ thể trên cơ sở áp dụng những quy luật chung của dạy học
- Lịch sử GD: nghiên cứu sự phát triển của thực tiễn và các tư tưởng GD trong lịch sử
- GD học chuyên ngành: nghiên cứu GD trong một ngành cụ thể, như GD học quân sự, GD học thể thao, GD học đại học
- GD học so sánh: Nghiên cứu sự giống và khác nhau giữa các hệ thống GD, các quan điểm GD của các thời kỳ lịch sử, các vùng, các quốc gia, hoặc của cùng một thời kỳ lịch sử nhằm tìm ra quy luật phổ biến và đặc thù trong quá trình phát triển thực tiễn và lý luận GD
- Quản lý GD: nghiên cứu về tổ chức, quản lý để quá trình GD vận hành đạt hiệu quả
- Một số phần lý luận trong GD học đại cương đang có xu hướng tách thành một khoa học độc lập đó là
Lý luận dạy học, Lý luận GD, Lý luận quản lý nhà trường Trong những phần học tiếp theo, chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu
Một số khoa học có tính chất liên ngành như:
- Kinh tế học GD: Nghiên cứu biện chứng giữa GD và kinh tế
- Xã hội học GD nghiên cứu các quy luật của sự hình thành, vận động và biến đổi mối quan hệ giữa GD với con người và mối quan hệ giữa GD với xã hội
2.5.2 Mối quan hệ của GD học với một số khoa hoc
- GD học với triết học: Triết học là cơ sở phương pháp luận của GD học
- GD học với sinh lý học: sinh lý học là cơ sở tự nhiên của GD học
- GD học với tâm lý học: Tâm lý học là cơ sở tâm lý của GD học
- GD học với điều khiển học: Có thể vận dụng lý thuyết điều khiển học để xây dựng lý thuyết GD
- GD học với xã hội học: những nguồn kiến thức của xã hội học phục vụ cho nghiên cứu GD
Chương 2 - GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
1 Các chức năng xã hội của GD
Chức năng xã hội của GD được hiểu là sự tác động của GD đối với các quá trình, các lĩnh vực của đời sống xã hội Nhà nước, cụ thể là giai cấp cầm quyền quản lý và sử dụng GD để tác động vào XH nhằm duy trì, củng cố và phát triển XH
1.1 Chức năng kinh tế sản xuất
- Xã hội muốn tồn tại và phát triển thì phải có quá trình sản xuất vật chất và sản xuất con người
Trang 8- Con người là chủ thể của cả hai quá trình sản xuất trên Như vậy, suy cho cùng thì xã hội muốn tồn tại
và phát triển phải tạo ra con người có khả năng lao động Con người muốn có khả năng lao động thì phải được GD
- GD không trực tiếp tạo ra của cải, vật chất, nhưng nó tạo ra những con người có khả năng làm ra của cải vật chất cho xã hội Nói cách khác, GD đã tạo ra nguồn nhân lực cho xã hội Vì thế, GD được coi là có chức năng kinh tế sản xuất đối với xã hội
- Nhân lực của xã hội là toàn bộ công nhân, viên chức, những người lao động đang làm việc trong tất cả các ngành nghề, các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội để đảm bảo cho xã hội vận động và phát triển
- Quá trình, xu hướng phát triển của xã hội loài người, đặc biệt là khi tiến đến nền kinh tế tri thức, khi
mà tri thức trở thành hàng hóa, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì con người ngày càng phải có trình
độ cao
* Vì vậy, nhân lực lao động của xã hội hiện đại phải được đào tạo đạt đến trình độ cao Hệ thống GD,
cụ thể là các trường học phải đảm nhiệm tốt chức năng đó
Nhận thức được chức năng này, nhiều nước đã coi GD là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho GD là đầu tư cho phát triển, đầu tư thông minh nhất, coi GD là khâu đột phá để phát triển kinh tế- xã hội
Để thực hiện tốt chức năng kinh tế - sản xuất, GD phải đi theo hướng sau: GD phải gắn với nhu cầu của xã hội, đào tạo nhân lực theo yêu cầu của xã hôi, dự đoán trước nhu cầu về số lượng và chất lượng nhận lực để có kế hoạch đào tạo; đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo theo hướng hiện đại, cập nhập, tiếp thu có chọn lọc chương trình tiến bộ của quốc tế phù hợp với điều kiện nước ta để đào tạo ra những lao động trẻ năng động, sáng tạo, có trình độ cao, cũng như có các phẩm chất cần thiết khác
1.2 Chức năng chính trị- tư tưởng
Chức năng này thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:
- GD là một công cụ của một chế độ xã hội, của giai cấp cầm quyền để khai sáng nhận thức, bồi dưỡng tình cảm, củng cố niềm tin, kích thích hành động của tất cả các lực lượng trong xã hội để thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của giai cấp cầm quyền nhằm duy trì củng cố, phát triển chế độ đó
- GD là một con đường quan trọng, hữu hiệu truyền bá hệ tư tưởng giai cấp
Ở nước ta, chức năng chính trị -tư tưởng của GD thể hiện ở việc không ngừng giác ngộ về chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh cho mọi người; làm cho họ hiểu về Đảng quang vinh, về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, từ đó tin tưởng và đi theo sự lãnh đạo của Đảng;
GD thế hệ trẻ phấn đấu học tập vì ngày mai lập nghiệp, góp công sức vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mà trước mắt là xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”; làm cho học sinh có tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc…
1.3 Chức năng văn hóa-xã hội
“Văn hóa được hiểu là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần đã được nhân loại sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử-xã hội, các giá trị ấy nói lên mức độ phát triển của con người” (Từ điển Triết học, nxb Chính trị, Matxcơva 1972) (7;38)
GD cũng là một bộ phận của văn hóa, còn văn hóa là nội dung và cũng là mục tiêu của GD Nói cách khác, GD là một bộ phận của văn hóa, nhưng nó cũng là phương tiện để giữ gìn và phát triển văn hóa
Chức năng văn hóa-xã hội của GD được thể hiện như sau:
- GD có nhiệm vụ truyền bá các giá trị văn hóa-xã hội từ thế hệ trước cho thế hệ sau Thông qua GD của nhà trường, của gia đình, của xã hội và tự GD mà các giá trị của nhân loại, dân tộc, của cộng đồng có thể chuyển thành hệ thống giá trị của cá nhân
- GD là con đường cơ bản nhất để giữ gìn và phát triển văn hóa: thông qua GD, các thế hệ tiếp theo không chỉ tiếp thu mà còn tham gia vào các quá trình sáng tạo ra các giá trị văn hóa mới
- GD góp phần vào việc xây dựng đời sống văn hóa của cộng đồng, của xã hội, đẩy lùi các hủ tục lạc hậu hình thành đời sống văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
- GD có tác dụng to lớn trong việc hình thành và phát triển ở thế hệ trẻ bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc, biết tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại
- GD xây dựng một trình độ văn hóa chung cho xã hội thông qua phổ cập GD
- GD là công cụ quan trọng để nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài
+ Dân trí hiểu gắn gọn nhất là trình độ hiểu biết, trình độ văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ của người dân Dân trí cũng nói tới trình độ học vấn trung bình của người dân trong một khu vực hành chính Nâng cao dân trí là nâng số năm đi học trung bình của người dân cùng với việc nâng cao chất lượng GD, làm cho trình độ
Trang 9của người dân cao nên Có rất nhiều cách để nâng cao dân trí như qua truyền thông, cải thiện điều kiện sống
và hoạt động vui chơi giải trí… Nhưng GD là con đường quan trọng và có hiệu quả nhất
+ Nhân tài là những người có năng lực trí tuệ đặc biệt, thể hiện ở khả năng trực giác và suy luận cao, có tầm nhìn xa, trông rộng và khả năng phát hiện, giải quyết nhanh chóng, có hiệu quả những vấn đề đặt ra trong một hoặc nhiều lĩnh vực Nhân tài là tài sản quý của mỗi quốc gia Chức năng bồi dưỡng nhân tài của
GD thể hiện ở chỗ ban đầu là phát hiện, tuyển chọn người có tư chất, có khả năng và tài năng, sau đó dùng các biện pháp GD chuyên biệt để phát triển tài năng, tố chất của họ Để phát triển và sử dụng nhân tài có hiệu quả cao thì ngoài GD ra cần phải có chính sách trọng dụng và biệt đãi nhân tài
2 Xã hội hiện đại và thách thức đặt ra cho GD
2.1 Đặc điểm của xã hội hiện đại
2.1.1 Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ
Đặc trưng của cuộc cách mạng khoa học công nghệ:
- Phát minh và khám phá trên nhiều lĩnh vực; xuất hiện ngày càng nhiều các ngành khoa học mới Ngày càng nghiên cứu sâu và rộng, đi sâu vào cấu trúc của vật chất, mở rộng không gian nghiên cứu ra ngoài
vũ trụ, xuống lòng trái đất
- Thời gian từ khi nghiên cứu thành công đến khi ứng dụng vào thực tế được rút ngắn: giữa thế kỷ XX
là 5-6 năm, giữa năm 90 là 3 năm, năm 2000 là 1 năm (mất 100 năm, từ 1727-1839 để ứng dụng nguyên lý máy ảnh trở thành máy ảnh thật, đối với điện thoại là 50 năm (1820-1876), lade là 2 năm (1960-1962)
- Xuất hiện các ngành công nghệ chủ đạo của tương lai: công nghệ sinh học, công nghệ sach và thân thiện với môi trường sẽ là công nghệ chủ đạo của tương lai
- Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã làm thay đổi nền sản xuất của thế giới, con người không còn trực tiếp sản xuất bằng tay mà tiến tới tự động hóa toàn bộ, thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa, tạo tiền
đề cho XH thông tin và bùng nổ thông tin
2.1.2 Xu thế toàn cầu hóa
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (trên mạng internet): Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu
tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hoá, kinh tế, v.v trên quy mô toàn cầu Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như được dùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung
và tự do hóa thương mại hay "tự do thương mại" nói riêng Cũng ở góc độ kinh tế, người ta chỉ thấy các dòng chảy tư bản ở quy mô toàn cầu kéo theo các dòng chảy thương mại, kỹ thuật, công nghệ, thông tin,
văn hoá.
Đặc trưng của toàn cầu hóa:
- Hợp tác giữa các nước, các vùng lãnh thổ, các khu vực được tăng cường trên tất cả các mặt, trong đó hợp tác kinh tế diễn ra mạnh nhất
- Các tập đoàn lớn, các công ty xuyên quốc gia xuất hiện ở nhiều nước và khu vực
- Xuất hiện các thị trường có tính chất toàn cầu như chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, giao thông, dịch vụ…
- Hợp tác và trao đổi văn hóa cũng đang diễn ra sôi động trên cơ sở tôn trong sự đa dạng về văn hóa
- Nhân loại đang mong muốn hình thành và xây dựng các giá trị chung của đạo lý toàn cầu như tính người, tình người, khoan dung, yêu hòa bình, tình hữu nghị …
Xu thế toàn cầu hóa là tất yếu, nhưng nó vừa tạo ra thời cơ và thách thức không nhỏ cho các nước, đặc biệt là các nước yếu về kinh tế, toàn cầu hóa góp phần khai thác và phát huy thế mạnh của các nước nhưng toàn cầu hóa cũng đang tạo ra khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn giữa các nước và người dân trong mỗi nước vì những nước có tiềm lực kinh tế và những người có vốn sẽ tranh thủ được cơ hội, những nước nghèo
có nguy cơ là bãi thải công nghệ lạc hậu của các nước giàu…
2.1.3 Phát triển nền kinh tế tri thức
Nền kinh tế tri thức, còn gọi là kinh tế dựa vào tri thức (KBE - Knowledge - Based Economy) là nền kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức, trên cơ sở phát triển khoa học và công nghệ cao OECD (Tổ chức hợp tác
và phát triển kinh tế) dịch nghĩa: "Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế ngày càng phụ thuộc trực tiếp vào việc sản xuất phân phối và sử dụng tri thức và thông tin" (OECD 1996)
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) định nghĩa: "Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó quá trình sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức trở thành động lực chính cho tăng trưởng, cho quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế” (APEC 2000)
Trang 10Ngân hàng Thế giới (WB, 2000) đánh giá "Đối với các nền kinh tế tiên phong trong nền kinh tế Thế giới, cán cân giữa hai yếu tố tri thức và các nguồn lực đang nghiêng về tri thức Tri thức thực sự đã trở thành yếu tố quan trọng nhất quyết định mức sống - hơn cả yếu tố đất đai, hơn cả yếu tố tư liệu sản xuất, hơn cả yếu tố lao động Các nền kinh tế phát triển nhất về công nghệ ngày nay thực sự đã dựa vào tri thức".
Đặc trưng của nền kinh tế tri thức:
- Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế hậu công nghiệp, là nền văn minh thông tin, bắt đầu xuất hiện vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX
- Là nền kinh tế lấy trí lực là tài nguyên chủ yếu, khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, các ngành công nghệ cao trở thành ngành sản xuất quan trọng hàng đầu
- Sản phẩm sản xuất ra được tính theo giá trị của tri thức kết tinh trong đó, giá nguyên vật liệu chỉ chiếm rất ít
- Phải giải quyết mối quan hệ giữa chiến lược phát triển GD dài hạn và kế hoạch ngắn hạn, nghĩa là xử
lý hài hòa yêu cầu trước mắt và kế hoạch phát triển lâu dài
- GD phải đứng trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn, tuy nhiên đây cũng là quy luật để đào thải cái lạc hậu, là cơ hội phát triển
- GD phải giải quyết mâu thuẫn giữa việc tri thức loài người tăng lên nhanh chóng với khả năng nhận thức của mỗi cá nhân là có hạn
- GD đứng trước thách thức của việc phát triển về khoa học, công nghệ, của điều kiện sống nhưng lý tưởng và đạo đức sống của thế hệ trẻ có phần thay đổi theo chiều tiêu cực
3 Xu thế phát triển GD thế kỷ XXI và định hướng phát triển GD
3.1 Xu thế phát triển GD
3.1.1 Nhận thức GD là sự nghiệp hàng đầu của mỗi quốc gia
Từ xa xưa, và tiếp tục cho đến ngày nay, nhiều học giả và giai cấp cầm quyền đã nhận thức được tầm quan trọng của GD đối với sự phát triển xã hội, vì vậy luôn đề cao và coi việc quan tâm, đầu tư cho phát triển GD là một trong những ưu tiên hàng đầu Khi xã hội đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, của cải chính là trí tuệ của con người, mà muốn con người có trí tuệ thì phải có GD Chính vì vậy GD càng ngày càng có vai trò quan trọng hơn
Ở nhiều nước phát triển, đang phát triển và chậm phát triển, GD được coi là khâu then chốt để tạo bước đột phá đi lên, là chìa khóa mở cánh của đi vào tương lai tươi đẹp, đầu tư cho GD là đầu tư khôn ngoan
và có hiệu quả nhất Chính vì lẽ đó, GD đã trở thành sự nghiệp hàng đầu của mỗi quốc gia
Ở nước ta, GD được coi là quốc sách hàng đầu, điều này đã được khẳng định trong Hiến pháp và trong Luật GD
3.1.2 Xã hội hóa GD
Xã hội hóa GD là làm cho cả xã hội quan tâm và góp công sức vào sự phát triển của GD Xã hội hóa
GD là xu hướng phát triển của GD trên thế giới
Xã hội hóa GD nhằm mục tiêu huy động sức mạnh tổng lực của xã hội cho GD nhưng cũng có nghĩa
là GD phải gắn với đời sống xã hội, phục vụ cho yêu cầu và sự phát triển của xã hội
Ở nước ta, xã hội hóa GD là một chủ trương của Đảng, Nhà nước và được khẳng trong điều 12 Luật
GD 2005
3.1.3 GD suốt đời
Bác Hồ đã dạy “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời… Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi Thế giới ngày càng đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân” ( Hồ Chí Minh toàn tập, nxb Chính trị Quốc gia, 2000, t4, tr 101)
Để xã hội đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời thì phải xây dựng nhiều loại hình GD, xây dựng hệ thống
GD mở, không giới hạn cho những người trong độ tuổi nhất định Đồng thời trang bị cho người học kỹ năng
tự học
3.1.4 Áp dụng sáng tạo công nghệ thông tin vào quá trình GD
Trang 11Việc phát triển của công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đã hiện thực hóa mong muốn học tập suốt đời và học tập ở mọi lúc, mọi nơi vì nó đã giúp GD không còn phụ thuộc vào thời gian, địa điểm và khoảng cách.
Các hình thức học tập và GD từ xa, học qua mạng internet sẽ ngày càng phát triển
Việc áp dụng công nghệ vào trong GD, kể cả GD theo hình thức lớp bài truyền thống cũng góp phần to lớn trong việc nâng cao hiệu quả GD và học tập
3.1.5 Đổi mới mạnh mẽ quản lý GD
Quản lý GD thể hiện ở nhiều bộ phận và nhiều cấp, nó nhằm mục đích làm cho các bộ phận cấu thành của hệ thống GD vận hành đúng mục đích, cân đối, hài hòa, làm cho hoạt động của toàn hệ thống đạt hiệu quả cao
Đổi mới mạnh mẽ quản lý GD thể hiện ở những mặt sau:
- Nâng cao hiệu quả quản lý GD của chính phủ, phân cấp một cách rõ ràng và hợp lý việc quản lý GD
ở các cấp để phát huy sức mạnh của mỗi bộ phận trong hệ thống GD
- Triển khai việc đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực quản lý của cán bộ Có chính sách thu hút
và tuyển chọn được cán bộ có tài, có tâm
- Củng cố, tăng cường hệ thống thông tin quản lý GD ở các cấp, hiện đại hóa hệ thống thông tin để truy cập nhanh chóng và kịp thời, tạo điều kiện hỗ trợ tích cực cho việc ra quyết định
- Tăng cường, minh bạch, và công khai việc đánh giá trong GD
- Dự báo được nhu cầu nhân lực của xã hội để có kế hoạch đào tạo
3.1.6 Phát triển GD đại học
Phát triển GD đại học nhằm đào tạo ra nguồn nhân lực cao cho xã hội, đặc biệt là trong xã hội thông tin, trong nền kinh tế hội nhập, nền kinh tế tri thức
3.2 Định hướng phát triển GD trong thế kỷ XXI
UNESCO đã chủ trương đẩy mạnh phát triển GD khi bước vào thế kỷ XXI với chiến lược bao gồm 21 điểm, có thể tóm tắt tư tưởng chính của nó như sau:
- GD thường xuyên, GD suốt đời, xây dựng xã hội học tập
- GD không chỉ làm cho người học có học vấn mà cần có kỹ năng, tay nghề để lao động
- GD gắn với phát triển kinh tế xã hội, chú ý tới việc hướng nghiệp
- GD trẻ trước tuổi đến trường phải là mục tiêu lớn trong chiến lược GD
- Giáo viên là nhà sư phạm tài năng chứ không phải là người truyền đạt kiến thức Giảng dạy phải phù hợp với người học chứ không phải là sự áp đặt máy móc, buộc người học phải tuân theo
Ủy ban quốc tế về GD cho thế kỷ XXI do Đại hội đồng lần thứ 26 của UNESCO thành lập năm 1991
đã đề ra 6 nguyên tắc cơ bản cho các nhà quản lý GD và các lực lượng GD như sau:
- GD là quyền cơ bản của con người và cũng là giá trị chung nhất của nhân loại
- GD chính quy và không chính quy đều phải phục vụ xã hội, GD là công cụ để sáng tạo, tăng tiến và phổ biến tri thức khoa học đến mọi người
- Các chính sách GD phải chú ý phối hợp hài hòa cả ba mục tiêu: công bằng, thích hợp và chất lượng
- Muốn tiến hành cải cách GD cần phải xem xét kỹ lưỡng và hiểu biết sâu sắc về thực tiễn, chính sách
và các điều kiện cũng như các yêu cầu của từng vùng
- Cần phải có cách tiếp cận phát triển GD thích hợp với từng vùng Chú ý tới giá trị chung và đặc điểm riêng của mỗi vùng
- GD là trách nhiệm của toàn xã hội và của tất cả mọi người
3.3 Các quan điểm chỉ đạo phát triển GD ở Việt Nam
Quan điểm chỉ đạo phát triển GD ở nước ta thể hiện tập trung trong Hiến pháp, Luật GD, Chiến lược phát triển GD 2001-2010
- GD là quốc sách hàng đầu
- Xây dựng nền GD có tính chất nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng Thực hiện công bằng xã hội trong GD, tạo cơ hội để ai cũng được học hành Có cơ chế, chính sách giúp người nghèo học tập, khuyến khích người giỏi phát triển tài năng
Trang 12- GD học sinh phát triển toàn diện cả đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ, tay nghề, năng động, sáng tạo, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có ý chí vươn lên, có ý thức công dân, góp phần làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
- Phát triển GD gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, tiến bộ khoa học công nghế, củng cố an ninh quốc phòng; đảm bảo sự hợp lý về cơ cấu trình độ, ngành nghề, vùng miền; mở rộng quy mô trên cơ sở đảm bảo chất lượng và hiệu quả; kết hợp đào tạo và sử dụng; thực hiên đúng nguyên lý GD đã quy định trong Luật GD
- GD là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người được thường xuyên học tập và học suốt đời Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển GD Đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích, huy động, tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triển GD
- Khắc phục bất cập trên nhiều lĩnh vực, tiếp tục đổi mới một cách đồng bộ, thống nhất, tạo cơ sở để nâng cao rõ rệt hiệu quả GD, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp CNH, HĐH, phát triển nhanh và bền vững
Chương 3 - GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
1 Nhân cách và sự phát triển nhân cách
1.1 Khái niệm con người, cá nhân, nhân cách
1.1.1 Con người: là sự hợp thành của cái tự nhiên và cái xã hội Trước hết, con người là một bộ phận của tự nhiên, là khâu tiến hóa cao nhất của tự nhiên nói chung và của quá trình sinh học nói riêng, là thực thể mang bản tính tự nhiên sinh học, mang trong nó sức sống của tự nhiên Sau đó, con người cũng là sản phẩm của tiến trình phát triển xã hội, là tổng hòa các mối quan hệ xã hội
1.1.2 Cá nhân: là một cá thể người, là một con người cụ thể, một thành viên trong xã hội loài người.1.1.3 Nhân cách là một khái niệm phức tạp và có nhiều quan niệm khác nhau, sau đây là một số khái niệm hay gặp:
- Nhân cách là tổ hợp các thái độ, những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý riêng trong quan hệ hành động của từng người với thế giới tự nhiên, thế giới đồ vật do loài người sáng tạo, với xã hội và với bản thân (Phạm Minh Hạc)
- Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý cá nhân, thể hiện bản sắc cá nhân và giá trị xã hội, phù hợp với yêu cầu của xã hội và của thời đại (Phạm Viết Vượng)
- Theo Bách khoa toàn thư Liên Xô, nhân cách được thể hiện ở hai mặt: thứ nhất là con người với tư cách là chủ thể các mối quan hệ và hoạt động có ý thức; thứ hai là một hệ thống giá trị có ý nghĩa xã hội đặc trưng cho cá thể trở thành một nhân cách
- Theo quan niệm truyền thống của và trong đời sống, người Việt Nam xem nhân cách gồm hai mặt là Đức và Tài Đức (phẩm chất) nói lên mối quan hệ giữa con người với con người; Tài (năng lực) nói lên mối quan hệ giữa con người với công việc
Các định nghĩa trên đã đề cập đến những đặc điểm bản chất của nhân cách gồm:
- Một hệ thống các thuộc tính ổn định của con người Những thuộc tính này rất đa dạng bao gồm các mặt như năng lực, đạo đức, trí tuệ, thể chất, trình độ thẩm mỹ , các thuộc tính này phải phù hợp với yêu cầu của xã hội và của thời đại;
- Mỗi người có nhân cách riêng (có những nét chung và có những nét khác biệt);
- Nhân cách định hình ở một giai đoạn nhất định và được coi là ổn định khi đã trở thành một chủ thể xã hội;
Trang 13sống xã hội, trở thành chủ thể trong các mối quan hệ gia đình và xã hội và chịu trách nhiệm về các hành vi của mình.
2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách
2.1 Di truyền, bẩm sinh và sự phát triển nhân cách
Di truyền là sự tái tạo ở trẻ những thuộc tính sinh học nhất định, giống với cha mẹ; là sự truyền lại từ cha mẹ đến con những phẩm chất và đặc điểm nhất định đã được ghi lại trong cấu trúc gen Những thuộc tính được di truyền bao gồm cấu trúc giải phẫu-sinh lý của cơ thể, những đặc điểm của cơ thể người, các phẩm chất của hệ thần kinh…
Bẩm sinh là những thuộc tính sinh học khi sinh ra đã có
Thực tiễn cho thấy rằng bố mẹ là người da trắng thì con cũng da trắng, bố mẹ là người da vàng thì con cũng là người da vàng Nhưng bố nói được nhiều thứ tiếng, con lớn nên có nói được nhiều thứ tiếng như bố không, bố mẹ là người phạm tội, con cái liệu có giống như bố mẹ không? Trong một số gia đình, dòng họ thường xuất hiện những người tài qua các thế hệ, phải chăng là có sự di truyền tài năng? Như vậy, hiện tượng di truyền là có thật, nhưng cái gì di truyền được và cái gì không, di truyền, ảnh hưởng như thế nào đến
sự phát triển nhân cách Đây là vấn đề phức tạp vì vậy còn nhiều tranh luận, nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược Nhưng chúng ta sẽ từng bước phân tích, dựa trên các cơ sở khoa học cũng như thực tiễn về vấn đề này để có sự thống nhất ở một số điểm cơ bản sau: di truyền có quyết định trước nhân cách con người không, các yếu tố như bẩm sinh, tư chất, kiểu hình thần kinh có ảnh hưởng như thế nào đối với sự hình thành
và phát triển năng lực, nhân cách
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng coi di truyền, bẩm sinh, sinh học giữ vai trò tiền đề đối với sự phát triển nhân cách, không quyết định trước kiểu nhân cách:
- Di truyền, bẩm sinh, sinh học đảm bảo cho loài người tiếp tục tồn tại (về mặt sinh học), đồng thời giúp con người thích ứng với những biến đổi của các điều kiện tồn tại của nó (ví dụ: các phản xạ bản năng giúp đứa trẻ có thể tồn tại được nhờ sự nuôi dưỡng, cơ thể sống của con người có thể thay đổi để thích nghi với một số thay đổi có giới hạn của những điều kiện xung quanh)
- Nhân cách chỉ hình thành, phát triền và tồn tại trên một cơ thể người sống, trong đó sự lành lặn về não
bộ và các cơ quan thần kinh, các giác quan có vai trò to lớn đối với sự phát triển nhân cách Yếu tố bẩm sinh, sinh học thuận lợi sẽ là tiền đề thuận lợi cho sự hình thành, phát triển nhân cách Ngược lại, bất cứ sự thiếm khuyết hoặc tổn thương nào về mặt sinh học, đặc biệt là thiếm khuyết, tổn thương về cơ quan thần kinh và các giác quan đều tạo ra những bất lợi cho việc hình thành, phát triển nhân cách
- Phản ánh tâm lý là chức năng của một dạng vật chất có tổ chức và tiến hóa cao, đó là não bộ của con người Nhờ có khả năng phản ánh này mà các quá trình tâm lý phức tạp, ý thức, nhân cách con người mới có thể hình thành và phát triển dưới tác động của hoàn cảnh xung quanh Ở một số loài vật cũng có não bộ nhưng không có khả năng phản ánh như não bộ của con người, nên có sống trong xã hội loài người cũng không thể có ý thức, nhân cách
- Nhưng di truyền không quyết định trước nhân cách, dù có tư chất người mà không sống trong xã hội loài người cũng không thể có nhân cách Các trường hợp trẻ em ngay từ nhỏ đã bị lạc và được thú rừng nuôi
đã minh chứng điều đó; Có cùng một đặc điểm di truyền nhưng sống trong những điều kiện xã hội khác nhau, hoạt động khác nhau thì nhân cách cũng khác nhau Trường hợp quan sát và nghiên cứu trên trẻ sinh đôi cùng trứng đã kết luận điều này
- Tư chất là một số đặc điểm sinh học của con người giúp cho họ có thể thành công trong một hoặc một
số hoạt động nhất định Những tư chất đó có sẵn trong cấu tạo của não, và trong các cơ quan như cơ quan cảm giác, các cơ quan vận động … Tư chất chỉ là điều kiện để sau này thực hiện có kết quả, hình thành năng lực ở một hoặc một số hoạt động nào đó Song điều này không có nghĩa là tư chất quyết định sẵn nhân cách (cụ thể là năng lực) Tư chất có trở thành năng lực hay không còn phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tiễn, hoạt động học tập và lao động, rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm của cá nhân đó; người có tư chất có thể tham gia
có hiệu quả vào các lĩnh vực hết sức rộng rãi mà không quy định trước một hoạt động nào Sự thành công đó còn do yếu tố hoàn cảnh, sự lựa chọn và rèn luyện của cá nhân…
- Các thuộc tính về loại hình thần kinh không định trước những nét tính cách sau này của con người, mặc dù chúng có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các nét tính cách Có những nét tính cách khác nhau được hình thành trên cùng một kiểu hình thần kinh, và ngược lại có những nét tính cách giống nhau nhưng có trên nhiều kiểu hình thần kinh Kiểu hình thần kinh là cơ sở sinh lý thần kinh của khí chất, nhưng khí chất mang bản chất xã hội, chịu sự chi phối của các đặc điểm xã hội, biến đổi do rèn luyện và GD
- Các nghiên cứu chỉ ra rằng con người khi sinh ra không bị định trước bởi một hành vi và giá trị nào về mặt xã hội, ngoài những hành vi bản năng để làm điều kiện sống Các phẩm chất và năng lực chỉ có thể có được trong quá trình sống và hoạt động trong xã hội, giao tiếp với những người xung quanh với những điều kiện độc đáo, không lặp lại
Trang 14- Cơ thể con người có sự biến đổi qua các giai đoạn lứa tuổi, sự biến đổi này khá phức tạp và nó cũng ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý, nhân cách của giai đoạn đó Đó chỉ là ảnh hưởng của sinh lý đối với tâm
lý, nó không quyết định trước nhân cách Ví dụ, tình cảm khác giới, tình yêu nam nữ chỉ này sinh ở một giai đoạn nhất định, nó thường gắn với việc dậy thì của cơ thể Tuy nhiên, tính chất của tình yêu chịu sự chi phối của hoàn cảnh xã hội, của hoạt động, của GD…
Kết luận: Bẩm sinh, di truyền, sinh học chỉ là yếu tố tiền đề cho sự hình thành và phát triển nhân cách, không quyết định trước nhân cách Vì vậy, không được tuyệt đối hóa vai trò của yếu tố sinh học, di truyền, giống như có người quan niệm trăng đến rằm trăng tròn, cha mẹ sinh con trời sinh tính để từ đó buông lỏng
GD Ngược lại cũng không được xem nhẹ vai tò của bẩm sinh, di truyền, sinh học, đặc biệt là yếu tố tư chất
và kiểu hình thần kinh trong việc phát triển năng lực
Các nhà GD phải chú ý trong việc tạo điều kiện để cho tất cả học sinh được phát triển năng lực hiện
có Một hệ thống GD tiến bộ phải đảm bảo những điều kiện bình đẳng cho sự phát triển toàn diện của con người, đồng thời cũng coi trọng việc đối xử thích hợp với từng học sinh theo những đặc điểm cá nhân của
họ GD mọi người có ý thức bảo vệ cơ thể, đặc biệt là bảo vệ hệ thống thần kinh là một việc rất quan trọng
2.2 Môi trường và sự phát triển nhân cách
Môi trường là hệ thống những yếu tố, hoàn cảnh bên ngoài, những điều kiện tự nhiên, XH tác động đến cuộc sống và hoạt động của con người
Phân chia một cách khái quát nhất, có môi trường tự nhiên và môi trường xã hội:
- Môi trường tự nhiên là điều kiện địa lý, sinh thái Nó có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển thể chất, đến cuộc sống và hoạt động của con người
- Môi trường xã hội ở phạm vi rộng đó là chế độ chính trị-xã hội, thể chế kinh tế, chính sách, nền văn hóa của quốc gia Ở phạm vi hẹp, đó là một bộ phận của môi trường lớn, hay còn gọi là hoàn cảnh- cái trực tiếp tác động đến cuộc sống của các cá nhân Môi trường nhỏ đó là các mối quan hệ gia đình, nhà trường, nhóm bạn, địa phương, phong tục tập quán, điều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị … của nơi sinh sống
Sự hình thành và phát triển nhân cách chịu sự tác động rất lớn của môi trường, đặc biệt là môi trường xã hội
Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ và sự bùng nổ thông tin, mọi người được tiếp xúc với các thông tin đa dạng và phong phú từ các phương tiện truyền thông như báo trí, đài, ti vi, internet… Dù chỉ cư trú trong một môi trường nhỏ hẹp nhưng nếu qua các phương tiện trên, cá nhân vẫn có thể tiếp xúc với rất nhiều thông tin đến từ khắp nơi trên thế giới, từ nhiều nền văn hóa khác nhau
• Sự tác động rất lớn của môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách thể hiện ở những đặc điểm sau:
- Trẻ em khi sinh ra bình thường, có các tư chất người nhưng nếu không sống trong xã hội loài người thì
sẽ không trở thành con người thực thụ Các trường hợp trẻ em bị lạc, được thú rừng nuôi dưỡng đã chứng minh điều này
- Môi trường với tư cách là thế giới khách quan, là cái được phản ánh, tác động tới con người với tư cách là chủ thể phản ánh, sự tác động này để lại các dấu vết trên vỏ não, đặc biệt là các giá trị văn hóa, chuẩn mực xã hội sẽ tác động đến đứa trẻ thông qua các hoạt động khác nhau sẽ có thể được lưu giữ, củng cố và có thể trở thành các thuộc tính tâm lý của cá nhân Lênin đã nói rất hình ảnh rằng: cùng với dòng sữa mẹ, đứa trẻ hấp thu tâm lý, đạo đức của xã hội mà nó là thành viên
- Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, thông qua các mối quan hệ xã hội mà cá nhân chiếm lĩnh các giá trị của xã hội, biến nó thành giá trị của bản thân
- Môi trường, đặc biệt là môi trường xã hội đề ra các chuẩn mực, các quy tắc, các yêu cầu cho các cá nhân Các cá nhân phải biết tiếp nhận và hình thành những phẩm chất, năng lực theo yêu cầu của môi trường
để thích ứng với nó
- Sự tác động của môi trường đến sự hình thành và phát triển nhân cách là vô cùng mạnh mẽ, phức tạp
và tùy theo mỗi chủ thể, mỗi giai đoạn Nhưng không phải con người hoàn toàn tiếp nhận tất cả các tác động của môi trường một cách cơ học, máy móc Thông thường, sự tác động của môi trường đến cá nhân mạnh
mẽ nhất khi cá nhân chưa có ý thức hoặc ý thức chưa phát triển hoàn toàn, vì thế mà gần mực thì đen, gần đèn thì rạng Khi cá nhân ý thức được về các giá trị thì sự tiếp thu này sẽ có chọn lọc Khi ý thức đã phát triển, có khả năng phân tích và lựa chọn, nên con người sẽ tiếp thu chọn lọc các tác động của môi trường, vì vậy không phải lúc nào con người cũng thụ động trước hoàn cảnh Nói cách khác, ở một thời điểm nào đó việc tiếp nhận các tác động của môi trường còn tùy thuộc vào quan điểm, niềm tin, nhu cầu, các thuộc tính của cá nhân Vì thế có trường hợp “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”
- Môi trường tác động đến con người nhưng con người cũng có thể tác động trở lại và cải tạo môi trường Mác nói: hoàn cảnh sáng tạo ra con người trong chừng mực con người sáng tạo ra hoàn cảnh Vì
Trang 15vậy, con người bằng tính tích cực của mình cần phải cải tạo hoàn cảnh theo nhu cầu và lợi ích của mình Những gì tốt đẹp thì giữ lại, những gì còn chưa phù hợp thì điều chỉnh cho phù hợp, những gì lạc hậu thì kiên quyết loại bỏ Cải tạo cái xấu, tạo dựng cái tốt đẹp hơn cho xã hội chính là tạo ra môi trường GD tốt cho con người.
Kết luận:
Nghiên cứu con người phải nghiên cứu hoàn cảnh sống của họ; GD con người phải thống nhất với việc cải tạo xã hội; phải GD cho trẻ khả năng đề kháng với những yếu tố tiêu cực của môi trường, lựa chọn và tiếp thu có chọn lọc các tác động của môi trường, không nên lúc nào cũng hạn chế và ngăn cấm trẻ tiếp xúc với bên ngoài
2.3 GD đối với sự phát triển nhân cách
Bàn về vai trò của GD, trong lịch sử đã có nhiều người đề cập tới Khổng Tử (551-479 trCN) đã nói:
“Ngọc bất trác, bất thành khí, nhân bất học, bất tri đạo” Hồ Chủ tịch trong bài Nửa đêm có viết: Hiền dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do GD mà nên
Có ba loại GD: GD gia đình; GD nhà trường và GD xã hội Mỗi loại GD có chức năng, vai trò, thế mạnh riêng mà khó có thể thay thế, thậm chí không thể thay thế
- GD gia đình đóng vai trò nền tảng cho GD nhà trường và GD xã hội, được thực hiện ngay khi đứa trẻ chào đời, thậm chí ngay từ khi trong bụng mẹ, GD gia đình tác động mạnh mẽ đến đứa trẻ nhất là những năm đầu đời Nếu GD gia đình tốt thì tạo ra nền tảng tốt, ngược lại, nếu GD gia đình không tốt hoặc có những sai lầm sẽ tạo ra khó khăn cho GD nhà trường
- GD nhà trường có vai trò định hướng cho GD gia đình và GD xã hội, đồng thời là cơ quan chuyên trách GD, được tổ chức khoa học vì vậy nó mang lại hiệu quả cao, nhất là trong việc phát triển năng lực của trẻ mà GD gia đình và GD xã hội khó thay thế được
- GD xã hội hỗ trợ và thúc đẩy những tác động của gia đình và nhà trường
Gia đình, nhà trường, xã hội là ba lực lượng GD to lớn, nếu phối hợp chặt chẽ, thống nhất về mục đích, phương pháp thì sẽ mang lại hiệu quả cao
• Vai trò chủ đạo của GD, đặc biệt là GD nhà trường thể hiện ở những nội dung sau:
- Vạch ra chiều hướng, mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách học sinh, đồng thời tổ chức, chỉ đạo, dẫn dắt học sinh thực hiện quá trình đó tiến đến kết quả mong muốn Quá trình này diễn ra thường xuyên, liên tục, được tổ chức khoa học, phù hợp với các quy luật phát triển của con người, vì vậy nó loại trừ bớt những yếu tố bất lợi và phát huy được yếu tố tích cực Đứa trẻ tham gia quá trình này từ khi còn nhỏ cho đến khi trở thành một công dân và kể cả thời gian sau đó, vì vậy tránh được quá trình mò mẫm, mất nhiều thời gian, công sức mà vẫn có thể chiếm lĩnh giá trị của nhân loại, biến nó thành giá trị của bản thân một cách nhanh nhất và thuận lợi nhất
- GD có thể trang bị cho trẻ những phẩm chất và năng lực không chỉ để thích ứng với hoàn cảnh hiện tại
mà còn có thể thích ứng với hoàn cảnh sẽ gặp trong tương lai Đây là tính đi trước, đón đầu của GD
- GD có thể phát huy tối đa các mặt mạnh của các yếu tố khác, đồng thời có thể mang lại những tiến bộ trong sự hình thành và phát triển nhân cách mà các yếu tố di truyền, môi trường không thể mang lại được Ví
dụ, nhờ tác động của GD mà con người có thể làm được những loại toán phức tạp, trở thành kỹ sư, bác sỹ, nghệ sỹ…
- GD có sức mạnh cải biến những nét tính cách, hành vi, phẩm chất đi lệch chuẩn mực xã hội
- GD là con đường hữu hiệu để phát huy những tiềm năng, tố chất bẩm sinh thành năng lực hiện thực
- GD có tầm quan trọng đặc biệt đối với người khuyết tật và thiểu năng vì nhiều nguyên nhân Nhờ có
sự can thiệp sớm, có phương pháp GD phù hợp, cùng sự hỗ trợ của các phương tiện khoa học kỹ thuật mà có thể giúp họ phần nào phục hồi chức năng đã mất, phát triển các chức năng bù trừ khác, giúp họ phát triển nhân cách, hòa nhập với cuộc sống cộng đồng
- GD còn có khả năng chi phối, tác động tới các yếu tố khác (như môi trường) theo hướng tích cực để từ
đó tác động đến việc hình thành nhân cách cho trẻ Nói cách khác, GD chỉ đạo và cải tạo môi trường GD theo hướng tích cực, tạo ra môi trường GD thuận lợi
Kết luận:
Muốn hình thành và phát triển nhân cách theo con đường đúng hướng nhất, gắn nhất, nhanh nhất, có hiệu quả nhất thì phải có GD, đặc biệt là GD nhà trường Tuy nhiên GD không phải là chìa khóa vạn năng, chỉ là công cụ hữu hiệu nhất, GD không thể tách rời các yếu tố sinh học, môi trường, hoạt động của cá nhân
GD chỉ có thể thực hiện được và đạt kết quả tốt khi dựa trên các yếu tố đó và kết hợp tốt với các yếu tố đó
GD chỉ giữ được vai trò chủ đạo khi tổ chức khoa học, dựa trên các cơ sở khoa học về con người Phải biến
Trang 16được GD là những tác động bên ngoài trở thành tự GD, làm cho cá nhân có ý thức tự GD, tự hoàn thiện mình trên tất cả các phương diện vì người có GD thực sự là người biết tự GD
2.4 Hoạt động và giao tiếp của cá nhân đối với nhân cách
Hoạt động là quá trình tác động vào thế giới khách quan, làm biến đổi thế giới để tạo ra những sản phẩm theo nhu cầu của con người Quá trình này có sự tiêu hao năng lượng thần kinh và cơ bắp Hoạt động làm thay đổi khách thể nhưng nó cũng làm thay đổi chính bản thân chủ thể về mặt thể chất và tinh thần Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau
Hoạt động và giao tiêp đóng vai trò quyết định trực tiếp nhất đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Điều này thể hiện ở những khía cạnh sau:
- Xét về lịch sử phát sinh loài người, chính nhờ lao động-dạng hoạt động đặc trưng nhất mà có quá trình tiến hóa từ loài vượn người thành con người Nhờ lao động mà con người mới có dáng đứng thẳng, tứ chi hoàn thiện, bộ óc phát triển… con người trở nên đẹp hơn, hoàn thiện hơn nhờ lao động Quá trình này mất hàng vạn năm
- Xét về lịch sử cá nhân, khi đứa trẻ sinh ra và được sống trong xã hội loài người, nó phải hoạt động và giao tiếp tích cực thì mới có thể chuyển hóa các giá trị của xã hội thành giá trị của bản thân
- Thông qua hoạt động và giao tiếp mà đứa trẻ có điều kiện để bộc lộ, rèn luyện, phát triển các tư chất, phẩm chất, năng lực
- Thông qua hoạt động và giao tiếp, con người được kiểm nghiệm, trải nghiệm các giá trị của cuộc sống, điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc tiếp tục giữ lại hay loại bỏ những điều mà người ta đã tiếp thu được hay hình thành những giá trị mới ở cá nhân
- Hoạt động và giao tiếp là nhu cầu của con người, nhu cầu này được thỏa mãn mới làm cho tâm lý, ý thức, nhân cách con người phát triển bình thường Các thí nghiệm về việc người ta không được giao tiếp, dẫn tới bị trầm cảm đã chứng minh điều này
Kết luận: Hoạt động và giao tiếp đóng vai trò trực tiếp nhất đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Hoạt động và giao tiếp tích cực chính là biểu hiện của việc tự GD Vì vậy trong quá trình GD cần chú
ý những điểm sau:
- Đưa học sinh vào các hoạt động và giao lưu đa dạng, coi đó là con đường cơ bản để GD học sinh
- Cần nắm được các hoạt động chủ đạo của từng thời kỳ để tổ chức các hoạt động cho phù hợp với tâm sinh lý học sinh
- Cần tổ chưc các hoạt động một cách sinh động, hấp dẫn, nội dung phong phú để tạo ra hứng thú cho học sinh
3 GD và sự phát triển nhân cách của học sinh theo lứa tuổi
3.1 Trẻ trước tuổi học
3.2 Học sinh tiểu học
3.3 Học sinh trung học cơ sở
3.4 Học sinh trung học phổ thông
Sinh viên tự nghiên cứu tài liệu Chú ý tới các vấn đề sau:
- Các giai đoạn lứa tuổi và hoạt động chủ đạo, quan hệ xã hội của lứa tuổi
- Đặc điểm về thể chất và sinh lý thần kinh
- Đặc điểm về tâm lý: Quá trình nhận thức, trí nhớ, chú ý, mức độ ý chí, tình cảm…
- Rút ra những đặc trưng nhất của lứa tuổi
Trên cơ sở đó đề ra yêu cầu đối với GD trẻ em ở các giai đoạn lứa tuổi
4 Một số phẩm chất nhân cách con người Việt Nam cần gìn giữ và phát huy.
- Yêu quý lao động;;Yêu nước; Đoàn kết; Nhân ái; Hiếu thảo; Hiếu học…
Chương 4 - MỤC ĐÍCH, MỤC TIÊU VÀ NGUYÊN LÝ GIÁO DỤC
1 Khái niệm mục đích, mục tiêu GD
Trang 17Việc xác định mục đích giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt vì nó có 3 chức năng quan trọng sau đối với hoạt động giáo dục:
- Chức năng định hướng: định hướng cho toàn bộ hoạt động giáo dục không bị đi lệch hướng
- Chức năng làm cơ sở để tổ chức quá trình giáo dục: là cơ sở để xác định, xây dựng nội dung, chương trình, phương pháp và các hoạt động giáo dục
- Chức năng làm chuẩn để đánh giá chất lượng giáo dục: Vì hiện nay nhiều người đã công nhận chất lượng giáo dục là mức độ đạt được của sản phẩm giáo dục so với mục đích đã đặt ra
Mục đích GD là phạm trù cơ bản của GD học Với tầm quan trọng của nó, vấn đề xác định mục đích
GD đã được đặt ra từ rất xa xưa trong lịch sử xã hội
1.2 Khái niệm mục tiêu GD
Mục tiêu GD là những tiêu chí, chỉ tiêu, những yêu cầu cụ thể phải đạt được sau một hoạt động GD Mục tiêu GD là thành phần, bộ phận của mục đích GD, nói cách khác, mục tiêu GD chính là cụ thể hóa mục đích GD
Tóm lại: Mục đích và mục tiêu GD là hai khái niệm có quan hệ mật thiết với nhau, là hai khái niệm cùng chỉ kết quả hướng tới của GD, nhưng không phải là một:
- Mục đích GD là cái mong đợi lý tưởng, mục tiêu GD là cái có thể hiện thực hóa
- Xuất phát từ mục đích để xây dựng mục tiêu Việc tiến gần đến mục đích phải thông qua việc đạt được các mục tiêu
- Mục tiêu GD cụ thể hơn mục đích, làm chức năng chỉ đạo tổ chức thực hiện các quá trình GD và là căn cứ để đánh giá kết quả GD Nhiều trường hợp, mục tiêu phải được lượng hóa, đo đạc được, quan sát được thì mới thực hiện được hai chức năng trên
2 Mục đích, mục tiêu GD Việt Nam
2.1 Những căn cứ để xây dựng mục đích GD
Việc xây dựng mục tiêu GD được căn cứ vào các yếu tố sau:
- Chiến lược phát triển kinh tế xã hội, văn hóa, khoa học kỹ thuật của đất nước
- Những điều kiện, tiềm năng kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ cụ thể của đất nước
- Yêu cầu của đất nước, của thời đại đối với nhân cách thế hệ tương lai
- Xu thế phát triển GD của quốc gia và của thế giới
- Điều kiện hiện có của hệ thống GD quốc dân
- Trình độ hiện có của người hoc theo các cấp học
2.2 Mục đích, mục tiêu GD Việt Nam
Hiện nay, chưa thấy văn bản chính thức nào của nhà nước nói rõ mục đích của nền giáo dục Việt Nam là gì Điều này gây khó khăn cho những người muốn tìm hiểu Trong Luật giáo dục chỉ dùng từ mục tiêu giáo dục Sau đây là mục tiêu giáo dục được quy định trong Luật giáo dục:
Trang 18• Mục tiêu ở cấp độ xã hội: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
(Xem phần các chức năng xã hội của giáo dục)
Điều 2 Luật GD 2005 đã quy định: “Mục tiêu GD là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện,
có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Mục đích GD Việt Nam được cụ thể hóa thành các mục tiêu GD cho từng cấp học, bậc học, ngành học
và được quy định trong Luật GD 2005
- Mục tiêu GD mầm non: “Mục tiêu của GD mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí
tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một”.
- Mục tiêu GD Tiểu học: “GD tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở"
- Mục tiêu GD Trung học cơ sở: “GD trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của GD tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”
- Mục tiêu GD Trung học phổ thông: “GD trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của GD trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường
về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”
- Mục tiêu GD của trường dạy nghề: Mục tiêu của GD nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh
Trung cấp chuyên nghiệp nhằm đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng thực hành cơ bản của một
nghề, có khả năng làm việc độc lập và có tính sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào công việc
Dạy nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề
tương xứng với trình độ đào tạo
- Mục tiêu của GD đại học: Mục tiêu của GD đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo
đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức hoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Đào tạo trình độ cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản để giải
quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo
Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành
thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo
Đào tạo trình độ thạc sĩ giúp học viên nắm vững lý thuyết, có trình độ cao về thực hành, có khả năng
làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo
Đào tạo trình độ tiến sĩ giúp nghiên cứu sinh có trình độ cao về lý thuyết và thực hành, có năng lực
nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát hiện và giải quyết những vấn đề mới về khoa học, công nghệ, hướng dẫn nghiên cứu khoa học và hoạt động chuyên môn
- GD thường xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội Nhà nước có chính sách phát triển GD thường xuyên, thực hiện GD cho mọi người, xây dựng xã hội học tập
• Mục tiêu ở cấp độ chuyên biệt:
Trang 19Mục tiêu GD ở cấp độ này là những chỉ tiêu, những yêu cầu cụ thể cần phải đạt được như mục tiêu dạy, mục tiêu học, mục tiêu của chương trình, của môn học… Những mục tiêu này cần được lượng hóa để có thể
đo lường được Mục tiêu ở cấp độ này thể hiện ở ba mặt: Kiến thức, kỹ năng, thái độ mà học sinh phải đạt được trong quá trình học tập
- Kiến thức là hệ thống những khái niệm, phạm trù, những thông tin khoa học theo nội dung từng môn học, từng chuyên ngành cụ thể Kết quả học tập của học sinh được đánh giá về số lượng và chất lượng kiến thức mà họ đã tiếp thu được
- Kỹ năng là khả năng thực hiện các công việc cụ thể, sau khi học sinh đã qua một chương trình học tập, một khóa huấn luyện Trình độ kỹ năng được đánh giá bằng sản phẩm mà học sinh làm ra
- Thái độ là biểu hiện ý thức của học sinh đối với kiến thức đã tiếp thu được và những dự định ứng dụng chúng vào cuộc sống Thái độ được biểu hiện qua mối quan hệ của bản thân với gia đình, xã hội, công việc
và ngay cả với tự nhiên Đó là một mặt của nhân cách, biểu hiện và được đánh giá qua hành vi
3 Nguyên lý GD
3.1 Khái niệm nguyên lý GD
Nguyên lý GD là những luận điểm khái quát mang tầm tư tưởng và có tính quy luật của quá trình GD (theo nghĩa rộng), chỉ dẫn toàn bộ hệ thống GD và quá trình sư phạm tổng thể (trong đó có quá trình GD theo nghĩa hẹp và quá trình dạy)
Cần phân biệt nguyên lý GD với nguyên tắc GD và nguyên tắc dạy học Nguyên tắc GD là các luận điểm cơ bản của Lý luận GD (GD theo nghĩa hẹp), có giá trị chỉ đạo các hoạt động GD, hình thành phẩm chất nhân cách, đạo đức cho học sinh Tương tự như vậy, nguyên tắc dạy học là những luận điểm cơ bản của
Lý luận dạy học có giá trị chỉ dẫn quá trình dạy học
Nguyên lý GD có đặc điểm sau đây:
- Nguyên lý GD là một tư tưởng GD được khái quát từ bản chất của GD, được đúc rút ra từ quy luật về các mối quan hệ biện chứng giữa GD với các mặt của đời sống xã hội
- Nguyên lý GD được khái quát từ bản chất của quá trình dạy học và quá trình GD theo nghĩa hẹp
- GD là một hoạt động có mục đích, mục đích đó có tính lịch sử và thời đại Nguyên lý GD chính là một
tư tưởng GD được rút ra từ mục đích GD và trở thành phương thức để thực thi mục đích GD
- Nguyên lý GD được đúc rút từ kinh nghiệm GD tiên tiến của các nhà trường qua nhiều thời đại, đã làm cho GD đạt tới chất lượng và hiệu quả
3.2 Nội dung nguyên lý GD Việt Nam
Khoản 2, Điều 3 Luật GD nước ta được Quốc hội thông qua ngày 14.6.2005 đã ghi: “Hoạt động GD phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, GD kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, GD nhà trường kết hợp với GD gia đình và GD xã hội”
Đây là một luận điểm GD quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, là kim chỉ nam hướng dẫn toàn bộ các hoạt động GD trong nhà trường và cả trong xã hội, nó đã được khẳng định từ Đại hội lần III năm 1960 của Đảng Từ đó đến nay, nội dung nguyên lý vẫn còn nguyên giá trị và đã được pháp lý hóa thành quy định trong luật
Nội dung nguyên lý gồm bốn điểm quan trọng cần lưu ý:
- Học đi đôi với hành;
- GD kết hợp với lao động sản xuất;
- Lý luận gắn liền với thực tiễn;
- GD nhà trường kết hợp với GD gia đình và GD xã hội
* Học đi đôi với hành là một tư tưởng GD vừa truyền thống vừa hiện đại, vừa có tính khoa học vừa có
giá trị thực tiễn Bản chất tư tưởng này như sau:
- Học để hành Hành là để có kỹ năng, kỹ xảo, để áp dụng kiến thức vào thực tiễn
- Học đi đôi với hành là phương pháp học tập hữu hiệu
* GD kết hợp với lao động sản xuất là tư tưởng GD của nhà trường hiện đại, ta có thể thấy như sau:
- GD lao động là một nội dung của GD toàn diện, học sinh hôm nay là những người lao động trong tương lai, vì vậy phải chuẩn bị cho các em sẵn sàng bước vào lao động
- GD trong lao động và bằng lao động là một nguyên tắc GD hết sức quan trọng Lao động vừa là môi trường, vừa là phương tiện GD con người
Trang 20- Mục đích của đào tạo nghề là tạo ra nhân lực cho các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Vì vậy phải gắn đào tạo với lao động.
* Lý luận gắn liền với thực tiễn là một yêu cầu quan trọng đối với quá trình GD và đào tạo trong nhà
trường Việt Nam:
- Lý luận là tổng kết, khái quát về thực tiễn và có tác dụng chỉ đạo thực tiễn Thực tiễn là cơ sở của lý luận và là căn cứ để kiểm tra tính khách quan, khoa học của lý luận Vì vậy lý luận gắn với thực tiễn là quy luật khách quan
- Hoạt động GD cuối cùng là để con người ra phục vụ yêu cầu của thực tiễn Nhà trường là một bộ phận của guồng máy xã hội Vì vậy nội dung GD không chỉ có lý luận suông, lý luận xa dời thực tiễn, mà phải phản ánh được những gì đang diễn ra trong xã hội Lý luận găn liền với thực tiễn cũng có nghĩa là học lý luận song rồi phải mang ra áp dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn, như thế lý luận mới có ích
- Trong khi gảng dạy, và học tập, giáo viên và học sinh phải thường xuyên liên hệ với thực tiễn sinh động, đó là những minh họa quan trọng để làm cho người học hiểu và tiếp thu tốt bài học Ngược lại, các sự kiện, hiện tượng thực tiễn lại được phân tích, soi sáng bằng lý luận khoa học
* GD nhà trường kết hợp với GD gia đình và GD xã hội:
- Thực hiện nguyên lý này nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng GD Mỗi lực lượng có vai trò và ưu thế riêng mà khó có thể thay thế Bác Hồ đã dạy: “GD trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự GD ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc GD trong nhà trường được tốt hơn GD trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu GD trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”
- GD nhà trường kết hợp với GD gia đình và GD xã hội là làm cho thống nhất về nội dung và phương pháp GD, sự phối hợp tốt sẽ tránh được tình trạng trống đánh xuôi, kèn thổi ngược, triệt tiêu và bài trừ nhau
Có như vậy mới nâng cao sức mạnh và hiệu quả GD
3.3 Phương hướng quán triệt nguyên lý GD
Ở mọi cấp quản lý, điều hành và thực hiện việc GD cần quán triệt nguyên lý GD bằng một số biện pháp cụ thể sau:
- Xây dựng chương trình GD và đào tạo có tính toán cân đối giữa các môn lý thuyết và các môn thực hành, phải hợp lý, hài hòa giữa nội dung lý thuyết và thực hành trong từng môn học
- Sử dụng phương pháp theo hướng phát huy tính tích cực của người học, lấy học sinh làm trung tâm Thường xuyên liên hệ kiến thức bài giảng với thực tế Tổ chức thực hành và thí nghiệm cho sinh viên ở mức
độ phù hợp với mục đích bài học, môn học
- Tổ chức các cơ sở thực hành và thí nghiệm tùy theo bậc học, ngành học, đặc biệt là ở các trường chuyên nghiệp và dạy nghề
- Xây dựng môi trường GD lành mạnh Phối hợp GD với các gia đình, các cơ quan đoàn thể GD
- Nhà nước, nhà trường, địa phương cần tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất kỹ thuật và tinh thần thuận lợi cho giáo viên và học sinh dạy và học theo nguyên lý GD
Chương 5 - HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN
1 Khái niệm hệ thống GD quốc dân
Hệ thống GD quốc dân là hệ thống trường học và các cơ sở GD được xây dựng trong phạm vi một quốc gia để tiến hành quá trình giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
Thông thường khi nói đến hệ thống GD là nói đến hệ thống nhà trường vì nhà trường là hạt nhân của hệ thống GD
Tổ chức UNESCO đã tổng kết và cho thấy hệ thống GD của các nước đều có các bậc học cơ bản sau:
- Bậc 5: Giai đoạn đầu của GD đại học
- Bậc 6: Giai đoạn hai của GD đại học
2 Hệ thống GD quốc dân Việt Nam
Theo quy định tại điều 4, Luật GD nước CHXHCN Việt Nam “ Hệ thống GD quốc dân gồm GD chính quy và GD thường xuyên
Trang 21Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống GD quốc dân gồm:
a) GD mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo;
b) GD phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông;
c) GD nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề;
d) GD đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là GD đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ"
3 Định hướng hoàn thiện hệ thống GD quốc dân
3.1 Sự phát triển của hệ thống GD trong xã hội hiện đại
Những thay đổi về sự phát triển của hệ thống GD trong xã hội hiện đại có một số đặc điểm sau:
- Tăng cường khả năng đáp ứng của hệ thống GD với nhu cầu phổ cập GD ngày càng được kéo dài ở nhiều nước
- Đơn vị hạt nhân của hệ thống GD (nhà trường) có những đặc điểm: gắn liền với môi trường sống (cả
tự nhiên và xã hội); gắn liền với các cơ sở sản xuất; tằng cường mối quan hệ giữa các nhà trường cả phạm vi quốc gia và quốc tế; gắn liền với cá nhân, không hạn chế về thời gian và không gian nhờ vào tiến bộ của công nghệ và bùng nổ thông tin
- Hệ thống GD có tính liên thông cao
- Phát triển đa dạng các hình thức GD và đào tạo
- Hệ thống GD tạo ra tính cơ động nghề nghiệp cao ở người học
3.2 Định hướng hoàn thiện hệ thống GD quốc dân
- Hướng tới xây dựng một hệ thống GD mở, linh hoạt, phù hợp với việc xây dựng một xã hội học tập, học tập suốt đời
- Hệ thống GD gắn với việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển kinh tế, đáp ứng nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Xây dựng hệ thống GD đa dạng về loại hình và phương thức, năng động, mềm dẻo, linh hoạt, chất lượng và hoàn toàn liên thông
- Xây dựng hệ thống GD kế thừa và phát huy được truyền thống cũng như tinh hoa của các mô hình
GD tiên tiến trên thế giới
- Cơ cấu hệ thống GD có cấu trúc hài hòa và tương đối ổn định, dễ dàng cho phân cấp quản lý, nâng cao tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm trước cộng đồng và xã hội Chú ý đến sự phù hợp về cơ cấu trình độ, cơ cấu loại hình nhà trường, phương thức, ngành nghề, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu phân cấp quản lý … Trong
đó cơ cấu trình độ được coi là cơ cấu đặc trưng nhất của hệ thống GD
- Cơ cấu hệ thống GD đảm bảo tính công bằng và bình đẳng giữa các loại hình nhà trường và phương thức đào tạo kết quả học tập và giá trị văn bằng giữa các loại hình nhà trường, các phương thức đào tạo phải được quy đổi, liên thông, đảm bảo quyền lợi và kích thích sư sáng tạo của người học trong một xã hội học tập mở./
PHẦN 2- LÝ LUẬN DẠY HỌC
Chương 6- QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
1 Khái niệm quá trình dạy học
Có nhiều cách tiếp cận khái niệm quá trình dạy học Nếu dạy học lấy thầy làm trung tâm thì dạy học là quá trình truyền thụ kiến thức từ thầy sang trò
Theo quan niệm của dạy học phát huy tính tích cực học tập của học sinh thì: Quá trình dạy học là quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của giáo viên, học sinh tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức- học tập của mình nhằm đạt được mục tiêu dạy học
Tất nhiên trong dạy học có những khi diễn ra sự truyền thụ từ thầy sang trò, nhưng về cơ bản dạy học theo quan niệm phát huy tính tích cực của người học thì thầy đóng vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển bằng những phương pháp làm phát huy tính tích cực của người học để người học tự giác, chủ động, tự tổ chức, tự
Trang 22điờ̀u khiờ̉n hoạt đụ̣ng nhọ̃n thức (Người thày giáo tụ̀i là người mang chõn lý đờ́n sẵn, còn người thõ̀y giáo giỏi là người biờ́t dạy học sinh đi tìm chõn lý Dictecvec (Dieterweg))
Các thành tụ́ của quá trình dạy học
• Mục tiờu dạy học
• Giáo viờn và học sinh
• Chương trình, nụ̣i dung dạy học
• Phương pháp dạy học
• Phương tiợ̀n dạy học
• Mụi trường dạy học
• Kờ́t quả dạy học
Chú ý: Phõ̀n “ Bản chất của quỏ trỡnh dạy học này” dành cho học viờn từ xa học, h ọc viờn tại chức tham khảo
Bản chất của quỏ trỡnh dạy học
Dạy học là phản ánh tính chất hai mặt của quá trình dạy học: quá trình dạy của giáo viên và quá trình học của ng
-ời học Hai quá trình này không tách r-ời nhau mà là một quá trình hoạt động chung nhằm hình thành nhân cách của con ngời mới đáp ứng đợc yêu cầu của thời đại
Ngày nay quá trình hoạt động chung đó,
- Ngời giáo viên đóng vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của ngời học để giúp họ tự khám phá tri thức, ngoài ra giáo viên cũng có chức năng truyền thụ tri thức nhng chỉ khi ngời học thật cần thiết Song chức năng này không phải là chức năng chính yếu của toàn bộ quá trình dạy
- Ngời giáo viên phải suy nghĩ để giúp ngời ngời học sử dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có của mình, những tri thức mà họ thu thập đợc qua các phơng tiện thông tin đại chúng, qua cuộc sống để tạo nên sự hiểu biết của mình.
Phối hợp với hoạt động đó của giáo viên, ngời ngời học tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, điều khiển hoạt
động nhận thức - học tập của mình nhằm nắm vững tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức,
đặc biệt năng lực t duy sáng tạo, hình thành cơ sở thế giới quan khoa học và những phẩm chất tốt đẹp của con ng ời mới.
Trong quá trình dạy học không thể thiếu một trong hai quá trình bộ phận này, nếu không thì quá trình đó không diễn ra.
Từ đó chúng ta có thể hiểu thế nào khái niệm quá trình dạy học?
Quá trình dạy học là quá trình mà trong đó dới sự tổ chức, điều khiển, lãnh đạo của ngời giáo viên làm cho ngời học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức tự điều khiển hoạt động nhận thức học tập của mình nhằm thực hiện–
những nhiệm vụ dạy học.
a Dạy học là hoạt động phối hợp của hai chủ thể
- Vận dụng lý thuyết về hoạt động vào quá trình dạy học, chúng ta thấy hoạt động dạy học là hoạt động chung bao gồm các hoạt động thành phần đó là hoạt động dạy và hoạt động học, tơng ứng với nó là hai chủ thể: thầy và trò
- Hoạt động của hai chủ thể hay là sự tồn tại của quá trình dạy học là hai hoạt động quy định lẫn nhau
Giáo viên Học sinh
- Hoạt động dạy và học đều có những nét chung mang thuộc tính bản chất và đều có các yếu tố cấu trúc của hoạt động Tuy nhiên, hai hoạt động đó lại có những điểm khác biệt về chủ thể, đối tợng, mục đích, phơng tiện và kết quả hoạt
động
- Chủ thể của hoạt động dạy là giáo viên và tập thể s phạm ; chủ thể của hoạt động học là trò, là tập thể ngh
ng-ời đợc giáo dục.
- Đối tợng hoạt động dạy là hoạt động của học sinh, là các quan hệ giao lu giữa chúng; đối tợng của hoạt động
học là hoạt động của loài ngời trong việc nhận thức, cải tạo hiện thực khách quan, trong các quan hệ xã hội đa dạng
- Mục đích của hoạt động dạy là cải biến và hoàn thiện hoạt động nhận thức, kỹ năng thực hành làm cho học
sinh nắm vững trí thức, hình thành kĩ năng hoạt động từ đó phát triển trí tuệ và nhân cách; mục đích của hoạt động học
là chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội, các giá trị văn hoá của nhân loại, trên cơ sở đó hình thành năng lực sáng tạo trong việc cải tạo tự nhiên và xã hội, hoàn thiện bản thân, nhân cách.
- Phơng tiện của hoạt động dạy gồm những công cụ vật chất, phơng pháp, hình thức tổ chức tác động sp, tổ
chức quản lí nhận thức; điều khiển các hoạt động trí tuệ và thực hành; giáo dục ý thức cho học sinh
Học sinh
- Chủ thể của hoạt động học
- Chủ thể có ý thức, chủ động, tích cực và sáng tạo trong nhận thức và rèn luyện nhân cách.
- Ngời biết khai thác, quản lý và chia sẻ thông tin với thầy và bạn học
+ Chủ thể của hoạt động học là học sinh, tích cực trong nhận thức, rèn luyện và tu dỡng, đồng thời là đối tợng giảng dạy và giáo dục
+ Đối tợng của hoạt động học là hệ thống tri thức và kĩ năng tơng ứng.
+ Mục đích của hoạt động học là tiếp thu nền văn hoá của nhân loại và chuyển nó thành trí tuệ và nhân cách của bản thân.
+ Phơng pháp học tập là phơng pháp nhận thức, rèn luyện để hình thành năng lực thực hành.
b Dạy học là hoạt động trí tuệ, hoạt động nhận thức
- Bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của ngời học.
Trang 23Tính độc đáo trong quá trình nhận thức của ngời học thể hiện nh thế nào? Hoạt động nhận thức của ngời học trong quá trình dạy học đợc sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của giáo viên với những điều kiện s phạm nhất định nên
nó có tính độc đáo Tính độc đáo đó thể hiện nh sau:
- Quá trình nhận thức của ngời học không diễn ra theo con đờng mò mẫm, thử và sai nh quá trình khám phá,
đợc những nhà xây dựng nội dung dạy học và ngời giáo viên gia công vào.
- Quá trình nhận thức của ngời học không phải tìm ra cái mới cho nhân loại mà là tái tạo những tri thức của
nhân loại đã tạo ra, nên họ nhận thức cái mới đó chỉ đối với bản thân họ rút ra từ kho tàng tri thức chung của loài ngời.
- Trong một thời gian tơng đối ngắn ngời học có thể lĩnh hội một khối lợng tri thức rất lớn một cách thuận
lợi Chính vì vậy mà trong quá trình học tập của ngời học phải tiến hành củng cố, tập vận dụng, kiểm tra đánh giá tri
thức, kỹ năng kỹ xảo nhằm biến chúng thành tài sản của bản thân ngời học Trong quá trình nhận thức của ngời học, giáo viên phải quan tâm tới việc phát triển năng lực nhận thức và tiến hành giáo dục cho họ
Trong quá trình dạy học cần phải chú ý tới tính đặc biệt đó của quá trình nhận thức của ngời học để tránh sự
đồng nhất quá trình nhận thức chung của loài ngời với quá trình nhận thức của ngời ngời học Song không vì quá coi trọng tính độc đáo đó mà thiếu quan tâm đúng mức đến việc tổ chức cho ngời học dần dần tìm hiểu và tập tham gia các hoạt động tìm tòi khoa học vừa sức, nâng cao dần qua các lớp để chuẩn bị cho sự khai phá tri thức, tham gia nghiên cứu khoa học trong tơng lai
c Quá trình dạy học với t cách là một hệ thống
Quá trình dạy học là một dạng hoạt động chuyên biệt và là một quá trình xã hội Sự tồn tại, phát triển của quá trình dạy học luôn có mặt những thành tố bộ phận cùng tham gia Các thành tố này có sự liên hệ mật thiết với nhau tạo nên sự ổn định bền vững.
Các thành tố của quá trình dạy học bao gồm;
3 Đặc điờ̉m của quá trình dạy học hiợ̀n nay
* Trong quá trình dạy học hiợ̀n nay, hoạt đụ̣ng học tọ̃p của học sinh được tích cực hóa trờn cơ sở nụ̣i dung dạy học ngày càng hiợ̀n đại hóa
* Trong quá trình dạy học hiợ̀n nay, học sinh có vụ́n sụ́ng và năng lực nhọ̃n thức phát triờ̉n hơn so với học sinh cùng đụ̣ tuụ̉i ở những thời kỳ trước
* Trong quá trình dạy học hiợ̀n nay, học sinh có xu hướng vượt ra khỏi nụ̣i dung tri thức, kỹ năng do chương trình quy định
4 Bản chất của quỏ trỡnh dạy học (Đặc điểm hoạt động nhận thức của học sinh trong quỏ trỡnh dạy
học)
Chú ý: Học viờn tại chức học theo phõ̀n này, học viờn từ xa tham khảo
Dạy học là tổ chức, tỏc động và điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh Trong quỏ trỡnh dạy học, hoạt động nhận thức của học sinh được tổ chức, tỏc động và điều khiển bởi giỏo viờn nờn nú cú điểm giống
và khỏc với hoạt động nhận thức của loài người núi chung
- Trong quỏ trỡnh dạy học, hoạt động nhận thức của học sinh cũng như hoạt động nhận thức của con người, đú là sự phản ỏnh thế giới khỏch quan vào nóo người, sự phản ỏnh tớch cực, sỏng tạo, phản ỏnh khỏch quan về nội dung và chủ quan về hỡnh thức
- Trong quỏ trỡnh dạy học, hoạt động nhận thức của học sinh diễn ra theo quy luật phổ biến, theo quy luật chung như Lờnin đó tổng kết: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đú là con đường biện chứng của nhận thức chõn lý, nhận thức hiện thực khỏch quan”
- Toàn bộ quỏ trỡnh nhận thức của loài người và của học sinh đều diễn ra theo cụng thức như Lờnin đã tụ̉ng kờ́t, song khi đạt đến một trỡnh độ nhất định, ở một thời điểm cụ thể, con người cú thể nhận thức từ khỏi quỏt đến cụ thể, từ cỏi chung đến cỏi riờng
* Từ đặc điểm trờn, trong quỏ trỡnh dạy học, khụng phải lỳc nào GV cũng dạy từ cụ thể đến khỏi quỏt,
mà tựy thuộc vào trỡnh độ nhất định của học sinh và tựy vào điều kiện cụ thể mà cú thể dạy học từ khỏi quỏt đến cụ thể, đi từ cỏi chung đến cỏi riờng
Trong quỏ trỡnh dạy học, quỏ trỡnh nhận thức của học sinh cú những điểm khỏc biệt và độc đỏo so với quỏ trỡnh nhận thức của cỏc nhà khoa học và nhận thức chung của loài người:
Trang 24- Học sinh không tìm ra cái mới cho nhân loại mà chủ yếu là tái tạo những tri thức của loài người đã tìm
ra, học sinh nhận thức những tri thức rút ra từ kho tàng tri thức của nhân loại, đối với bản thân họ, nó còn mới mẻ
- Quá trình nhận thức này không diễn ra theo con đường mò mẫm, thử và sai như quá trình nhận thức nói chung của loài người và của các nhà khoa học, mà diễn ra theo con đường đã được khám phá, được những nhà xây dựng chương trình, nội dung dạy học gia công sư phạm Vì thế, trong một thời gian nhất định, học sinh có thể lĩnh hội một khối lượng tri thức rất lớn một cách thuận lợi
- Quá trình học tập của học sinh phải tiến hành theo các khâu của quá trình dạy học: Lĩnh hội tri thức mới, củng cố, vận dụng, kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhằm biến chúng thành tài sản của bản thân
- Trong quá trình dạy học, trên cơ sở kiến thức học sinh đã tiếp thu được mà hình thành ở học sinh thế giới quan, động cơ, các phẩm chất nhân cách phù hợp với chuẩn mực xã hội
- Quá trình nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học diễn ra dưới vai trò chủ đạo của giáo viên
Như vậy, bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh dưới vai trò chủ đạo của giáo viên.
* Trong quá trình dạy học, hoạt động nhận thức của học sinh có tính độc đáo, song cũng phải tổ chức cho học sinh biết tìm tòi, khám phá ra tri thức Việc khám phá này được tổ chức theo ý đồ của giáo viên, nghĩa là tri thức học sinh khám phá ra không phải là mới đối với loài người, nhưng con đường khám phá cũng đi theo hướng tìm tòi, nghiên cứu giống như các nhà khoa học đã thực hiên nhưng dựa trên sự trợ giúp, định hướng ở mức độ nhất định của giáo viên, qua đó giúp học sinh phát triển tính tò mò khoa học và ham hiểu biết, làm quen dần với việc nghiên cứu khoa học độc lập ở trình độ ngày càng cao
5 Các nhiệm vụ của quá trình dạy học (các mục tiêu dạy học)
Nhiệm vụ 1- Điều khiển, tổ chức học sinh nắm vững nội dung môn học(nắm vững hệ thống kiến thức,
kỹ năng, kỹ xảo của môn học)
Trong dạy học, nhiệm vụ đầu tiên là làm cho học sinh nắm vững nội dung môn học, cụ thể là nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đã quy định trong chương trình dạy học và được đưa vào thành nội dung môn học
Nắm vững có nhiều tiêu chí để đánh giá: Ở mức thông thường nhất đó là hiểu, nhớ và vận dụng được.Ở trường phổ thông, giáo viên có nhiệm vụ điều khiển, tổ chức học sinh nắm vững hệ thống tri thức phổ thông cơ bản, khoa học, hiện đại, phù hợp với thực tiễn đất nước về mặt tự nhiên và xã hội-nhân văn, đồng thời rèn luyện cho họ hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng Nôi dung kiến thức, kỹ năng kỹ xảo đã được đưa thành nội dung các môn học trong trường phổ thông và chủ yếu đã được đưa và sách giáo khoa
Tri thức nói chung và tri thức khoa học nói riêng mà loài người tích lũy được vô cùng lớn, mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời mình không thể học hết được Vì vậy, nhiệm vụ của trường phổ thông là giúp học sinh nắm vững hệ thống tri thức phổ thông cơ bản, khoa học, phù hợp với thực tiễn đất nước
Tri thức phổ thông cơ bản, trước hết đó là những tri thức được lựa chọn và xây dựng từ các lĩnh vực khoa học khác nhau Đó là những tri thức tối thiểu nhất, cần thiết nhất, làm nền tảng giúp học sinh có thể tiếp tục học lên bậc học cao hơn, học ở các trường dạy nghề hoặc bước vào cuộc sống tự lập, trực tiếp tham gia lao động sản xuất và tham gia công tác xã hội, có cuộc sống tinh thần phong phú Những tri thức phổ thông cơ bản này biến đổi theo yêu cầu của xã hội
Tri thức phổ thông cơ bản đó phải là tri thức khoa học, phù hợp với chân lý khách quan và phù hợp với
xu thế phát triển của thời đại
Tri thức hiện đại là những tri thức phản ánh được những thành tựu mới nhất của khoa học, phù hợp với
xu thế phát triển của thời đại, giúp học sinh không lạc hậu so với thời đại
Những tri thức đó phải phù hợp với thực tiễn đất nước về mặt tự nhiên và xã hội-nhân văn, cũng như phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh, đảm bảo được tính hệ thống, lôgic khoa học và mối liên
hệ chặt chẽ giữa các môn học
Trong quá trình võ trang tri thức cho học sinh cũng cần phải hình thành cho học sinh hệ thống kỹ năng,
kỹ xảo tương ứng với nội dung môn học, đặc biệt là những kỹ năng, kỹ xảo liên quan đến hoạt động nhận thức- học tập và nghiên cứu khoa học ở mức đơn giản Việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh phải đi
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ áp dụng kiến thức cho đến sáng tạo
Sau đây là một số kỹ năng mà giáo viên có thể tham khảo để hình thành thường xuyên cho học sinh nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc sống trong xã hội hiện nay
- Kỹ năng nắm bắt thông tin và giao tiếp xã hội
Trang 25- Kỹ năng làm việc có hiệu quả theo nhóm
- Kỹ năng nhận thức về xã hội và nhân văn
- Kỹ năng vận dụng ngoại ngữ và vi tính
- Kỹ năng cảm thụ và sáng tạo nghệ thuật
- Kỹ năng phân tích và giải quyết các tình huống ứng xử
- Kỹ năng phòng vệ cho sự sống và gia tăng sức khỏe
- Kỹ năng tự học, tự nghiên cứu và nâng cao trình độ
Nhiệm vụ 2- Phát triển tư duy và trí tuệ học sinh
Tư duy là quá trình phản ánh bản chất của sự vật, hiện tượng, phản ánh các mối liên hệ mang tính quy luật của thế giới khách quan Việc phản ánh này diễn ra bằng các thao tác trí óc là so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, cụ thể hóa
Nhờ có khả năng tư tuy, đặc biệt là tư duy trừu tượng mà con người có thể cải tạo thế giới khách quan, nâng cao chất lượng cuộc sống Vì vậy việc phát triển tư duy của học sinh là rất quan trọng Muốn phát triển
tư duy học sinh, cần xây dựng các bài tập, các nhiệm vụ học tập trong đó đòi hỏi các em phải diễn ra các thao tác trí óc của tư duy, để thông qua đó hình thành, bồi dưỡng và phát triển khả năng tư duy của học sinh.Về trí tuệ: Hiện nay đang tồn tại nhiều quan điểm về trí tuệ Sau đây giới thiệu hai quan điểm về trí tuệ, tuy hai quan điểm này còn những điểm cần thảo luận thêm nhưng có những điểm hợp lý và có thể làm cơ sở khoa học cho việc phát trển trí tuệ học sinh trong dạy học
Theo N.A.Menchinxcaia và E.N.Canbanova- Menle, trí tuệ cấu trúc gồm 2 thành phần đó là tri thức
về đối tượng (cái được phản ánh) và các thủ thuật trí tuệ (phương thức phản ánh) Tri thức về đối tượng phản ánh được coi là nguyên liệu, là phương tiện của hoạt động trí tuệ “Sự thật là một cái đầu trống rỗng không thể suy nghĩ được Cái đầu càng có nhiều kinh nghiệm và tri thức thì càng có nhiều khả năng suy luận hơn” (P.P.Bolonxki) Tri thức ở đây được thể hiện ở số lượng khái niệm khoa học, cách kết hợp và độ bền vững kết cấu của nó Thủ thuật trí tuệ thực chất là một hệ thống các thao tác, được hình thành một cách đặc biệt để giải quyết nhiệm vụ theo một kiểu nhất định
Cách đặt vấn đề của của N.A.Menchinxcaia và cộng sự có giá trị thực tiễn nhất định Đã chỉ ra việc phát triển trí tuệ cho trẻ em không chỉ tăng số lượng tri thức (dẫn đến quan điểm nhồi nhét trong dạy học) hoặc chỉ nhằm vào các thủ thuật trí tuệ, mà phải song hành việc võ trang tri thức với việc phát triển các thao tác trí tuệ cho học sinh
Theo thuyết đa nhân tố của H.Gardner thì có 8 loại trí tuệ khác nhau, đó là:
Loại
hình
Ngô
n ngữ diễn đạt bằng lời hay chữ viết.Khả năng làm chủ được ngôn ngữ và năng nói; thùy thái dựng điều Thùy trán kiểm soát các khả
khiển sự hiểu biết ngôn ngữ
Nhà phê bình văn học T.S Eliot
Âm
nhạc dấu hiệu âm thanh, có khả năng: cảm nhận Khả năng nhạy cảm với các hệ thống
các nốt nhạc, giai điệu, nhịp điệu của
chúng, sáng tạo các tác phẩm có tính âm
nhạc
Có thể bán cầu não phải đóng vai trò quan trọng với năng khiếu này Tuy nhiên, mức độ khu trú của nó không tập trung như trí tuệ ngôn ngữ và có thể biến mất khi não tổn thương
Nhạc
sỹ I.StraVinski
Logi
c- toán luận sâu sắc Các nhà khoa học là những Khả năng tính toán phức tạp và lý
người tiêu biểu sử dụng trí tuệ này Họ
thường có tài nhìn thấu suốt vấn đề phức
tạp và cảm nhận được giải pháp trước khi
đưa ra được những bằng chứng
Có thể ở bán cầu não trái, nhưng không chuyên biệt ở một vùng nào Sự suy giảm trí tuệ này liên quan đến việc thái hóa toàn bộ của não hơn là tổn thương hay tai biến cục bộ
A.Einstein
P.Picasso
Trang 26soát cơ thể và điều khiển các đồ vật bằng
tay là các thao tác cơ bản cơ thể tham gia
trực tiếp giải quyết vấn đề Diễn viên kịch
câm, múa, thợ thủ công là ví dụ
Trung tâm vận động của bán cầu não trái kiểm soát phần phải của cơ thể và ngược lại
Nữ
vũ công Mathia Graham
Liên
cá nhân người khác và thấu hiểu người khác Có Khả năng tạo ra các mối quan hệ với
khả năng thấu cảm, thông minh, khôn
ngoan trong quan hệ xã hội Các nhà sư
phạm, linh mục, các bậc cha mẹ, tất cả họ
thành công trong vai trò của mình là ví dụ
Có thể thùy trán đóng vai trò quan trọng đối với loại trí tuệ này Các tổn thương ở vùng trán dẫn đến làm mất khả năng thấu cảm và thay đổi nhân cách
Mahatma Grandhi
Nội
tâm tình cảm của bản than; khả năng phân Khả năng hiểu biết những cảm xúc,
biệt, biểu hiện xúc cảm bằng hệ thống ký
hiệu trẻ tự kỷ là biểu hiện rõ ràng về
khiếm khuyết của năng lực trí tuệ này
Người thành công là người hiểu rõ chính
mình
Thùy trán là trung tâm Các tổn thương phần dưới của thùy trán có thể dẫn đến sự hưng phấn quá mức nếu tổn thương ở phần trên của thùy trán có thể tạo ra
sự vô cảm
Nhà phân tâm học
Tác giả cho rằng, mọi người đều có các loại trí tuệ trên, nhưng giữa các cá nhân có sự khác nhau về trình độ mỗi loại trí tuệ và khả năng kết hợp chúng
Mặc dù còn nhiều điểm cần thảo luận (tính kinh nghiệm của nguyên tắc phân loại, sự lệ thuộc có phần quá mức vào cơ chế thần kinh-di truyền), nhưng do ưu thế của việc phân loại được rút ra từ quan sát thực tế
và qua thực nghiệm, nên bảng phân loại các dạng trí khôn của H.Gardner được ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn Hiện nay, nhiều công ty sản xuất chương trình ở Mỹ đã sử dụng bảng phân loại này làm cơ sở để xây dựng các chương trình huấn luyện hoặc các trò chơi nhằm phát triển các loại trí tuệ cho trẻ em
Từ quan niệm của thuyết trí tuệ đa nhân tố, trong dạy học cần bồi dưỡng tất cả khả năng trí tuệ cho học sinh những đồng thời cũng chú ý tới đặc điểm trí tuệ, năng khiếu của mỗi học sinh để đưa ra các nhiệm vụ, các hoạt động phù hợp với khả năng của mỗi em Trong dạy học giáo viên cũng không nên có thành kiến, chỉ quan tâm, chú ý đến học sinh học giỏi một vài môn được xem là quan trọng trong nhà trường như toán, lý, hóa, sinh, văn, ngoại ngữ mà không chú ý hoặc đánh giá thấp các em học sinh hạn chế ở những môn học này nhưng lại có những năng lực khác
Phát triển trí tuệ là quá trình chuyển biến về chất trong quá trình nhận thức của học sinh Năng lực hoạt động trí tuệ được thể hiện ở năng lực vận dụng các thao tác trí tuệ để nhận thức, xử lý tình huống hoặc sáng tạo Quá trình rèn luyện các thao tác trí tuệ sẽ giúp hình thành ở học sinh các phẩm chất hoạt động trí tuệ
* Các phẩm chất hoạt động trí tuệ đó là:
- Tính định hướng của hoạt động trí tuệ: Được thể hiện ở chỗ xác định nhanh chóng, chính xác đối tượng của hoạt động trí tuệ, mục đích phải đạt tới và kịp thời phát hiện, điều chỉnh những lệch lạc trong quá trình giải quết các nhiệm vụ học tập
- Bề rộng của hoạt động trí tuệ: Thể hiện ở chỗ trong quá trình học tập, học sinh có thể lĩnh hội tri thức,
kỹ năng trên nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau
- Chiều sâu của hoạt động trí tuệ: Thể hiện ở năng lực đi sâu vào tìm hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng, phân biệt được cái bản chất và hiện tượng, nội dung và hình thức …
Trang 27- Tính linh hoạt của họa động trí tuệ: Thể hiện ở chỗ có khả năng di chuyển hoạt động tư duy từ tình huống này sang tình huống khác một cách sáng tạo Nhờ đó các em có thể thích ứng nhanh chóng với các tình huống nhận thức khác nhau và đạt kết quả cao trong học tập.
- Tính mềm dẻo của hoạt động trí tuệ: Là nét đặc trưng của hoạt động nhận thức, đặc biệt là trong hoạt động tư duy, thể hiện ở chỗ có thể nhận thức xuôi và ngược chiều, từ khái quát đến cụ thể, từ cái riêng đến cái chung và ngược lại
- Tính độc lập của hoạt động trí tuệ: Thể hiện ở chỗ các em tự phát hiện ra vấn đề, tự lực suy nghĩ tìm ra cách giải quyết vấn đề bằng chính hoạt động và thao tác của mình và chọn phương án tối ưu nhất
- Tính nhất quan của hoạt động trí tuệ: Bảo đảm được tính lôgic, sự thống nhất trong tư tưởng chủ đạo
từ đầu đến cuối
- Tính phê phán của hoạt động trí tuệ: Thể hiện ở chỗ biết nhận xét, phân tích, đánh giá các quan điểm,
lý thuyết, các vấn đề, sự kiện, hiện tượng và nêu được ý kiến chủ quan của mình, cũng như bảo vệ được nó
- Tính khái quát của hoạt động trí tuệ: Thể hiện ở chỗ từ việc giải quyết một nhiệm vụ cụ thể, sau đó các
em có thể khái quát thành một mô hình giải quyết nhiệm vụ Từ mô hình đó, các em có thể giải quyết được những loại nhiệm vụ cụ thể cùng loại một cách đơn giản hơn
Các phẩm chất trí tuệ đó có mối quan hệ với nhau và thống nhất với nhau, đảm bảo cho hoạt động nhận thức, giải quyết các vấn đề đạt hiệu quả cao
Việc phát triển trí tuệ trước hết là gắn với việc rèn luyện tư duy, và tưởng tượng, cụ thể là rèn luyện các thao tác của tư duy và rèn luyện trí tưởng tượng Vì trí tuệ của con người không thể tách rời với các thao tác tư duy linh hoạt, sắc xảo và trí tưởng tượng phong phú
Để khích thích trí tuệ và tư duy phát triển, dạy học phải đề ra được nhiệm vụ ở mức độ khó khăn vừa sức đối với học sinh- đó là nhiệm vụ mà học sinh phải huy động tối đa khả năng tư duy và kiến thức của mình cộng với sự giúp đỡ, gợi mở của giáo viên mới có thể giải quyết được
Nhiệm vụ 3- Nhiệm vụ giáo dục- tổ chức, điều khiển học sinh hình thành cơ sở thế giới quan khoa học,
những phẩm chất đạo đức nói riêng và phát triển nhân cách nói chung
- Trên cơ sở vũ trang tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và phát triển năng lực nhận thức cho học sinh mà hình thành cho họ cơ sở thế giới quan khoa học, những phẩm chất của nhân cách và sự phát triển nhân cách nói chung theo mục đích đã đề ra
- Thế giới quan là hệ thống quan điểm về tự nhiên, xã hội và con người Nó quy định xu hướng chính trị, tư tưởng, đạo đức và các phẩm chất khác Nó chi phối cách nhìn nhận, thái độ và hành động của mỗi cá nhân Thế giới quan khoa học là hệ thống quan điểm khoa học về thế giới tự nhiên, xã hội và về con người,
đó là những quan điểm đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan Thế giới quan khoa học là thế giới quan duy vật biện chứng
- Trong xã hội có giai cấp thì thế giới quan mang tính giai cấp Cần phải hình thành cơ sở thế giới quan khoa học cho học sinh để các em có suy nghĩ, thái độ và hành động đúng trước đa dạng các tình huống gặp phải trong cuộc sống
- Bên cạnh đó, thông qua dạy học cần phải hình thành và bồi dưỡng những phẩm chất của nhân cách như đạo đức, niềm tin, tình cảm, lý tưởng … theo mục đích giáo dục Thông qua dạy chữ để mà dạy người.Mối quan hệ giữa 3 nhiệm vụ:
- Tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phương pháp nhận thức là điều kiện cho sự phát triển trí tuệ và hình thành thế giới quan khoa học
- Trí tuệ là kết quả của việc nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, nhưng ngược lại, nó cũng là điều kiện
để nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và là cơ sở đề hình thành thế giới quan khoa học và các phẩm chất đạo đức
- Hình thành thế giới quan khoa học và những phẩm chất đạo đức là mục đích và kết quả của nhiệm vụ
2 và nhiệm vụ 3 Khi đã hình thành được thế giới quan khoa học và các phẩm chất đạo đức, nó có tác dụng định hướng, chỉ đạo, kích thích việc nắm tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo và phát triển năng lực nhận thức
6 Động lực và động lực cơ bản của quá trình dạy học
- Theo triết học duy vật biện chứng, mọi sự vật không ngừng vận động và phát triển, nguồn gốc là có sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn Tùy theo cách phân chia
mà có mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài, mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu …
Trang 28- Việc giải quyết các mâu thuẫn sẽ tạo thúc đẩy sự vật hiện tượng phát triển Tuy nhiên, để sự vật hiện tượng phát triển nhanh, đúng hướng, hiệu quả và làm thay đổi về chất thì phải giải quyết mâu thuẫn cơ bản của nó.
- Quá trình dạy học cũng tồn tại các mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài, mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản Mâu thuẫn bên ngoài của quá trình dạy học là mâu thuẫn giữa các thành tố của quá trình dạy học với các thành tố bên ngoài như kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học- kỹ thuât… Mâu thuẫn bên trong là mâu thuẫn giữa các thành tố của quá trình dạy học với nhau, ví dụ mâu thuẫn giữa trình độ của thầy
và trò, giữa nội dung và phương pháp…Việc giải quyết các mâu thuẫn này sẽ thúc đẩy quá trình dạy học phát triển, trong đó việc giải quyết mâu thuẫn bên trong có ý nghĩa quyết định
- Để quá trình dạy học phát triển nhanh, đúng hướng, hiệu quả và thay đổi về chất thì phải giải quyết mâu thuẫn cơ bản của nó Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn tồn tại suốt từ đầu đến cuối quá trình, việc giải quyết các mâu thuẫn khác, xét đến cùng đều phục vụ cho việc giải quyết mâu thuẫn cơ bản
- Mâu thuẫn cơ bản của quá trình dạy học là mâu thuẫn giữa một bên là nhiệm vụ học tập do tiến trình dạy học đề ra và một bên là trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và trình độ phát triển trí tuệ hiện có của học sinh chưa giải quyết được các nhiệm vụ đó
- Mâu thuẫn này tồn tại suốt từ đầu đến cuối quá trình dạy học Khi giáo viên tổ chức, chỉ đạo học sinh chủ động, tích cực giải quyết nó thì trình độ của học sinh được nâng lên Quá trình dạy học lại tiếp tục đề ra nhiệm vụ học tập cho học sinh ở mức cao hơn trình độ vừa đạt được, và như vậy mâu thuẫn lại xuất hiện và lại được giải quyết Cứ như thế quá trình dạy học không ngừng vận động và phát triển
- Việc giải quyết mâu thuẫn cơ bản đó chính là tạo ra động lực cơ bản của quá trình dạy học
- Giáo viên là người tạo dựng các mâu thuẫn và bằng các phương pháp, nghệ thuật dạy học để tổ chức cho học sinh giải quyết được mâu thuẫn đó hiệu quả nhất
Để học sinh chủ động, tích cực giải quyết mâu thuẫn cơ bản trên, cần có 3 điều kiện đó là:
+ Thứ nhất là học sinh phải ý thức đầy đủ, sâu sắc nhiệm vụ học tập đề ra, thấy hết và đánh giá đúng trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, trí tuệ của mình, thấy mình có thể giải quyết được nhiệm vụ hay không và giải quyết đến đâu Điều này thể hiện ở việc học sinh cảm thấy có sự khó khăn trong việc hoàn thành nhiệm
vụ và xuất hiện nhu cầu giải quyết khó khăn đó để hoàn thành nhiệm vụ
+ Thứ hai là nhiệm vụ học tập, khó khăn đề ra phải vừa sức Đó là nhiệm vụ học tập đề ra ở mức mà học sinh phải phát huy tối đa trình độ, khả năng của mình, cộng với sự định hướng, gợi mở của giáo viên mới có thể giải quyết được
+ Thứ 3 là mâu thuẫn phải do tiến trình dạy học dẫn tới Nghĩa là trên tiến trình dạy học, mâu thuẫn thuẫn xảy ra vào thời điểm đó là tất yếu Không nên đốt cháy giai đoạn, làm cho nó xuất hiện sớm hoặc muộn quá Người giáo viên làm cho nó xuất hiện càng đúng lúc và càng sâu sắc bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu
7 Logic của quá trình dạy học
Quá trình dạy học là một quá trình vận động có định hướng, nó diễn ra theo logic nội tại, bản chất của nó
Trước hết, học tập là hoạt động nhận thức Logic nhận thức của học sinh diễn ra theo quy luật đi từ cảm tính tới lý tính, từ đơn giản đến phức tạp, từ hình thức đến nội dung, từ không bản chất tới bản chất… Khi đã đạt một trình độ nhất định, tư duy của con người có thể diễn ra bằng con đường suy luận, từ khái quát đến cụ thể, từ cái chung đến cái riêng, bằng xây dựng giả thiết và chứng minh…
Dạy học là hoạt động có tổ chức, có chương trình, vì thế dạy học lại tuân theo logic của nội dung dạy học Nội dung dạy học là hệ thống kiến thức được chọn lọc và sắp xếp theo chương, mục, chủ đề, được trình bày theo lịch sử phát minh, phù hợp với đặc điểm của học sinh và khả năng ứng dụng của các kiến thức đó Trong quá trình dạy học, lôgic nội dung dạy học và logic nhận thức của học sinh không tách rời nhau Logic của quá trình dạy học phải được xây dựng sao cho phù hợp với logic của môn học và đặc điểm nhận thức của học sinh Vì vậy, có thể hiểu lôgic của quá trình dạy học là sự thống nhất của logic nhận thức của học sinh và logic của chương trình, nội dung dạy học Do đó người ta gọi logic của quá trình dạy học là hợp kim của logic môn học và đặc điểm nhận thức của học sinh
Lưu ý: Logic của quá trình dạy học là sự thống nhất, là hợp kim, là sự thống nhất biện chứng của của logic chương trình, nội dung môn học và logic nhận thức của học sinh Vì vậy, logic của quá trình dạy học có tính rất động, cùng một nội dung dạy học nhưng trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, trí tuệ của học sinh khác nhau thì giáo viên phải có cách tổ chức và thực hiện tiến trình dạy học khác nhau nhằm đạt được mục tiêu dạy học
6 Các khâu của quá trình dạy học
Trang 29a Kích thích thái độ tích cực học tập của ngời học (Giỏo viờn đề xuất vấn đề, làm cho học sinh ý thức nhiệm vụ học tập)
ý nghĩa: Thái độ tích cực học tập là điều kiện quan trọng để:
- Nắm vững tài liệu học tập.
- Giúp ngời học hớng sự chú ý của mình vào hoạt động học tập, biết tập trung, phân phối, di chuyển chú ý, biết
sử dụng, phối hợp các loại chú ý.
- Bồi dỡng trí tò mò, ham hiểu biết, nhu cầu nhận thức.
Biểu hiện tốt thái độ học tập: Sự chú ý nhất là hứng thú đối với hoạt động học tập, hào hứng tham gia giải
quyết những vấn đề học tập do giáo viên đề ra, nêu lên những thắc mắc của mình về vấn đề học tập do giáo viên hoặc bạn bè trình bày …
Biện pháp:
- Vào đầu tiết học ổn định tổ chức lớp học và gây không khí làm việc nhanh chóng.
- Có thái độ chan hòa, tác phong đúng mực với ngời học.
- Khéo léo đa ngời học vào tình huống có vấn đề một cách liên tục không chỉ kích thích mà còn duy trì không khí học tập tích cực.
b Tổ chức điều khiển ngời học nắm vững tri thức
Tri giác các tài liệu cảm tính cần thiết
Tuỳ theo tài liệu mới xa lạ hay gần gũi với ngời học, giáo viên hoặc có thể tổ chức cho ngời học quan sát trực tiếp sự vật, hiện tợng, hoặc có thể dùng phơng pháp đàm thoại, gợi mở làm cho ngời học nhớ lại kinh nghiệm đã có, tri thức đã lĩnh hội, tìm ra mối liên hệ gần gũi với những sự vật và hiện tợng mới Từ đó xây dựng lại những biểu tợng chính xác làm cơ sở cho việc hình thành khái niệm.
Hình thành khái niệm:
Trên cơ sở có những biểu tợng chính xác, giáo viên tổ chức cho ngời học tiến hành các thao tác t duy: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tợng hoá, khái quát để hình thành những khái niệm và các thao tác t duy đợc hoàn thiện hơn Nắm đợc khái niệm, ngời học lại vận dụng những khái niệm, kết hợp những khái niệm với nhau tạo thành những phán đoán và kết hợp các phán đoán tạo thành các suy luận Qua đó lại hình thành các khái niệm ở mức cao hơn Khái niệm, phán đoán, suy luận đều đợc diễn đạt dới hình thức ngôn ngữ bằng những định nghĩa, định luật, định lý, nguyên tắc, lý thuyết.
Lĩnh hội khái niệm là hoà lẫn khái niệm vừa nắm vào hệ thống những khái niệm, những kinh nghiệm đã có để tạo nên một hệ thống mới và đợc gia công lại bằng những thao tác t duy và diễn đạt bằng ngôn ngữ của chính mình.
Việc hình thành khái niệm có thể đi theo con đờng suy diễn hoặc quy nạp.
Tổ chức đúng đắn việc nắm vững các tri thức mới, giáo viên sẽ giúp ngời học nắm đợc những phơng thức cơ bản của t duy lôgic và từ đó rèn luyện cho họ kỹ năng độc lập lĩnh hội tri thức mới.
c Tổ chức ngời học củng cố tri thức
Do lĩnh hội tri thức với một khối lợng lớn trong thời gian ngắn nên tri thức vừa nắm đợc dễ rơi rụng Vì vậy một yêu cầu cần phải đặt ra là ngời học phải lu giữ trong mình đều lĩnh hội đợc sao cho đủ, chính xác Muốn vậy trong quá trình dạy học không thể không hớng dẫn ngời học tự củng cố tri thức đã học.
Biện pháp thông thờng nhất để củng cố tri thức là ôn tập tích cực và thờng xuyên bằng cách vận dụng những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đã học xen kẽ vào các khâu khác trong việc giải quyết vấn đề để hình thành những khái niệm mới, hoặc để giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn, bằng ôn tập khái quát hoá, thiết lập hệ thống những khái niệm, những quy luật, định luật, học thuyết
d Tổ chức điều khiển ngời học rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo
Trong quá trình học tập, ngời học cần di chuyển tri thức thành kỹ năng, kỹ xảo thì mới có khả năng vận dụng những điều đã học vào thực tiễn
Biện pháp rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo là tổ chức cho ngời học luyện tập một cách có hệ thống, trong đó chú ý uốn nắn những sai lệch sự thiếu chính xác những tri thức, những thao tác t duy hoặc động tác tay chân; ứng dụng tri thức nhằm giải thích những hiện tợng, giải quyết những vấn đề do thực tiễn đề ra một cách vừa sức qua đó mà dần dần phát huy tính độc lập, sáng tạo của ngời học từ mức độ thấp đến mức độ cao
e Kiểm tra đánh giá việc nắm tri thức, kỹ năng kỹ xảo của ngời học và tổ chức cho họ tự kiểm tra, tự đánh giá
ý nghĩa cơ bản của khâu này là đảm bảo mối liên hệ ngợc bên ngoài và bên trong quá trình dạy học Nhờ vậy
mà cả giáo viên và ngời học có thể điều chỉnh hoạt động của mình và ngời cán bộ quản lý nhà trờng và giáo dục nói chung đánh giá đợc hoạt động dạy học một cách chính xác Vì vậy giáo viên cần phải tổ chức kiểm tra đánh giá, tuân theo những quy tắc kiểm tra và đánh giá: Tính khách quan, tính chính xác, tính toàn diện, tính phát triển, tính giáo dục Ngoài ra cần đặc biệt bồi dỡng cho ngời học ý thức và năng lực tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả học tập của mình đều góp phần quan trọng việc hình thành cho họ phẩm chất và năng lực tự học và qua đó giúp họ có thể học liên tục suốt
đời đáp ứng đợc những yêu cầu của thời đại hiện nay.
f Phân tích kết quả của từng bớc, giai đoạn nhất định của quá trình dạy học
Sau khi tiến hành đánh giá việc hoàn thành một bớc (giai đoạn) nhất định của quá trình dạy học, giáo viên cũng nh ngời học phải nhìn lại hoạt động của mình, đối chiếu kết quả thu đợc với mục đích và nhiệm vụ đã đề ra để phát hiện những u và nhợc điểm, tồn tại và nguyên nhân của chúng để đề ra phơng hớng và biện pháp giải quyết.
Mối liên hệ giữa các khâu của quá trình dạy học
Mỗi khâu của quá trình dạy học có chức năng, tác dụng riêng của mình, nhng các khâu đó liên hệ, tác động lẫn nhau Tất cả các khâu đều phải kích thích thái độ học tập của ngời học Muốn nắm tri thức mới ngoài việc tri giác sự kiện,
Trang 30hiện tợng cần phải tích cực hoá những tri thức mới dã tiến hành củng cố tri thức, không thể ôn tập một cách máy móc
mà có thể thông qua việc vận dụng tri thức, kiểm tra, đánh giá tri thức Từ đó có thể nhận thấy trong quá trình dạy học các khâu xen kẽ, đan kết vào nhau.
Chương 7 TÍNH QUY LUẬT VÀ NGUYấN TẮC DẠY HỌC
1 Tớnh quy luật của quỏ trỡnh dạy học
1.1 Khỏi niệm quy luật và tớnh quy luật
- Quy luật là mối quan hệ bản chất
- Tớnh quy luật là quy luật được nhận thức chưa đủ chớnh xỏc, chưa được diễn đạt một cỏch chặt chẽ về mặt định tớnh và định lượng
- Trong lĩnh vực GD học núi chung, và lý luận dạy học núi riờng, những tri thức được vạch ra chưa đạt tới độ chớnh xỏc của quy luật nờn tốt hơn là sử dụng khỏi niệm tớnh quy luõt Tuy nhiờn một số nhà nghiờn cứu vẫn cú thể sử dụng khỏi niệm quy luật vỡ tớnh quy luật và quy luật đều là những phạm trự biểu đạt mối liờn hệ khỏch quan giữa cỏc sự vật hiện tượng, cỏc quỏ trỡnh của hiện thực Những mối liờn hệ này cú tớnh bản chất, tất yếu, lặp lại, phổ biến, bền vững trong những điều kiện xỏc định
1.2 Những tớnh quy luật của quỏ trỡnh dạy hoc
Trong quỏ trỡnh dạy học thường thể hiện những tớnh quy luật sau:
1.2.1 Tớnh quy luật về tớnh quy định của xó hội đối với quỏ trỡnh dạy học
Quỏ trỡnh dạy học được quy định bởi yếu tố kinh tế, xó hội, chớnh trị, văn húa, khoa học kỹ thuật, hệ tư tưởng…
1.2.2 Tớnh quy luật về mối liờn hệ giữa dạy học và GD
Dạy học là một bộ phận của giỏo dục theo nghĩa rộng, để hoàn thành quỏ trỡnh giỏo dục theo nghĩa rộng thỡ phải tiến hành quỏ trỡnh dạy học và quỏ trỡnh giỏo dục theo nghĩa hẹp Dạy học phải đi đến giỏo dục, thụng qua dạy chữ để mà dạy người, dạy học là một con đường của giỏo dục Kết quả giỏo dục lại tỏc động trở lại việc dạy và học, những phẩm chất hỡnh thành được ở học sinh sẽ giỳp quỏ trỡnh học tập đi đỳng hướng, đạt hiệu quả cao
1.2.3 Tớnh quy luật về mối quan hệ giữa dạy học và phỏt triển trớ tuệ
Việc dạy học và phỏt triển trớ tuệ cú mối quan hệ, dạy học làm cho kiến thức được tớch lũy, cỏc thao tỏc trớ tuệ và tư duy cũng được rốn luyện và phỏt triển Khi trớ tuệ và tư duy phỏt triển sẽ giỳp học sinh nhận thức tốt hơn, nhận thức những cỏi khú hơn, vỡ thế quỏ trỡnh dạy học khụng ngừng đi lờn
1.2.4 Tớnh quy luật về sự thống nhất và quy định lẫn nhau giữa cỏc thành tố của quỏ trỡnh dạy học Cỏc thành tố trong quỏ trỡnh dạy học cú mối quan hệ với nhau, trong đú đặc biệt quan trọng là sự thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học
2 Nguyờn tắc dạy học
2.1 Khỏi niệm và căn cứ xõy dựng nguyờn tắc dạy học
2.1.1 Khỏi niệm nguyờn tắc dạy học
Nguyờn tắc dạy học là những luọ̃n điờ̉m cú tớnh chất xuất phỏt để chỉ đạo việc xỏc định và lựa chọn mục tiờu, nội dung, phương phỏp, phương tiợ̀n và hỡnh thức tổ chức dạy học nhằm đạt được chṍt lượng và hiợ̀u quả dạy học
2.1.2 Căn cứ xõy dựng nguyờn tắc dạy học
Để xõy dựng hệ thống cỏc nguyờn tắc dạy học cần căn cứ vào những cơ sở sau:
- Triết học Mỏc-Lờnin;
- Mục đớch, mục tiờu GD và nhiệm vụ dạy học;
Trang 31- Những tính quy luật của quá trình dạy học;
- Những đặc điểm, quy luật tâm sinh lý của học sinh trong quá trình dạy học;
- Những kinh nghiệm, quan điểm, tư tưởng tiến bộ về GD
2.2 Hệ thống các nguyên tắc dạy học
- Đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính GD trong dạy học
- Đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, học đi đôi với hành
- Đảm bảo tính hệ thống và tính tuần tự trong dạy học
- Đảm bảo sự thống nhất giữa tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của học sinh và vai trò chủ đạo của giáo viên trong quá trình dạy học
- Đảm bảo sự thống nhất giữa tính trực quan với sự phát triển tư duy lý thuyết
- Đảm bảo tính vững chắc của tri thức và sự phát triển năng lực nhận thức của học sinh
- Đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới những đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá biệt và tính tập thể trong quá trình dạy học
- Đảm bảo tính cảm xúc tích cực của học sinh
- Chuyển từ dạy học sang tự học
- Nguyên tắc thống nhất giữa dạy tập thể và dạy cá nhân (dành riêng cho học viên từ xa)
- Thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học (dành riêng cho học viên từ xa)
2.2.1 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính GD trong dạy học
- Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải trang bị cho học sinh những tri thức khoa học chân chính, phản ánh những thành tựu hiện đại của khoa học, kỹ thuật và văn hóa; phải dần giúp học sinh tiếp xúc với một số phương pháp học tập-nhận thức, nghiên cứu và thói quen suy nghĩ, làm việc khoa học Thông qua đó, từng bước hình thành cơ sở thế giới quan khoa học, tình cảm và những phẩm chất đạo đức cao quý của con người hiện đại
- Nguyên tắc này xuất phát từ mục tiêu và nhiệm vụ dạy học là phải vũ trang cho học sinh hệ thống kiến thức khoa hoc, đồng thời dạy học phải dẫn tới giáo dục, dạy học là con đường của giáo dục; Xuất phát
từ mối quan hệ giữa nhiệm vụ võ trang tri thức khoa học cho học sinh và nhiệm vụ giáo dục học sinh trong dạy học Những tri thức khoa học là cơ sở để hình thành thế giới quan khoa học và các phẩm chất của nhân cách Ngược lại, thế giới quan khoa học và các phẩm chất nhân cách lại định hướng, thúc đẩy và tăng hiệu quả nhận thức, tiếp thu các tri thức khoa học, hoàn thành các nhiệm vụ học tập ở học sinh
Biện pháp thực hiện nguyên tắc:
- Võ trang cho học sinh những chân lý đã được khẳng định vững chắc, những tri thức khoa học chân chính, hiện đại nhằm giúp họ nắm vững quy luật phát triển của tự nhiên, xã hội, tư duy, có cách nhìn, có thái
độ và hành động đúng đối với hiện thực
- Tạo điều kiện cho học sinh có những hiểu biết sâu sắc về thiên nhiên, xã hội, con người Việt Nam, những truyền thống tốt đẹp trong lịch sử dựng nước và bảo vệ đất nước, những thành tựu dưới sự lãnh đạo của Đảng để từ đó giáo dục học sinh có tinh thần trách nhiệm, nghĩa vụ công dân trong học tập và tu dưỡng
để sau này đóng góp vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Bồi dưỡng cho học sinh ý thức và năng lực phân tích, phê phán một cách đúng mực những thông tin đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, những quan niệm khác nhau về một vấn đề
- Vận dụng các phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học theo hướng giúp học sinh làm quen một
số phương pháp nghiên cứu khoa học ở mức độ đơn giản nhằm dần dần tiếp cận với hoạt động khoa học, rèn luyện những phẩm chất, tác phong của người nghiên cứu khoa học
2.2.2 Đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, học đi đôi với hành
- Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải làm cho học sinh nắm vững tri thức lý thuyết và thấy được tác dụng của nó trong đời sống thực tế, đồng thời biết vận dụng lý thuyết vào thực tiễn ở những mức độ khác nhau, trong đó mức độ vận dụng cao nhất là góp phần phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa, khoa học của đất nước Nguyên tắc này cũng đòi hỏi trong quá trình dạy học phải xây dựng mục tiêu, nội dung dạy học xuất phát từ yêu cầu của thực tế
- Nguyên tắc này dựa trên lý luận về nhận thức của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh đó là học phải gắn với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn
Trang 32Biện pháp thực hiện nguyên tắc:
- Xây dựng kế hoạch, chương trình dạy học cần lựa chọn những môn học và những tri thức cơ bản phù hợp với những điều kiện tự nhiên, xã hội, yêu cầu của thực tế, chuẩn bị cho người học thích ứng nhanh và tham gia có hiệu quả vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc
- Làm cho học sinh nắm vững tri thức lý thuyết để soi sáng thực tiễn, thực tiễn phải có lý thuyết chỉ đường, lý thuyết phải ứng dụng được vào cuộc sống, đặc biệt là ứng dụng được vào việc giải quyết những vấn đề của địa phương
- Phương pháp dạy học cần khai thác vốn sống của người học để minh họa và giải quyết những vấn đề
lý luận cần đổi mới những phương pháp như thí nghiệm, thực nghiệm… nhằm giúp học sinh nắm nhanh và vững tri thức lý thuyết và vận dụng chúng vào để giải quyết những tình huống khác nhau Thông qua đó dần cho học sinh làm quen với các phương pháp nghiên cứu khoa học
- Về hình thức tổ chức dạy học cần kết hợp sử dụng những hình thức tổ chức dạy học khác nhau, đặc biệt là hình thức tham quan học tập, hình thức thực hành, thực tập bộ môn ở phòng thí nghiệm, ở vườn trường
2.2.3 Đảm bảo tính hệ thống và tính tuần tự trong dạy học
- Nguyên tắc này đòi hỏi phải làm cho học sinh lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong mối liên
hệ và tính kế thừa với những kinh nghiệm đã có, phải giới thiệu cho họ hệ thống những tri thức khoa học hiện đại không chỉ dựa vào cấu trúc của logic khoa học mà cả tính tuần tự phát triển những khái niệm và định luật khoa học trong ý thức của họ
- Tính tuần tự phát triển những khái niệm và định luật khoa học trong ý thức người học khác rất nhiều với với hệ thống tri thức khoa học do các nhà bác học trình bày, nhưng nó phải dựa trên cơ sở khoa học nhất định
Biện pháp thực hiện nguyên tắc:
- Xây dựng hệ thống môn học, chương, chủ đề và những tiết học phụ thuộc vào lý thuyết, từ đó làm cơ
sở cho sự khái quát Dựa trên lý thuyết của một số nhà tâm lý học đề ra thì hệ thống xây dựng những giáo trình ở bậc phổ thông cần thay đổi theo nguyên tắc từ cái chung tới cái riêng Tính tuần tự tạo điều kiện thuận lợi để phát triển tư duy lý luận cho học sinh
- Xây dựng nội dung dạy học phải tính tới những mối liên hệ giữa các môn học, mối liên hệ giữa những tri thức trong bản thân từng môn học và tích hợp tri thức của các môn học
- Tính hệ thống và tính tuần tự trong dạy học không những được thể hiện trong hoạt động của giáo viên mà ngay cả trong công việc của học sinh Chính vì vậy, điều hết sức quan trọng là phải hình thành cho học sinh thói quen lập kế hoạch hoạt động của mình một cách hợp lý, lập dàn bài một cách logic
2.2.4 Đảm bảo sự thống nhất giữa tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của học sinh
và vai trò chủ đạo của giáo viên trong quá trình dạy học
- Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải phát huy cao độ tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của người học và vai trò chủ đạo của giáo viên, tạo nên sự cộng hưởng của hoạt động dạy
(Nguồn: Jack M Wilson- The Technologycal Revolution – Reflection on the Proper Role of Technology in Higher Education in “In Defance of American Higher Education” The Johns Hopkins University Press, 2001)
-Tính tự giác nhận thức thể hiện ở chỗ người học ý thức đầy đủ mục đích, nhiệm vụ học tập và qua đó
nỗ lực nắm vững tri thức, tránh hình thức trong việc nắm tri thức
- Tính tích cực nhận thức thể hiện ở sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết các vấn đề học tập-nhận thức Nó vừa là mục đích hoạt động, vừa là phương tiện, điều kiện để đạt được mục đích Tính tích cực nhận thức là phẩm chất hoạt động của cá nhân Tùy theo sự huy động những chức năng tâm lý nào và mức độ sự huy động mà có thể diễn ra tính tích cực tái hiện, tính tích cực tìm tòi tính tích cực sáng tạo
Tính độc lập nhận thức theo nghĩa rộng là sự sẵn sàng tâm lý đối với sự học Theo nghĩa hẹp, tính độc lập nhận thức là năng lực phẩm chất, nhu cầu học tập và năng lực tự tổ chức học tập cho phép người học tự
Trang 33phát hiện, tự giải quyết vấn đề, tự kiểm tra, tự đánh giá hoạt động học tập của mình; qua đó cho phép người học hình thành sự sẵn sàng về mặt tâm lý cho việc tự học.
- Tính độc lập nhận thức là sự thống nhất giữa phẩm chất và năng lực; giữa ý thức, tình cảm và hành động; giữa động cơ, tri thức và phương pháp hoạt động độc lập
-Tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập nhận thức có mối quan hệ mật thiết với nhau Tính tự giác nhận thức là cơ sở của tính tích cực, tính độc lập nhận thức Tính tích cực nhận thức là điều kiện, kết quả, là định hướng và là biểu hiện của sự nảy sinh và phát triển của tính độc lập nhận thức Tính độc lập nhận thức
là sự thể hiện tính tự giác, tính tích cực ở mức độ cao
-Trong quá trình dạy học, tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập nhận thức của học sinh càng được thể hiện thì thì hiệu quả học tập càng cao
Biện pháp thực hiện nguyên tắc:
- Quan tâm đúng mức đến việc giáo dục cho người học động cơ và thái độ học tập tích cực, tinh thần trách nhiệm trong học tập
- Khuyến khích, động viên và tạo điều kiện để học sinh mạnh dạn trình bày ý kiến, ý tưởng và những thắc mắc của mình, đề cao tinh thần hoài nghi khoa học, óc phê phán, tác phong độc lập suy nghĩ, chống lối học vẹt, học đối phó, hình thức trong học tập
- Cần sử dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề ở những mức độ khác nhau với những hình thức khác nhau, đặc biệt tăng dần mức độ và tỉ trọng tự nghiên cứu, tự giải quyết những bài tập nhận thức
- Cần tăng cường sử dụng phối hợp các hình thức tổ chức dạy học, trong đó đặc biệt chú ý đến hình thức thảo luận, học nhóm tại lớp, tự học, tham quan học tập, ngoại khóa Động viên khuyến khích những mặt tốt, kích thích nhu cầu, hứng thú nhận thức và kịp thời uốn nắn những thiếu sót của học sinh
- Kết hợp kiểm tra đánh giá và tự kiểm tra đánh giá việc lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của người học
- Rèn luyện tư duy sáng tạo cho HS và tạo điều kiện cho họ thể hiện sự sáng tạo trong học tập, nghiên cứu
2.2.5 Đảm bảo sự thống nhất giữa tính trực quan với sự phát triển tư duy lý thuyết
- Trực quan theo quan niệm rộng không chỉ là cho học sinh quan sát sự vật hiện tượng mà còn bao gồm cả việc thao tác, hành động với đồ vật
- Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải làm cho học sinh tiếp xúc trực tiếp, hành động, thao tác với sự vật hiện tượng hay hình tượng của chúng, từ đó hình thành khái niệm, quy luật, lý thuyết Và ngược lại, có thể lĩnh hội những kiến thức lý thuyết trước rồi xem xét, hành động và thao tác với các sự vật, hiện tượng cụ thể sau
Biện pháp thực hiện nguyên tắc:
- Sử dụng phối hợp nhiều phương tiện trực quan khác nhau với tư cách là những phương tiện và nguồn nhận thức Cho hoc sinh quan sát và thao tác với các đồ vật trước hoặc sau khi học lý thuyết
- Kết hợp việc trình bày các phương tiện trực quan với lời nói sinh động, diễn cảm, nghĩa là kết hợp hai hệ thống tín hiệu
- Cần sử dụng lời nói giàu hình ảnh giúp học sinh vận dụng những biểu tượng đã có để hình thành những biểu tượng mới, qua đó hình thành những khái niệm, định luật mới
- Khi trình bày trực quan cần rèn luyện cho học sinh óc quan sát nhằm tìm kiếm một cách nhanh chóng những dấu hiệu bản chất, từ đó rút ra những kết luận khái quát
- Cần sử dụng phối hợp nhiều hình thức dạy học để giúp học sinh tích lũy nhiều hình ảnh trực quan, dễ dàng hình thành những biểu tượng
- Đề ra cho học sinh những bài tập phải thiết lập được mối quan hệ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng và ngược lại
- Cần vận dụng việc sử dụng trực quan cho phù hợp với hoàn cảnh và tâm sinh lý lứa tuổi để hình thành và phát triển tư duy trừu tượng cho học sinh
2.2.6 Đảm bảo tính vững chắc của tri thức và sự phát triển năng lực nhận thức của học sinh
- Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải làm cho học sinh nắm vững nội dụng dạy học với sự căng thẳng tối đa tất cả trí lực của họ, đặc biệt là sự tưởng tượng tái hiện và sáng tạo, trí nhớ (chủ yếu
là trí nhớ logic), tư duy sáng tạo, năng lực huy động tri thức cần thiết để thực hiện hoạt động nhận thức-học tập đã đề ra
Trang 34- Việc lĩnh hội nội dung dạy học và phát triển năng lực nhận thức là hai mặt của một quá trình, có liên
hệ mật thiết với nhau vì khi lĩnh hội tri thức thì sẽ rèn luyên và phát triển được năng lực nhận thức, năng lực nhậ thức lại là điều kiện để lĩnh hội tri thức
- Để học sinh nắm vững tri thức và phát triển nhận thức, cần làm cho người học có tính tích cực, tự giác, độc lập, sáng tạo trong học tập, tránh học vẹt, máy móc
Biện pháp thực hiện nguyên tắc:
- Giúp học sinh kết hợp hài hòa giữa ghi nhớ chủ định và ghi nhớ không chủ định trong quá trình học tập
- Cần hình thành cho học sinh tìm những thông tin có tính chất tra cứu khác nhau để tránh việc học thuộc lòng không cần thiết
- Cần đặt ra những vấn đề đòi hỏi học sinh phải tích cực hóa những tri thưc đã học để giải quyết vấn
đề, giúp họ nắm vững tri thức và tạo điều kiện phát triển năng lực nhận thức Việc ôn tập cần được diễn ra thường xuyên, có hệ thống
- Cần tổ chức quá trình dạy học hợp lý để một bộ phận đáng kể những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo được củng cố tại tiết học Muốn vậy, giáo viên phải trình bày nội dung học tập một cách logic, rõ ràng, dễ hiểu, phải tác động mạnh về mặt cảm xúc
- Giáo viên tiến hành kiểm tra, đánh gia và học sinh phải tj kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách đều đặn, về các mặt số lượng và chất lượng tri thức, kỹ năng hoạt động sáng tạo thông qua bài học sáng tạo, có tính chất chẩn đoán
2.2.7 Đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới những đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá biệt và tính tập thể trong quá trình dạy học
-Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học, khi lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức phải không ngừng nâng cao dần mức độ khó khăn trong học tập, gây nên sự căng thẳng về trí lực, thể lực một cách vừa sức, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá biệt Nói cách khác, dạy học vừa sức là trong dạy học phải tạo nên khó khăn vừa sức, những yêu cầu và nhiệm vụ học tập đề ra phải làm cho học sinh nỗ lực hết khả năng của mình dưới sự chỉ đạo của giáo viên mới có thể giải quyết được nhiệm vụ đó Dạy học như vậy mới có thể thúc đẩy sự phát triển ở người học
- Khó khăn vừa sức đối với người học khác với sự quá tải đối với người học về mặt thể lực và trí lực
Sự quá tải làm mất hứng thú và học sinh sớm mệt mỏi Để có yêu cầu vừa sức phải hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và cá nhân học sinh
Biện pháp thực hiện nguyên tắc:
- Cần nắm vững đặc điểm riêng biệt của từng học sinh cũng như đặc điểm chung của chúng về các mặt, nhất là mặt năng lực nhận thức và động cơ, tinh thần, thái đọ học tập Như vậy mới có cơ sở để đề ra nhiệm vụ học tập phù hợp với cá nhân cung như tập thể lớp
- Trong quá trình dạy học phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ gần đến xa
- Khi lên lớp cần thường xuyên theo dõi tình hình lĩnh hội của học sinh để kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy và hoạt động học, nhất là đối với học sinh con yếu kém
- Cần cá biệt hóa, phân hóa trong dạy học
2.2.8 Đảm bảo tính cảm xúc tích cực của học sinh
- Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải gây cho người học sự hấp dẫn, hứng thú, lòng ham hiểu biết và có tác động mạnh mẽ đến tình cảm của họ vì tình cảm và cảm xúc tích cực có vai trò rất quan trọng đối với nhận thức
Biện pháp thực hiện nguyên tắc:
-Thực hiện mối liên hệ dạy học với cuộc sống, với thực tiễn xây dựng đất nước, với kinh nghiệm cuộc sống của học sinh Đó là phương tiện hình thành tình cảm nghĩa vụ và nâng cao hứng thú học tập
- Trong nội dung và phương pháp học tập cần làm sao tăng cường hoạt động tích cực tìm tòi, đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ, phát hiện
- Cần sử dụng hình thức trò chơi nhận thức trong quá trình dạy học
- Cần sử dụng phương tiện nghệ thuật: tác phẩm văn học, âm nhạc, nghệ thuật tạo hình, kịch… trong quá trình dạy học
- Giáo viên cần hạn chế những thái độ, hành vi tạo không khí căng thẳng trong giờ học Ngược lại, cần phải tạo không khí nghiêm túc nhưng vui vẻ, thân thiện trong giờ học, ngôn ngữ sinh động, hấp dẫn
Trang 352.2.9 Chuyển từ dạy học sang tự học
- Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải hình thành cho người học nhu cầu, năng lực, phẩm chất tự học để có thể chuyển dần quá trình dạy học sang quá trình tự học Nghĩa là người học có thể tự mình tìm ra kiến thức cùng với cách khai thác kiến thức bằng hành động của chính mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, tự tổ chức hoạt động học, tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động học của mình
- Trang bị cho người học kỹ năng tự học là góp phần vào việc giúp người học học tập liên tục và học tập suốt đời để không bị lạc hậu trước xu hướng phát triển rất nhanh của thời đại
Biện pháp thực hiện nguyên tắc:
- Thông qua phương pháp giảng dạy của giáo viên mà thúc đầy học sinh thực hiện có hệ thống kỹ năng làm việc độc lập nhằm lĩnh hội những tri thức về khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật mà họ ưa thích
- Trong quá trình dạy học cần chú ý hình thành cho học sinh kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng tự tổ chức, kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh hoạt động tự học của mình Thông qua làm việc độc lập khiến cho học sinh thấy rằng việc tự học không chỉ là công việc của bản thân từng người mà là mối quan tâm chung của cả tập thể lớp, của giáo viên và tập thể sư phạm
- Cần làm cho học sinh hiểu rõ ý nghĩa của việc tự học trong thời đại ngày nay, tìm hiểu những khó khăn mà họ gặp phải trong việc tự học và chỉ cho họ những biện pháp khắc phục
- Cần tận dụng những nội dung dạy học, những hoàn cảnh thuận lợi, nêu các tấm gương tự học để giáo dục học sinh
- Cần tổ chức phong trào tự học trong lớp, trong trường
- Cần tăng dần tỷ trọng về khối lượng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh để khi tốt nghiệp phổ thông, tất cả học sinh phải được hình thành nhu cầu, ý chí đối với tự học và hệ thống những kỹ năng cơ bản cần thiết cho sự tự học
Chú ý: Học viền từ xa tham khảo trong giáo trình 2 nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc thống nhất giữa dạy tập thể và dạy cá nhân (dành riêng cho học viên từ xa)
- Thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học (dành riêng cho học viên từ xa)
3 Mối liên hệ giữa các nguyên tắc dạy học
Các nguyên tắc dạy học liên quan mật thiết với nhau Nội dung của từng nguyên tắc đan kết với nhau,
hỗ trợ nhau nhằm chỉ đạo thực hiện quá trình dạy học đạt hiệu quả
Trong quá trình dạy học, với nội dung và những điều kiện dạy học xác định, có thể coi trọng một nguyên tắc dạy học nào đó, những không có nghĩa là coi nhẹ các nguyên tắc khác mà cần kết hợp các nguyên tắc thành một thể hoàn chỉnh thì mới đạt hiệu quả cap trong dạy học
Chương 8 - NỘI DUNG DẠY HỌC
1 Khái niệm nội dung dạy học
Nội dung dạy học là những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà nắm được chúng sẽ đảm bảo quá trình làm phát triển năng lực trí tuệ và thể chất của học sinh, hình thành thế giới quan và đạo đức, hành vi tương ứng với nó, chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống, và lao động
Nói cách khác: Nội dung dạy học là hệ thống kiến thức khoa học về tự nhiên và kỹ thuật, về xã hội và nhân văn, về tư duy, về nghệ thuật, cùng với hệ thống kỹ năng và kỹ xảo hoạt động vật chất và tinh thần cần trang bị cho học sinh trong học tập
2 Cấu trúc của nội dung dạy học
Nội dung học dạy học bao gồm các bộ phận hợp thành sau đây:
Trang 36- Hệ thống kiến thức lý thuyết toàn diện về khoa học tự nhiên, kỹ thuật, khoa học xã hội-nhân văn, nghệ thuật … được sắp xếp theo một logic chặt chẽ, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, là cơ sở định hướng cho họ phát triển lâu dài trong cuộc sống.
- Hệ thống tri thức văn hóa xã hội về các mối quan hệ gia đình, xã hội, trong lao động sản xuất, trong cuộc sống Hệ thống tri thức này bao gồm cả những kinh nghiệm lao động thực tiễn Những hiểu biết này giúp học sinh trở thành những con người thực tế, gắn bó với cuộc sống xã hội xung quanh
- Hệ thống tri thức về phương pháp nhận thức, phương pháp hoạt động vật chất và tinh thần Các kiến thức này giúp học sinh trở thành những con người thông minh, sáng tạo, biết suy nghĩ và hành động trên cơ
sở kiến thức khoa học, biết xử lý tốt các tình huống mà họ gặp phải
- Hệ thống kỹ năng, kỹ xảo theo chương trình các môn học Trước hết là kỹ năng hoạt động học tập, vận dụng kiến thức vào giải quyết các bài tập thực hành, sáng tạo Cao hơn là hệ thống kỹ năng lao động trí tuệ và vật chất để tạo ra các sản phẩm có giá trị đối với mình, gia đình và cộng đồng Trong quá trình học tập, học sinh cũng được rèn luyện các kỹ năng ứng xử, giao tiếp trong các mối quan hệ xã hội, hình thành thái độ và phong cách sống - nền tảng của nhân cách
2 Môn học, kế hoạch, chương trình dạy học và sách giáo khoa trong trường phổ thông
Như vậy kế hoạch dạy học có tính pháp quy và được thực hiện thống nhất trong các trường phổ thông Việc điều chỉnh kế hoạch dạy học phải được phép của cơ quan có thẩm quyền Giáo viên khi thực hiện nhiệm vụ của mình phải nghiên cứu kế hoạch dạy học chung, từ đó lập kế hoạch dạy học của cá nhân để tiến hành dạy học theo đúng kế hoạch chung đã quy định
2.3 Chương trình dạy học
Chương trình dạy học là văn kiện do Nhà nước ban hành trong đó quy định một cách cụ thể: vị trí, mục tiêu môn học, phạm vi và hệ thống nội dung môn học, số tiết dành cho môn học nói chung, cho từng phần, từng chương, từng bài nói riêng
Chương trình dạy học của cấp học, bậc học được xây dựng từ chương trình dạy học của từng môn học
ở các lớp cụ thể trong cấp học và bậc học đó Chương trình dạy học của từng môn học thường có cấu trúc như sau:
- Vị trí và mục tiêu môn học
- Nội dung môn học
- Phân phối thời gian
- Giải thích chương trình và hướng dẫn thực hiện chương trình
Chương trình dạy học là văn kiện có tính chất pháp quy do Nhà nước ban hành, vì vậy buộc giáo viên phải nghiên cứu để thực hiện đúng quy định, đồng thời Nhà nước và các cấp quản lý GD căn cứ vào đó để tổ chức, quản lý, giám sát hoạt động dạy học của nhà trường và giáo viên
Trong chương trình dạy học đã quy định rõ về vị trí, mục tiêu môn học, giáo viên cần bám sát vào đó
để dạy học đạt mục tiêu đã quy định
Trong một số tài liệu hiện nay có quan niệm chương trình dạy học bao gồm cả kế họach dạy học Trong thực tế vẫn có thể thiết kế một chương trình bao gồm cả kế hoạch trong đó Nhưng ở nước ta, kế hoạch và chương trình dạy học là hai văn bản khác nhau Khi triển khai dạy học, có sự phối hợp giữa việc thực hiện chương trình và kế hoạch, chương trình được triển khai theo kế hoạch
Chương trình dạy học là một thành tố rất quan trọng, hiện nay việc tổ chức đổi mới nội dung dạy học theo hướng hiện đại, cập nhập, phù hợp với thực tiễn, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh thì một trong những vấn đề quyết định là phải xây dựng chương trình đáp ứng được yêu cầu đó
Xây dựng chương trình theo kỹ thuật truyền thống được tiến hành theo hai cách: theo đường thẳng hoặc đồng tâm
Chương trình dạy học được xây dựng đồng tâm đòi hỏi cùng một nội dung nhưng phải lặp đi, lặp lại và ngày càng được mở rộng, đào sâu hơn Ví dụ, môn Lịch sử Việt Nam, ở các lớp dưới cũng dạy về các giai
Trang 37đoạn lịch sử, nhưng hết sức khái quát, càng lên lớp cao, kiến thức càng sâu và rộng hơn Chương trình ở trường phổ thông hiện nay được xây dựng theo kiểu đồng tâm vì điểm mạnh là học sinh được tiếp cận với nhiều vấn đề, việc nghiên cứu sâu và rộng về vấn đề đó là do thời gian học dài hay ngắn.
2.3 Sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác
Sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác dùng chung trong các trường học (phổ thống) do nhà nước quy định
Sách giáo khoa là tài liệu giảng dạy và học tập chính thức của giáo viên và học sinh, trong đó trình bày nội dung của môn học một cách rõ ràng, cụ thể và chi tiết với cấu trúc xác định Sách giáo khoa là hình thái vật chất của môn học, của nội dung học vấn mà môn học thể hiện
Sách giáo khoa trình bày những nội dung cơ bản, những thông tin cần thiết, vừa sức đối với học sinh
và theo một hệ thống chặt chẽ
Sách giáo khoa giúp học sinh lĩnh hội, củng cố, đào sâu những tri thức tiếp thu được trên lớp, phát triển trí tuệ và GD các phẩm chất nhân cách của học sinh Đối với giáo viên, đó là cơ sở để xác định nội dung, lựa chọn phương pháp, phương tiện dạy học để tổ chức tốt công tác dạy học của mình
Ngoài sách giáo khoa, ở trường phổ thông còn có những sách và các tài liệu tham khảo khác cho giáo viên và học sinh Các tài liệu này giúp học sinh mở rộng, bổ sung, đào sâu kiến thức phù hợp với trình độ và hứng thú học tập của mình
Sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác phải đảm bảo các yêu cầu: khoa học, hệ thống, vừa sức học sinh, phù hợp với chương trình, giúp học sinh có phương pháp học tập độc lập, kích thích tư duy, mở rộng tầm hiểu biết của học sinh, rõ ràng, dễ hiểu, gọn, chính xác, đảm bảo yêu cầu vệ sinh, thẩm mỹ, thu hút được học sinh vào phần trọng tâm
3 Phương hướng xây dựng nội dung dạy học
3.1 Định hướng xây dựng nội dung dạy học ở Việt Nam
Đó là các quan điểm của Đảng và Nhà nước về GD, các quan điểm này được thể hiện trong các văn kiện của Đảng, Hiến pháp và pháp luật, Nghị quyết của Quốc hội Những định hướng này thể hiện ở một số nội dung cơ bản sau:
- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục và đào tạo… rà soát lại và đổi mới một bước sách giáo khoa, loại bỏ những nội dung không thiết thực, bổ sung những nội dung cần thiết theo hướng đảm bảo kiến thức cơ bản, cập nhập với tiến bộ khoa học, công nghệ ứng dụng, tăng cường giáo dục kỹ thuật tổng hợp và năng lực thực hành bậc phổ thông…
- Tiếp tục đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo nghị quyết 40/2004/QH 10 của Quốc hội… Giảm tải hợp lý nội dung chương trình ở tiểu học và Trung học cơ sở…
- Nội dung dạy học phải đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống; coi trọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý lứa tuổi học sinh
- Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục, quy định chuẩn kiến thực, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo duc, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo
- Chương trình giáo dục phải đảm bảo tính hiện đại, tính ổn định, tính thống nhất, kế thừa giữa các cấp học, các trình độ đào tạo và điều kiện cho việc phân luồng, liên thông, chuyển đổi các trình độ đào tạo, ngành đào tạo và hình thức giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân…
3.2 Phương hướng cơ bản xây dựng nội dung dạy học hiện nay
- Nội dung dạy học phải phù hợp với mục tiêu GD
- Nội dung dạy học phải đảm bảo tính GD toàn diện và cân đối, trong đó phải coi trọng GD tư tưởng, đạo đức và lối sống văn hóa
- Nội dung phải đảm bảo tính chất kỹ thuật tổng hợp
- Nội dung dạy học phải phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, giới tính, dân tộc, văn hóa của học sinh, chú ý phát huy năng khiếu và sở trường của cá nhân và thích hợp với điều kiện dạy học của nhà trường
Chương 9 - PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
1 Khái quát về phương pháp dạy học
1.1 Khái niệm phương pháp dạy học
Trang 38Thuật ngữ phương phỏp cú nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là Methodos, cú nghĩa là con đường, cỏch thức hoạt động nhằm đạt được mục đớch
Theo G.Hờghen (1770-1831) - nhà triết học duy tõm khỏch quan cổ điển Đức thỡ “phương phỏp là ý thức về hỡnh thức của sự tự vận động bờn trong của nội dung” (cú tài liệu dịch: phương phỏp là hỡnh thức vận động của nội dung sự vật (13;142)) Có nghĩa là khi nhọ̃n thức được quy luọ̃t vọ̃n đụ̣ng của sự vọ̃t hiợ̀n tượng thì sẽ có PP
Phương phỏp hiểu theo nghĩa chung nhất là cỏch thức đạt tới mục tiờu, là hoạt động được sắp xếp theo một trật tự nhất định
Phương phỏp dạy học là cỏch thức hoạt động phối hợp, thống nhất của giỏo viờn và học sinh trong quỏ trỡnh dạy học được tiến hành dưới vai trũ chủ đạo của giỏo viờn, nhằm thực hiện tối ưu mục tiờu và cỏc nhiệm vụ dạy học.(7;204)
1.2 Đặc điểm của phương phỏp dạy học
- Phương phỏp dạy học mang tớnh khỏch quan và chủ quan: mặt khỏch quan là nú bị quy định bởi quy luật vận động của đối tượng mà chủ thể phải ý thức được, trong dạy học đú là cỏc quy luật về tõm sinh lý học sinh, quy luật mà giỏo viờn và học sinh phải ý thức được để sử dụng phương phỏp dạy và học cho phự hợp; mặt chủ quan là việc lựa chọn cỏc thao tỏc, hành động phự hợp với quy luật chi phối đối tượng của mỗi người cú sự khỏc nhau nhất định
- Phương phỏp dạy học chịu sự chi phối của mục đớch dạy học
- Phương phỏp dạy học chịu sự chi phối của nội dung dạy học
- Hiệu quả của phương phỏp dạy học phụ thuộc vào trỡnh độ nghiệp vụ sư phạm của giỏo viờn
- Hệ thống cỏc phương phỏp dạy học ngày càng hoàn thiện và phỏt triển phự hợp với bối cảnh xó hội, giỳp học sinh phỏt triển tư duy sỏng tạo, khả năng tự học và thớch ứng
- Theo nhiệm vụ cơ bản của lí luận dạy học - M.A Danilov và B.P Expov
Các phơng pháp truyền thụ kiến thức; hình thành kĩ năng; kĩ xảo; ứng dụng tri thức; hoạt động sáng tạo củng cố; kiểm tra.
I.Ia Lecne - phân loại theo đặc điểm hoạt động nhận thức của học sinh
1 Giải thích - minh hoạ
+ Các phơng pháp kiểm tra và đánh giá kết quả học tập.
Sau đõy là những phương phỏp hiện đang được sử dụng phổ biến trong nhà trường hiện nay
2.1 Nhúm phương phỏp chủ yếu dựng ngụn ngữ
Nhóm PP này bao gụ̀m các PP cụ thờ̉ sau:
- PP thuyờ́t trình
- PP Vṍn đáp
- PP Sử dụng SGK, tài liợ̀u tham khảo
- PP nờu và giải quyờ́t vṍn đờ̀
2.1.1 Phương phỏp thuyết trỡnh
- Phương phỏp thuyết trỡnh (PPTT) là phương phỏp dạy học bằng lời núi sinh động của giỏo viờn để trỡnh bày tài liệu mới hoặc tổng kết những tri thức mà học sinh đó thu lượm được một cỏch cú hệ thống (5;77)
Trang 39- PPTT là phương pháp giáo viên dùng lời nói để trình bày, giải thích nội dung bài học một cách có hệ thống, lôgic cho học sinh tiếp thu.(7;207)
PPTT có lịch sử lâu đời và hiện nay vẫn đang được sử dụng phổ biến vì nó vẫn có cơ sở để tồn tại Trong quá trình thuyết trình, giáo viên có sử dụng việc mô tả, trần thuật, kể chuyện, giải thích
- Kể chuyện là giáo viên tường thuật lại các sự kiện, hiện tượng một cách hệ thống và thường được sử dụng trong các môn xã hội có yếu tố mô tả và trần thuật
- Giải thích là giáo viên dùng những luận cứ, những số liệu để chứng minh, làm sáng tỏ vấn đề, giúp học sinh hiểu được nội dung kiến thức cần lĩnh hội
- Có khả năng cung cấp cho học sinh những thông tin cập nhập chưa kịp trình bày trong sách giáo khoa
và tài liệu tham khảo
- Trong quá trình thuyết trình, giáo viên có thể thay đổi các thủ thuật, nội dung bài thuyết trình cho phù hợp với đối tượng học Người có khả năng thuyết trình tốt có thể truyền cảm hứng, tác động mạnh mẽ đến tình cảm, thu hút được sự chú ý và làm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
- Thông qua cấu trúc, lôgic bài thuyết trình, giáo viên có thể gián tiếp giúp học sinh học được phương pháp nhận thức, phương pháp tổng hợp và cấu trúc tài liệu
* Hạn chế:
- Thu được ít thông tin phản hồi từ phía học sinh, do chủ yếu là truyền thụ một chiều
- Chủ yếu sử dụng cơ chế ghi nhớ và tưởng tượng tái tạo ở học sinh, vì vậy dễ dẫn tới sự mệt mỏi, mức
độ lưu giữ thông tin ít nếu như không có sự bổ trợ ghi nhớ
- Tính cá thể hóa trong dạy học thấp vì chủ yếu là thuyết trình cho cả lớp
- Ít có sự tham gia tích cực của học sinh Học sinh gần như thụ động trong việc tiếp nhận thông tin mà không có cơ hội trao đổi, bày tỏ suy nghĩ, quan điểm của mình
- Nếu bài thuyết trình đơn điệu thì thời gian duy trì và thu hút sự chú ý của học sinh vào nội dung bài học thấp hơn các phương pháp khac
- Sử dụng riêng phương pháp này sẽ không phù hợp với việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo vì học sinh không có cơ hội thực hành mà chỉ phù hợp với việc cung cấp lý thuyết thực hành, vì vậy phải kết hợp cùng các phương pháp khác khi muốn hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh
• Cấu trúc bài thuyết trình:
PPTT là một trong những cách để truyền tải nội dung bài học đến học sinh Trong thực tế không có PPTT tồn tại tách riêng với nội dung thuyết trình Việc sử dụng PPTT để truyền tải nội dung bài học tới học sinh sẽ tạo ra bài thuyết trình
Một bài thuyết trình khoa học, chặt chẽ bao gồm có 3 phần gồm: Phần nêu khái quát nội dung thuyết trình- phần mở đầu; Phần thuyết trình những nội dung chi tiết, cụ thể- nội dung chính của bài thuyết trình; Phần kết luận
- Phần 1: Là phần mở đầu của bài thuyết trình, có tính chất định hướng cho học sinh, gợi mở, dẫn dắt học sinh vào bài Trong phần này, giáo viên cần tạo được sự liên kết giữa kiến thức, kinh nghiệm đã có của học sinh với những thông tin mới sẽ cung cấp qua bài thuyết trình
- Phần 2: Đây là phần chính của bài thuyết trình, giáo viên có thể sử dụng cách trình bày theo lối diễn dịch (đi từ cái chung đến cái riêng) hoặc quy nạp (đi từ cái riêng đến cái chung), giáo viên cũng cần cấu trúc bài thuyết trình thành những đơn vị kiến thức truyền thụ và sắp xếp chúng theo một trình tự hợp lý Trong mỗi phần cần dự kiến kỹ thuật thuyết trình và các kỹ thuật hỗ trợ khác (câu hỏi, các phương tiện, mô hình
…) Sau mỗi phần hoặc sau nội dung quan trọng cần tóm tắt, nhấn mạnh cho người đọc dễ hiểu, dễ ghi chép
và nhớ
- Phần kết: Trong phần này, giáo viên cần tóm tắt nội dung đã trình bày, chính xác hóa kiến thức, chỉ ra phương hướng vận dụng, yêu cầu học sinh nêu các câu hỏi, vấn đề nếu có, gợi mở những vấn đề cần tiếp tục suy nghĩ và giải quyết, điều chỉnh những lỗi học sinh mắc phải trong lúc nghe giảng …
Trang 40• Yêu cầu khi sử dụng PPTT:
- Sử dụng ngôn ngữ phù hợp với nội dung khoa học trong bài thuyết trình, ngôn ngữ rõ, gọn, giản dị, tự nhiên, giàu hình tượng, chuẩn xác, xúc tích
- Phát âm với tốc độ vừa phải Theo nghiên cứu, hầu hết mọi người nói ở tốc độ khoảng 100-200 từ mỗi phút, như vậy một giờ nói có thể đạt tới 1200 từ Trong khi đó trí nhớ ngắn hạn của người chỉ có thể tiếp nhận 800-1000 từ Vì vậy giảng viên giảng quá nhanh sẽ có tình trạng học sinh không thể tiếp nhận tốt Không nên nói quá nhanh, mà nói vừa phải, không nên nói quá nhỏ, quá đều đều, phải biết nhấn mạnh, lên giọng đúng chỗ, đúng lúc để thu hút người nghe, tránh sự đơn điệu Có lúc nên ngừng lại vừa đủ để thông tin ngấm vào người nghe Một giọng nói đều đều, kéo dài là liều thuốc ngủ tốt cho người nghe trong buổi thuyết trình
- Trong bài thuyết trình giáo viên có thể kết hợp ngôn ngữ với phong cách, điệu bộ, nét mặt, cử chỉ, các câu chuyện vui đúng mức để thu hút sự chú ý của học sinh Phong cách tự nhiên, gần gũi, bao quát …
- Trình bày phải làm cho học sinh ghi chép được những nội dung cơ bản và qua đó tập cho học sinh có
kỹ năng vừa ghi vừa nghe giảng
2.1.2 Phương pháp vấn đáp (PPVĐ) (hỏi đáp, đàm thoại)
Trong quá trình dạy học, để tích cực hóa hoạt động nhận thức và sử dụng kinh nghiệm đã có của học sinh, giáo viên thường sử dụng hệ thống các câu hỏi đặt ra cho học sinh Cũng có khi để hiểu sâu và rộng hơn một vấn đề nào đó, học sinh cũng đưa ra câu hỏi cho giáo viên Đó là việc sử dụng phương pháp vấn đáp trong dạy học
Vấn đáp là phương pháp dạy học mà trong đó giáo viên tổ chức, thực hiện quá trình hỏi và đáp giữa giáo viên và học sinh nhằm làm sáng tỏ những tri thức mới, rút ra những kết luận cần thiết từ tài liệu đã học, hoặc từ kinh nghiệm trong thực tiễn Yếu tố quyết định trong phương pháp này là hệ thống câu hỏi
* Điểm mạnh:
- Là cách thức tốt để kích thích tư duy độc lập của học sinh
- Giúp cho người hoc hiểu nội dung học chứ không phải là học vẹt, học thuộc
- Tạo cho lớp học có không khí sôi nổi, lôi cuốn học sinh tham gia xây dựng bài
- Cho phép giáo viên và học sinh thu được những thông tin phản hồi từ học sinh Qua đó có thể đánh giá được mức độ hiểu bài, mức độ tiến bộ, chẩn đoán những vướng mắc, khó khăn của học sinh Phát hiện những ý tưởng sai của học sinh để kịp thời chấn chỉnh
- Tạo điều kiện cho học sinh hình thành và phát triển kỹ năng nói, trình bày ý tưởng và học hỏi lẫn nhau
* Hạn chế:
- Hạn chế lớn nhất là rất khó soạn thảo và sử dung hệ thống câu hỏi gợi mở và dẫn dắt học sinh đi đến kết quả cuối cùng theo một chủ đề nhất định Vì vậy đòi hỏi người dạy phải có sự đầu tư, chuẩn bị rất công phu, nếu không kiến thức của học sinh thu được qua trao đổi sẽ thiếu hệ thống, tản mạn
- Quá trình giải quyết vấn đề tốn nhiều thời gian Cùng một vấn đề cần làm cho học sinh chiếm lĩnh được thì việc sử dụng phương pháp vấn đáp thường kéo dài hơn so với thuyết trình
- Trong quá trình vấn đáp, giáo viên thường khó kiểm soát hết những tình huống xảy ra, nếu giáo viên không có kinh nghiệm sẽ dễ bị đi lạc hướng chủ đề ban đầu
- Cách đặt câu hỏi và điều khiển lớp học không tốt sẽ dễ biến thành cuộc trao đổi tay đôi giữa giáo viên
và một hoặc một vài học sinh, còn đa số học sinh là người đứng ngoài cuộc
Việc sử dụng PPVĐ trong dạy hoc, hệ thống câu hỏi đóng vai trò quyết định sự thành công, sau đây sẽ nghiên cứu cụ thể về câu hỏi trong dạy học
• Các loại câu hỏi trong dạy học
Có nhiều loại câu hỏi được sử dụng trong dạy học và cũng có nhiều cách phân loại Thực ra cách phân loại chỉ là tương đối, vấn đề quan trọng là mục đích sử dụng, trình độ soạn thảo, chất lượng câu hỏi Sau đây
là một số cách phân loại và một số câu hỏi phổ biến:
- Phân loại theo chức năng câu hỏi trong hoạt động dạy học có thể chia làm 3 nhóm: nhóm câu hỏi gợi
mở, định hướng và dẫn dắt học sinh; nhóm câu hỏi chẩn đoán, thăm dò và đánh giá; nhóm câu hỏi kích thích, động viên người trả lời