* Nhà giáo dục: giữ vai trò chủ thể của hoạt động GD, là người tổ chức, định hướng các loại hình hoạt động và giao lưu cho người được GD để hình thành nhân cách cho họ.. Kết quả giáo dục
Trang 1CHƯƠNG V:
ĐÁNH GIÁ KẾT QỦA HỌC TẬP CỦA HS
1 Ý nghĩa của việc kiểm tra, đánh giá
- Về việc phát triển năng lực nhận thức: Thông qua KT-ĐG HS có điều kiện để tiến hành các HĐ trí tuệ như: ghi nhớ, tại hiện, hệ thống hoá, khái quát hoá tri thức, PT năng lực tư duy, năng lực vận dụng KT đã học vào các tình huống khác nhau
- Về mặt giáo dục: KT- ĐG nếu được tổ chức nghiêm túc sẽ hình thành cho HS động cơ học tập đúng đắn, nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý chí vươn lên, củng cố niềm tin vào bản thân, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tính chủ quan trong học tập
2 Đối với giáo viên
Việc KT- ĐG kết hợp với việc theo dõi thường xuyên sẽ giúp GV nắm được thông tin ngược từ phía HS để điều chỉnh HĐ dạy của mình Cụ thể: giúp GV nắm được một cách chính xác và cụ thể năng lực và trình độ của mỗi HS trong lớp mình phụ trách để có biện pháp giúp đỡ riêng cho phù hợp với từng đối tượng, qua đó nâng cao chất lượng học tập chung của cả lớp
3 Đối với cán bộ quản lí các cấp
KT - ĐG HS cung cấp cho cán bộ QL các cấp những thông tin cơ bản về thực trạng dạy và học trong một đơn vị GD để có những chủ trương, biện pháp chỉ đạo kịp thời nhằm duy trì và phát triển chất lương dạy học
Tóm lại, đánh giá thực hiện 3 chức năng cơ bản:
- Chức năng quản lí: Xếp loại hoặc tuyển chọn người học; duy trì và PT chuẩn chất lượng
- Kiểm soát và điều chỉnh hoạt động dạy - học
- Giáo dục và phát triển người học
II Yêu cầu sư phạm đối với việc KT- ĐG
1 Đảm bảo tính khách quan, công bằng
Việc đánh giá kết quả học tập của HS phải khách quan và chính xác, tạo điều kiện
để mỗi HS bộc lộ hết khả năng, trình độ của mình, ngăn chặn mọi biểu hiện thiếu
Trang 2trung thực Việc đánh giá phải sát với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học, tránh những nhận định chủ quan, áp đặt, thiếu căn cứ Kết hợp nhiều phương pháp và kĩ thuật đánh giá khác nhau: kết hợp đánh giá bằng định tính và bằng định lượng, kĩ thuật đánh giá truyền thống và hiện đại
2 Đảm bảo tính toàn diện
Nội dung KT- ĐG cần bao quát được toàn bộ các nội dung trọng tâm không chỉ về mặt số lượng mà quan trọng là chất lượng, không chỉ về mặt kiến thức mà cả về kĩ năng, thái độ, tư duy Công cụ đánh giá cần đa dạng, không chỉ đo lường khả năng tái hiện mà đánh còn đánh giá khả năng phân tích, tổng hợp, suy luận
3 Đảm bảo tính hệ thống
Việc KT- ĐG cần phải được tiến hành theo kế hoạch, có hệ thống Đánh giá trước, trong và sau khi học học một phần của chương trình Kết hợp với theo dõi thường xuyên với kiểm tra đánh giá định kì và đánh giá tổng kết cuối năm học, cuối khoá học Số lần KT phải đủ mức để có thể đánh giá chính xác cả quá trình học tập của HS
4 Đảm bảo tính công khai
Việc tổ chức KTĐG phải được tiến hành công khai, kết quả phải được công bố kịp thời để mỗi HS có thể tự đânh giá, xếp hạng trong tập thể
III Các PP kiểm tra, đánh giá
1 Quan sát
Là PP đánh giá phổ biến Nó thuận lợi cho việc thu thập thông tin để đánh giá về giá trị và thái độ, các hoạt động thực hành của HS, nhất là đối với HS nhỏ tuổi Có
2 kiểu QS:
- QS quá trình: là theo dõi hoặc lắng nghe HS đang thực hiện các HĐ học tập
- QS sản phẩm: là xem xét sản phẩm học tập của HS sau một hoạt động
* Phiếu kiểm kê (bảng kiểm): dùng để theo dõi mức độ thành thạo của HS về một
kĩ năng học tập nào đó, như kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, kĩ năng sử dụng SGK, làm thí nghiệm, thực hành
* Thang mức độ: cũng giống như phiếu kiểm kê, song nó có yêu cầu cao phiếu kiểm kê ở chỗ kí năng của HS được xếp hạng theo thang 3 hoặc 5 bậc
2 Kiểm tra nói (kiểm tra miệng, vấn đáp)
PP kiểm tra nói được áp dụng rộng rãi trong hình thức KT thường xuyên và đánh giá từng phần PP này được được sử dụng trong các bước kiểm tra bài cũ, trong quá trình dạy bài mới, củng cố bài học, ôn tập…
* Ưu điểm:
Nó cung cấp cho GV những thông tin ngược từ phía HS một cách kịp thời để điều chỉnh hoạt động dạy của mình, nắm được trình độ của HS trong lớp
Trang 3* Hạn chế: Trong một tiết học GV chỉ có thể kiểm tra được một số HS nhất định
* Yêu cầu:
- GV cần nghiên cứu kĩ những kiến thức cơ bản của bài, nắm chắc yêu cầu của chương trình Dung lượng kiến thức trong mỗi câu hỏi vừa phải, sát với trình độ của HS
- Câu hỏi nêu ra cho HS phải rõ ràng, chính xác, ngắn gọn, dễ hiểu Bên cạnh câu hỏi chính cần dự kiến câu hỏi bổ sung, chú ý năng lực vận dụng kiến thức, sự sáng tạo trong câu trả lời của HS
- Sau khi nêu câu hỏi chung cho cả lớp cần dành thời gian cho HS suy nghĩ, rồi mới chỉ định trả lời
- Cần lưu ý đến thái độ của GV khi HS trả lời câu hỏi
- Trước khi công bố điểm cho HS cần có nhận xét ưu khuyết điểm trong câu trả lời
3 Trắc nghiệm
TN trong GD là một PP đo để thăm dò một số đặc điểm năng lực trí tuệ của HS (chú ý, trí nhớ, năng khiếu…), hoặc để kiểm tra, đánh giá một số KT, KN, thái độ của HS
Bài KT tự luận có thể thực hiện ở đầu hay cuối tiết học, hoặc trọn 1 tiết học, sau 1 chương hay 1 phần của chương trình, hoặc trong vài tiết cuối HK hay cuối năm học
* Ưu điểm:
- Hiệu quả kinh tế cao hơn so với KT miệng: cùng một lúc có thể KT tất cả HS trong lớp, do đó đánh giá được trình độ chung, đề TL có thể đề cập nhiều vấn đề nhằm đánh giá HS ở nhiều mặt hơn
- Có thể đánh giá được khả năng tư duy, khả năng diễn đạt bằng văn viết, thái độ của HS (nhất là đối với các lĩnh vực KHXH)
* Hạn chế: Mang tính chủ quan từ phía người chấm, do đó khó đảm bảo tính công bằng, chính xác
- Đề thi chỉ có thể đề cập một số KT mấu chốt nào đó trong chương trình rất dài,
dễ làm cho HS học tủ, học lệch Đồng thời khó có điều kiện đánh giá kĩ năng như thực hành, TN của HS
- Mất thời gian cho việc tổ chức thi, chấm thi
Trang 4gian qui định làm bài, bao quát được những thành phần kiến thức khác nhau của môn học
Câu hỏi trong đề KT phải phân hoá được trình độ của HS (đòi hỏi cả khả năng tại hiện, và khả năng phân tích, tổng hợp, sáng tạo)
- Việc tổ chức KT phải nghiêm túc, GD cho HS tính trung thực, thói quen tự KT
- Bài làm của HS cấn được chấm kĩ, trả sớm, cần chỉ rõ các sai sót, nhận xét ưu, khuyết điểm
3.2.2 Các loại câu hỏi TNKQ
* Câu ghép đôi (matching items): đòi hỏi thí sinh phải ghép đúng từng cặp nhóm từ
ở hai cột với nhau sao cho phù hợp về ý nghĩa
Ví dụ: Câu TN về Lịch sử: (Về văn học, khoa học thời Hậu Lê)
Hãy tìm tên tác giả ở cột bên phải phù hợp với tên tác phẩm ở cột bên trái:
1 Hồng Đức quốc âm thi tập a Nguyễn Trãi
2 Dư Địa chí b Lương Thế Vinh
3 Đại thành toán pháp c Lê Thánh Tông
4 Đại Việt sử kí toàn thư d Lê Văn Hưu
đ Ngô Sĩ Liên
Loại câu này thích hợp cho việc kiểm tra một nhóm kiến thức liên quan, gần gũi, chủ yếu là kiến thức sự kiện
Khi biên soạn loại câu TN này cần lưu ý:
- Dãy thông tin nêu ra không nên quá dài, nên thuộc cùng một loại, có liên quan với nhau, HS có thể dễ nhầm lẫn
- Cột câu hỏi và cột trả lời không nên bằng nhau, nên có câu trả lời dư ra để HS có thể cân nhắc khi lựa chọn
- Thứ tự các câu trả lời không ăn khớp với thứ tự các câu hỏi để gây thêm khó khăn cho sự lựa chọn
- Câu hỏi và câu trả lời nên nằm trong cùng một trang để HS đỡ nhầm lẫn
* Câu điền khuyết (Supply items):
Là loại câu mà câu dẫn có để một vài chỗ trống, HS phải điền vào chỗ trống những
từ thích hợp
Loại câu này dễ xây dựng nhưng tính khách quan khi chấm giảm, do đó cũng khó chấm Khi biên soạn loại TN này cần lưu ý:
- Từ phải điền nên là từ có ý nghĩa nhất trong câu
- Mỗi chỗ trống chỉ có thể diền một từ hay một cụm từ thích hợp
Trang 5- Mỗi câu nên chỉ có một hoặc hai chỗ để trống, được bố trí ở giữa câu hoặc cuối câu các khoảng trống nên có độ dài bằng nhau để HS không đoán được từ phải điền là dài hay ngắn
* Câu đúng sai (yes/no questions): đưa ra 1 nhận định, HS phải lựa chọn 1 trong 2
phương án trả lời để khẳng định nhận định đó là đúng hay sai
- Đảm báo tính chính xác của câu dẫn là đúng hay sai
- Mỗi câu TN chỉ nên diễn tả một ý độc nhất
- Không nên trích những câu nguyên văn trong SGK
- Trong một bài TN không nên bố trí câu đúng bằng số câu sai, không nên sắp đặt các câu đúng theo một trật tự có tính chu kì
* Câu nhiều lựa chọn (Multiple choise questions):
Câu hỏi loại này gồm có 2 phần: phần đầu được gọi là phần dẫn, nêu ra vấn đề, cung cấp thông tin cần thiết hoặc nêu 1 câu hỏi, phần sau là các phương án để chọn, thường được đánh dấu bằng a,b,c,d hoặc 1,2,3,4 Trong các phương án để chọn chỉ
có một đúng nhất, các phương án khác được đưa vào có tác dụng gây nhiễu (distractor) đối với HS
VD về câu TN Vật lí:
1 viên bi được ném lên theo phương thẳng đứng Sức cản của không khí không đáng kể Trong quá trình chuyển động, gia tốc của viên bi có hướng từ trên xuống:
a Chỉ khi viên bi đi lên
b Chỉ khi viên bi ở điểm cao nhất của quĩ đạo
c Chỉ khi viên bi đi lên và khi đi xuống
d Khi viên bi đi lên, khi ở điểm cao nhất của quĩ đạo và khi đi xuống
* Ưu điểm:
- Loại câu TN nhiều lựa chọn có thể dùng để đo lường mức độ đạt được ở nhiều loại mục tiêu giáo dục quan trọng: hiểu biết, phê phán, khả năng giải quyết vấn đề, khả năng phán đoán …
- Nó phát huy được tính tích cực nhận thức của HS, giúp phân biệt được HS khá, giỏi
- Trong các loại câu TN, loại câu NLC được sử dụng phổ biến hơn cả vì chúng có cấu trúc đơn giản, dễ xây dựng thành các bài thi, dễ chấm điểm
* Nhược điểm: Khó thiết kế: Không phải bất cứ ai có kiến thức chuyên môn cũng viết được câu TN có chất lượng cao cho chuyên môn đó Một GV phải có trình độ
Trang 6cũng như kinh nghiệm mới có thể viết được những câu hay, đúng chuẩn kĩ thuật Đồng thời viết loại câu này công phu, mất nhiều thời gian
* Một số điểm lưu ý:
- Phần dẫn có thể là 1 câu hỏi, hoặc 1 câu bỏ lửng và phần lựa chọn là đoạn bổ sung
để phần gốc trở nên đủ nghĩa
- Phần lựa chọn nên từ 3-5 câu
- Làm sao cho các phương án nhiễu đều có vẻ “có lí” và “hấp dẫn” như phương án đúng nhằm phân biệt HS khá, giỏi, TB
- Trong 1 câu hỏi không nên có 2 phương án trả lời đều là đúng nhất mà chỉ 1 phương án duy nhất đúng
3.2.3 Ưu nhược điểm của TNKQ
a Ưu điểm:
- Tính khách quan lớn, việc cho điểm là khách quan chứ không phụ thuộc ý chủ quan của người chấm, do đó độ chính xác cao, đảm bảo tính công bằng khách quan
- Bài thi bao trùm được chương trình học mà HS cần nắm vững, do đó tránh được trình trạng học tủ, học lệch của HS
- Triển khai thi nhanh, ít tốn công chấm thi
- áp dụng được công nghệ mới trong việc nâng cao chất lượng kì thi, giữ bí mật
đề thi, hạn chế tiêu cực trong chấm thi
b Nhược điểm:
- Không đánh giá được tư tưởng, tính cảm, thái độ và khả năng diễn đạt của HS của HS đối với vấn đề kiểm tra như đề tự luận
- Không đánh giá được khả năng tư duy ở mức độ cao như tự luận
- HS dễ thông tin cho nhau về kết quả của câu hỏi
- Soạn thảo câu hỏi TNKQ mất nhiều thời gian và công sức: một đề TNKQ gồm rất nhiều câu hỏi, để hình thành một đề thi TNKQ cần nhiều thời gian hơn so với hình thành một đề thi tự luận
4 Đánh giá, xếp loại học lực của HS
(Theo các văn bản hướng dẫn của bộ GD - ĐT)
Câu hỏi ôn tập và tự học
1 Phân tích ý nghĩa của đánh giá kết quả học tập của HS
2 Trình bày các nguyên tắc đánh giá kết quả học tập của HS
3 Tự luận là gì? Phân tích ưu, nhược điểm của tự luận
4 Trắc nghiệm khách quan là gì? Trình bày các loại cấu TNKQ và cho ví dụ minh hoạ
5 Tìm hiểu các qui định về đánh giá, xếp loại học lực HS của Bộ GD - ĐT (cấp tiểu học, THCS, THPT)
Trang 7PHẦN III LÝ LUẬN GIÁO DỤC
CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC (THEO NGHĨA HẸP)
I Quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp)
1 Khái niệm
QTGD là một bộ phận của quá trình sư phạm (QTSP) tổng thể Đó là quá trình được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành và phát triển ở học sinh ý thức, tình cảm, các thói quen và hành vi chính trị- xã hội, đạo đức phù hợp với các chuẩn mực xã hội
2- Cấu trúc của QTGD: QTGD tồn tại với tư cách là một hệ thống bao gồm
nhiều thành tố cấu trúc khác nhau: các thành tố này diễn ra dưới ảnh hưởng tự phát,
tự giác của môi trờng tự nhiên, hoàn cảnh xã hội và điều kiện gia đình Các thành
+ Hình thành ở học sinh những thói quen, hành vi xã hội đúng đắn
* Nội dung giáo dục: Được qui định bởi hệ thống các chuẩn mực xã hội mà học sinh cần lĩnh hội, tạo nên hoạt động của nhà giáo dục, người được giáo dục
* Phương pháp, phương tiện giáo dục: Hệ thống các cách thức, phương tiện, biện pháp tác động đến lĩnh vực nhận thức, tình cảm, thái độ hành vi của học sinh theo những mục tiêu giáo dục đã đề ra
* Nhà giáo dục: giữ vai trò chủ thể của hoạt động GD, là người tổ chức, định hướng các loại hình hoạt động và giao lưu cho người được GD để hình thành nhân cách cho họ
* Người được giáo dục: Vừa là chủ thể vừa là đối tượng của QTGD QTGD chỉ đạt hiệu quả cao khi có sự tham gia tự giác, tích cực, chủ động sáng tạo của người được GD kết hợp với sự lãnh đạo sư phạm một cách khoa học của nhà GD
* Kết quả giáo dục: Là nhân tố cuối cùng của QTGD, nó là điểm kết thúc một chu trình giáo dục đã qua và là điểm mở đầu cho một chu trình giáo dục tiếp theo Kết quả giáo dục phản ánh sự vận động và phát triển không ngừng của QTGD, nhưng biểu hiện tập trung nhất ở sự hình thành và phát triển một bước các phẩm chất nhân cách của người được giáo dục
Trang 8Kết quả giá dục càng tiến gần tới mục đích, nhiệm vụ giáo dục đã đề ra từ ước thì QTGD càng đạt đến mức độ tối ưu
- Sự hưởng ứng một cách tích cực, chủ động của người được giáo dục đối với các tác động đó nhằm tự hoàn thiện nhân cách của bản thân
* QTGD được diễn ra thông qua việc nhà giáo dục tổ chức các loại hình hoạt động và giao lưu, các mối quan hệ có thực trong đời sống thực tiễn cho học sinh, thông qua đó, học sinh tiếp thu các giá trị văn hoá, chính trị, đạo đức của nhân loại
* QTGD luôn tạo điều kiện cho học sinh cọ xát với thực tiễn để các em vừa tiếp thu các giá trị văn hoá, đạo đức, thẩm mỹ tích cực, vừa đấu tranh để xoá bỏ các nét tiêu cực dưới sự tổ chức, hướng dẫn của nhà giáo dục
Từ đó chúng ta có thể rút ra bản chất của QTGD: Bản chất của QTGD là quá trình nhà giáo dục tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho học sinh nhằm giúp họ nhận thức đúng, tạo lập tình cảm và thái độ đúng, hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống, phù hợp với các chuẩn mực xã hội
III Đặc điểm của QTGD:
* QTGD có tính phức tạp:
QTGD là một quá trình xã hội, nó không diễn ra trong một không gian khép kín Vì vậy nó chịu sự tác động của nhiều nhân tó khác nhau: các nhân tố chủ quan, khách quan: ảnh hưởng tự phát, tự giác của MTKT, XH, chính trị, tư tưởng, VH, các đặc điểm tâm lý, phong tục tập quán
Ngay trong phạm vi nhà trường, QTGD cũng chịu sự tác động của nhiều yếu
tố như: Cảnh quan, nếp sống VH của giáo viên, của bạn bè, các nội qui, qui chế
Có thể nói có bao nhiêu quan hệ ở nhà trường và ngoài xã hội mà học sinh tham gia thì có bấy nhiêu tác động đến học sinh Trong việc dạy học, không có những ảnh hưởng của tác động bên ngoài đối lập với việc dạy học của giáo viên Nhưng trong công tác giáo dục không phải bao giờ cũng vậy, giáo viên trong nhà trường dạy một điều, nhưng tác động của MTXH bên ngoài lại khác Điều này làm
Trang 9cho quá trình rèn luyện và tu dưỡng của học sinh trở nên phức tạp, nhà giáo dục do
đó cũng khó theo dõi, quản lý và chỉ đạo QTGD học sinh hơn Người được giáo dục cũng đòi hỏi phải tự ý thức, tự giáo dục cao hơn, có sự tự định hướng tốt hơn,
có bản lĩnh hơn
Vì vậy, để QTGD đạt kết quả tối ưu nhà giáo dục phải biết tổ chức, điều khiển và phối hợp một cách đồng bộ và có định hướng các tác động chủ quan, khách quan đối với QTGD, nhằm phát huy các ảnh hưởng tích cực, ngăn ngừa, đẩy lùi các ảnh hưởng tiêu cực trên cơ sở phát huy vai trò chủ thể tích cực của học sinh Hay nói cách khác, do tính phức tạp của QTGD đòi hỏi nhà giáo dục và người được giáo dục phải tăng cường tính kiểm soát đối với QTGD
*- QTGD có tính lâu dài: QTGD luôn hướng tới mục đích là làm chuyển hoá
và phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách của học sinh từ ý thức đến tình cảm, đến niềm tin, hành vi, thói quen Thực chất đó là quá trình cải biến và phát triển các yếu tố tâm lý- ý thức trong mỗi cá nhân
Quá trình đó bao gồm sự tiếp nhận tự giác những cái mới tích cực, vừa đấu tranh loại bỏ những cái sai lầm, thiếu tiến bộ
QT đó đòi hỏi sự luyện tập và rèn luyện lâu dài Vì những phẩm chất, hành
vi, thói quen tốt không thể được hình thành trong khoảnh khắc mà đòi hỏi phải ược rèn luyện thường xuyên, bền bỉ theo một kế hoạch nhất định, kết hợp với quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện của học sinh Để hình thành được những thói quen, hành vi tốt, ngoài sự nổ lực, ý chí cao độ của nhà giáo dục và người được giáo dục, còn đòi hỏi một thời gian nhất định
đ-Thực tế cho thấy thiết lập được cái mới còn khó, xoá bỏ một thói quen cũ càng khó
Vì vậy, giáo dục là suốt đời và cần được thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc, cần tiến hành một cách bền bỉ, liên tục, có hệ thống trong một thời gian nhất định, đòi hỏi nhà giáo dục và người được giáo dục phải kiên trì nhẫn nại, tránh tình trạng vội vàng, nôn nóng đốt cháy giai đoạn
*- QTGD có tính cụ thể, phù hợp với từng cá nhân và theo từng tình huống
giáo dục riêng biệt
Mọi nhân tố bên ngoài khi tác động đến nhân cách thường được khúc xạ qua những điều kiện bên trong được xác định bởi những yếu tố tâm lý, tính cách, phẩm chất, thái độ mà học sinh được kế thừa và hình thành trong cuộc sống
Trong khi có những phẩm chất đạo đức chung và những kiểu mẫu hành vi
mà nhà giáo dục cố gắng hình thành, bồi dưỡng cho học sinh và học sinh phải đạt được thì mỗi em là những cá thể với những nét tính cách, tâm lý riêng, phản ứng theo cách riêng của mình Vì vậy, trong QTGD phải tính đến đặc điểm của từng đối tượng học sinh, phải chú ý tới những hoàn cảnh môi trường xung quanh, trên cơ sở
đó lựa chọn những biện pháp tác động cho phù hợp, phải hiểu rõ đối tượng giáo dục Bởi lẽ, "muốn giáo dục con người về mọi phương diện phải hiểu con người về mọi phương diện" (Usinxki)
*- QTGD có tính biện chứng:
Trang 10- QTGD luôn vận động, phát triển không ngừng bởi sự tác động lẫn nhau giữa các thành tố cấu trúc của nó Ngoài ra, đối tượng giáo dục là những con người đang trưởng thành, phát triển trong những hoàn cảnh, điều kiện luôn biến đổi Vì vậy, QTGD luôn có sự xuất hiện và giải quyết những mâu thuẫn Ví dụ: mâu thuẫn giữa yêu cầu chung của xã hội với xu hướng, nguyện vọng riêng của mỗi cá nhân; mâu thuẫn giữa sự hiểu biết và thái độ của học sinh với các vấn đề đạo đức, pháp luật, giữa những yêu cầu đối với học sinh và kha năng thực hiện chúng
- Thể hiện ở sự không tương ứng và ăn khớp giữa nhận thức và hành vi của học sinh Nhiều khi các em hiểu và nhận thức được rằng mình hành động nh vậy là xấu nhưng vẫn không thắng nổi bản thân và có hành động không đúng
*- QTGD gắn bó chặt chẽ với QTDH, nhưng GD và DH không đồng nhất
GD và DH cùng có một mục đích là hình thành và phát triển nhân cách Nhưng mỗi quá trình có chức năng riêng Dạy học là quá trình điều khiển được, còn QTGD rất phức tạp và khó kiểm soát
IV Động lực của QTGD:
QTGD cũng như các quá trình xã hội khác luôn vận động và phát triển và trong quá trình vận động phát triển đó nó luôn giải quyết các mâu thuẫn
- Các mâu thuẫn bên ngoài:
+ Mâu thuẫn giữa QTGD với môi trường KT, VH, chính trị, XH…
+ Mâu thuẫn giữa yêu cầu của XH với nhân cách con người mà giáo dục đào tạo ra
- Mâu thuẫn bên trong: Mâu thuẫn giữa các nhân tố của QTGD với nhau: + Mâu thuẫn giữa mục đích, nhiệm vụ giáo dục nâng cao nhưng nội dung, phương pháp giáo dục chưa đổi mới
+ Mâu thuẫn giữa yêu cầu giáo dục ngày càng cao do tiến trình giáo dục đề
ra và trình độ tự giáo dục của học sinh còn hạn chế
+ Mâu thuẫn trong bản thân nhà giáo dục và người được giáo dục: ở nhà giáo dục thì thiếu sự thống nhất giữa lời nói với việc làm; ở người được giáo dục thì giữa nhận thức và hành vi
Trong các mâu thuận trên, mâu thuẫn giữa yêu cầu giáo dục ngày càng cao do tiến trình giáo dục đề ra và trình độ tự giáo dục ở học sinh còn hạn chế là mâu thuẫn
cơ bản Giải quyết tốt mâu thuẫn này sẽ tạo nên động lực của QTGD
V Các khâu của QTGD:
QTGD bao giờ cũng diễn ra trong một thời gian tương đối lâu dài- là quá trình tác động nhằm biến đổi về tâm lý và hành vi của người được giáo dục QTGD diễn ra theo 3 khâu:
1- Khâu nhận thức: Khâu này còn được gọi là khâu hình thành ý thức đạo
đức xã hội Đây là khâu mở đầu cho một chu trình giáo dục và là cơ sở cho việc hình thành tình cảm, thói quen, hành vi và các phẩm chất đạo đức của học sinh
Nhận thức trong giáo dục là quá trình hình thành những khái niệm chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, văn hoá , quyền lợi, nghĩa vụ nhận thức cuộc sống chính là
Trang 11nhận ra giá trị, chân lý, lẽ phải, hiểu được tính nhân văn, nhân đạo của cuộc sống
và sống theo định hướng của các giá trị xã hội
Nhận thức đúng là cơ sở cho sự hình thành tình cảm, thái độ và hành vi cuộc sống Ngược lại, nhận thức sai là nguyên nhân của những thái độ, hành vi không phù hợp với những chuẩn mực XH
2- Khâu hình thành thái độ, tình cảm:
- Thái độ chính là những biểu hiện cụ thể của quan niệm sống;
- Niềm tin thể hiện ở các chuẩn mực đạo đức, VH Thể hiện: ở tính đúng đắn, giá trị chân lý của các chuẩn mực, ý nghĩa tốt đẹp và giá trị nhân văn của các chuẩn mực, bản chất tốt đẹp và xu thế hướng thiện trong mỗi con người
Trong sự chuyển hoá nhận thức thành hành động, tình cảm chiếm vị trí quan trọng, nó chi phối hành động của con người, là yếu tố quan trọng để hình thành sự
tự giáo dục ở mỗi con người.Vì vậy, việc bồi dưỡng những tình cảm đạo đức, văn hoá, thẩm mỹ cho học sinh là một khâu trọng yếu và rất cơ bản của toàn bộ QTGD
3- Hình thành thói quen hành vi:
Hành vi đạo đức phù hợp với các chuẩn mực xã hội là cái đích cuối cùng mà QTGD cần đạt tới Hành vi là biểu hiện cụ thể nhất của bộ mặt tâm lý, đạo đức của con người Nó là sản phẩm của nhận thức, là tiêu chí qua trọng nhất để đánh giá nhân cách con người, phân biệt nhân cách này với nhân cách khác
Hành vi được hình hành do luyện tập lâu dài, liên tục theo mục tiêu, phương hướng nhất định Giáo dục hành vi phải gắn liền với giáo dục tình cảm, ý thức
Ba khâu: Nhận thức, thái độ, hành vi có liên qua chặt chẽ với nhau, khâu nọ
là cơ sở, tiền đề cho khâu kia, đồng thời là kết qua của các khâu
VI Tự giáo dục và giáo dục lại:
1 Tự giáo dục: Quan điểm giáo dục hiện đại không coi người được giáo dục
là chủ thể thụ động mà là chủ thể tích cực tự giác Giáo dục chỉ có hiệu quả khi mỗi con người tự ý thức được mục đích cuộc sống và tích cực hoạt động vì cuộc sống của bản thân mình Vì vậy, giáo dục phải bao hàm và dẫn đến sự tự giáo dục
Tự giáo dục là hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của cá nhân nhằm hướng vào việc hình thành và phát triển nhân cách của chính bản thân mình theo yêu cầu của XH Vì vậy, tự giáo dục không những là một bộ phận của QTGD
mà còn là kết quả tất yếu của HĐGD Nó là một trong những tiêu chí để đánh giá trình độ phát triển của học sinh
- Tự GD là sự phản ánh cái khách quan của GD vào cái chủ quan của người được
GD, trong đó người được GD biết đề ra mục tiêu, nhiệm vụ phấn đấu của mình theo các chuẩn mực XH
Trang 12- Tự GD là nhân tố thúc đẩy sự hình thành, PT nhân cách của HS dưới tác động chủ đạo của GD, tạo ra sự PT trong nhân cách của HS
- Tự GD là con đường quan trọng nhất để PT nét độc đáo trong nhân cách con người trên cơ sở thống nhất với các yêu cầu GD chung Nó cũng là tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ PT nhân cách của HS
Từ đó, chúng ta có thể rút ra bản chất của tự GD: Tự GD về bản chất là QT vận động của ý chí và tự ý thức được biểu hiện thành hành động để tự hoàn thiện bản thân của người được GD
2 Giáo dục lại:
2.1 Khái niệm:
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về giáo dục lại
- Có người cho rằng: GDL là sự GD những trẻ em đã được coi là hư hỏng; có người lại cho rằng đó là việc giáo dục những trẻ khó dạy (sau những chu trình giáo dục như những trẻ khác mà những trẻ đó không đạt được những yêu cầu như mong muốn của nhà giáo dục); có quan điểm cho rằng GDL là quá trình khắc phục, sửa chữa những thói hư, tật xấu đang có ở trẻ
- Có thể hiểu một cách tổng quát: GDL là QTGD nhằm làm thay đổi, làm từ
bỏ những cái cũ kỹ, sai lầm trong nhân cách của học sinh so với những yêu cầu phát triển mới, phù hợp với các chuẩn mực XH Như vậy, GDL không loại trừ đối với bất kỳ ai, bởi vì ở bất kỳ ai cũng có những cái cần thay đổi, sửa chữa Tuy nhiên, GDL gắn liền nhiều hơn với những học sinh có biểu hiện của tính chất khó dạy, những trẻ có nhiều thiếu sót, sai lầm đã trở thành nét nhân cách, cần sửa chữa,
ta gọi chung là trẻ khó dạy
2.2 Các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trẻ khó dạy
Đây là PP mà nhà GD dùng những tác động mạnh đặc biệt, bất thần tạo ra những chuyển biến về mặt tâm lí, phá vỡ những thói quen, hành vi xấu, tạo ra những suy nghĩ, những tình cảm, hành vi mới theo yêu cầu GD
Câu hỏi ôn tập
Trang 131 Quá trình GD là gì? Phân tích các thành tố cấu trúc của QTGD và mói quan hệ giữa chúng
2 Phân tích bản chất của QTGD, từ đó rút ra kết luận sư phạm cần thiết
3 Phân tích đặc điểm của QTGD, từ đó rút ra kết luận sư phạm cần thiết
Nguyên tắc giáo dục là những luận điểm cơ bản có tính qui luật của lý luận
GD, có tác dụng hướng dẫn, chỉ đạo toàn bộ QTGD đạt tới mục đích đã đề ra
II Hệ thống các NTGD:
1- Đảm bảo tính mục đích, tính tư tưởng của công tác GD: Giáo dục là một
hoạt động có muc đích, vì vậy nọi dung, mọi hình thức tổ chức QTGD đều phải nhằm đạt tới những mục đích nhất định
Cụ thể: Mọi tác động, mọi biện pháp giáo dục đều phải hướng vào việc thực hiện mục đích giáo dục " đào tạo con người Việt nam phát triển toàn diện, có đạo đức, trí thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề ngiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và nằng lực của người công dân, đáp ứng với yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"
Mặt khác, tính mục đích, tính tư tưởng chỉ rõ phương hướng nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, đảm bảo cho công tác giáo dục được xây dựng có
kế hoạch, có hệ thống, khắc phục được tính tự phát và tuỳ tiện, lựa chọn được nội dung và phương pháp, hình thức giáo dục đúng đắn, phù hợp với điều kiện giáo dục
cụ thể
2- Giáo dục gắn liền với lao động và đời sống xã hội
Lý luận và thực tiễn giáo dục đã chỉ ra rằng: Chỉ có đặt con người vào trong môi trường cuộc sống, trong lao động và hoạt động xã hội thì giáo dục mới đạt hiệu quả cao Do đó, nguyên tắc này yêu cầu:
- Công tác GD phải luôn gắn liền với đời sống và thực tiễn xây dựng đất nước;
- Tổ chức cho HS tham gia công tác XH, chính trị, văn hoá của nhân dân Chính trong quá trình tham gia vào các hoạt động XH, các em sẽ tiếp thu được những kinh nghiêm XH và hình thành được hệ thống các quan hệ XH nhất định
- Mặt khác, giáo dục con người phải được thực hiện chính trong lao động và bằng lao động Phải sớm tạo điều kiện cho các em tham gia vào các hoạt động vừa sức; trong nhà trường tổ chức cho các em lao động tự phục vụ, LĐ công ích Lao động là một trong những con đường quan trọng để hình thành nhân cách cho học sinh
Trang 143- GD trong tập thể và bằng tập thể:
Nguyên tắc GD này do Macarencô đưa ra
Nguyên tắc này xuất phát từ cơ sở triết học về vai trò của tập thể đối với sự phát triển nhân cách cá nhân Nhân cách không thể tồn tại bên ngoài tập thể, tập thể không thể tồn tại bên ngoài nhân cách " Sự phát triển của một cá nhân được qui định bởi sự phát triển của tất cả các cá nhân khác mà nó trực tiếp hay gián tiếp giao lưu" (Mác)
Vì vậy, nhân cách học sinh chỉ có thể được phát triển đúng đắn nếu việc giáo dục học sinh được tiến hành trong tập thể và thông qua tập thể Trong nhà trường, tập thể học sinh được xem là môi trường, là phương tiện giáo dục quan trọng
Nếu bản chất của QTGD là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động cho học sinh thì quá trình này trước hết phải được diễn ra trong tập thể học sinh: trong lao động tập thể, sinh hoạt, học tập, hoạt động XH
Do đó, nguyên tắc này yêu cầu:
- Nhà GD phải biết tổ chức, xây dựng và lãnh đạo tốt các tập thể trẻ em, làm sao để mỗi tập thể là một đơn vị vững mạnh, đoàn kết, thân ái, có tác dụng giáo dục đến từng cá nhân
- Nhà GD phải coi tập thể như một đối tượng để tác động giáo dục, làm cho tập thể trở nên vững mạnh về mọi phương diện Phải sử dụng tập thể như môi trường để rèn luyện từng học sinh, sử dụng tập thể như một phương tiện tác động trở lại từng học sinh để họ trở thành những người có ích cho tập thể, XH
- Thường xuyên tổ chức các hoạt động tập thể đang dạng, phong phú nhằm lôi cuốn học sinh tham gia tích cực, tự giác
- Biết tạo ra dư luận tập thể lành mạnh, điều chỉnh hành vi ứng xử của học sinh, ủng hộ cái tốt, cái tích cực, ngăn chặn, lên án cái xấu
- Cần tổ chức tốt mối quan hệ giữa nhà giáo dục với tập thể, phát huy vai trò của các chủ thể GD (vai trò tổ chức, định hướng của nhà GD và vai trò tự quản của TTHS)
4 Thống nhất giữa ý thức và hành động trong hoạt động GD:
Cơ sở xuất phát: Đó là nguyên tác thống nhất giữa ý thức và hành vi trong tâm lý học sư phạm Mọi hành vi của con người đều mang tính ý thức và đều được kiểm soát chặt chẽ bởi ý thức
Nguyên tắc này yêu cầu trong QTGD phải tác động đồng thời đến nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh Xét cho cùng thì hành vi thể hiện một cách sinh động bộ mặt nhân cách của con người Do đó, trong QTGD bên cạnh việc xây dựng
ý thức cho cá nhân HS, cần tổ chức cho HS tự rèn luyện các thói quen hành vi phù hợp với các chuẩn mực XH
Để thực hiện tốt nguyên tắc này, trong QTGD cần:
- Một mặt phải bồi dưỡng ý thức cá nhân cho HS về các chuẩn mực XH Mặt khác phải tổ chức cho các em tham gia các hoạt động thực tiễn thường xuyên và đa dạng
Trang 15- Trong quá trình tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động cần rèn luyện các hành vi đạo đức cho các em, thông qua đó, những hành vi tốt được củng cố, những thói quen xấu được kìm hãm
- Bồi dưỡng cho HS ý thức và năng lực tự kiểm tra, đánh giá hành vi của mình
5 Tôn trọng nhân cách kết hợp với yêu cầu hợp lý đối với học sinh
Nguyên tắc này yêu cầu những người làm công tác GD phải hết sức tôn trọng nhân cách học sinh, luôn đề cao phẩm giá, lòng tự trọng; luôn tin tưởng ở tiềm năng của họ Biết đòi hỏi ở học sinh những cố gắng tích cực, biết đề ra cho họ những yêu cầu, song là những yêu cầu hợp lý, vừa sức
- Nguyên tắc này cũng yêu cầu nhà GD phải dựa vào những mặt tốt, mặt tích cực hiện có trong nhân cách học sinh để khắc phục những cái xấu, tiêu cực, yếu kém trong nhân cách của họ Con người không ai có thể hoàn thiện về mọi mặt, mà
có những mặt mạnh, mặt yếu Nhưng đã là con người thì ai cũng muốn được người khác tôn trọng và muốn mọi người nhìn thấy những ưu điểm của mình Đó là bản tính của con người Do đó, nhà GD phải nhìn nhận, đánh giá đối tượng giáo dục cao hơn một chút so với những khả năng mà họ hiện có
- Mặt khác, để GD con người, nhà GD phải luôn có yêu cầu cao đối với họ Yêu cầu cao đòi hỏi phải đặt ra những tiêu chuẩn, những mục đích phấn đấu hợp lý, vừa sức và ngày càng cao để thúc đẩy họ vươn lên, không ngừng tiến bộ Yêu cầu cao không có nghĩa là bắt họ thực hiện những nhiệm vụ quá sức, hoặc vì yêu cầu cao mà có thái độ gay gắt, mệnh lệnh, hà khắc đối với họ Tôn trọng nhân cách chính là yêu cầu cao đối với con người và càng yêu cầu cao càng tôn trọng con người
- Nguyên tắc này đòi hỏi phải khắc phục những hiện tượng thiếu tôn trọng nhân cách học sinh (đánh đập, sỉ nhục), đồng thời khắc phục những hiện tượng nuông chiều, buông thả, tự do chủ nghĩa trong giáo dục
Nguyên tắc này thể hiện tính nhân đạo của GD XHCN
6 GD phải tính đến đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá nhân của học sinh:
Sự phát triển cá nhân về cả thể chất lẫn tinh thần đều diễn biến theo lứa tuổi Mỗi con người là một thế giới thu nhỏ, có những nét tính cách phổ biến và cũng có những nét đặc thù không lặp lại ở người khác Do đó, công tác GD cần tính đến đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm cá nhân học sinh
Vì vậy, nguyên tắc này yêu cầu:
- Nhà GD cần nắm vững đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm cá nhân của học sinh, trên cơ sở đó xác định yêu cầu, lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức GD cho thích hợp
- GD phải dựa vào đặc điểm cá biệt, bởi lẽ mỗi con người có những nét riêng trong tính cách, khí chất, có quan niệm sống, mức độ nhận thức khác nhau Không
có phương pháp chung có hiệu quả đối với tất cả mọi đối tượng
Trang 16- Mặt khác, GD phải được tiến hành theo đặc điểm giới tính Nam và nữ có những chỉ số phát triển sinh học khác nhau, do đó sự phát triển tâm lý cũng khác nhau Vì vậy, GD theo giới tính là một yêu cầu tất yếu
7 Kết hợp sự lãnh đạo sư phạm của nhà GD với việc phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của người được giáo dục
Nguyên tắc này xuất phát từ cơ sở triết học và tâm lý học: Con người không phải là đối tượng thụ động của hoàn cảnh mà là chủ thể có ý thức và hoạt động cá nhân quyết định sự phát triển nhân cách Mặt khác, nguyên tắc này cũng xuất phát
từ mối quan hệ biện chứng giữa 2 thành tố cơ bản của QTGD đó là sự lãnh đạo sư phạm của nhà GD và tính tích cực tự giác của học sinh Hiệu quả GD phụ thuộc phần lớn vào tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS
Do đó, nguyên tắc này yêu cầu:
- Nhà GD phải phát huy vai trò chủ thể GD của học sinh và tập thể HS, từng bước xây dựng chế độ tự quản của HS trong lớp học cũng như trong nhà trường
Tôn trọng HS, phát huy vai trò chủ thể của HS không có nghĩa là giảm nhẹ
sự lãnh đạo của nhà GD, càng không có nghĩa là thực hiện lối tự do chủ nghĩa trong
GD, để mặc cho HS muốn làm gì thì làm theo hứng thú và nhu cầu của họ
- Ngược lại, nguyên tắc này yêu cầu nhà GD phải nâng cao hơn nữa trách nhiệm và vai trò lãnh đạo sư phạm của mình bằng cách theo dõi khéo léo và chặt chẽ hoạt động của tập thể HS và của mỗi HS, ủng hộ các sáng kiến và biện pháp hay mà HS đề ra và thực hiện; thuyết phục họ từ bỏ những cách làm sai, động viên
cổ vũ ý chí và quyết tâm phấn đấu để đạt mục đích của họ
Nguyên tắc này cũng đòi hỏi nghệ thuật sư phạm của nhà GD Lãnh đạo sư phạm càng thông minh, linh hoạt, tinh tế thì càng phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh và tập thể học sinh
8 Thống nhất giữa nhà trường, gia đình và XH trong công tác GD
Nhân cách con người chỉ có thể phát triển một cách tốt đẹp trong môi trường
GD thuận lợi, trong đó có sự thống nhất các tác động GD Nhà trường - Gia đình-
XH là những môi trường không thể thiếu được Chúng thống nhất với nhau và tạo nên môi trường GD hoàn chỉnh, tạo sức mạnh tổng hợp và tác động đồng bộ đến sự hình thành và phát triển nhân cách HS
Trong hệ thống GD NT- GĐ- XH, nhà trường được coi là khâu trung tâm có vai trò chủ đạo, tổ chức phối hợp và định hướng công tác GD của các lực lượng
GD khác trong XH Bởi lẽ nhà trường là cơ quan GD chuyên biệt của Nhà nước, có đội ngũ các nhà sư phạm QTGD ở nhà trường được tổ chức một cách KH, tuân thủ các qui luật của KH GD một cách chặt chẽ
Vai trò của GD GĐ được thể hiện ở chỗ nó đặt nền móng đầu tiên cho sự hình thành và phát triển nhân cách, GDGĐ mang tính thường xuyên, liên tục, lâu dài và dựa trên mối quan hệ huyết thống Do đó, GD GĐ hỗ trợ rất lớn cho GDNT
Để thực hiện tốt nguyên tắc này cần chú ý:
- Nhà trường phải thể hiện được vai trò chủ đạo của mình, chủ động kết hợp với gia đình và XH trong công tác GD HS
Trang 17- GĐ và XH cũng cần chủ động kết hợp với nhà trường theo định hướng GD của NT, tạo điều kiện thuận lợi cho GD NT, giảm đến mức tối đa những ảnh hưởng tiêu cực của GĐ và XH
- Các lực lượng giáo dục này phải biết đầy đủ các nhiệm vụ, nội dung, PPGD, về sự cần thiết phải phối hợp với nhau Từ đó tạo được môi trường GD thuận lợi trong nhà trường, GĐ, XH
9 Đảm bảo tính hệ thống, tính kế tiếp, tính liên tục trong hoạt động giáo dục
* Cơ sở xuất phát:
NT này đòi hỏi QTGD phải được tiến hành theo một hệ thống chặt chẽ, có kế hoạch thống nhất và được dự tính trước
* Biện pháp thực hiện :
- XD 1 hệ thống nội dung, nhiệm vụ GD chặt chẽ, có tính kế hoạch
- Không nôn nóng, đốt cháy giai đoạn trong GD
- Tổ chức QTGD một cách liên tục trong mọi thời gian và không gian
Các nguyên tắc GD là một hệ thống toàn diện, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau Nhà GD cần vận dụng và phối hợp các nguyên tắc GD một cách linh hoạt, sáng tạo để đạt được kết quả tối ưu
Câu hỏi ôn tập
Nguyên tắc GD là gì? Trình bày hệ thống các nguyên tắc GD
CHƯƠNG III: NỘI DUNG GIÁO DỤC
1 Giáo dục đạo đức
1.1 Khái niệm đạo đức và giáo dục đạo đức
+ Đạo đức là một trong những hình thái ý thức XH, là hệ thống các quan niệm về cái thiện, cái ác trong các mối quan hệ của con người với con người, thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống XH
Đạo đức nảy sinh từ nhu cầu của XH điều hoà và thống nhất các mâu thuận giữa lợi ích chung và lợi ích riêng nhằm đảm bảo trật tự XH và khả năng PT của XH và
cá nhân Đạo đức tồn tại với tư cách là một lĩnh vực ý thức XH, là một mặt của hoạt động XH, là một hình thái quan hệ XH
- Với tư cách là một lính vực ý thức XH, đạo đức bao gồm tri thức về các khái niệm, chuẩn mực và phẩm chất đạo đức, nguyên tắc đạo đức, các xúc cảm và tình cảm đạo đức, đánh giá đạo đức
- Với tư cách là 1 mặt của HĐ XH, đạo đức bao gồm các hành vi, thói quen đạo đức
- Với tư cách là một hình thái quan hệ XH, đạo đức bao gồm các quan hệ đạo đức, biểu hiện trong hiện thực giao lưu giữa cá nhân - cá nhân, cá nhân - tập thể
ĐĐ tồn tại xen kẽ trong mọi lĩnh vực ý thức XH, trong mọi hoạt động XH, mọi loại quan hệ XH, nó luôn tồn tại và phát triển cùng với đời sống XH Đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp
Trang 18Như vậy, đạo đức là 1 phạm trù phản ánh hiện thực khách quan bằng hệ thống các chuẩn mực XH, các qui tắc điều chỉnh sự ứng xử của con người trong tất cả các mối QHXH, trong tất cả các lĩnh vực của đời sống XH
+ GD ĐĐ là một quá trình sư phạm được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành và PT ở HS ý thức, tình cảm, hành vi và thói quen đạo đức, phù hợp với chuẩn mực XH
1.2 Ý nghĩa của giáo dục đạo đức
- GD đạo đức có vai trò thúc đẩy sự ổn định XH, góp phần đảm bảo trật tự, kỷ cương XH Lý tưởng, niềm tin, hành vi đạo đức được hình thành qua công tác giáo dục đạo đức trong và ngoài nhà trường
- GD đạo đức có vị trí quan trọng hàng đầu trong giáo dục nhà trường, nó định hướng cho các nội dung giáo dục khác Nhà trường thông qua công tác GD đạo đức
có thể nâng cao hiệu quả dạy học và các nhiệm vụ GD khác
- GD đạo đức hình thành cho thế hệ trẻ hệ thống lập trường chính trị tư tưởng, ý thức, thái độ, tình cảm và hành vi đạo đức phù hợp với chuẩn mực XH Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, GD đạo đức giữ vai trò quan trọng trong việc định hướng cuộc sống và lựa chọn các giá trị sống của thế hệ trẻ
1.3 Nhiệm vụ và nội dung GD đạo đức cho học sinh
+ Hệ thống các chuẩn mực đạo đức được qui định cho HS
+ Cách ứng xử trong các tình huống khác nhau phù hợp với các chuẩn mực đạo đức đã qui định
b Giáo dục thái độ và tình cảm đạo đức
GD đạo đức cho học sinh là thức tỉnh ở họ những rung động trái tim đối với hiện thực xung quanh, làm cho họ biết yêu, biết ghét rõ ràng, có thái độ đúng đắn đối với các hiện tượng trong đời sống XH và tập thể
c Giáo dục hành vi và thói quen đạo đức:
Mục đích cuối cùng của GD đạo đức là hình thành hành vi đạo đức và thói quen thực hiện hành vi đạo đức trong cuộc sống hàng ngày của trẻ
Hành vi đạo đức được thực hiện bởi sự chỉ đạo của ý thức và sự thôi thúc của tình cảm mới là hành vi đích thực, mới trở thành thói quen hành thuộc tính của con người hành vi, đặc biệt là thói quen hành vi chỉ có thể hình thành thông qua tập luyện Trong cuộc sống, sinh hoạt, cần giáo dục cho các em hành vi có văn hoá, tức
là hành vi đó không những đúng về mặt đạo đức mà còn đẹp về thẩm mỹ
1.3.2 Nội dung giáo dục đạo đức:
a Quan hệ cá nhân đối với XH:
- Yêu quê hương đất nước, yêu CNXH, sẵn sàng bảo vệ TQ;
Trang 19- Tự hào với truyền thống anh hùng của dân tộc;
- Tôn trọng, giữ gìn các di sản VH dân tộc, có thái độ tiến bộ đối với các giá trị truyền thống
- Tinh thần quốc tế vô sản
b Quan hệ cá nhân đối với lao động: Có thái độ đúng đắn đối với lao động
và người lao động
c Quan hệ cá nhân đối với những người xung quanh:
- Kính trọng ông bà, cha mẹ, anh chị em, những người lớn tuổi;
- Kính trọng, lễ phép, biết ơn thầy cô giáo;
- Tôn trọng, yêu quí giúp đỡ bạn bè;
- Khiêm tốn, có ý thức học hỏi
d Quan hệ cá nhân đối với tài sản XH, di sản VH và thiên nhiên:
- Giữ gìn, tiết kiệm, bảo vệ của công, không xâm phạm tài sản chung và của cải riêng của người khác;
- Bảo vệ môi trường tự nhiên nơi cư trú, học tập, nơi công cộng
e Quan hệ cá nhân đối với bản thân: Khiêm tốn, thật thà, có tính kỷ luật, có
ý chí, nghị lực, dũng cảm
g GD tính nhân văn, quan hệ quốc tế, bảo vệ hoà bình
1.4 Các con đường và phương tiện giáo dục đạo đức cho HS
* GD đạo đức cho HS thông qua con đường DH
* GD đạo đức thông qua việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp
* GD đạo đức thông qua tổ chức cho HS tham gia vào các HĐXH
* Tận dụng triệt để các phương tiện thông tin đại chúng để GD đạo đức cho HS
2 Giáo dục thẩm mĩ
2.1 Thẩm mĩ và giáo dục thẩm mĩ
- Thẩm mỹ là phạm trù triết học nói về cái đẹp khách quan của các đối tượng trong
tự nhiên, trong cuộc sống XH và bản thân con người Cái đẹp là cái trung tâm, cái tương phản là cái xấu, thấp hèn, bi, hài
Nguồn gốc cái đẹp theo quan điểm mĩ học Mác- Lênin là cuộc sống, là hiện thực với toàn bộ tính đa dạng của nó Cái đẹp là cái hoàn thiện, cái lí tưởng nâng con người lên cao hơn cái bình thường hàng ngày
Cái đẹp vốn có ở bản thân sự vật, hiện tượng của hiện thực, là hiện tượng khách quan có thể bắt gặp ở mọi nơi trong đời sống con người
+ Cái đẹp trong tự nhiên: biểu hiện bằng hình dạng, mầu sắc, đường nét, âm thanh + Cái đẹp trong XH: Cái đẹp trong quan hệ giao tiếp, trong lối sống đạo đức, cái đẹp trong trật tự, kỉ cương của cuộc sống XH
+ Cái đẹp trong con người: cái đẹp của nhận thức, tình cảm, hành vi đạo đức, lối sống của cá nhân
TM có ý nghĩa rất lớn trong đời sống con người Nhu cầu TM là một trong những nhu cầu quan trọng của cuộc sống XH càng phát triển thì nhu cầu TM càng cao
Trang 20- Giáo dục thẩm mĩ là bộ phận của giáo dục nhân cách toàn diện Đó là quá trình
GD nhằm hình thành và phát triển văn hoá thẩm mĩ cho HS theo quan điểm mĩ học Mác - Lê nin
Nhiệm vụ của GD TM trong nhà trường là:
- Phát triển tình cảm TM của HS trong quá trình cảm thụ và lĩnh hội cái đẹp trong nghệ thuật, tự nhiên, trong XH; giúp họ cảm nhận và hiểu biết cái đẹp trong những biểu hiện đa dạng của nó
- PT năng lực phán đoán và đánh giá TM, hình thành cho HS thị hiếu TM và lí tưởng TM đúng đắn
- Hình thành cho HS năng lực sáng tạo TM, lòng mong muốn và khả năng đem cái đẹp vào cuộc sống
- GD cho HS thái độ không khoan nhượng đối với những cái xấu xa, phản thẩm mĩ trong tâm hồn, trong lối sống, cái phản thẩm mĩ trong các tác phẩm nghệ thuật
2.3 Các phương tiện GDTM cho HS
Tiếp xúc thường xuyên với thiên nhiên là điều kiện không thể thiếu không những
để PT năng lực quan sát, trí tưởng tượng của HS mà còn PT tình cảm TM, tính nhạy cảm TM của các em
2.3.2 Nghệ thuật
Nghệ thuật là phương tiện quan trọng nhất để GD TM cho HS, vì NT là lĩnh vực tập trung một cách cô đọng cái đẹp của hiện thực, đồng thời là công cụ để tác động đến những khía cạnh thầm kín và sâu xa trong tâm hồn con người Nghệ thuật chân chính kích thích “người nghệ sĩ” trong mỗi con người Mỗi loại hình NT đều có tác dụng GDTM
2.3.3 Học tập
2.3.4 Lao động, vui chơi, giao lưu trong tập thể, cảnh quan của nhà trường
… đều là những phương tiện GDTM
2.4 Các con đường GDTM cho HS
Trang 21- GDTM cho HS trong quá trình dạy các môn học, đặc biệt là các môn khoa học xã hội và nhân văn
- GDTM cho HS thông qua các HĐ ngoài giờ lên lớp
- GDTM cho HS thông qua việc tổ chức hoạt động lao động cho HS
- GDTM cho HS thông qua xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh trong nhà trường, gia đình và xã hội
3 Giáo dục lao động và hướng nghiệp
3.1 GD lao động
3.1.1 Ý nghĩa của GD lao động trong nhà trường
Giáo dục lao động là một trong các mặt giáo dục toàn diện trong nhà trường nhằm GD cho HS những cơ sở ban đầu của phẩm chất và năng lực người lao động, chuẩn bị cho các em bước vào cuộc sống
- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin: Lao động là cơ sở của tiến bộ
xã hội, lao động đã sáng tạo ra bản thân con người, là điều kiện để thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, là điều kiện của sự tối cần thiết của sự phát triển nhân cách, là quyền lợi, nghĩa vụ của mỗi người công dân trong xã hội Học thuyết của Mác-Ănghen, Lê nin về giáo dục cũng nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của lao động trong sự phát triển nhân cách Kết hợp giữa dạy học và giáo dục lao động là một trong những nguyên tắc quan trọng của giáo dục XHCN
3.1.2 Mục đích và nhiệm vụ GD LĐ
- Mục đích của GDLĐ trong trường PT là trang bị cho HS những tri thức và
kĩ năng LĐ phổ thông, LĐKT tổng hợp cơ bản; những cơ sở ban đầu về những phẩm chất và năng lực của người LĐ, tạo điều kiện cho các em có định hướng nghề nghiệp và bước vào cuộc sống LĐ
- Nhiệm vụ của GD lao động
+ GD cho HS ý thức, thái độ đúng đắn đối với LĐ: LĐ là quyền lợi, nghĩa vụ của mỗi người trong XH Tôn trọng người LĐ, các loại hình LĐ, quí trọng, tiết kiệm sản phẩm LĐ
+ Hình thành cho HS các phẩm chất cần thiết của người LĐ: cần cù, chịu khó, ý thức kỉ luật, tinh thần tập thể trong LĐ
+ Cung cấp cho HS kiến thức kĩ thuật tổng hợp và kiến thức LĐ về một lĩnh vực cụ thể, hình thành kĩ năng LĐ phổ thông
+ Hướng nghiệp cho HS: Là HĐ định hướng nghề nghiệp của các nhà SP cho HS nhằm giúp họ chọn một nghề phù hợp với hứng thú, năng lực của cá nhân
và yêu cầu nhân lực XH
3.1.3 Một số loại hình LĐ và yêu cầu đối với việc tổ chức HĐ lao động cho HS
Trang 22- Lao động công ích XH
- Lao động tự phục vụ
b Một số yêu cầu để tổ chức lao động cho HS có hiệu quả
- Lựa chọn các hình thức lao động phù hợp với lứa tuổi, trình độ, giới tính của HS
- Cần tổ chức lao động phù hợp với đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương
- Tổ chức cho HS tham quan các cơ sở sản xuất theo kế hoạch, phân bố nội dung GD lao động theo trình tự GD
3.2 Giáo dục hướng nghiệp
Hướng nghiệp là hoạt động sư phạm nhằm giúp HS chọn nghề một cách hợp
lý, phù hợp với hứng thú, nguyện vọng, năng lực của cá nhân và yêu cầu của XH
Nhiệm vụ của GD hướng nghiệp:
- Định hướng nghề nghiệp cho HS: thông tin về sự phát triển của các ngành nghề trong XH, nhất là những ngành nghề đang cần nhiều nhân lực
- Tư vân nghề nghiệp cho HS
- Tuyển chọn nghề
Các con đường giáo dục hướng nghiệp cho HS:
- Hướng nghiệp qua dạy học các môn khoa học cơ bản
- Hướng nghiệp qua dạy học môn Kỹ thuật và lao động sản xuất trong trường học
- Tổ chức cho HS tham gia sản xuất ở các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất nhằm giúp HS có biểu tượng rõ hơn về các ngành nghề
- Tổ chức sinh hoạt hướng nghiệp: Thông tư 31/TT của Bộ GD - ĐT đã nêu:
“Để giúp HS hiểu rõ các ngành nghề, các trường tạm thời sử dụng mỗi tháng một buổi lao động để giới thiệu, tuyên truyền, giải thích về ngành nghề” Sinh hoạt hướng nghiệp nhằm giúp HS có được bước chuẩn bị, sẵn sàng về tâm lý để đi vào cuộc sống lao động
Trang 23- Tăng cường thể chất, sức khoẻ cho HS
- Giúp HS nắm vững tri thưc cơ bản và kĩ năng kĩ xảo vận động thể dục, thể thao, tạo nên thói quen tự giác rèn luyện thân thể một cách khoa học
- Truyền thụ tri thức vệ sinh cần thiết cho HS, bồi dưỡn thói quen vệ sinh tốt, hướng dẫn HS phòng ngừa bệnh tật, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ
+ Nội dung GDTC;
- GD ý thức giữ gìn, bảo vệ sức khoẻ và rèn luyện thân thể cho HS
- Rèn luyện các kĩ năng thể dục thể thao
- Tổ chức tập luyện thường xuyên các bài thể dục cơ bản để cơ thể phát triển cân đối, hài hoà
- GD ý thức phòng bệnh thông thường
- GD thói quen ăn uống văn minh, vệ sinh
4.1.4 Các con đường GD thể chất
- GDTC thông qua giảng dạy các bộ môn thể dục thể thao chính khoá
- Tổ chức rèn luyện thân thể bằng thể dục buổi sáng, thể dục giữa giờ nhằm tăng cường sức khoẻ
4.2.2 Nội dung của GD quân sự
- Trang bị cho HS những hiểu biết thường thức về quốc phòng toàn dân, về chính sách quan sự của Đảng và nhà nước
- Trang bị cho HS một số kiến thức cơ bản về các hoạt động quân sự
- Tập luyện để hình thành các kĩ năng hoạt động quân sự
- GD ý thức cảnh giác chính trị
- GD ý thức về nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc
5 Các nội dung giáo dục khác
Ngày nay với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, giáo dục trong nhà trường cần bổ sung những nội dung giáo dục mới nhằm giúp thể hệ trẻ có những phẩm chất và năng lực cần thiết để thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của XH Một số nội dung giáo dục mới đã được
bổ sung vào nhà trường như:
- Giáo dục môi trường
- Giáo dục dân số
- Giáo dục giới tính
- Giáo dục giá trị và kỹ năng sống
Trang 24- Giáo dục phòng chống các tệ nạn XH
- Giáo dục quốc tế và nhân văn
Các nội dung GD này được tích hợp vào các hoạt động đa dạng trong nhà trường như thông qua các môn học, thông qua các hoạt động GD ngoài giờ lên lớp
Câu hỏi ôn tập
1 Phân tích ý nghĩa, nhiệm vụ, nội dung và các con đường, phương tiện GD đạo đức
2 Phân tích ý nghĩa, nhiệm vụ, nội dung và các con đường, phương tiện GD thẩm mỹ
3 Phân tích ý nghĩa, nhiệm vụ, nội dung GD thể chất
4 Phân tích ý nghĩa, nhiệm vụ, nội dung GD lao động
5 Liên hệ thực tiễn công tác giáo dục đạo đức, GD thẩm mỹ, GD lao động – hướng nghiệp và GD thể chất trong nhà trường hiện nay
CHƯƠNG IV: PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC
1 Khái niệm về PPGD
PPGD là cách thức tác động qua lại giữa nhà GD và người được GD để hình thành ở người được GD ý thức, tình cảm, niềm tin, thái độ, hành vi phù hợp với các chuẩn mực XH
PPGD cũng như bản thân QTGD diễn ra hết sức phức tạp và nó có những đặc điểm sau:
- QTGD về bản chất là QT tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho HS, vì vậy, PPGD chính là cách thức tổ chức cuộc sống, tổ chức HĐ và giao lưu cho HS theo mục đích GD
- QTGD được diễn ra theo 3 khâu: bắt đầu từ nhận thức, thái độ đến hành vi Như vậy, PPGD là cách thức tác động đến từng khâu, đồng thời đến tất cả các khâu của QTGD
- Đối tượng GD là con người, mỗi con người có những nét độc đáo về mặt tâm lý, ý thức, điều kiện sống, hoàn cảnh GD, trình độ nhận thức, kinh nghiệm sống Do đó PPGD phụ thuộc vào từng đối tượng cụ thể, từng tình huống cụ thể, mỗi cá nhân có một cách GD, mỗi tình huống có một biện pháp GD, không thể có PP chung hữu hiệu đối với tất cả mọi người
2 Phân loại các PPGD