ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA Y DƢỢC VŨ THỊ VÂN PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC MỠ KẼM OXYD TRONG ĐIỀU TRỊ LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƢƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƢỢC
VŨ THỊ VÂN
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC MỠ KẼM OXYD TRONG ĐIỀU TRỊ LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG
TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƢƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGHÀNH DƢỢC HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CỦA THUỐC MỠ KẼM OXYD
TRONG HÔC TRỢ ĐIỀU TRỊ BỆNH LUPUS BAN ĐỎ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGHÀNH DƯỢC HỌC
1 Bệnh viên Da Liễu Trung Ương
2 Bộ môn Dược lâm sàng
Hà Nội – 2 LỜI CẢM ƠN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
VŨ THỊ VÂN
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC MỠ KẼM OXYD TRONG ĐIỀU TRỊ LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG
TẠI BỆNH VIỆN DA LIỄU TRUNG ƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGHÀNH DƯỢC HỌC
Khóa: QH-2012 NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN THỊ KIM THU
TS BÙI THANH TÙNG
HÀ NỘI – 2017
Trang 3Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới hai người thầy: TS Nguyễn Thị Kim Thu - Trưởng khoa Dược, bệnh viện Da Liễu Trung Ương và TS Bùi Thanh Tùng - Giảng viên bộ môn Dược lý, Dược lâm sàng Khoa Y Dược, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, tạo điều kiện , tận tình giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn bộ thầy cô bộ môn Dược lý - Dược lâm sàng, các thầy cô bộ môn khác, các phòng ban Khoa Y Dược , Đại học Quốc Gia
Hà Nội đã chuẩn bị hành trang kiến thức và truyền cho tôi tình yêu, lòng nhiệt huyết với nghề thầy thuốc cao quý này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới toàn bộ các bác sĩ, điều dưỡng, cán
bộ nhân viên bệnh viện Da Liễu Trung Ương đã giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Không có trang ghi ơn nào đủ chân thành trọn vẹn nếu không có lòng biết
ơn sâu sắc tới hướng về tình yêu thương của gia đình, bạn bè những người đã luôn sát cách động viên, sẻ chia và tiếp thêm ngọn lửa sức mạnh tới tôi trong suốt 5 năm học tập, rèn luyện dưới mái trường Y Dược, Đại học Quốc Gia Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 6 năm 2016 Sinh viên
Vân
Trang 4CHỮ VIẾT TẮT
ACR American College of Rheumatology
ANA Anti – nuclear antibodies
dsDNA double-stranded Deoxyribonueleic acid
IFnα Interferon alpha
SLE Systenic lupus erythematosus
TNF α Tumor necrosis factor
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN 3
1.1 Lupus ban đỏ hệ thống: - 3
1.1.1 Vài nét về lịch sử bệnh - 3
1.1.2 Dịch tễ học của bệnh lupus ban đỏ hệ thống - 4
1.1.3 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của bệnh lupus ban đỏ hệ thống - 4
1.1.4 Triệu chứng và chẩn đoán - 7
1.1.5 Phân loại bệnh - 11
1.1.6 Điều trị - 12
1.2 Hiệu quả và tính an toàn của Kẽm oxyd trong hỗ trợ điều trị Lupus ban đỏ……… 14
1.2.1 Kẽm oxyd - 14
1.2.2 Hiệu quả của Kẽm oxyd trong hỗ trợ điều trị Lupus ban đỏ hệ thống……… 15
1.2.3 Tính an toàn của Kẽm oxyd trong hỗ trợ điều trị Lupus ban đỏ hệ thống - 16
1.3 Các nghiên cứu về sử dụng kẽm oxyd trên bệnh nhân lupus ban đỏ 17
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng nghiên cứu - 18
2.2 Phương pháp nghiên cứu - 18
2.2.1 Phương pháp chọn mẫu - 18
2.2.2 Thiết kế nghiên cứu - 18
2.3 Nội dung nghiên cứu - 19
2.3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu - 19
2.3.2 Đặc điểm sử dụng kẽm oxyd - 19
2.4 Phương pháp xử lí số liệu: - 20
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
Trang 63.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu: - 21
3.1.1 Đặc điểm phân bố bệnh nhân theo giới, tuổi - 21
3.1.2 Thời gian mắc bệnh SLE - 22
3.1.3 Các biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng xếp theo 11 tiêu chuẩn chẩn đoán của ACR – 1997 - 22
3.1.4 Các biểu hiện lâm sàng khác - 24
3.1.5 Đặc điểm bệnh mắc kèm - 24
3.1.6 Thời gian điều trị - 25
3.2 Sử dụng thuốc trong điều trị SLE tại bệnh viện Da liễu Trung Ương - 25
3.2.1 Tỷ lệ các thuốc dùng điều trị toàn thân - 25
3.2.2 Sử dụng thuốc theo phác đồ điều trị SLE - 26
3.2.3 Tỷ lệ sử dụng thuốc bôi ngoài da - 27
3.3 Đặc điểm sử dụng kẽm oxyd - 28
3.3.1 Đặc điểm chung sử dụng kẽm oxyd - 28
3.3.2 Hiệu quả của kẽm oxyd trong hỗ trợ điều trị lupus ban đỏ - 29
3.4 Tính an toàn của kẽm oxyd trong hỗ trợ điều trị Lupus ban đỏ - 38
CHƯƠNG 4 : BÀN LUẬN 39
BÀN LUẬN - 39
4.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu: - 39
4.2 Tình hình sử dụng thuốc tại bệnh viện Da liễu Trung Ương: - 40
4.3 Đặc điểm sử dụng kẽm oxyd - 41
4.4 Hiệu quả hỗ trợ điều trị của kẽm oxyd trên bệnh nhân lupus ban đỏ 42
4.5 Tính an toàn trong hỗ trợ điều trị của kẽm oxyd ở bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống - 44
HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU: - 44
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 46
KẾT LUẬN: - 46
Trang 7ĐỀ XUẤT - 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 47
PHỤ LỤC 50
PHIẾU KHẢO SÁT - 50
Trang 8chuẩn chẩn đoán của ACR – 1997
Bảng 3.15 Tỷ lệ % bệnh nhân có protein niệu và hồng cầu niệu trước và
sau điều trị
32
Bảng 3.18 Sự chuyển biến các triệu chứng lâm sàng 35
Trang 9Bảng 3.19 Mức độ khỏi bệnh sau điều trị 36 Bảng 3.20 Sledai ở hai nhóm bệnh nhân có sử dụng và không đƣợc sử
dụng kẽm oxyd qua quá trình điều trị
37
Trang 10MỞ ĐẦU
Bệnh Lupus ban đỏ hệ thống (Systemic Lupus Erythematosus –SLE) là một bệnh tự miễn có tổn thương nhiều cơ quan, tổ chức trong cơ thể và tồn tại suốt cuộc đời người bệnh Cho đến nay y học vẫn chưa xác định chính xác căn nguyên của bệnh Đa số các nhà khoa học cho rằng bệnh có yếu tố tự miễn và một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh và phát triển bệnh như: Stress, nhiễm liên cầu khuẩn hoặc nhiễm virus, tiếp xúc với ánh nắng hoặc với tia cực tím, vắc-xin và sự chuyển hóa bất thường của estrogen…Bệnh chủ yếu gặp ở nữ, tuy nhiên ở nam giới, trẻ em và người già cũng có thể mắc bệnh nhưng với tỉ lệ thấp [5] Trên 90% bệnh nhân SLE là nữ giới và thường khởi phát độ tuổi sinh
đẻ (18 - 45) Hơn nữa việc sử dụng các hormon ngoại sinh có liên quan đến đợt bùng phát bệnh chỉ ra vai trò của hormon trong cơ chế bệnh sinh của SLE [16]
Tỷ lệ bệnh cao nhất ở người Châu Á, tiếp đến là người Mỹ gốc phi, thấp nhất là người Mỹ gốc Châu Âu cùng sống tại Mỹ [19,30,31]
Bệnh có những thời kỳ hoạt động và những thời kỳ lui bệnh Trong thời kỳ hoạt động bệnh nhân có thể có một hoặc nhiều triệu chứng như: Mệt mỏi, sốt, rụng tóc, loét miệng, nổi ban đỏ trên da, viêm khớp, tổn thương các hệ thống nội tạng Chính vì thế mà người bệnh thường đến với các chuyên khoa khác nhau như: Da liễu, cơ xương khớp, thận, tim mạch, dị ứng miễn dịch lâm sàng Hiện nay chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu
Điều trị bệnh SLE đòi hỏi bệnh nhân và thầy thuốc phải kiên trì, lâu dài vì bệnh tiến triển kéo dài nhiều năm, tổn thương nhiều cơ quan nội tạng, phải dùng thuốc liên tục dưới sự chỉ dẫn, theo dõi của bác sỹ Sự xuất hiện của corticoid đã làm thay đổi đáng kể việc điều trị SLE, giúp kéo dài đời sống của bệnh nhân và
giúp cho tiên lượng của bệnh nhân thay đổi rất nhiều
Tuy nhiên việc sử dụng các thuốc trên không tránh khỏi nhiều tác dụng phụ và khả năng dung nạp thuốc của mỗi cá thể cũng khác nhau nên trên thực tế
Trang 11trong quá trình điều trị thường sử dụng những thuốc hỗ trợ và làm giảm tác dụng phụ của những thuốc điều trị chính
Bệnh viện da liễu trung ương là một bệnh viện lớn, hàng năm số lượng bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống điều trị ở đây chiếm tỷ lệ cao trong tổng số những bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống trong cả nước Bệnh viện luôn cập nhật
và điều trị theo những phác đồ chuẩn và mới Tại đây bệnh nhân còn được sử dụng những thuốc nhằm giảm tác dụng phụ cũng như những thuốc nhằm tăng
hiệu quả điều trị trong đó kẽm oxyd là một thuốc hỗ trợ được sử dụng phổ biến
nhằm tăng hiệu quả điều trị trên nhiều bệnh nhân
Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu liên quan đển lupus ban đỏ hệ thống cũng có nhiều nghiên cứu thực hiện tại bệnh viện Da Liễu Trung Ương Tuy nhiên các nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu về các chuẩn đoán, điều trị hay nguyên nhân,… Số ít nghiên cứu còn lại nghiên cứu còn lại nghiên cứu về tình hình sử dụng thuốc nhưng lại chưa có bất kì một nghiên cứu nào về việc sử dụng
kẽm oxyd- một thuốc được sử dụng nhiều tại đây
Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu “ Phân tích tình hình sử dụng thuốc mỡ kẽm oxyd trong điều trị Lupus ban đỏ tại bệnh viện Da Liễu Trung Ương”
Trang 12CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN
1.1 Lupus ban đỏ hệ thống:
Lupus ban đỏ hệ thống là bệnh chưa rõ nguyên nhân, gây tổn thương ở nhiều
cơ quan của cơ thể, với đặc điểm là có nhiều tự kháng thể có khả năng gây thương tổn các tổ chức qua trung gian miễn dịch học và có thể gây tử vong Người ta cho rằng đó là biểu hiện lâm sàng thứ phát sau lắng đọng của các phức hợp miễn dịch trong các mao mạch ở các cơ quan nội tạng Diễn biến rất thay đổi và không thể dự đoán được Diễn biến lâm sàng thay đổi từ những rối loạn ở mức độ nhẹ cho đến một bệnh lý tiến triển nhanh và có thể gây tử vong [6]
1.1.1 Vài nét về lịch sử bệnh
Bệnh lupus ban đỏ được mô tả từ thời Hippocrates Thuật ngữ “lupus” xuất hiện lần đầu tiên trong tạp chí “Biography” của St Martin từ thế kỷ X (theo La tinh, lupus là “sói”), với tổn thương trên da giống vết chó sói cắn Cuối thế kỷ XII, Frugardi sử dụng từ lupus để phân biệt các tổn thương da ở đùi, cẳng chân với ung thư Từ thế kỷ XIX: Cazenave (1851), Biett (1983) đã mô tả biểu hiện da
là dát đỏ, dầy sừng, teo da, từ đó có danh từ Lupus Erythematosus (LE) [27] Năm 1872, Kaposi mô tả các triệu chứng điển hình của bệnh với các tổn thương:
da, viêm phổi, đau khớp, sưng hạch,.[22,27] Osler (1904) phân biệt hai thể bệnh: dạng đĩa có tổn thương da đơn thuần và dạng lan tỏa có tổn thương da và nhiều cơ quan nội tạng, ông cũng nhận thấy đặc trưng của SLE là các đợt tái phát xen lẫn các đợt lui bệnh [29] Baehr (1935) mô tả viêm nội tâm mạc ở bệnh nhân SLE có đau khớp, ban đỏ [12] Sequeira (1902) tìm thấy protein niệu ở bệnh nhân SLE Năm 1906, Wasserman phát hiện test trong chẩn đoán giang mai, được dùng rộng rãi để chẩn đoán SLE [27] Năm 1941, Klemperer đưa ra khái niệm “bệnh collagen” để chỉ nhóm bệnh có những biến đổi chung như: thấp tim, viêm khớp dạng thấp, SLE, viêm bì cơ và xơ cứng bì [24,27]
Từ 1958 liệu pháp corticoid được ứng dụng điều trị SLE, tạo ra những bước tiến mới trong điều trị, kéo dài cuộc sống người bệnh và trở thành thuốc chủ yếu
Trang 13trong điều trị bệnh SLE [27]
Tiêu chuẩn chẩn đoán SLE được khởi xướng vào năm 1944 Đến năm 1971, Hội thấp khớp học Hoa kỳ (ARA nay là ACR-American College of Rheumatology) đưa ra bảng gồm 14 tiêu chuẩn chẩn đoán SLE, năm 1982 rút gọn còn 11 tiêu chuẩn và được sửa lại năm 1997 gồm 11 tiêu chuẩn được áp dụng đến ngày nay [20]
1.1.2 Dịch tễ học của bệnh lupus ban đỏ hệ thống
Tỷ lệ mắc SLE trong cộng đồng: SLE là một bệnh phổ biến ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam Theo Hochberg M.C tỷ lệ mắc chung trên toàn nước Mỹ là từ 14,6 – 50,8/100.000 dân và số mới mắc hàng năm từ 1,8 – 7,6/100.000 dân Ở Tây Ban Nha tỷ lệ mắc là 1/250, vùng Capcase là 1/2000, ở Châu Á là 48,8/100.000 dân[6] Tại Việt Nam chưa có số liệu thống kê về dịch tễ học
1.1.3 Nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của bệnh lupus ban đỏ hệ thống
Nguyên nhân
Những nghiên cứu trên mô hình súc vật và trên bệnh nhân mắc lupus ban đỏ
hệ thống chỉ ra rằng Lupus ban đỏ hệ thống không đơn thuần do một tác nhân gây nên mà do sự phối hợp của nhiều yếu tố: môi trường, di truyền, virus, dẫn đến sự xuất hiện bệnh lý lâm sàng
Yếu tố virus:
Qua kính hiển vi điện tử người ta thấy những cơ cấu giống virus ở tế bào nội
mô của bệnh nhân Lupus ban đỏ hệ thống Về sau những cơ cấu tương tự cũng được tìm thấy ở da và trong các lympho máu ngoại biên Tuy nhiên mọi cố gắng
để xác định cơ cấu đó là virus đều chưa thành công
Yếu tố di truyền:
Qua nghiên cứu gia đình bệnh nhân, người ta đã gặp những trường hợp có nhiều người trong cùng một gia đình mắc bệnh Lupus ban đỏ hệ thống, hoặc có
Trang 14cả Lupus đỏ dạng đĩa mạn tính và Lupus đỏ hệ thống Các thành viên trong gia đình bệnh nhân, lupus ban đỏ hệ thống có thể có những triệu chứng cận lâm sàng bất thường như: gama globulin máu tăng, phản ứng giang mai dương tính giả, kháng thể kháng nhân dương tính hoặc có lắng đọng globulin miễn dịch ở da bình thường[6]
Đã xác định được các “gen” có liên quan đến bệnh đó là B8, DR3, HLA-DRw52, HLA-DQw1[7]
HLA- Yếu tố môi trường:
Ánh sáng mặt trời đặc biệt là tia cực tím (UV-Ultraviolet), trong bệnh nguyên của SLE, UV là yếu tố môi trường quan trọng nhất, đặc biệt trong giai đoạn cảm ứng và tổn thương da Người ta đã gây được tổn thương lupus ở da trên thực nghiệm bằng cách chiếu liên tục liều cao UVB (Ultraviolet B) lên cùng một vị trí Tia UV làm tăng bệnh lupus thông qua một số cơ chế: gây ra hiện tượng chết theo chương trình (apoptosis) của tế bào sừng, gây giải phóng các chất trung gian miễn dịch ở bệnh nhân SLE như interferon-alpha (IFN-α) từ tế bào hình tua (DCs-Dendric cells) Ngoài ra, tia UV còn đóng vai trò sớm trong giai đoạn cảm ứng bằng cách trực tiếp gây tổn thương DNA, ảnh hưởng đến tế bào miễn dịch bình thường và làm tăng các bất thường trong viêm nhiễm da
Giới tính:
Bệnh SLE chủ yếu gặp ở nữ giới (tỷ lệ nữ/nam là 9/1) nhiều nhất ở phụ nữ đã
có con Có thai, sinh đẻ, kinh nguyệt, thời kỳ tiền mãn kinh thì bệnh tiến triển nặng hơn [5,6]
Trang 15Hydralazin Procanamid
Mối liên quan có thể:
Acebutolol Hydrazin Nitrofurantoin Propranolol Atenolol Labetalol Oxprenolol Sulfasalazin Captopril Levodopa Penicillamin Sulfonamid Carbamazepin Lithium Phenytoin Trimethadion Cimetidin Mephenytoin Pindolol
Ethosuximid Metoprolol Pracrolol
Mối liên quan không chắc chắn:
Allopurinol Griseofulvin Phenylbutazon Tetracylin Chlothadion Các thuốc tránh
thai
Reserpin
Muối vàng Penicilin Streptomycin
Cơ chế bệnh sinh
Các phức hợp miễn dịch trong sinh bệnh học bệnh SLE đã được công nhận là
có vai trò quan trọng trong việc gây nên các tổn thương ở các tổ chức Những sự biến đổi dạng màng và tăng sinh được coi như là do sự lắng đọng các phức hợp miễn dịch, chứa phức hợp ADN – kháng ADN và các phức hợp kháng nguyên – kháng thể với sự cố định của bổ thể
Bệnh SLE là một sự rối loạn trong đó có khuyết tật di truyền dẫn đến sự khiếm khuyết trong sự ổn định nội môi giữa tế bào B (miễn dịch dịch thể) Và tế bào T (miễn dịch trung gian tế bào) khi người bệnh bị sự thách thức của những yếu tố như ánh nắng mặt trời, thuốc hoặc virus hoặc sự phối hợp của 3 yếu tố đó Hoạt tính gia tăng của tế bào B dẫn đến hình thành nhiều loại kháng thể kháng lại các kháng nguyên ngoại lai (virus)hay nội tại (ADN hay nucleprotein)
Trang 16Những kháng nguyên lưu hành trong máu có thể là ADN hay nucleprotein đã bị biến đổi do tác dụng của thuốc, ánh sáng mặt trời hay ADN của virus đã hợp thành một phần với ADN của bệnh nhân Sự lắng đọng các phức hợp kháng
nguyên – kháng thể đã đóng vai trò quan trọng trong bệnh sinh của SLE[6] 1.1.4 Triệu chứng và chẩn đoán
Tổn thương bệnh SLE mang tính chất toàn thể với đặc điểm tổn thương nhiều cơ quan trong cùng một thời điểm và có biểu hiện lâm sàng rất đa dạng [5,6]
Triệu chứng lâm sàng
Bệnh có thể bắt đầu từ từ tăng dần, thường là sốt dai dẳng kéo dài không tìm thấy nguyên nhân, hoặc viêm các khớp kiểu viêm khớp dạng thấp, hoặc bắt đầu bằng các dấu hiệu khác Một số bắt đầu nhanh chóng, các triệu chứng xuất hiện đầy đủ ngay trong thời gian đầu Một số bệnh xuất hiện sau một nguyên nhân thuận lợi như nhiễm khuẩn, chấn thương, mổ xẻ, stress
Toàn thân: gồm sốt, mệt mỏi, kém ăn, sút cân Thường sốt không quá cao (hiếm
khi quá 39ºC) Nếu nhiệt độ cao hơn có thể nghĩ đến 1 sự nhiễm trùng khác nữa
Da, niêm mạc: Hầu hết các bệnh nhân có tổn thương da vào một thời điểm nào
đó, ban cánh bướm đặc trưng xuất hiện ở gần một nửa bệnh nhân Rụng tóc thường gặp Tổn thương niêm mạc có xu hướng xuất hiện trong những đợt cấp Hội chứng Raymand (tím tái các đầu chi) có mặt ở khoảng 20% bệnh nhân và thường đi trước các biểu hiện khác của bệnh
Cơ xương khớp: xuất hiện ở trên 90% bệnh nhân và thường là những triệu chứng
sớm của bệnh Các khớp thường bị ảnh hưởng là khớp bàn tay, khớp cổ tay, khớp gối Đôi khi thấy viêm cơ làm cho bệnh nhân rất đay và mệt mỏi Viêm khớp hiếm khi có biến dạng và dấu hiệu bào mòn hầu như không bao giờ thấy trên X quang Hạt dưới da cũng hiếm gặp
Mắt: gồm viêm kết mạc, sợ ánh nắng, mù tạm thời và nhìn mờ, sự xuất hiện của
những chấm dạng bóng len trên võng mạc chứng tỏ có thoái hóa các sợi thần kinh do tác nghẽn các mạch máu võng mạc
Trang 17Phổi: Viêm màng phổi, tràn dịch màng phổi, viêm phế quản phổi và viêm phổi
rất thường gặp, có thể có bệnh phổi hạn chế
Tim: màng tim bị ảnh hưởng ở phần lớn bệnh nhân Viêm nội tâm mạc có nốt
không điển hình Libman-Sacks thường không có triệu chứng lâm sàng song đôi khi có thể gây suy van cấp hoặc mạn tính, mà thông thường nhất là gây hở van hai lá, một trong những nguyên nhân gây nghẽn mạch
Tiêu hóa: Đau bụng, viêm ruột và viêm phúc mạc,có thể do viêm mạch máu,
viêm gan phản ứng không đặc hiệu hoặc viêm gan do salicylat có thể làm thay đổi chức năng gan
Thần kinh, tâm thần: Các biến chứng thần kinh của SLE gồm rối loạn tâm thần,
hội chứng não – nội tạng, co giật, bệnh thần kinh sọ và ngoại biên, viêm tủy cắt ngang, đột quỵ Trầm cảm nặng hoặc rối loạn tâm thần đôi khi có thể nặng lên do dùng liều cao cortisteroid
Thận: Một số loại của viêm cầu thận có thể xuất hiện là viêm cầu thận màng đáy
cuộn mao mạch, viêm cầu thận tăng sinh lan tỏa và viêm cầu thận màng Một số bệnh nhân có thể có viêm thận kẽ Nếu được điều trị hợp lý,tỉ lệ sống xót ngay cả khi có bệnh lý thận cũng rất khả quan
Những biểu hiện lâm sàng khác gồm huyết khối động và tĩnh mạch, hạch to, lách to, viêm tuyến giáp Hashimoto, thiếu máu huyết tán, ban xuất huyết giảm tiểu cầu
Các xét nghiệm cận lâm sàng
Xét nghiệm máu
Công thức máu: Giảm các dòng huyết cầu một phần hay toàn thể, giảm dòng ngoài tủy (không có giảm sản trong tủy)
+ Hồng cầu giảm (thường là thiếu máu)
+ Bạch cầu giảm (chủ yếu là bạch cầu đa nhân trung tính)
+ Tiểu cầu giảm
Trang 18Các xét nghiệm miễn dịch
Lupus ban đỏ hệ thống là bệnh đặc trưng bởi sự xuất hiện của nhiều loại tự kháng thể khác nhau, một số tự kháng thể gây ra những thay đổi đặc hiệu về mặt xét nghiệm:
Xét nghiệm kháng thể kháng nhân (KTKN) nhậy song không đặc hiệu cho lupus, chúng có thể hầu hết dương tính trong các bệnh nhân SLE song cũng dương tính ở bệnh nhân không phải Lupus như viêm khớp dạng thấp, một số loại viêm gan, viêm phổi kẽ
Xét nghiệm kháng thể kháng ADN và kháng Sm đặc hiệu cho Lupus song không nhạy, vì có tới 60% bệnh nhân có kháng thể kháng ADN nhưng không có kháng thể kháng Sm
Hiện tượng giảm bổ thể huyết thanh gợi ý sự tiến triển của bệnh và thường trở về bình thường khi lui bệnh: lượng bổ thể C3 thường thấy ở hầu hết mọi bệnh nhân SLE đang hoạt tính, đặc biệt ở những bệnh nhân có bệnh thận đang hoạt tính và tổn thương ngoài da rộng
Có 3 loại kháng thể kháng phopholipid xuất hiện trong SLE:
Loại thứ nhất gây phản ứng sinh học dương tính giả với giang mai
Loại thứ hai là một yếu tố chống đông máu của lupus: Tuy có tên như thế song đây lại là một yếu tố nguy cơ của huyết khối động tĩnh mạch và xảy thai, thông thường người ta xác định sự có mặt của kháng thể này qua sự kéo dài của thời gian hoạt hóa thromboplastin từng phần
Loại thứ ba là kháng thể kháng cardiolipin là yếu tố nguy cơ của tử vong thai nhi
ở phụ nữ mang thai bị lupus[10]
Xét nghiệm nước tiểu
Những bất thường về cặn nước tiểu thường thấy ở những bệnh nhân có tổn thương thận Tăng đột ngột hồng cầu niệu kèm theo có trụ hoặc không và protein
Trang 19nhẹ thường xuất hiện trong các đợt cấp của bệnh Những thay đổi này thường thay đổi khi bệnh lui
Chẩn đoán
Chẩn đoán xác định:
Chẩn đoán xác định dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán SLE của hội bệnh thấp khớp Hoa Kỳ (American Rheumatism Association ARA) 1982 [38]
11 tiêu chuẩn để phân loại bệnh Lupus:
1/ Ban vùng má: Ban đỏ vùng mũi má hình cánh bướm
2/ Ban dạng đĩa (discoid): Ban đỏ gờ cao, giới hạn rõ có vẩy sừng dính chặt khó cậy, dày sừng từng điểm ở nang lông, có teo da
3/ Mẫn cảm ánh sáng (Photosensitivity): Có tiền sử mẫn cảm ánh sáng hoặc thầy thuốc quan sát thấy
4/ Loét miệng: Không đau, hoặc loét hầu họng không đau, thầy thuốc khám, quan sát thấy
5/ Viêm khớp: Viêm khớp không trợt xước, hai hoặc nhiều khớp ngoại biên, sưng, đau, tràn dịch
6/ Viêm thanh mạc: Viêm màng phổi, tiếng cọ màng phổi, tràn dịch màng phổi; viêm màng tim, tràn dịch màng tim, tiếng cọ màng tim, biến đổi điện tâm đồ 7/ Rối loạn thận: Protein niệu > 500 mg/ngày, có cặn lắng tế bào
8/ Rối loạn hệ thần kinh Trung ương: Động kinh hoặc cơn vắng ý thức tâm thần 9/ Rối loạn huyết học:
- Thiếu máu tan huyết có tăng hồng cầu lưới
- Giảm bạch cầu < 4.000/mm3
- Giảm tiểu cầu < 100.000/mm3
10/ Rối loạn miễn dịch:
Trang 20Tế bào LE dương tính
Anti DNA (+)
Anti Smit (+)
VDRL dương tính giả
11/ Xuất hiện nồng độ bất thường kháng thể kháng nhân
Sự kết hợp 4 tiêu chuẩn là cần thiết để chẩn đoán bệnh SLE Năm 1997 hội thấp khớp học Hoa Kỳ (ACR) điều chỉnh lại Tiêu chuẩn 10: Hủy bỏ sự tìm kiếm tế bào LE, thay đổi huyết thanh giang mai dương tính giả và thay vào đó là hoặc sự hiện diện với số lượng bất thường IgG và IgE kháng thể kháng lipid tim, hoặc kháng thể kháng đông lưu hành bằng phương pháp chuẩn
Tiêu chuẩn này dùng trong nghiên cứu lâm sàng cho mỗi một bệnh nhân khi được chẩn đoán bệnh SLE nếu có 4 tiêu chuẩn trở lên thể hiện riêng rẽ hay đồng thời trong một quãng thời gian quan sát, trong đó tiêu chuẩn KTKN gần như bắt buộc (98-99%) Do vậy nếu một bệnh nhân có đủ 4 tiêu chuẩn nhưng không có ANA dương tính thì cần phải xem xét lại chẩn đoán
Chẩn đoán phân biệt: Viêm da do ánh nắng, viêm bì cơ, phong thể L, dị ứng
thuốc, hội chứng Overlap hoặc bệnh tổ chức liên kết hỗn hợp (mixed connective tissue disease), bệnh máu biểu hiện ở da
1.1.5 Phân loại bệnh
Lupus ban đỏ được phân thành 2 mức độ bệnh: nhẹ và nặng Mức độ nhẹ bao gồm các biểu hiện: Sốt, mệt mỏi, rụng tóc, đau khớp, đau đầu, ban da, viêm màng phổi, viêm màng ngoài tim Mức độ nặng là mức độ đe dọa tính mạng của bệnh nhân bao gồm thiếu máu tan huyết, xuất huyết giảm tiểu cầu, tổn thương thận, tràn dịch màng phổi, màng tim, viêm mạch cấp tính ở các điểm nút hoặc ở
đường tiêu hóa, các tổn thương liên quan đến hệ thần kinh trung ương
Ngoài ra, để phân loại bệnh nhân người ta còn căn cứ vào một số xét nghiệm cận lâm sàng như công thức máu, tốc độ máu lắng [6]
Trang 21Điều trị tại chỗ: Kem corticoid nhóm trung bình , kem chống nắng
Điều trị toàn thân:
Corticoid: là thuốc quan trọng nhất Liều lượng tùy theo từng giai đoạn và tiến triển bệnh Liều tấn công thường dùng là 2-3mg/kg/24 giờ, khi triệu chứng giảm thì bắt đầu giảm liều Thông thường khoảng 1-2 tuần giảm 10mg
Các thuốc ức chế miễn dịch khác: azathioprin, cyclophosphamid, cyclosporin, methotrexat, Các thuốc này có thể phối hợp với corticoid hoặc dùng riêng tùy tiến triển của bệnh
Các chất sinh học: Infliximab, Etanercept…có thể được chỉ định cho những trường hợp người bệnh nặng, không đáp ứng với corticoid và cách thuốc
ức chế miễn dịch
Các thuốc dùng trong điều trị
Có nhiều nhóm thuốc được sử dụng, tuy nhiên tùy theo mức độ nặng nhẹ của thể bệnh mà sử dụng các thuốc cũng như phác đồ điều trị khác nhau:
Đối với thể lành tính: là thể không có tổn thương nội tạng đe dọa đến tính mạng Các thuốc chỉ định bao gồm: CVKS và chống sốt rét tổng hợp Ở giai đoạn tiến triển chị định thêm corticoid liều nhỏ (10-20mg/24h), ngắn ngày
Đối với thể nặng: là thể có tổn thương các tạng quan trọng, thường là thận Sử dụng corticoid liều cao: 1-2mg/kg/24h Khi bệnh được kiểm soát, giảm liều 10% mỗi tuần Đến khi đạt 20mg/24h thì giảm chậm hơn, có thể dùng liều gấp đôi cách ngày Kết hợp với thuốc chống sốt rét tổng hợp
Trang 22Các thuốc điều trị toàn thân
Hiện nay chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu đối với SLE, chủ yếu là điều trị kiểm soát các đợt cấp, giảm các triệu chứng, duy trì chức năng các cơ quan nội tạng, hạn chế bùng phát
Hiện có 5 nhóm thuốc điều trị bệnh SLE chủ yếu, đó là:
Corticoid (methylprednisolon, prednisolon…) với thể nhẹ dùng đường
uống liều thấp, thể nặng liều dùng là 1-2mg/kg/ngày, khi bệnh được kiểm soát thì giảm liều từ từ Liều “pulse” chỉ định với trường hợp đe doạ tính mạng bệnh nhân, bệnh khó kiểm soát, chú ý tác dụng phụ của corticoid [13,28]
Thuốc ức chế miễn dịch (methotrexat, cyclophosphomid, azathiopin, cyclosporine,.) chỉ định trường hợp không đáp ứng corticoid hoặc phối hợp với
corticoid để giảm liều corticoid, hạn chế tác dụng phụ của thuốc; cần chú ý tác dụng không mong muốn của các thuốc nhóm này [15,17,18]
Thuốc kháng sốt rét tổng hợp (chloroquin, hydroxychloroquin) điều trị các
trường hợp có sốt, ban đỏ, nhạy cảm ánh sáng, loét miệng, đau-viêm khớp, rụng tóc
Các thuốc chống viêm không steroid dùng trong trường hợp nhẹ, chủ yếu làm
giảm triệu chứng đau-viêm khớp, đau cơ, sốt, viêm màng hoạt dịch nhẹ,… chú ý các tác dụng phụ trên đường tiêu hoá [13,27]
Các hoạt chất sinh học ( rituximab, belimumab…) ức chế hoạt động hoặc tiêu
diệt lympho B có vai trò sản xuất tự kháng thể trong bệnh SLE Các thuốc này được chỉ định trong trường hợp bệnh hoạt động mạnh và không đáp ứng với các phương pháp điều trị trên Ưu điểm của nhóm thuốc này là tác dụng nhanh, tuy nhiên vấn đề giá thành cao, tác dụng phụ như nhiễm trùng hay nguy cơ ung thư vẫn còn là điều cần phải cân nhắc [21]
Các thuốc làm hạn chế tiến triển bệnh
Glucocorticoid: Glucocorticoid (GC) là hormon vỏ thượng thận có vai trò
quan trọng duy trì chuyển hóa năng lượng và duy trì huyết áp Sự thiếu GC sẽ
Trang 23dẫn đến các rối loạn nghiêm trọng như suy nhược, hạ đường huyết, sốc và có thể
tử vong nếu không điều trị tích cực
Thuốc ức chế miễn dịch khác
Trong các trường hợp có tổn thương cầu thận nhưng dùng corticoid liều cao vẫn không có tác dụng có thể dùng các thuốc ức chế miễn dịch hỗ trợ để giảm nhanh hơn liều corticoid cần thiết kiểm soát bệnh Ở bệnh nhân bị bệnh lupus nặng có thể sử dụng thuốc ức chế miễn dịch như azathioprin (imuran) Hơn nữa, rõ ràng là dùng hỗ trợ cyclophosphamid (endoxan) hay Imuran với corticoid liều cao, cải thiện rõ rệt tiên lượng tổn thương thận trong bệnh lupus ban đỏ
Thuốc điều trị tại chỗ
Có nhiều loại thuốc được sử dụng trong điều trị tại chỗ
Thuốc làm dịu da: kem kẽm oxyd 10%
Corticosteroid: fucicort, eumovat, uniderm,
Thuốc ức chế miễn dịch: Thường dùng là tacrolimus 0,1% và pimecrolimus 1%
1.2 Hiệu quả và tính an toàn của Kẽm oxyd trong hỗ trợ điều trị Lupus ban
đỏ 1.2.1 Kẽm oxyd
Kẽm oxyd thường được dùng phối hợp với các hoạt chất khác trong các chế phẩm gồm nhiều vị thuốc dưới các dạng kem dùng ngoài, hồ bôi, thuốc mỡ, đạn trực tràng, bột phẩm trẻ em, băng dính,…[1]
Dạng thuốc và hàm lượng
Kẽm oxyd có tính chất săn da và sát khuẩn nhẹ và được dùng bôi tại chỗ để bảo vệ, làm dịu tổn thương chàm (eczema) và các chỗ trợt da nhẹ Kẽm oxyd thường được dùng với hắc in than đá hoặc ichthammol để điều trị chàm Kẽm oxyd phản xạ tia cực tím nên còn được sử dụng trong các kem chống nắng
Trang 24Trong phần lớn những chế phẩm chứa kẽm oxyd còn có những chất khác như titan oxyd, bismuth oxyd, glycerol, bôm (nhựa thơm) Peru, ichthammol,…đặc biệt các chất mỡ có tính chất bít kín nên có thể dễ gây bội nhiễm Một vài chất còn có thể gây dị ứng
Kẽm oxyd cũng còn là chất cơ sở để làm một số loại xi măng nha khoa Khi trộn với acid phophoric, kẽm oxyd tạo thành một vật liệu cứng mà thành phần chủ yếu là kẽm phosphat, vật liệu này trộn với dầu đinh hương hoặc eugenol dùng để hàn răng tạm thời
Chỉ định
Dưới những dạng thuốc mỡ và hồ bôi được dùng, kẽm oxyd được dùng rộng rãi trong điều trị da khô, các bệnh da và nhiễm khuẩn da như: Vùng da bị kích ứng do lỗ dò tiêu hóa, hậu môn nhân tạo, mở thông bàng quang Điều trị hỗ trợ chàm (eczema) Vết bỏng, không rộng Cháy nắng, hồng ban do bị chiếu nắng, bảo vệ da do nắng Trứng cá, côn trùng châm đốt, ban do tã lót, vảy da đầu, tăng tiết nhờn, chốc, nấm da, vảy nến, loét dãn tĩnh mạch, ngứa
Thận trọng
Trước khi bôi thuốc và trong quá trình điều trị phải đảm bảo vô khuẩn vùng được bôi thuốc vì có thể bội nhiễm ở các vùng bị thuốc che phủ
1.2.2 Hiệu quả của Kẽm oxyd trong hỗ trợ điều trị Lupus ban đỏ hệ thống
Trong bệnh lupus ban đỏ kẽm oxyd được sử dụng để bôi ngoài ra nhằm hỗ trợ điều trị, tăng hiệu quả điều trị của các thuốc chính Nó hoạt động bằng cách cung cấp một hàng rào da để ngăn ngừa và giúp chữa lành da bị kích thích Thuốc mỡ kẽm oxyd được sử dụng trong thuốc mỡ, để bảo vệ khỏi bị cháy nắng
và tổn hại khác về da do tia cực tím Như vậy thuốc mỡ kẽm oxyd được sử dụng nhằm hỗ trợ tăng cường hiệu quả điều trị, đồng thời giúp bệnh nhân tránh được những tác nhân xấu đến bệnh đặc biệt là ánh nắng
Thang điểm Sledai đánh giá mức độ nặng của bệnh Lupus ban đỏ hệ thống
Trang 25Thang điểm SLEDAI được đưa ra năm 1992 đánh giá 24 triệu chứng của 9 tạng trong cơ thể nhằm đánh giá mức độ nặng của bệnh Mức độ hoạt tính của bệnh thay đổi từ 0 – 105 (SLEDAI = 0: không hoạt tính; 1 – 5: hoạt tính nhẹ; 6 – 10: hoạt tính trung bình; 11 – 19: hoạt tính cao; ≥ 20 hoạt tính rất cao)(1) Đánh giá bao gồm hỏi bệnh sử và khám lâm sàng, ghi nhận các triệu chứng xuất hiện trong vòng 10 ngày Thang điểm ECLAM được đưa ra năm 1991 gồm 33 triệu chứng được phân thành 12 nhóm (10 nhóm triệu chứng lâm sàng của 10 tạng và
2 cận lâm sàng: tốc độ lắng máu, nồng độ bổ thể) thang điểm từ 0 – 17,5 Đánh giá bao gồm hỏi bệnh sử và khám lâm sàng, ghi nhận các triệu chứng xuất hiện [28]
Một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng thuốc
Các yếu tố về sinh lý như nhiệt độ bề mặt da và khả năng dãn mạch, mức độ hydrat hóa lớp sừng
Loại da: các thí nghiệm cho thấy loại da có ảnh hưởng đến tính thấm và khả
năng hấp thụ kẽm oxyd qua da
Độ tuổi:mức độ đáp ứng cũng khác nhau về độ tuổi do khác nhau về bề mặt lớp
sừng Người trẻ tuổi thường hấp thu tốt hơn người cao tuổi vì vậy khả năng đáp ứng với kẽm oxyd ở những người này cũng sẽ cao hơn
Nhiệt độ: khi tăng nhiệt độ (cả nhiệt độ da và nhiệt độ thuốc) sẽ làm dãn mạch,
tăng nhiệt độ tuần hoàn làm cho sự chênh lệch nồng độ dươc chất trên dưới sẽ cao vì vậy làm tăng tốc độ khuếch tán qua da.Chính vì vậy những bệnh nhân có nhiệt độ vùng da thương tổn càng cao (điều kiện bệnh lý, chà xát, băng bó, ) thì khả năng hấp thu thuốc càng lớn
Mức độ hydrat hóa lớp sừng: da ẩm (mức độ hydrat hóa cao) làm khả năng hấp
thu kẽm oxyd tốt hơn [33,34]
1.2.3 Tính an toàn của Kẽm oxyd trong hỗ trợ điều trị Lupus ban đỏ hệ
thống
Trang 26Bên cạnh những hiệu quả của kẽm oxyd trong điều trị, thuốc cũng gây ra một số tác dụng phụ như: dị ứng thuốc , tương tác thuốc, phát ban, nổi mề đay, khó thở, tức ngực, sưng miệng,hoăc mặt, môi, lưỡi Tác dụng phụ này sẽ không gặp hoặc ít trên một số người [33,34]
Trong phần lớn các chế phẩm chứa kẽm oxyd còn có những chất khác như titan oxyd, bismuth oxyd, glycerol, bôm (nhựa thơm) Peru, ichthammol ; đặc biệt các chất mỡ có tính chất bít kín nên có thể dễ gây bội nhiễm Một vài chất còn có thể gây dị ứng Một số yếu tố có thể gây tương tác với kẽm oxit Đặc biệt như các trường hợp :
Nếu đang mang thai, dự định có thai, hoặc đang cho con bú: hiện nay chưa chắc chắn rằng việc sử dụng thuốc mỡ kẽm oxyd có hay không được bài tiết qua sữa mẹ
Nếu đang dùng bất cứ loại thuốc theo toa hoặc không theo toa thuốc, chuẩn bị thảo dược, bổ sung chế độ ăn uống
Nếu bị dị ứng với thuốc, thực phẩm, hoặc các chất khác
Một số thuốc có thể tương tác với kẽm oxyd tuy nhiên, không có tương tác
cụ thể với kem kẽm oxit được biết vào thời điểm này Đặc biệt, cần lưu ý về liều lượng dùng của thuốc do kẽm oxyd làm tăng hấp thu của corticoid dùng tại chỗ [33,34]
1.3 Các nghiên cứu về sử dụng kẽm oxyd trên bệnh nhân lupus ban đỏ
Ở Việt Nam và trên Thế giới đã có nhiều nghiên cứu liên quan đển lupus ban
đỏ hệ thống cũng có nhiều nghiên cứu thực hiện tại bệnh viện Da Liễu Trung Ương Tuy nhiên các nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu về các chuẩn đoán, điều trị hay nguyên nhân,… Số ít nghiên cứu còn lại nghiên cứu còn lại nghiên cứu về tình hình sử dụng thuốc nhưng lại chưa có bất kì một nghiên cứu nào về
việc sử dụng kẽm oxyd - một thuốc được sử dụng nhiều tại đây
Trang 27CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là bệnh án của những bệnh nhân được chuẩn đoán lupus ban đỏ hệ thống điều trị nội trú tại bệnh viện Da Liễu Trung Ương từ năm
2015 đến năm 2016
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp nghiên cứu hồi cứu
2.2.1 Phương pháp chọn mẫu
Các bệnh án được lựa chọn ngẫu nhiên, bao gồm những bệnh án được sử dụng kẽm oxyd và cả bệnh án không được sử dụng kẽm oxyd ở những bệnh nhân măc lupus ban đỏ điều trị tại bệnh viện Da liễu Trung Ương từ năm 2015- 2016
Bệnh nhân nghiên cứu phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ của nghiên cứu Bệnh nhân tuân thủ đúng theo điều trị của bác sĩ để theo dõi những tiến triển của bệnh cũng như những tác dụng phụ của thuốc (nếu có)
Thu thập số liệu bằng cách lấy bệnh án tương ứng của bệnh nhân và theo dõi điều trị tại bệnh viện
Trên từng bệnh nhân thu thập thông tin vào phiếu khảo sát bệnh nhân (phụ lục)
2.2.2 Thiết kế nghiên cứu
Theo dõi quá trình điều trị , những tiến triển của bệnh trên những bệnh án
sử dụng kẽm oxyd và không dùng kẽm oxyd từ 2015 – 2016
Thực hiện quá trình thu thập và xử lý thông tin trên cả hai loại bệnh án (có
sử dụng và không sử dụng kẽm oxyd) thông qua kết quả của các xét nghiệm cận lâm sàng và biểu hiện lâm sàng trên bệnh nhân
Các xét nghiệm huyết học và sinh hóa được thực hiện đầy đủ có định kì để theo dõi sự tiến triển bệnh
Trang 28Liều kẽm oxyd/ các thuốc điều trị được ghi lại và theo dõi, những tác dụng phụ xuất hiện trong quá trình dùng thuốc ( được coi là do kẽm oxyd gây ra) và tiến triển bệnh được theo dõi và ghi lại vào phiếu theo dõi bệnh nhân
So sánh những thông tin thu thập được trên hai loại bệnh nhân: được dùng
và không được sử dụng kẽm oxyd
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Đặc điểm về tuổi trung bình của bệnh nhân
Tỷ lệ bệnh nhân theo giới tính
Hiệu quả sử dụng kẽm oxyd trong hỗ trợ điều trị bệnh lupus ban đỏ
Hiệu quả sử dụng thể hiện qua các tiến triển triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng thông qua các lần khám lại:
Các triệu chứng lâm sàng: ban đỏ cánh bướm, nhạy cảm ánh sáng, ban đỏ dạng đĩa, loét miệng, đau khớp, rụng tóc,…
Các triệu chứng cận lâm sàng: Theo dõi kết quả các xét nghiệm trước quá trình điều trị và trong quá trình điều trị:
Sinh hóa với các chỉ số: protein, albumin, men gan, ure, creatinin, cholesterol,
triglycerid, phát hiện men gan tăng, suy thận
Chỉ số huyết học: xác định chỉ số hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu
Trang 29Tốc độ máu lắng
Tổng phân tích tế bào nước tiểu: Theo dõi các chỉ số protein niệu, hồng cầu niệu,
bạch cầu niệu
Xét nghiệm miễn dịch ANA, anti ds – DNA
Đánh giá mức độ khỏi bệnh và mức độ hoạt tính của bệnh nhân theo thang điểm Sledai
Kẽm oxyd và tính an toàn trong điều trị:
An toàn với các cơ quan trong cơ thể
Đánh giá các tác dụng không mong muốn và tỷ lệ gặp các tác dụng không mong muốn
Dựa trên các triệu chứng lâm sàng
Dựa trên các chỉ số cận lâm sàng
2.4 Phương pháp xử lí số liệu:
Nhập số liệu: Các số liệu thu thập được nhập và lưu trữ bằng phần mềm Microsoft Excel 2010 Sau đó làm sạch số liệu bằng cách xem xét lại toàn bộ và hiệu chỉnh các sai sót trong quá trình nhập số liệu
Xử lý và phân tích số liệu: phép toán thống kê được thực hiện với sự trợ giúp của phần mềm SPSS 16.0 for Windows và phần mềm Microsoft Excel
2010 Số liệu được biểu hiện dưới dạng số đếm, tỷ lệ % hoặc trung bình ± độ lệch chuẩn
Trang 30CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu:
Trong mẫu nghiên cứu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 80 bệnh án nhưng do có 4 bệnh nhân nhập viện 2 lần trong năm Nên chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát các đặc điểm trên 76 án tương ứng với 76 bệnh nhân nhập viện
Bệnh xác định là SLE với 4 tiêu chuẩn trở lên trong 11 tiêu chuẩn chẩn đoán của hội Thấp Khớp học Hoa Kì Kết quả nghiên cứu về đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu như sau:
3.1.1 Đặc điểm phân bố bệnh nhân theo giới, tuổi
Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo giới, tuổi
Nhóm tuổi
Nhận xét: Qua bảng 3.1 ta thấy:
Tỉ lệ mắc lupus ban đỏ hệ thống ở nữ gấp 5 lần nam ( 84,2% so với 15,7%)
Trang 31Tuổi mắc bệnh trung bình trong nghiên cứu này là 25,58 ± 14,07 , trong đó tuổi mắc bệnh cao nhất là 66 tuổi và thấp nhất là 6 tuổi Nhóm tuổi mắc bệnh cao nhất là nhóm tuổi 20-29 tuổi chiếm tỷ lệ 36,8 %, tiếp theo là nhóm tuổi dưới 20 tuổi chiếm tỷ lệ 21,1 % , thấp nhất là nhóm tuổi trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ 5,3% Qua bảng ta có thể thấy bệnh nhân mắc bệnh lupus ban đỏ hệ thống chủ yếu
là nữ và ở độ tuổi trưởng thành
3.1.2 Thời gian mắc bệnh SLE
Bảng 3.2 Phân bố bệnh nhân theo thời gian mắc bệnh
STT Thời gian mắc bệnh Số bệnh nhân Tỷ lệ(%)
Nhận xét: Qua bảng 3.2 ta thấy: Thời gian mắc bệnh của bệnh nhân mắc
bệnh SLE dưới 1 năm cao nhất với 39,5%,từ 1- 2 năm là 23,7 %, tỉ lệ bệnh nhân đến khám giảm dần với khoảng thời gian mắc bệnh tăng dần
3.1.3 Các biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng xếp theo 11 tiêu chuẩn chẩn đoán của ACR – 1997
Trang 32Bảng 3.3: Các biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng xếp theo 11 tiêu chuẩn chẩn đoán của ACR – 1997:
17
2
17
22,4 2,6 22,4
9
Rối loạn về máu Bạch cầu < 4000/mm3 Lympho < 1500/mm3 Tiểu cầu < 100000/mm3
43
14
43
56,6 18,4 56,6
Nhận xét: Qua bảng 3.4 cho thấy: Các biểu hiện như cao nhất là ban đỏ
cánh bướm 78,9%, nhạy cảm ánh sáng chiếm tỷ lệ 85,5%, ANA dương tính 84,2%, anti ds-DNA 77,6% Các rối loạn về khớp (viêm khớp), về máu cũng chiếm tỉ lệ khá cao ( 55,3% và 56,6%) Các rối loạn về thận và loét miệng chiếm
tỉ lệ ít hơn (22,4% và 21,1%)