Trên sông có 29 hệ thống thủy nông, 900 hồ chứa lớn và nhỏ, 1.300 đập dâng, hàng nghìn trạm bơm điện lớn nhỏ, hàng vạn công trình tiểu thủy nông như mương, phai… Cùng với sự phát triển k
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
NGUYỄN QUANG THI
NGHIÊN CỨU TIỀM NĂNG VÀ ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG BỀN VỮNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI LƯU VỰC HỒ BA BỂ,
TỈNH BẮC KẠN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
THÁI NGUYÊN, NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
NGUYỄN QUANG THI
NGHIÊN CỨU TIỀM NĂNG VÀ ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG BỀN VỮNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI LƯU VỰC HỒ BA BỂ,
TỈNH BẮC KẠN
NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 62.85.01.03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Văn Hùng
THÁI NGUYÊN, NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tôi xin đảm bảo những số liệu và kết quả trong luận án này là trung thực, khách quan và chưa có ai công
bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác Các tài liệu tham khảo đều có nguồn trích dẫn theo quy định
TÁC GIẢ
Nguyễn Quang Thi
Trang 4Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; Ban Giám đốc và
Ban đào tạo - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi
trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn;
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn và Uỷ ban nhân dân huyện Ba Bể và Chợ Đồn; Ủy ban nhân dân xã, các
cán bộ địa chính, nông nghiệp, khuyến nông, các các bộ thôn bản và bà con
nhân dân 11 xã trong lưu vực hồ Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã hợp tác, giúp đỡ và
tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
4 Một số đóng góp mới của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận chung 4
1.1.1 Một số khái niệm khoa học 4
1.1.2 Lưu vực 5
1.1.3 Sử dụng đất nông nghiệp bền vững 16
1.1.4 Hiệu quả sử dụng đất 21
1.1.4.1 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất 21
1.1.4.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất 21
1.1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 22
1.1.5 Đánh giá đất và đánh giá tiềm năng đất đai 24
1.2 Các nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp lưu vực trên thế giới và Việt Nam 27
1.2.1 Các nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp lưu vực trên thế giới 27
1.2.2 Các nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp theo lưu vực tại Việt Nam 35
1.3 Các nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp tại Bắc Kạn và lưu vực hồ Ba Bể 47
1.4 Đánh giá chung về tổng quan tài liệu 49
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 53 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 53
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 53
Trang 62.1.2 Phạm vi nghiên cứu 53
2.2 Nội dung nghiên cứu 53
2.3 Phương pháp nghiên cứu 53
2.3.1 Phương pháp xác định lưu vực 53
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu tài liệu 54
2.3.3 Phương pháp phúc tra, chỉnh lý bản đồ đất và lấy mẫu đất phân tích 56
2.3.4 Phương pháp phân tích đất 57
2.3.5 Phương pháp đánh giá hiệu quả, bền vững của các loại sử dụng đất 57
2.3.6.Phương pháp xây dựng bản đồ bằng công nghệ GIS và các phần mềm chuyên dụng 59
2.3.7 Phương pháp đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp dựa trên hướng dẫn đánh giá đất của FAO 59
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 61
3.1 Một số nét khái quát về điều kiện tự nhiên của lưu vực hồ Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 61 3.1.1 Phạm vi lưu vực hồ Ba Bể và vị trí địa lý 61
3.1.2 Địa hình 61
3.1.3 Khí hậu, thời tiết 62
3.1.4 Thuỷ văn 63
3.1.5 Tài nguyên rừng 64
3.1.6 Tài nguyên đất tại lưu vực hồ Ba Bể 65
3.2 Hiện trạng sử dụng đất, các loại sử dụng đất nông nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp tại lưu vực hồ Ba Bể 74
3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất tại lưu vực hồ Ba Bể 74
3.2.2 Hiện trạng các loại sử dụng đất và kiểu sử dụng đất tại lưu vực hồ Ba Bể 76
3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp lưu vực hồ Ba Bể 83
3.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế 83
3.3.2 Đánh giá hiệu quả xã hội của các loại sử dụng và kiểu sử dụng đất 91
3.3.3 Đánh giá hiệu quả môi trường của các loại sử dụng đất lưu vực hồ Ba Bể 95
3.3.4 Đánh giá tính bền vững của các loại sử dụng đất lưu vực hồ Ba Bể 99
3.3.5 Nhận xét chung 100
3.4 Đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp lưu vực hồ Ba Bể 102
3.4.1 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 102
3.4.2 Đánh giá tiềm năng đất đai với các loại sử dụng đất đã lựa chọn để phát triển trong lưu vực 109
3.4.3 Nhận xét chung 113
Trang 73.5 Xây dựng một số mô hình sử dụng đất bền vững tại lưu vực hồ Ba Bể 114
3.5.1 Mô hình thâm canh lúa có nước tưới chủ động tại tiểu vùng hạ lưu 114
3.5.2 Mô hình sử dụng đất dốc không có tưới với kiểu sử dụng đất Đậu tương xuân - lúa mùa - ngô lai tại tiểu vùng trung lưu 115
3.5.3 Mô hình thâm canh khoai môn 116
3.5.4 Mô hình trồng cây dược liệu dưới tán rừng tại tiểu vùng thượng lưu 118
3.6 Đề xuất định hướng và giải pháp sử dụng bền vững đất nông nghiệp tại lưu vực hồ Ba Bể 120
3.6.1 Đề xuất định hướng sử dụng bền vững đất nông nghiệp tại lưu vực hồ Ba Bể 120 3.6.2 Giải pháp sử dụng đất nông nghiệp bền vững tại lưu vực hồ Ba Bể 124
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 129
1 Kết luận 129
2 Kiến nghị 130
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 131
TÀI LIỆU THAM KHẢO 132 PHỤ LỤC
Trang 8lưu vực hồ Ba Bể 65 Bảng 3.3: Kết quả phân tích phẫu diện LVBB1 đất phù sa ngòi suối 66 Bảng 3.4: Kết quả phân tích phẫu diện LVBB2 đất đỏ nâu trên đá vôi 68 Bảng 3.5: Kết quả phân tích phẫu diện LVBB3 đất đỏ vàng trên đá sét
69
Bảng 3.6: Kết quả phân tích phẫu diện LVBB4 đất vàng đỏ trên đá granit 71
Bảng 3.7: Kết quả phân tích phẫu diện LVBB5 đất đỏ vàng biến đổi
do trồng lúa nước 72 Bảng 3.8: Hiện trạng sử dụng đất lưu vực hồ Ba Bể năm 2015 75 Bảng 3.9: Tổng hợp các loại sử dụng và kiểu sử dụng đất tại lưu vực
hồ Ba Bể 77 Bảng 3.10: Hiệu quả kinh tế của các loại sử dụng và kiểu sử dụng đất
nông nghiệp tại lưu vực hồ Ba Bể 84 Bảng 3.11: Bảng phân cấp hiệu quả kinh tế của các loại sử dụng đất
nông nghiệp tại lưu vực hồ Ba Bể (tính bình quân trên 1ha) 88 Bảng 3.12: Phân cấp đánh giá hiệu quả kinh tế các loại sử dụng đất
nông nghiệp tại lưu vực hồ Ba Bể 89
Bảng 3.13: Phân cấp hiệu quả xã hội của các loại sử dụng đất nông
nghiệp tại lưu vực hồ Ba Bể 91 Bảng 3.14: Phân cấp đánh giá hiệu quả xã hội của các loại sử dụng đất
nông nghiệp tại lưu vực hồ Ba Bể 92
Bảng 3.15: Phân cấp hiệu quả môi trường của các loại sử dụng đất
nông nghiệp tại lưu vực hồ Ba Bể 96 Bảng 3.16: Phân cấp hiệu quả môi trường các loại sử dụng, kiểu sử
dụng đất lưu vực hồ Ba Bể 98 Bảng 3.17: Bảng phân cấp hiệu tính bền vững của các loại, kiểu sử
dụng đất nông nghiệp tại lưu vực hồ Ba Bể 99 Bảng 3.18: Các loại và kiểu sử dụng đất bền vững được lựa chọn để
đề xuất phát triển tại lưu vực hồ Ba Bể 100 Bảng 3.19: Tổng hợp các yếu tố, chỉ tiêu và ngưỡng phân cấp phục vụ
xây dựng bản đồ đơn vị đất đai lưu vực hồ Ba Bể 103 Bảng 3.20: Tổng hợp diện tích các loại đất lưu vực hồ Ba Bể 104
Trang 9Bảng 3.22: Phân cấp độ dày tầng đất mịn 105
Bảng 3.23: Phân cấp thành phần cơ giới 105
Bảng 3.24: Phân vùng nhiệt độ không khí lưu vực Ba Bể 106
Bảng 3.25: Phân vùng lượng mưa trung bình năm lưu vực hồ Ba Bể 106
Bảng 3.26: Tổng hợp diện tích theo khả năng tưới nước lưu vực hồ Ba Bể 107
Bảng 3.27: Phân cấp khả tiêu, thoát nước 107
Bảng 3.28: Đặc tính đơn vị đất đai lưu vực hồ Ba Bể 108
Bảng 3.29: Yêu cầu sử dụng đất của các loại sử dụng đất nông nghiệp tại lưu vực hồ Ba Bể 110
Bảng 3.30: Kết quả phân hạng mức độ thích hợp của đất đai với các loại sử dụng đất lưu vực hồ Ba Bể 112
Bảng 3.31: Hiệu quả của mô hình thâm canh 2 vụ lúa trên đất có tưới tại lưu vực hồ Ba Bể (bình quân trong 2 năm) 114
Bảng 3.32: Hiệu quả của mô hình lúa cạn - đậu tương - ngô trên đất dốc không có tưới tại lưu vực hồ Ba Bể (bình quân trong 2 năm) 116
Bảng 3.33: Một số đặc điểm hình thái của 4 giống khoai môn 117
Bảng 3.34: Kết quả theo dõi về sinh trưởng và năng suất của các giống khoai môn 117
Bảng 3.35: Chất lượng củ của các giống khoai môn thử nghiệm 118
Bảng 3.36: Tỷ lệ sống của các cây dược liệu trong mô hình 119
Bảng 3.37: Hiệu quả của mô hình trồng cây dược liệu dưới tán rừng tại lưu vực hồ Ba Bể 119
Bảng 3.38: Đề xuất sử dụng đất nông nghiệp bền vững lưu vực hồ Ba Bể đến năm 2020 122
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.1 - Sơ đồ phương pháp xác định lưu vực 54
Hình 3.1: Bản đồ phân cấp nguy cơ xói mòn đất lưu vực hồ Ba Bể 126
Trang 10DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ALES (Automated Land Evaluation
System)
Hệ thống đánh giá đất tự động
CIAT (The International Center for
FAO (Food and Agriculture
Organization of the United Nations)
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
FESLM (Framework for Evaluating
Sustainable and Management)
Khung đánh giá quản lý đất bền vững
GDP (Gross Domestic Product) Tổng sản phẩm quốc nội
GIS (Geographic information system) Hệ thống thông tin địa lý
IBSRAM (International Board for Soil
Research and Management)
Tổ chức Quốc tế nghiên cứu quản lý
đất dốc IRRI (The International Rice Research
Institute)
Viện nghiên cứu lúa quốc tế
LMU (Land Mapping Unit) Bản đồ đơn vị đất đai
Trang 11VietGAP (Vietnamese Good
Trang 12MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Bắc Kạn là tỉnh vùng núi cao, có địa hình phức tạp, 90% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, hơn 80% dân số sống bằng nghề nông lâm nghiệp, tỷ lệ hộ nghèo là 15,39 % năm 2013 Sản xuất nông nghiệp còn nhỏ
lẻ, manh mún; khả năng cạnh tranh của hàng nông sản không cao, giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác thấp Nhiều lao động trong độ tuổi chưa có việc làm, chất lượng lao động được đào tạo nghề chưa đáp ứng yêu cầu Một số nơi còn nhiều phong tục, tập quán lạc hậu, dân trí thấp, khả năng tiếp cận với các dịch vụ kinh tế - xã hội còn hạn chế
Chủ trương của tỉnh Bắc Kạn nói riêng, các tỉnh miền núi nói chung
và quan điểm đường lối của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay là phát triển ngành nông lâm nghiệp theo hướng bền vững, xoá đói, giảm nghèo thông qua các nghị quyết và chương trình, dự án quốc gia và của tỉnh như Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững, Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời
kỳ từ năm 2011 đến năm 2020, Chương trình 134, Chương trình 135, Chương trình nông thôn mới
Quản lý, sử dụng đất bền vững và có hiệu quả đã trở thành chiến lược quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia Tuy vậy, tài nguyên đất đang đối mặt với các thách thức: hoang hóa và suy thoái đất là một trong tám vấn đề cấp bách trong chiến lược bảo vệ môi trường thế giới trong thế kỷ XXI Thoái hóa đất, xói mòn, rửa trôi, bồi lắng hạ lưu, v.v chủ yếu do các hoạt động sản xuất của con người Quản lý, sử dụng đất bền vững
là nhiệm vụ trọng tâm nhằm bảo vệ và phát triển quỹ đất nông nghiệp quốc gia, đồng thời đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về sử dụng đất, xói mòn đất trên quy mô ô thửa, sườn dốc và theo đơn vị hành chính, nhưng ít nghiên cứu
ở quy mô lưu vực
Lưu vực hồ Ba Bể ngoài những đặc điểm địa hình, đồi núi, khí hậu đặc trưng của tỉnh Bắc Kạn và vùng sinh thái miền núi phía Bắc, còn có
Trang 13những đặc điểm riêng biệt của tiểu vùng khí hậu hồ trên núi đá với khu vực trung tâm của lưu vực là hồ Ba Bể, được biết đến là một trong 20 hồ nước ngọt đẹp nhất thế giới đã được công nhận là Vườn di sản ASEAN, là khu Ramsar thứ ba của Việt Nam, hồ là trung tâm của Vườn quốc gia Ba Bể và nằm trọn vẹn trong khu vực bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn, mặt hồ có diện tích hơn 300 ha, có chiều dài 8 km và chiều rộng 800 m Nằm trên độ cao
178 m so với mặt nước biển, hồ Ba Bể là hồ tự nhiên trên núi duy nhất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng ở Việt Nam Hồ Ba Bể “viên ngọc xanh” còn là một điểm du lịch sinh thái nổi tiếng trong nước và quốc tế Việc sử dụng đất trong lưu vực hồ Ba Bể bên cạnh việc nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường, còn phải bảo vệ cảnh quan, sinh thái, hạn chế tối đa việc bồi lấp lòng hồ và các sông suối
Xuất phát từ những lý do trên, sau khi tìm hiểu tình hình thực tế tại địa
phương và khu vực nghiên cứu tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu tiềm năng
và đề xuất sử dụng bền vững đất nông nghiệp tại lưu vực hồ Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được tiềm năng khai thác sử dụng đất cho phát triển nông
nghiệp bền vững và định hướng sử dụng gắn với giải pháp thực hiện
- Góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn trong đánh tiềm năng,
sử dụng đất nông nghiệp bền vững tại một lưu vực hồ lớn có rừng quốc gia dựa trên tiếp cận hệ thống, tổng hợp và liên ngành
Trang 14- Cung cấp cơ sở khoa học cho việc quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp nói riêng và sử dụng đất nói chung phục vụ phát triển kinh tế, xã hội
và bảo vệ môi trường trong lưu vực
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài không chỉ giúp nâng cao giá trị gia tăng trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp mà còn góp phần bảo tồn quỹ đất nông nghiệp gắn với bảo tồn đa dạng sinh học tại rừng quốc gia Ba Bể
4 Một số đóng góp mới của đề tài
- Đề tài là công trình nghiên cứu có hệ thống, tổng hợp đầu tiên về sử dụng đất nông nghiệp trên toàn lưu vực hồ Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Lựa chọn được các loại sử dụng đất và mô hình sử dụng đất nông nghiệp bền vững đề xuất cho áp dụng
- Đề tài đã xây dựng được một bộ dữ liệu bao gồm cả dữ liệu không gian với các bản đồ chuyên đề và bản đồ tổng hợp bằng các phương pháp chuẩn và dữ liệu thuộc tính về hiện trạng sử dụng đất, tài nguyên đất, rừng, khí hậu làm cơ sở cho các nghiên cứu chuyên ngành tiếp theo
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận chung
1.1.1 Một số khái niệm khoa học
- Đất (soil): Docuchaev (1846 – 1903) đã đưa ra một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về đất: "Đất là lớp vỏ phong hoá trên cùng của trái đất, được hình thành do tác động tổng hợp của năm yếu tố sinh vật, khí hậu, đá mẹ, địa hình và thời gian Nếu là đất đã sử dụng thì có thêm sự tác động của con người là yếu tố hình thành đất thứ 6” Giống như vật thể sống khác, đất cũng
có quá trình phát sinh, phát triển và thoái hoá vì các hoạt động về vật lý, hoá học và sinh học luôn xảy ra trong nó
Theo Wiliam (1863 – 1939) đưa ra định nghĩa: "Đất là lớp tơi xốp của
vỏ lục địa có khả năng sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng" Như vậy theo quan điểm này, đặc tính cơ bản nhất của đất là độ phì nhiêu, là khả năng cho sản phẩm
- Đất đai (land): Là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể
và có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chất chu
kỳ có thể dự đoán được có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội như thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người Theo học thuyết sinh thái học cảnh quan (Landscape Ecology), đất đai được coi là vật mang (Carrier) của hệ sinh thái (Eco- System) Trong đánh giá phân hạng, đất đai được định nghĩa như sau: “Một vùng hay khoanh đất được xác định về mặt địa lý là một diện tích bề mặt của trái đất với những thuộc tính ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể
dự đoán được của sinh quyển bên trên, bên trong và bên dưới nó như là: không khí, đất, điều kiện địa chất, thủy văn, thực vật và động vật cư trú, những hoạt động hiện nay và trước đây của con người, ở chừng mực mà những thuộc tính này có ảnh hưởng, có ý nghĩa tới việc sử dụng vạt đất đó của con người hiện tại và trong tương lai”
- Chất lượng đất đai (land quality): Một thuộc tính của đất có ảnh hưởng tới tính bền vững đất đai đối với một kiểu sử dụng đất cụ thể như: đất cát, đất mặn, đất phèn, đất phù sa (loại đất), độ dốc (0 - <30; 3 - <80; v.v…), v.v
- Khái niệm về đánh giá đất (Land Evaluation - LE): FAO đã định
Trang 16nghĩa về đánh giá đất đai như sau: Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt/khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại yêu cầu sử dụng đất cần phải có (FAO, 1976)
- Sử dụng đất (land uses): Đó là hoạt động tác động của con người vào đất đai nhằm đạt kết quả mong muốn trong quá trình sử dụng Trên thực tế
có nhiều loại hình sử dụng đất chủ yếu như đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cỏ, đất trồng rừng, đất cảnh quan du lịch, v.v…, ngoài ra còn có đất sử dụng đa mục đích với hai hay nhiều kiểu sử dụng chủ yếu trên cùng một diện tích đất Kiểu sử dụng đất có thể là trong hiện tại nhưng cũng có thể là trong tương lai, nhất là khi các điều kiện kinh tế, xã hội, cơ sở hạ tầng, tiến bộ khoa học thay đổi Trong mỗi kiểu sử dụng đất thường gắn với những đối tượng cây trồng hay vật nuôi cụ thể
- Yêu cầu sử dụng đất đai (land use requirements - LUR) là những đòi hỏi về đặc tính và tính chất đất đai để đảm bảo cho mỗi loại sử dụng đất đưa vào đánh giá có thể phát triển bền vững
- Loại/kiểu sử dụng đất đai chính (major kind of land use): Phân chia nhỏ chủ yếu của sử dụng đất nông nghiệp như: đất sản xuất nông nghịêp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác Ví dụ: Nông nghiệp nước trời; Nông nghiệp được tưới; Lâm nghiệp - rừng; Đồng cỏ chăn thả; Nuôi trồng thuỷ sản
- Loại/kiểu sử dụng đất (land utilization type- LUT): Một loại sử dụng đất đai được miêu tả hay xác định theo mức độ chi tiết từ kiểu sử dụng đất chính Loại sử dụng đất đai có liên quan tới mùa vụ, kết hợp mùa vụ hoặc hệ thống cây trồng với các phương thức quản lý và tưới xác định trong môi trường kỹ thuật và kinh tế - xã hội nhất định
- Loại sử dụng đất là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng đất với những thuộc tính của các LUT và các yêu cầu sử dụng đất (LUR) của chúng, LUT được cụ thể hoá bằng kiểu sử dụng đất
1.1.2 Lưu vực
1.1.2.1 Khái niệm lưu vực
Nước trên bề mặt đất theo quy luật chung đều chảy từ nơi cao xuống nơi thấp, lâu ngày các đường chảy tạo thành sông suối, hồ Mỗi một dòng sông đều có phần diện tích hứng và tập trung nước gọi là lưu vực sông, hồ
Một lưu vực sông, hồ là vùng địa lý được giới hạn bởi đường chia nước (hay còn gọi là đường phân thủy) trên mặt và dưới đất Đường chia
Trang 17nước trên mặt (hay còn gọi là đường phân nước mặt) là đường nối các đỉnh cao của địa hình Nước từ đỉnh cao chuyển động theo hướng dốc của địa hình để xuống chân dốc là các suối nhỏ rồi tập trung đến các nhánh sông lớn hơn chảy về biển Cứ thế chúng tạo thành mạng lưới sông Trên lưu vực sông, ngoài các diện tích đất trên cạn còn có các phần chứa nước trong lòng sông, hồ và các vùng đất ngập nước theo từng thời kỳ Tất cả phần bề mặt lưu vực cả trên cạn và dưới nước là môi trường cho các loài sinh sống Đường chia nước dưới đất (hay còn gọi đường phân nước ngầm) là đường giới hạn trong lòng đất mà theo đó nước ngầm chảy về hai phía đối lập nhau Đường phân nước mặt và đường phân nước ngầm nhìn chung là không trùng nhau, do đó sẽ có hiện tượng nước từ lưu vực này chuyển sang lưu vực khác
Sự khác nhau là do cấu tạo và phân bố địa chất khác nhau Đặc biệt, với các lưu vực sông nằm trên vùng đá vôi thường xuất hiện hiện tượng kaster, tức dòng chảy ngầm từ lưu vực này chuyển sang lưu vực khác, thậm chí dòng chảy mặt trên sông tự nhiên biến mất và lộ ra ở hạ lưu hay chuyển sang một dòng sông của lưu vực khác )
Về mặt hình thái, lưu vực một con sông, hồ có thể chia thành các vùng thượng lưu, trung lưu và hạ lưu
- Vùng thượng lưu thường là các vùng cao với địa hình dốc, chia cắt phức tạp Đây là nơi khởi nguồn của các dòng sông và bề mặt thường bao phủ bằng những cánh rừng được ví như những “kho nước xanh” có vai trò điều hòa dòng chảy, làm giảm dòng chảy đỉnh lũ và tăng lượng dòng chảy mùa cạn cho khu vực hạ lưu
- Vùng trung lưu thường là vùng đồi núi hoặc cao nguyên có địa hình thấp và thoải hơn, là vùng trung gian chuyển nước xuống vùng hạ lưu Tại vùng trung lưu, các con sông thường có độ dốc nhỏ hơn, lòng sông bắt đầu
mở rộng ra và bắt đầu có bãi, đáy sông có nhiều cát mịn Các bãi ven sông thường có nguy cơ bị ngập nước tạo thành các bãi chứa lũ tạm thời
- Vùng hạ lưu là vùng thấp nhất của lưu vực sông, hồ, phần lớn là đất bồi tụ lâu năm có thể tạo nên các vùng đồng bằng rộng Nhìn chung các sông, hồ khi chảy đến hạ lưu thì mặt cắt sông mở rộng, sông thường phân thành nhiều nhánh đổ ra biển Sông ở hạ lưu thường có độ dốc nhỏ, dòng bùn cát chủ yếu ở đáy sông là cát mịn và bùn Do mặt cắt sông mở rộng nên tốc
độ nước giảm nhỏ khiến cho quá trình bồi lắng là chủ yếu, còn xói lở chỉ xảy
ra trong mùa lũ tại một số điểm nhất định Tại hạ lưu gần biển các sông
Trang 18thường dễ bị phân nhánh, lòng sông biến dạng uốn khúc theo hình sin và thường có sự biến đổi về hình thái dưới tác động của quá trình bồi xói liên tục
Lưu vực sông, hồ là một hệ thống mở và luôn tương tác với tầng khí quyển bên trên thông qua hoạt động của hoàn lưu khí quyển và chu trình thuỷ văn, nhờ đó hàng năm lưu vực sông đều nhận được một lượng nước đến
từ mưa để sử dụng cho các nhu cầu của con người và duy trì hệ sinh thái Có nhiều khái niệm khác nhau về lưu vực sông, hồ dưới đây là một số định nghĩa có thể tham khảo:
- Phần diện tích mặt đất giới hạn bởi đường phân thủy, trên đó nước chảy vào một con sông, hồ hay một hệ thống sông, hồ nào đó gọi là lưu vực Phần diện tích từ đó nước mặt và nước ngầm tập trung vào một hệ thống được gọi là diện tích tập trung nước của hệ thống sông, hồ
- Lưu vực sông, hồ là vùng địa lý mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông, hồ
- Phần mặt đất bao gồm tất cả những vật tự nhiên và nhân tạo có trên
đó và cung cấp nguồn nước nuôi dưỡng cho hệ thống sông, hồ hay một con sông, hồ riêng biệt gọi là lưu vực của hệ thống sông, hồ hoặc là lưu vực sông, hồ Lưu vực của mỗi con sông, hồ bao gồm phần thu nước bề mặt và phần thu nước ngầm Phần thu nước mặt là phần diện tích bề mặt trái đất mà
từ đó tất cả lượng nước sinh ra gia nhập vào hệ thống sông, hồ hoặc một con sông, hồ riêng biệt Phần thu nước ngầm được tạo nên bởi tầng đất đá mà từ
đó nước ngầm chảy vào lưới sông, hồ
- Một lưu vực sông, hồ là diện tích đất được giới hạn bởi đường phân thủy mà trên đó tất cả nước sẽ tập trung chảy ra một cửa duy nhất Lưu vực sông, hồ cũng được gọi là diện tích lưu vực Các cạnh của một lưu vực sông,
hồ được gọi là đầu nguồn, ở phía bên kia đường phân thủy, sẽ có một lưu vực sông, hồ khác
Tóm lại, lưu vực sông, hồ là vùng đất mà tất cả lượng mưa rơi trên đó
đều tập trung về một sông, hồ Lưu vực sông, hồ được giới hạn bằng các đường chia nước Lưu vực sông, hồ được gọi là lưu vực kín khi có đường chia nước mặt và đường chia nước ngầm trùng nhau; nếu không trùng nhau thì gọi là lưu vực hở Trong thực tế tính toán rất khó có thể xác định chính xác đường phân nước ngầm nên thường coi là trùng với đường phân nước mặt Lưu vực tương tự là lưu vực có cùng điều kiện hình thành dòng chảy
Trang 19với lưu vực nghiên cứu
1.1.2.2 Các phương pháp xác định lưu vực
Hiện nay, có 2 phương pháp xác định lưu vực như sau:
- Phương pháp cổ điển: Sử dụng bản đồ địa hình in trên giấy;
- Phương pháp kỹ thuật số: Sử dụng công cụ hỗ trợ của hệ thống thông tin địa lý GIS với bản đồ kỹ thuật số
* Xác định lưu vực bằng bản đồ địa hình
Trước khi có các công cụ hỗ trợ trên máy tính thì phương pháp xác định lưu vực sông, hồ phổ biến là sử dụng bản đồ cao độ địa hình, tạo các đường đồng cao độ, sau đó khoanh lưu vực theo những cao độ lớn nhất trên khu vực nghiên cứu
Phương pháp xác định đường phân thuỷ (ranh giới) lưu vực sông, hồ trên bản đồ địa hình được thực hiện theo các bước sau:
- Bước 1: Xác định vị trí cần nghiên cứu trên sông, hồ
- Bước 2: Xác định đường chia nước lưu vực Việc xác định này thực hiện bằng cách nối các điểm cao độ cao nhất trong khu vực Công việc xác định ranh giới lưu vực sông trên thực tế thường chịu ảnh hưởng bởi kinh nghiệm và tính chủ quan của người thực hiện, và mất khá nhiều thời gian
- Bước 3: Sau khi xác định được đường chia nước lưu vực, việc tiếp theo là xác định diện tích lưu vực và các đặc trưng cần thiết khác Diện tích lưu vực thường được thực hiện bằng phương pháp đếm ô vuông hoặc dùng máy đo diện tích chạy theo đường phân nước được xác định trên bản đồ địa hình Để đảm bảo độ chính xác người ta thường dùng các bản đồ địa hình tỉ
lệ lớn 1/5.000, 1/10.000, 1/25.000 hay lớn hơn, tuỳ yêu cầu về độ chính xác
Phương pháp này có một số ưu, nhược điểm sau:
- Ưu điểm: Được thực hiện khá đơn giản, không cần các thiết bị máy tính; Có thể tổng quan hóa lưu vực trên bản đồ giấy
- Nhược điểm: Mất nhiều thời gian để khoanh lưu vực, tính diện tích lưu vực hoặc độ dốc Bên cạnh đó, việc xác định lưu vực sông, hồ bằng phương pháp này phụ thuộc nhiều vào các yếu tố chủ quan khi tiến hành công việc trên bản đồ Độ chính xác của lưu vực phụ thuộc rất lớn vào trình
độ và kinh nghiệm của người thực hiện Phương pháp này không linh hoạt khi cần có sự thay đổi về vị trí,
* Xác định lưu vực bằng bản đồ số GIS
Công cụ hiệu quả nhất hiện nay hỗ trợ việc xác định ranh giới lưu vực
Trang 20sông, hồ bất kỳ là sử dụng công nghệ GIS bao gồm các phương pháp tính, các phần mềm chuyên dụng, và cơ sở dữ liệu bản đồ số bao gồm: bản đồ dưới dạng vector (dạng điểm, đường, và vùng) hay dưới dạng raster (dạng ô lưới) Hiện nay, có nhiều phần mềm GIS được ứng dụng rộng rãi như MapInfo, Arcview GIS, ArcGIS, Map Windows, Để kết hợp việc xác định ranh giới lưu vực với phân tích, đánh giá, và tính toán các đặc trưng lưu vực sông, hồ nhiều công cụ được xây dựng và nhúng kết vào các phần mềm này Một trong những các công cụ điển hình về xác định lưu vực sông, hồ được nhiều người biết đến đó là Hydrologic Modeling (v.1.1), AVSWAT (ArcView SWAT) được viết bằng ngôn ngữ Avenue Script trong Arcview GIS 3.2; AV-ThreshR (1999-2000) (NWS-HRL); HEC-GeoHMS (ESRI, HEC) kết hợp HECPrepro (Univ of Texas at Austin) và Watershed Delineator (ESRI, TNRCC), Ngoài ra, có khá nhiều các công cụ, đoạn chương trình được chia sẻ miễn phí trên mạng internet có thể sử dụng cho việc xác định lưu vực sông, hồ
Để xác định lưu vực sông, hồ một cách tự động, hầu hết các công cụ được xây dựng dựa trên lý thuyết "mô hình dòng chảy 8 hướng" (D8 flow direction model) Mô hình này dựa trên lý thuyết là dòng chảy tại một ô lưới (grid) sẽ chảy đến 1 trong 8 hướng xung quanh ô lưới đó Các công cụ xác định ranh giới lưu vực sông, hồ chỉ khác nhau về mức độ sử dụng thể hiện qua các đặc tính của công cụ như (1) tính linh động trong xác định lưu vực, (2) tốc độ tính toán nhanh chậm, (3) việc tính toán các đặc trưng lưu vực, (4) cách thức lưu giữ, liên kết thông tin, và (5) cách thức sử dụng và kết nối các đặc trưng của lưu vực sông với các công cụ khác bên ngoài Các bước cơ bản
để xác định lưu vực sông, hồ một cách tự động dựa trên bản đồ số dưới dạng raster (ô lưới) như sau:
- Bước 1: Chuẩn bị số liệu cao độ số DEM
- Bước 2: Xử lý số liệu cao độ số (Xử lý số liệu cao độ -Fill DEM)
- Bước 3: Tính toán xác định hướng dòng chảy theo mô hình 8 hướng trên (Flow Direction)
- Bước 4: Xác định liên kết hướng dòng chảy giữa các ô lưới (Flow Accumulation)
- Bước 5: Xác định lưu vực sông, hồ và tính toán các đặc trưng của nó Phương pháp xác định ranh giới lưu vực sông, hồ bằng ứng dụng công nghệ GIS trên bản đồ số có thể khắc phục được những nhược điểm của
Trang 21phương pháp xác định bằng bản đồ giấy địa hình lưu vực sông, hồ Bên cạnh
đó, việc ứng dụng công nghệ GIS không chỉ dừng lại ở việc xác định ranh giới lưu vực sông, hồ mà nó còn có thể phát huy được các chức năng của công cụ máy tính như liên kết, tự động hóa, cải tiến tốc độ tính toán, ứng dụng mở rộng trong tính toán xử lý phía sau đó Trên cơ sở các nội dung nêu trên, phần tiếp theo của chuyên đề sẽ trình bày ứng dụng công cụ GIS nhỏ để xác định lưu vực sông tại một số tuyến trên lưu vực sông Đồng Nai
1.1.2.3 Các hệ thống lưu vực sông, hồ lớn trên thế giới
Chúng ta đã nghe tên 10 con sông dài nhất thế giới, 10 lưu vực sông đông dân cư nhất thế giới và dưới đây là 10 lưu vực sông, hồ rộng lớn nhất trên thế giới:
Bảng 1.1: Diện tích 10 lưu vực sông, hồ lớn nhất trên thế giới
Tên các nước
Tổng diện tích lưu vực/các nước (ha)
Tỷ lệ diện tích lưu vực của các nước (%)
Trang 23(1)- Sông MÊ CÔNG
Về đến lãnh thổ Việt Nam được gọi là sông Cửu Long, là hệ thống sông lớn nhất Việt Nam Sông Cửu Long được đánh giá là khu vực có nguồn tài
Trang 24nguyên thiên nhiên phong phú,mức độ đa dạng sinh học cao và có vai trò sống còn đối với sự phát triển nông nghiệp của đồng bằng sông Cửu Long Hiện tại, lưu vực này đang đứng trước nhiều thách thức do các hoạt động khai thác và sử dụng nước không bền vững ở phía thượng nguồn, biến đổi khí hậu cũng như các hoạt động phát triển, canh tác không hợp lý tại đồng bằng Các kế hoạch và công trình thủy điện trên sông Mê Công là thách thức lớn nhất đối với môi trường và sinh thái vùng hạ nguồn Trên dòng chính sông Mê Công, Trung Quốc có kế hoạch phát triển 15 bậc thang thủy điện, phía hạ lưu có 12 công trình đang được đề xuất Ở dòng nhánh, theo quy hoạch sẽ có 180 công trình trong đó 94 công trình đã được xây dựng Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam cùng các đối tác trong thời gian qua đã có nhiều nỗ lực vận động dừng xây đập trên dòng chính hạ lưu vực sông Mê Công và bước đầu đã có đóng góp thúc đẩy tiến trình đi đến quyết định dừng xây đập Xayaburi ở Lào
(2)- Lưu vực Sông Hồng - sông Thái Bình
Lưu vực sông lớn thứ 2 của Việt Nam sau hệ thống sông Mê Kông được bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam Trung Quốc Trên sông có 29 hệ thống thủy nông, 900 hồ chứa lớn và nhỏ, 1.300 đập dâng, hàng nghìn trạm bơm điện lớn nhỏ, hàng vạn công trình tiểu thủy nông như mương, phai… Cùng với sự phát triển kinh tế của con người và tác động của biến đổi khí hậu, lưu vực đang phải đối mặt với những thách thức rất lớn do nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng, mâu thuẫn giữa các ngành dùng nước ngày càng phức tạp, nguồn nước sông ngày càng bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng Phụ thuộc 48,7% nguồn nước từ bên ngoài, chưa có cơ chế hợp tác về chia sẻ nguồn nước công bằng, hợp lý giữa các quốc gia Sự phát triển thuỷ điện phía thượng ảnh hưởng đến lượng phù sa và lưu lượng nước, dẫn đến nhiều nguy cơ như cạn kiện nguồn nước, nhiễm mặn, ô nhiễm nước mặt, nước ngầm, xói lở bờ sông
(3)- Lưu vực sông ĐỒNG NAI
Hệ thống sông lớn thứ 3 cả nước có 911công trình, trong đó có 406 hồ chứa, 371 đập dâng và cống, 134 trạm bơm và hệ thống thủy lợi Sự phát triển ồ ạt thuỷ điện trên lưu vực sông Đồng Nai đang đặt ra những thách thức lớn cho môi trường –sinh thái- sinh kế và vùng đầu nguồn, diện tích rừng bị thu hẹp,ảnh hưởng các khu bảo tồn thiên nhiên, Vườn Quốc gia như khu
Trang 25Nam Cát Tiên, Bù Gia Vấn đề ô nhiễm cũng đang đặt ra nhiều thách thức,
do lưu vực sông nằm trong vùng trọng điểm phát triển kinh tế của phía Nam
(4)- Lưu vực sông Mã
Sông nằm trên lãnh thổ 2 Quốc gia là Lào và Việt Nam, nhưng không
bị phụ thuộc nguồn nước từ nước ngoài, hiện trên sông có hơn 1800 công trình thủy lợi Nằm trên địa hình phức tạp và khí hậu khắc nghiệt nên sông
Mã chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, kết hợp việc xây dựng nhà máy ở thượng nguồn sẽ khiến vùng hạ lưu chịu nhiều thách thức về lũ lụt, hạn hán
và ô nhiễm
(5)- Lưu vực sông Cả
Sông không có phân lưu, toàn bộ lượng nước về mùa lũ và mùa kiệt đều được chảy ra biển tại Cửa Hội Trong lưu vực và vùng phụ cận đã xây dựng được 3.193 công trình lớn nhỏ trong đó 1.578 hồ chứa các loại, 459 đập Thuộc vùng khí hậu khắc nghiệt, địa hình dốc, cộng với việc xây dựng thủy điện trên thượng lưu đã gây ra các nguy cơ lũ lụt, hạn hán, sạt lở ảnh hưởng đến cuộc sống người dân
(6)- Lưu vực sông Hương
Là lưu vực có sự chuyển tiếp nhanh từ vùng núi xuống thẳng đồng bằng trũng thấp hình thành hệ thống sông không có trung lưu rõ rệt Hiện có
100 hồ chứa các loại được xây dựng ở vùng trung du, miền núi và vùng cát Vấn đề phát triển thủy điện trên lưu vực đã ảnh hưởng đến môi trường, sinh thái hạ lưu vực Thiếu sự quản lý và giám sát trong quá trình vận hành hồ dẫn đến lũ lụt, hạn hán
(7)- Lưu vực sông Ba
Lưu vực có dạng gần như chữ L phần thượng và hạ lưu hẹp, giữa phình ra Vùng thượng và trung lưu sông Ba địa hình biến đổi khá phức tạp
bị chia cắt mạnh bởi sự chi phối của dãy Trường Sơn Trên lưu vực sông có
4 công trình thủy điện lớn là An Khê-Ka Nak, Krông Hnăng, sông Hinh và Sông Ba hạ có tổng công suất 377 MW, và329 công trình thuỷ lợi
Nằm trong vùng có khí hậu phức tạp cộng với sự biến đổi khí hậu toàn cầu và việc xây dựng các công trình thủy điện đơn mục tiêu nên hạnhán, lũ lụt đã gây nhiều thiệt hại cho người dân mấy năm gần đây, ngoài ra còn phải chịu ô nhiễm với nguồn nước thải từ các nhà máy chế biến khác nằm trên lưu
Trang 26vực Nguồn sống của cánh đồng miền Trung và Tây nguyên đang gặp nhiều thách thức
(8)- Lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn
Bắt nguồn từ vùng núi cao sườn phía Đông của dãy Trường Sơn, có độ dài của sông ngắn và độ dốc lòng sông lớn Được đánh giá là lưu vực có tiềm năng nguồn thủy năng lớn xếp thứ 4 toàn quốc, theo quy hoạch sẽ có 10 công trình sẽ được xây dựng, Lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn thời gian qua không còn giữ được nguyên vẹn có nguyên nhân từ sự hình thành các công trình thủy điện Đến nay có 7 công trình thủy điện lớn trên hệ Vu Gia - Thu Bồn đang phát điện, gồm: công trình thủy điện A vương, Sông Côn 2, Khe Diên, Đại Đồng, Sông Cùng, Za Hung, Trà Linh 3 Mặt khác, mỗi ngày lưu vực sông này đang đứng trước nguy cơ bị ô nhiễm bởi tình trạng xả nước thải chưa qua xử lý, hoặc xử lý không đúng quy định từ các nhà máy ở các khu, cụm công nghiệp
(9)- Lưu vực sông SRÊPÔK
Cung cấp nguồn nước mặt quan trọng của 4 tỉnh Đắk Lắk, Đăk Nông, Lâm Đồng và Gia Lai Địa hình của lưu vực khá phức tạp với những cao nguyên xen kẽ núi cao và núi trung bình và hướng dốc chính thấp dần từ đông nam sang tây bắc Hiện nay, ô nhiễm là một thách thức lớn do chất thải
từ các khu công nghiệp Hòa Phú (Đắk Lắk), Tâm Thắng (Đắk Nông) được xây dựng ngay bên bờ sông góp phần làm nguồn lợi thủy sản của dòng sông
bị ảnh hưởng và ngày càng thêm cạn kiệt khiến nhiều loài đang lâm vào tình trạng nguy cấp Phát triển thủy điện cũng là một vấn đề lớn, gây phá rừng, giảm độ che phủ của rừng và ảnh hưởng đến sinh kế của bà con, đặc biệt là người dân tộc thiểu số
(10)- Lưu vực sông SÊSAN
Là một con sông lớn ở Tây Nguyên được bắt nguồn từ đỉnh núi Ngọc, một nhánh của sông Mê Kông sau đó đổ xuống gần Strung treng - Cam Pu Chia dòng sông chảy trên địa hình vùng núi, sông có độ dốc lớn, dòng sông quanh co có nhiều thác, bờ sông dốc đứng Chất lượng nước vượt quá tiêu chuẩn cho phép về hàm lượng Colifom, COD… đang là vấn đề được nhiều người quan tâm do quá trình phát triển các nhà máy chế biến dọc 2 bờ sông Phát triển thủy điện vùng thượng nguồn mạnh và ồ ạt làm ảnh hưởng đến hạ lưu gây ra hạn hán và lũ lụt cũng là thách thức lớn của sông trong những
Trang 27năm gần đây do thảm thực vật, hệ sinh thái rừng bị phá vỡ, cuộc sống người dân bị thay đổi, văn hóa Tây Nguyên bị mai một
Lưu vực hồ Ba Bể được hình thành bởi ba dòng sông là: sông Chợ Lèng, sông Tả Han, sông Pó Lù Các nghiên cứu về lưu vực trên thế giới và
ở Việt Nam chủ yếu là đánh giá các chỉ tiêu liên quan đến chất lượng nguồn nước và môi trường, ít có các đề tài nghiên cứu vê sử dụng đất theo lưu vực, đây cũng chính là lý do để tác giả thực hiện đề tài tại lưu vực hồ Ba Bể của tỉnh Bắc Kạn, địa phương còn nhiều khó khăn về kinh tế
1.1.3 Sử dụng đất nông nghiệp bền vững
Việc phát triển công nghiệp và khoa học kỹ thuật đã đem lại thành tựu kỳ diệu làm thay đổi hẳn bộ mặt trái đất và cuộc sống con người Nhưng do chạy theo lợi nhuận tối đa, cục bộ, không có một chiến lược phát triển chung nên đã gây ra hậu quả tiêu cực: ô nhiễm môi trường và thoái hoá đất Hàng năm gần 12 triệu ha rừng nhiệt đới bị tàn phá ở Châu Mỹ La Tinh và Châu Á Cân bằng sinh thái bị phá vỡ, hàng triệu ha đất đai bị hoang mạc hoá Theo kết quả điều tra của UNDP và trung tâm thông tin nghiên cứu đất quốc tế (ISRIC) đã cho thấy cả thế giới có khoảng 13,4 tỷ ha đất thì đã có 2 tỷ ha bị thoái hoá ở các mức độ khác nhau trong đó Châu Á và Châu Phi là 1,2 tỷ ha chiếm 62% tổng diện tích đất bị thoái hoá Qua các kết quả điều tra cho ta thấy đất đai bị thoái hoá tập trung ở các nước đang phát triển [108]
Phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Đề đạt được điều này, tất
cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội… phải bắt tay nhau cùng thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực kinh tế - xã hội - môi trường [2]
Phương pháp luận của nghiên cứu và quản lý đất bền vững bao gồm
sự phối hợp giữa các vấn đề kỹ thuật, chính sách và các hoạt động có tính chất tổng hoà giữa các nguyên lý kinh tế - xã hội và các vấn đề về môi trường nhằm duy trì hoặc thúc đẩy sản xuất, giảm thiểu các nguy cơ và rủi
ro, bảo vệ các tiềm năng sẵn có về tài nguyên thiên nhiên, ngăn cản các các quá trình thoái hoá và mất đất và nước ngầm, phải có tính bền vững về kinh
tế và được xã hội chấp nhận [123] Theo quan diểm trên, khung đánh giá quản lý đất bền vững FESLM (Framework for Evaluating Sustainable and Management) bao gồm 5 mục tiêu chính:
Trang 28- Duy trì và nâng cao sản xuất/dịch vụ có hiệu quả: Kết quả của quản
lý đất bền vững phải mang lại sự bền vững về hiệu quả sản xuất không chỉ đối với nông nghiệp và cả các hoạt động không phải nông nghiệp, phải đáp ứng cả việc bảo vệ và nâng cao sức sản xuất của đất
- Giảm thiểu các nguy cơ và rủi ro: Quản lý đất bền vững không làm
mất sự ổn định giữa các mối quan hệ của đất với yếu tố ngoại cảnh trong việc duy trì sức sản xuất Đảm bảo sự cân bằng giữa khai thác và duy trì bảo
vệ đất, giảm thiểu các nguy cơ và rủi ro cho sản xuất
- Bảo vệ bảo vệ các tiềm năng sẵn có về tài nguyên thiên nhiên, ngăn cản các các quá trình thoái hoá và mất đất và nước ngầm: Tài nguyên đất và
nước phải được bảo vệ không chỉ cho lợi ích trước mắt và phải cả lâu dài Từng vùng phải có những ưu tiên nhất định trong việc duy trì bảo tồn tài nguyên đất, bao gồm cả bảo tồn tính đa dạng sinh học, các loài thực vật và động vật trên đó
- Đảm bảo hiệu quả kinh tế lâu dài: Sử dụng đất sẽ không có hiệu quả
lâu dài và bền vững nếu sử dụng theo các mục đích khác nhau mà không chú
ý tới hiệu quả kinh tế
- Được xã hội chấp nhân: Quản lý sử dụng đất phải được xã hội chấp
nhận, phù hợp với lợi ích quốc gia, cộng đồng và người trực tiếp sử dụng
Quản lý đất đai, nông nghiệp bền vững là điều cần thiết không chỉ
duy trì năng suất đất nông nghiệp hiện tại, mà còn để bảo tồn môi trường tự nhiên trong tương lai [153] và các hoạt động sản xuất, sinh hoạt, canh tác của con người có ảnh hưởng rất hớn tới hiệu quả sử dụng đất, góp phần làm giảm nguy cơ xói mòn, đảm bảo sự phân bố ổn định của các cây trồng khu vực
miền núi [124]
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu vào việc đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại đất, để từ đó sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của vùng [44]
Hàng năm các Viện nghiên cứu nông nghiệp trên thế giới cũng đã đưa
ra nhiều giống cây trồng mới, những kiểu sử dụng đất mới, giúp cho việc tạo thành một số hình thức sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả cao hơn Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống
Trang 29lúa và hệ thống cây trồng trên đất lúa [128]
Nói chung về việc sử dụng đất đai, các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng: đối các vùng nhiệt đới có thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển từ chế độ canh tác cũ sang chế độ canh tác mới tiến bộ hơn, mang kết quả và hiệu quả cao hơn Tạp chí “Farming Japan” của Nhật Bản ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai cho người dân, nhất là ở nông thôn [19]
Tại Thái Lan nhiều vùng trong điều kiện thiếu nước, từ sử dụng đất thông qua công thức luân canh lúa xuân - lúa mùa hiệu quả thấp vì chi phí tưới nước quá lớn và độc canh cây lúa làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng đất đã đưa cây đậu thay thế lúa xuân trong công thức luân canh Kết quả là giá trị sản lượng tăng lên đáng kể, hiệu quả kinh tế được nâng cao, độ phì nhiêu của đất được tăng lên rõ rệt Nhờ đó hiệu quả sử dụng đất được nâng cao Ở Thái Lan,
Uỷ ban chính sách Quốc gia đã có nhiều quy chế mới ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích hợp trên từng loại đất nhằm quản lý việc sử dụng và bảo vệ đất tốt [30]
Kinh nghiệm của Trung Quốc, việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu
tố quyết định để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai ổn định, chế
độ sở hữu giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất Thực hiện chủ trương
“nông bất ly hương” đã thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nông thôn một cách toàn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp [100]
Tại Philippin tình hình nghiên cứu sử dụng đất dốc được thực hiện bằng kỹ thuật canh tác SALT, đây là hệ thống canh tác trồng nhiều băng cây thay đổi giữa cây lâu năm và cây hàng năm theo đường đồng mức [70]
Hiện nay, việc sử dụng đất trên thế giới đang đứng trước những ảnh hưởng vô cùng to lớn của biến đổi khí hậu, không chỉ có những khu vực ven biển chịu tác động của tình trạng nước biển dâng, xâm nhập mặn mà các khu vực sâu trong lục địa, các khu vực đồi núi cao cũng phải chịu những tác động không nhỏ của biến đổi khí hậu [127]
Ý tưởng xây dựng nền nông nghiệp bền vững đã xuất hiện ở các nước đang phát triển từ những thập kỷ 80 - 90 của thế kỷ XX và ngày càng được nhiều quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp là chính trên thế giới ủng hộ và
Trang 30quan tâm Đó là một nền sản xuất nông nghiệp phát huy tối đa các nguồn tài nguyên và kiến thức bản địa sẵn có kết hợp với việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật hiện đại Như vậy có thể nói phát triển nông nghiệp bền vững là hướng nghiên cứu phát triển sản xuất nông nghiệp hiện đại [96]
- Theo FAO (1988) Nông nghiệp bền vững bao gồm quản lý có hiệu quả tài nguyên cho nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người đồng thời gìn giữ và cải thiện tài nguyên thiên nhiên, môi trường
và bảo vệ tài nguyên [135]
Các định nghĩa có thể có nhiều cách biểu thị khác nhau, song về nội dung thường bao gồm 3 thành phần cơ bản sau đây:
- Bền vững về an ninh lương thực trong thời gian dài trên cơ sở hệ thống nông nghiệp phù hợp vói điều kiện sinh thái và không tổn hại đến môi trường
- Bền vững về tổ chức quản lý, hệ thống nông nghiệp phù hợp trong mối quan hệ của con người cho cả đời sau
- Bền vững thể hiện ở tính cộng đồng trong hệ thống nông nghiệp hợp lý Trong tất cả các định nghĩa, điều quan trọng nhất là biết sử dụng hợp
lý tài nguyên đất đai, giữ vững và cải thiện chất lượng môi trường, có hiệu quả kinh tế, năng suất cao và ổn định, tăng cường chất lượng cuộc sống, bình đẳng giữa các thế hệ và hạn chế rủi ro [96]
Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” được dựa trên các quan điểm sau: Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất; giảm thiểu mức rủi ro trong sản xuất; bảo vệ tài nguyên tự nhiên và ngăn chặn sự thoái hóa đất và nước; có hiệu quả lâu bền; được xã hội chấp nhận [27], 05 nguyên tắc trên là cốt lõi của việc sử dụng đất canh tác bền vững, nếu sử dụng đất canh tác đảm bảo các nguyên tắc trên thì đất canh tác được bảo vệ và sử dụng cho phát triển nông nghiệp bền vững
Phát triển nông nghiệp bền vững sẽ vừa đáp ứng nhu cầu của hiện tại, vừa đảm bảo nhu cầu của các thế hệ tương lai [64] Một quan niệm khác cho rằng: Phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn sự thay đổi
về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả cho hiện tại và mai sau [125] Để phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta trước hết cần nắm vững mục tiêu về tác dụng lâu bền của từng mô hình, để duy trì và phát triển đa dạng sinh học
Để duy trì sự sống còn của con người, nhân loại đang phải đương đầu
Trang 31với nhiều vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn, sự bùng nổ dân số, nạn ô nhiễm
và suy thoái môi trường, mất cân bằng sinh thái Nhiều nước trên thế giới đã xây dựng và phát triển nông nghiệp theo quan điểm nông nghiệp bền vững [134], [147], [143]
Nông nghiệp bền vững là tiền đề và điều kiện cho định cư lâu dài Một trong những cơ sở quan trọng bậc nhất của nông nghiệp bền vững là thiết lập được các hệ thống sử dụng đất hợp lý Về vấn đề này Altieri và cộng sự là Susanna B H 1990 (KKU, 1992) cho rằng: “nền tảng của nông nghiệp bền vững là chế độ đa canh cây trồng với các lợi thế cơ bản là: tăng sản lượng, tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm tác hại của sâu bệnh và cỏ dại, giảm nguy cơ rủi ro ” Quan điểm đa canh và đa dạng hoá nhằm nâng cao sản lượng và tính ổn định này được ngân hàng thế giới đặc biệt khuyến khích ở các nước nghèo [109],[107]
Để duy trì được sự bền vững của đất đai, Smyth (1993) đã xác định 5 nguyên tắc có liên quan đến sự sử dụng đất bền vững là: Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất; giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất; bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hoá chất lượng đất và nước; khả thi về mặt kinh tế; được xã hội chấp nhận [147]
Như vậy, theo các tác giả, sử dụng đất bền vững không chỉ thuần tuý về mặt tự nhiên mà còn cả về mặt môi trường, lợi ích kinh tế và xã hội Năm nguyên tắc trên đây là trụ cột của việc sử dụng đất bền vững, nếu trong thực tiễn đạt được cả 5 nguyên tắc trên thì sự bền vững sẽ thành công, ngược lại sẽ chỉ đạt được ở một vài bộ phận hay sự bền vững có điều kiện
Tại Việt Nam, việc sử dụng đất bền vững cũng dựa trên những nguyên tắc và được thể hiện trong 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về mặt kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị trường chấp nhận
- Bền vững về mặt môi trường: loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên
- Bền vững về mặt xã hội: thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển [99]
Tóm lại: Hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người diễn ra hết sức đa
dạng trên nhiều vùng đất khác nhau và cũng vì thế khái niệm sử dụng đất bền vững thể hiện trong nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên từng vùng đất xác định theo nhu cầu và mục đích sử dụng của con người Đất đai trong sản
Trang 32xuất nông nghiệp chỉ được gọi là sử dụng bền vững trên cơ sở duy trì các chức năng chính của đất là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách ổn định, không làm suy giảm về chất lượng tài nguyên đất theo thời gian và việc sử dụng đất không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người và sinh vật
1.1.4 Hiệu quả sử dụng đất
1.1.4.1 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3 - 5 tỷ ha Nhân loại đã làm
hư hại khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện nay mỗi năm có khoảng 6 - 7 triệu ha đất nông nghiệp bị bỏ hoang do xói mòn và thoái hoá Để giải quyết nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp của con người phải thâm canh, tăng vụ, tăng năng suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp Việc điều tra, nghiên cứu đất đai để nắm vững số lượng và chất lượng đất bao gồm điều tra lập bản
đồ đất, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đánh giá phân hạng đất và quy hoạch
sử dụng đất hợp lý là vấn đề đặc biệt quan trọng mà các quốc gia đang rất quan tâm [111]
Để ngăn chặn những suy thoái tài nguyên đất đai do sự thiếu hiểu biết của con người, đồng thời nhằm hướng dẫn những quyết định về sử dụng và quản lý đất đai sao cho nguồn tài nguyên này có thể được khai thác tốt nhất
mà vẫn duy trì được sản xuất của nó trong tương lai [31]
1.1.4.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Trong quá trình sử dụng đất, tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả Do đó, tiêu chuẩn đánh giá việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất nông - lâm nghiệp là mức độ tăng thêm các kết quả sản xuất trong điều kiện nguồn lực hiện có hoặc mức tiết kiệm về chi phí các nguồn lực khi sản xuất ra một khối lượng nông - lâm sản nhất định
Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả sử dụng đất là mức đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường Hiệu quả sử dụng đất có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông - lâm nghiệp, đến môi trường sinh thái, đến đời sống người nông dân Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan điểm
sử dụng đất bền vững hướng vào ba tiêu chuẩn chung là bền vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trường [24]
Trang 331.1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất, v.v một mặt bị chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế bởi các điều kiện, quy luật kinh tế, xã hội và các yếu tố kỹ thuật Vì vậy, có thể khái quát những điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất như sau:
* Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết, v.v ) là yếu tố cơ bản
để xác định công dụng của đất đai, có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể và sâu sắc, nhất là đối với sản xuất nông - lâm nghiệp Đặc thù của điều kiện tự nhiên mang tính khu vực, vị trí địa lý của vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác sẽ quyết định đến khả năng, công dụng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế nhằm đạt hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường
Theo Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch Theo N Borrlang - người được giải Nobel về hoà bình về giải quyết lương thực cho các nước phát triển cho rằng: yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây trồng ở các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì đất
* Nhóm các yếu tố về điều kiện kinh tế, xã hội
Bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số và lao động, thông tin và quản lý, chính sách môi trường, chính sách đất đai, sức sản xuất và trình độ phát triển của kinh tế hàng hoá, cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất, các điều kiện về nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông, sự phát triển của khoa học kĩ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất
Điều kiện kinh tế, xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc sử dụng đất đai Thực vậy, phương hướng sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định Việc sử dụng đất đai như thế nào được quyết định bởi sự năng động của con người và các điều kiện kinh tế, xã hội, kĩ thuật hiện có; quyết định bởi tính hợp lý, tính khả thi và kinh tế kĩ thuật; quyết định bởi nhu cầu của thị trường, v.v
Trang 34* Nhóm các yếu tố về kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của các quá trình sản xuất để đạt hiệu quả kinh tế cao Trên cơ sở nghiên cứu các quy luật tự nhiên của sinh vật để lựa chọn các tác động kĩ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng đầu vào nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế đề ra
Tuy nhiên, việc ứng dụng các biện pháp kỹ thuật tiến bộ trong canh tác còn phụ thuộc rất lớn vào trình độ đầu tư các cơ sở kinh tế, hạ tầng trong nông nghiệp Đây là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường Theo Frank Ellis và Douglass C North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kĩ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với việc tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đến giữa thế kỷ XXI, trong nông nghiệp nước ta quy trình kỹ thuật có thể góp 30% năng suất kinh tế Như vậy, nhóm các biện pháp kĩ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
* Nhóm các yếu tố kinh tế - tổ chức
- Việc quy hoạch và bố trí sản xuất: thực hiện phân vùng sinh thái nông
nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa trên cơ sở phân tích, dự báo và đánh giá nhu cầu thị trường, gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến, kết cấu
hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và các thể chế luật pháp về bảo vệ tài nguyên, môi trường Đó là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi và khai thác đất một cách đầy đủ, hợp lý Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu
tư thâm canh và tiến hành tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp
- Hình thức tổ chức sản xuất: các hình thức tổ chức sản xuất có ảnh hưởng
trực tiếp đến việc tổ chức khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông - lâm nghiệp Vì thế, phát huy thế mạnh của các loại hình tổ chức sử dụng đất trong từng cơ sở sản xuất là rất cần thiết Muốn vậy cần phải thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình thức đó [27]
Trang 351.1.5 Đánh giá đất và đánh giá tiềm năng đất đai
1.1.5.1 Đánh giá đất
Nhận thức rõ vai trò quan trọng, cấp thiết của thực tiễn sản xuất là cần phải có những giải pháp hợp lý trong sử dụng đất nhằm hạn chế và ngăn chặn những tổn thất đối với tài nguyên đất đai, về tính cấp thiết của đánh giá đất đai, phân hạng đất đai làm cơ sở cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai, qua quá trình nghiên cứu, các chuyên gia về đánh giá đất đã nhận thấy cần có những cuộc thảo luận quốc tế nhằm đạt được sự thống nhất và tiêu chuẩn hóa các phương pháp đánh giá đất, tổ chức Nông Lương của Liên Hiệp quốc (FAO) đã
tổ chức tổng hợp kinh nghiệm của nhiều nước và đề ra phương pháp đánh giá đất đai dựa trên cơ sở phân hạng thích hợp đất đai (Land suitability classification) Cơ sở của phương pháp này là so sánh giữa yêu cầu sử dụng đất với chất lượng đất, gắn với phân tích các khía cạnh về kinh tế - xã hội, môi trường để lựa chọn phương án sử dụng đất tối ưu Năm 1970, tổ chức Nông - Lương Liên Hiệp quốc (FAO) đã tập hợp các chuyên gia nông nghiệp hàng đầu
ở nhiều quốc gia tổng hợp xây dựng “Đề cương đánh giá đất đai” Kết quả là
Uỷ ban Quốc tế nghiên cứu đánh giá đất của tổ chức FAO đã cho ra đời bản dự thảo đánh giá đất lần đầu tiên vào năm 1972 Sau đó được Blikman và Smyth biên soạn và cho in ấn chính thức vào năm 1973 Năm 1975 bản dự thảo đã được các chuyên gia đánh giá đất của tổ chức FAO tham gia đóng góp, năm
1976 đề cương đánh giá đất (A Framework for land Evaluatinon, 1976) đã ra đời Qua những thử nghiệm ban đầu ở các nước đang phát triển đề cương này được tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện vào các năm sau đó để áp dụng cho từng đối tượng sản xuất nông nghiệp, có thể liệt kê như sau:
- Đánh giá đất cho nông nghiệp nhờ nước mưa (FAO, 1983)
- Đánh giá đất cho vùng đất rừng (FAO, 1984)
- Đánh giá đất cho vùng nông nghiệp được tưới (FAO, 1985)
- Đánh giá đất cho phát triển nông thôn (FAO, 1988)
- Đánh giá đất cho đồng cỏ chăn thả (FAO, 1989)
- Đánh giá đất đai cho sự phát triển (FAO, 1990)
- Đánh giá đất cho đồng cỏ quảng canh (FAO, 1991)
Trang 36- Đánh giá đất và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất (FAO, 1992) Trong quy trình đánh giá đất của FAO, điều tra đất được xem là một phần thiết yếu và yêu cầu thu thập những thông tin từ nhiều phương diện của đất đai bao gồm: thổ nhưỡng, địa hình, địa mạo, các điều kiện địa chất, khí hậu, thủy văn, lớp phủ thực vật và cả các điều kiện kinh tế - xã hội có liên quan đến mục đích sử dụng đất Năm 1996 tổng kết về các hệ thống đánh giá đất trên đây, FAO đã có nhận định: Các nhân tố kinh tế, xã hội, môi trường yêu cầu phải cân nhắc kỹ trong quá trình đánh giá đất Tiêu chí đánh giá sử dụng đất bền vững của FAO (1976) như sau:
Hiệu quả kinh tế:
- Giá trị sản xuất (sản lượng * giá sản phẩm)
- Tổng chi phí biến đổi (đầu tư cơ bản và hàng năm)
- Thu nhập hỗn hợp
- Hiệu quả đồng vốn
- Giá trị ngày công lao động
Tác động đến xã hội:
- Công ăn việc làm (số công lao động/ha/năm)
- Khả năng chấp nhận của người lao động (thu hút lao động)
- Khả năng chấp nhận sản phẩm của thị trường
- Phân hóa xã hội (phân chia giàu nghèo, khả năng đầu tư và nợ vốn)
- Các xung đột xã hội và môi trường (mang lại hiệu quả kinh tế cao trước mắt nhưng tổn hại lâu dài đến môi trường, v.v…)
Môi trường – sinh thái:
- Xét trên quan điểm hệ sinh thái (nhân tạo hay tự nhiên, năng suất sinh học cao hay thấp, dễ hay khó bị thay đổi, v.v…)
- Tác động đến môi trường; Nước thải (hàm lượng các chất thải độc hại
có trong nước thải); Đất, trầm tích (hàm lượng dinh dưỡng và các chất thải độc hại có trong đất theo độ sâu tầng đất); Dịch bệnh (có hay không khả năng xảy ra dịch bệnh trong sản xuất)
- Điều kiện tự nhiên khác (thay đổi bề mặt tự nhiên của đất, v.v…)
- Tác động đến sức khỏe con người (khả năng tạo ra các chất độc hại đến sức khỏe con người) Từ những tiêu chí trên tùy theo từng quốc gia hay vùng
Trang 37lãnh thổ có thể hình thành bộ chỉ tiêu đánh giá các hệ thống sử dụng đất khác nhau phù hợp với điều kiện thực tế (FAO, 1976)
* Ưu điểm của phương pháp đánh giá đất theo FAO
- Các chỉ tiêu được sử dụng có thể định lượng, đo đếm được
- Đánh giá đất đai được nhìn nhận khá toàn diện trên các khía cạnh: tự nhiên, kinh tế xã - hội và môi trường
- Đánh giá thích hợp đất đai cho những hệ thống cây trồng riêng rẽ, trả lời những yêu cầu cụ thể của các loại sử dụng đất (LUT) trong sản xuất
- Dễ dàng vận dụng cho đánh giá đất ở các mức độ chi tiết, bởi do sự khác biệt về yêu cầu của từng loại cây trồng đối với đất, một số yếu tố được xác định trong đánh giá có thể là yếu tố hạn chế hay không thích hợp cho loại sử dụng này, song lại không phải là yếu tố hạn chế cho các loại sử dụng khác
1.1.5.2 Tiềm năng đất đai và đánh giá tiềm năng đất đai
- Tiềm năng: thuật ngữ tiềm năng được sử dụng rất rộng rãi, tiềm năng
có thể là những khả năng tiềm ẩn, những thế mạnh còn chưa được khai thác, chưa được biết đến hoặc chưa được sử dụng hợp lý vào các hoạt động vì lợi ích của con người
- Đánh giá tiềm năng đất đai: là quá trình xác định số lượng, chất lượng đất, liên quan đến mục đích của đất được sử dụng Đó là việc phân chia hay phân hạng đất đai thành các nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hay hạn chế trong sử dụng đất như độ dốc, độ dày tầng đất, đá lẫn, tình trạng xói mòn, khô hạn, mặn hoá, v.v… trên cơ sở đó có thể lựa chọn những loại sử dụng đất phù hợp Đánh giá tiềm năng cung cấp thông tin về số lượng, chất lượng đất gắn với mục đích sử dụng, mức độ thích hợp và thuận lợi, đây là cơ sở để phân bổ, bố trí quỹ đất hợp lý theo hướng bền vững Đánh giá tiềm năng đất đai là cơ sở cho hoạch định phát triển bền vững kinh tế xã hội, phát huy lợi thế so sánh theo đặc trưng vùng, miền Đánh giá tiềm năng đất đai là cơ sở khoa học cho công tác lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển các ngành (nông - lâm nghiệp, xây dựng, giao thông, thương mại, dịch vụ, v.v…)
- Mục tiêu của việc đánh giá tiềm năng đất đai:
+ Đánh giá được sự thích hợp của vùng đất với các mục tiêu sử dụng khác nhau theo mục đích và nhu cầu của con người
+ Đối với mọi mục đích sử dụng được lựa chọn thì mức độ thích hợp và hiệu quả như thế nào
Trang 38+ Có những chỉ tiêu, yếu tố hạn chế gì đối với mục đích sử dụng được lựa chọn
+ Đánh giá mức độ thích hợp đất đai: Là quá trình xác định mức độ thích hợp
1.2 Các nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp lưu vực trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Các nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp lưu vực trên thế giới
1.2.1.1 Các nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Tài nguyên đất trên thế giới có khoảng 13.500 triệu ha, trong đó 1000 triệu ha (chiếm 14,7%) đất đồi núi có khả năng sản xuất nông lâm nghiệp, đó là nguồn tài nguyên lớn mang tính chiến lược quốc gia của nhiều nước vì giá trị sản phẩm nông lâm nghiệp lớn, đồng thời đó còn là những vùng đất nuôi sống hàng trăm triệu người và bảo vệ môi trường sinh thái cho nhân loại [13]
Các nghiên cứu về về sử dụng đất trên thế giới đều được thực hiện trên quan điểm, cách tiếp cận sử dụng các mô hình tích hợp, nhằm cân bằng các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường của các hệ sinh thái nông nghiệp [151]
Diện tích đất đồi núi ở khu vực Đông Nam Á được phân bố ở tất cả các nước trong khu vực, trong đó nhiều nhất là ở Việt Nam (chiếm 75% tổng diện tích toàn quốc) và ở Lào (chiếm 73% tổng diện tích toàn quốc) Phần lớn diện tích đất đồi núi được sử dụng cho lâm nghiệp (bảo tồn rừng tự nhiên hoặc trồng rừng khai thác, rừng sinh thái) cũng như được khai thác trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả dài ngày Một phần nhỏ diện tích đất đồi núi dạng thung lũng, dốc thấp, bình nguyên, cao nguyên (địa hình thấp, khá bằng phẳng hoặc lượn sóng, thuận lợi cho canh tác thì được sử dụng trồng hoa màu lương thực Đại bộ phận hệ thống canh tác vùng đồi núi là canh tác nước trời, trừ diện tích lúa nước hai vụ dạng ruộng bậc thang hoặc diện tích trồng rau ven bãi bồi các sông suối là sử dụng nước tưới [106]
Đất đồi núi nói chung có độ màu mỡ cao nếu mới được khai phá hoặc được sử dụng hợp lý Tuy nhiên, độ màu mỡ của đất đồi núi phụ thuộc nhiều vào thành phần đá mẹ, độ dốc, thảm thực vật hoặc rừng che phủ hoặc vào dòng chảy của nước mưa Đã từ lâu qua quá trình chặt phá rừng, khai thác đất trồng trọt, người ta đã phát hiện đất đồi núi rất nhanh chóng bị suy thoái do hiện tượng đất bị xói mòn rửa trôi Vì vậy từ thế kỷ 18 bắt đầu xúc tiến các công trình nghiên cứu các biện pháp chống xói mòn bảo vệ đất dốc (Volni, 1870; các giáo sư trường Đại học Pardin Mỹ, từ 1951 đến 1958, các nghiên cứu quốc tế của nhiều nước, 1980, chương trình IBSRAM, CIAT, thập kỷ 90)
Trang 39Việc đánh giá chất lượng đất chính xác là rất quan trọng cho việc đưa ra định hướng sử dụng đất bền vững, phục hồi đất bị suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường [142]
Các biện pháp kỹ thuật chống xói mòn như đắp bờ, san đất tạo ruộng bậc thang đã đem lại những kết quả giảm và chống xói mòn rõ rệt Khi đắp
bờ, san ruộng độ dốc giảm xuống 2-50 thì xói mòn sẽ giảm 1-3 lần Thí nghiệm của trường đại học Naronnero đã cho thấy tạo bờ, san ruộng bậc thang đất đồi thì xói mòn sẽ giảm đi từ 7-10 tấn đất/ha [150]
Để bảo vệ đất dốc, nhiều nước trên thế giới sử dụng cây cỏ 3 lá vào hệ thống cây trồng, hoặc đưa cây đậu tương vào trồng xen với ngô, hoặc trồng theo đường đồng mức Từ những năm thập kỷ 80-90, hệ thống nông lâm kết hợp và đa dạng hoá cây trồng trên đất đồi núi đã được thử nghiệm và lan rộng khắp nơi bởi tính ưu việt về sử dụng đất bền vững và hiệu quả của hệ thống này Năm 1983, ICRAF đã đưa ra định nghĩa khá hoàn hảo về hệ thống nông lâm kết hợp: ''Đó là hệ thống sử dụng đất bao gồm các cây gỗ lâu năm và các cây nông nghiệp hàng năm hoặc cây thức ăn gia súc, hoặc cả hai trên cùng một mảnh đất đồng thời hay luân phiên với mục đích cho sản phẩm tối đa
và duy trì sản xuất lâu bền do bảo vệ và tăng cường được độ màu mỡ đất [152]
Bên cạnh những nghiên cứu kỹ thuật về sử dụng hiệu quả và bảo vệ chống suy thoái đất dốc, ngày nay sử dụng đất đồi núi bền vững còn đặc biệt chú trọng đến khía cạnh phát triển kinh tế và xã hội vùng đồi núi nhằm đảm bảo một hệ thống sử dụng đất bền vững cho đất dốc nói riêng và đất vùng đồi núi nói chung Nhóm công tác về "khung đánh giá đất dốc bền vững (Nairobori, 1991) đã nêu lên quan điểm" Quản lý bền vững đất đai bao gồm
tổ hợp các công nghệ, chính sách và các hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế - xã hội với các quan tâm môi trường để đồng thời: duy trì hoặc nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất), giảm rủi ro sản xuất (an toàn), bảo vệ tiềm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hoá đất và nước (bảo vệ), có hiệu quả lâu dài (lâu bền) và được xã hội chấp nhận (tính chấp nhận) [147]
Kết quả nghiên cứu của Suphamit về sự thất thoát nước và đất ở khu vực Changwat Khon Kaen (Thái Lan) cho thấy: bình quân lượng đất do xói mòn ở mô hình NLKH là 9,55 tấn/ha/năm (1996) [149] Trong khi đó trồng cây chuyên canh nông nghiệp là 12,28 tấn/ha/năm Mặt khác, những phụ phẩm hữu cơ trong sản xuất nông lâm kết hợp (NLKH) trả lại cho đất cao
Trang 40hơn nhiều so với chuyên canh nông nghiệp Sự sai khác đó rất có ý nghĩa khi tính toán hiệu quả kinh tế và canh tác bền vững Theo Lal (1998) kỹ thuật sản xuất phù hợp với dân nghèo miền núi là trồng đa canh theo phương thức NLKH, vì thế chính phủ Thái Lan đã ban hành các chính sách hỗ trợ, nhằm khuyến khích phát triển sản xuất NLKH [144]
Thomas (2001) nghiên cứu về quản lý dinh dưỡng trên đất dốc nhiệt đới vùng Đông Nam châu Á đã xác định: phần lớn đất đồi ở Đông Nam Á bị phong hoá và rửa trôi mạnh làm cho các chất dinh dưỡng suy giảm nhanh Nếu không được bón bổ sung phân khoáng đất sẽ thiếu dinh dưỡng, năng suất cây trồng thấp dẫn đến thu nhập của nông dân thấp, không có điều kiện đầu tư trở lại cho đất, cộng với áp lực tăng dân số làm cho thời gian bỏ hoá rút ngắn dần Hậu quả là đất càng ngày càng nghèo kiệt, đó là vòng luẩn quẩn dẫn đến đói nghèo [133]
Từ kết quả nghiên cứu của mạng lưới quản lý đất dốc châu Á thuộc ban nghiên cứu và quản lý đất thế giới (IBSRAM) tại các địa điểm: Doitung (Thái Lan), Nam Xumatra (Indonesia), các tác giả trên đã nhấn mạnh vai trò của việc bón bổ sung phân khoáng (đặc biệt là lân và vôi cho cây họ đậu) trên đất dốc nghèo dinh dưỡng nhằm giúp bộ rễ cây phát triển, hạn chế xói mòn, tăng độ che phủ đất và lượng sinh khối trả lại cho đất, đó là biện pháp
“hữu cơ hoá các chất vô cơ” để cải thiện độ phì của đất Cũng theo các tác giả này, mô hình NLKH giữa cây lương thực và cây họ đậu, cây hàng năm
và cây lâu năm, cây ăn quả (CAQ) và cây lấy gỗ… là phương thức thực hiện
để xoá đói giảm nghèo, ổn định và cải thiện đời sống nông dân ở các vùng đất đồi [146]
Tại Đài Loan, để quản lý tốt hơn tài nguyên đất, Chính phủ đã xây dựng dự án trình diễn bảo vệ đất đồi lần đầu tiên năm 1952 Sau đó, nhiều biện pháp bảo vệ đất đã được áp dụng như đào rãnh ở sườn đồi, làm ruộng bậc thang, trồng băng cỏ, trồng cây che phủ Theo kết quả điều tra năm 1995 của Cục Bảo vệ Đất và Nước Đài Loan cho rằng làm rãnh ở sườn đồi là biện pháp bảo vệ đất đồi được sử dụng phổ biến nhất, tiếp đó là làm ruộng bậc thang, lớp phủ cỏ và bờ đá [130]
Hàng năm lượng đất bị xói mòn, rửa trôi ra biển của thế giới khoảng
20 tỉ tấn, trong đó 45% từ các nước Nam và Đông Nam châu Á, 1,5 tỉ tấn ở vùng châu thổ Amazôn, còn lại ở các vùng khác Ở Ethiopia lượng đất bị rửa trôi, xói mòn hàng năm lên tới 1-3 tỉ tấn Ở Việt Nam lượng đất bị rửa trôi