1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

bài tập tuần logic và cách học tốt logic

12 587 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 26,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu7: Thế nào là định nghĩa khái niệm, trình bày các quy tắc định nghĩakhái niệm.Trả lời:1.1.Thế nào là định nghĩa khái niệm.Định nghĩa khái niệm là thao tác logic làm rõ nội hàm của khái niệm và táchnó ra khỏi lớp khái niệm cùng nằm trong khái niệm loại.1.2.Các quy tăc định nghĩa khái niệm.1.2.1.Định nghĩa phải cân đối.Định nghĩa cân dối là ngoại diên của khái niệm được định nghĩa và ngoạidiên của khái niệm dùng để định nghĩa phải bằng nhau.Vi phạm quy tắc này, thường xảy ra một trong hai trường hợp:Trường hợp thứ nhất, khái niệm dùng để định nghĩa có ngoại diên lớn hơnngoại diên của khái niệm được định nghĩa.Nghĩa là khái niệm dùng để định nghĩađã bao quát cả những đối tượng không thuộc ngoại diên của khái niệm được địnhnghĩa.Trong trường hợp này gọi là định nghĩa quá rộng.Trường hợp thứ hai, khai niệm dùng để định nghĩa có ngoại diên hẹp hơnngoại diên của khái niệm được định nghĩa.Như vậy, khái niệm dùng để định nghĩakhông bao hàm hết lớp đối tượng thuộc ngoại diên của khái niệm được định nghĩa.Trường hợp định nghĩa không cân đối này gọi là định nghĩa quá hẹp Xem nội dung đầy đủ tại: https://123doc.org/document/4351288-bai-tap-tuan-logic.htm

Trang 1

PHẦN I:

1.Câu7: Thế nào là định nghĩa khái niệm, trình bày các quy tắc định nghĩa khái niệm.

Trả lời:

1.1.Thế nào là định nghĩa khái niệm

Định nghĩa khái niệm là thao tác logic làm rõ nội hàm của khái niệm và tách

nó ra khỏi lớp khái niệm cùng nằm trong khái niệm loại

1.2.Các quy tăc định nghĩa khái niệm

1.2.1.Định nghĩa phải cân đối

Định nghĩa cân dối là ngoại diên của khái niệm được định nghĩa và ngoại diên của khái niệm dùng để định nghĩa phải bằng nhau

Vi phạm quy tắc này, thường xảy ra một trong hai trường hợp:

Trường hợp thứ nhất, khái niệm dùng để định nghĩa có ngoại diên lớn hơn

ngoại diên của khái niệm được định nghĩa.Nghĩa là khái niệm dùng để định nghĩa

đã bao quát cả những đối tượng không thuộc ngoại diên của khái niệm được định nghĩa.Trong trường hợp này gọi là định nghĩa quá rộng

Trường hợp thứ hai, khai niệm dùng để định nghĩa có ngoại diên hẹp hơn

ngoại diên của khái niệm được định nghĩa.Như vậy, khái niệm dùng để định nghĩa không bao hàm hết lớp đối tượng thuộc ngoại diên của khái niệm được định nghĩa Trường hợp định nghĩa không cân đối này gọi là định nghĩa quá hẹp

1.2.2.Định nghĩa phải ngắn gọn, rõ ràng, bảo đảm tính chính xác

Định nghĩa khiên người ta năm bắt được đối tượng mà khái niệm phản ánh là bảo đảm tính chính xác.Muốn vậy, khi định nghĩa không dùng những từ ngữ mập

mờ, nhiều nghĩa làm cho người khác hiểu sai bản chất của đối tượng phản ánh.Các dấu hiệu được sử dụng để định nghĩa phải là dấu hiệu bản chất đặc trưng của chính đối tượng mà khái niệm phản ánh.Sử dụng những dấu hiệu không đặc trưng hoặc những dấu hiệu thuộc lớp đối tượng khác sẽ làm cho khái niệm không chính

Trang 2

xác.Đồng thời, cũng không dùng những dấu hiệu có thể suy ra từ những dấu hiệu khác đã dùng trong định nghĩa vì như vậy định nghĩa sẽ dài dòng

1.2.3.Định nghĩa không được vòng vo

Định nghĩa vòng vo là nêu những dấu hiệu nội hàm của khái niệm dùng để định nghĩa không rõ ràng nên định nghĩa xong lại tiếp tục phải định nghĩa về khái niệm vừa dùng để định nghĩa, rồi lại định nghĩa về khái niệm dùng để định nghĩa tiếp… Cứ như thế làm cho định nghĩa mang tính chất vòng vo

Hoặc khái niệm dùng để định nghĩa lặp lại khái niệm cần được định nghĩa Nếu lặp lại có nghĩa là chưa định nghĩa, khái niệm dùng để định nghĩa là khái niệm

đã sáng tỏ, đã được thừa nhận còn khái niệm được định nghĩa là khái niệm chưa sáng tỏ, đang cần phải làm sáng tỏ

1.2.4.Định nghĩa không được ví von

Ví von chỉ là sự so sánh giữa hai đối tượng có những nét tương đồng nào đó.Còn định nghĩa là làm rõ nội hàm của khái niệm được định nghĩa bằng cách chỉ

rõ những dấu hiệu bản chất đặc trưng của chính đối tượng được phản ánh trong khái niệm.Như vậy, ví von chưa chỉ đưa ra được đối tượng phản ánh có dấu hiệu bản chất đặc trưng gì nên nhiệm vụ mà định nghĩa đặt ra chưa thực hiện được

1.2.5.Định nghĩa không được dùng phủ định mà phải trình bày những dấu hiệu bản chất đặc trưng của đối tượng phản ánh dưới dạng khẳng định

Phủ định là chỉ ra đối tượng phản ánh không có dấu hiệu nào đó mà thực tế, nhiều đối tượng khác cũng không có dấu hiệu như thế nên phủ định chưa giúp cho

ta có được khái niệm về đối tượng Phủ định không thể là định nghĩa nhưng trong phạm vi nhất định, với lớp đối tượng đã xác định, có thể chỉ ra những đối tượng không có một dấu hiệu nào đó

Trong định nghĩa, có thể dùng định nghĩa để gây ấn tượng hoặc giới hạn lớp đối tượng phản ánh nhưng trong đó, nhất thiết phải đề cập các dấu hiệu đặc trưng của nó dưới dạng khẳng định

Trang 3

2.Câu 8: Trình bày các kiểu (phương pháp) định nghĩa khái niệm.

Trả lời:

2.1.Thông qua khái niệm loại phân biệt khái niệm chủng

Thông qua khái niệm loại là chỉ ra khái niệm được định nghĩa thuộc khái niệm nào, qua đó hình dung ra những khái niệm chủng cùng nawmg trong khái niệm loại với nó Phân biệt khái niệm chủng là chỉ rõ những dấu hiệu bản chất đặc trưng của đối tượng phản ánh (tức nội hàm của khái niệm được định nghĩa) để phân biệt phân biệt các khái niệm chủng khác cùng loại

2.2.Làm rõ nguồn gốc phát sinh của đối tượng

Định nghĩa thông qua việc làm rõ nguồn gốc phát sinh là mô tả quá trình hình thành của đối tượng phản ánh, qua đó, khắc họa rõ nét những dấu hiệu bản chất đặc trưng, giúp cho việc hiểu rõ hiểu rõ đối tượng.Thực ra như trên đã nói, cái logic là sự rút gọn cái lịch sử; làm rõ cái lịch sử cũng giúp cho việc nắm bắt được bản chất của đối tượng

2.3.Thông qua quan hệ của khái niệm cần định nghĩa với khái niệm khác đã được định nghĩa

Sau khi đã định nghĩa khái niệm nào đó, tiếp tục chỉ ra quan hệ củ nó với khái niệm khác.Như vậy, cả hai khái niệm coi như đã được định nghĩa

2.4.Mô tả một số dấu hiệu đặc biệt của khái niệm

Dấu hiệu đặc biệt có thể không phải là dấu hiệu bản chất mà đó là dấu hiệu chỉ riêng sự vật đó có trong lớp đối tượng đang xét

2.5.Liệt kê tất cả các đối tượng thuộc ngoại diên của khái niệm được định nghĩa

Trong phạm vi nhất định của một lớp đối tượng hữu hạn, khi định nghĩa về

nó, có thể kể tên tất cả các đối tượng thành phần cùng nằm trong ngoại diên của khái niệm

Trang 4

2.6.Tìm thuật ngữ tương đương để thay thế cho nhau (có thể gọi là định nghĩa duy danh)

Trường hợp này chỉ chú trọng làm rõ quan hệ về mặt ngữ nghĩa chứ không hướng vào làm rõ nội hàm của khái niệm

3.Câu 2: Hãy làm rõ mối quan hệ giữa tư duy là ngôn ngữ, cho ví dụ minh họa.

Trả lời:

Ngôn ngữ vừa là công cụ vừa là cái vỏ vật chất của tư duy Ngôn ngữ và tư duy là một thể thống nhất nhưng không đồng nhất Sự không đồng nhất giữa ngôn ngữ và tư duy thể hiện ở những phương diện sau:

Ngôn ngữ tồn tại ở dạng vật chất, còn tư duy thuộc tinh thần Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu âm thanh, chữ viết, cử chỉ hành động chứa đựng thông tin về đối tượng phản ánh để làm phương tiện giao tiếp giữa con người với con người Các đơn vị của ngôn ngữ cảm nhận được bằng các giác quan và có đặc tính vật chất như: cao độ, trường độ Còn tư duy không cảm nhận được bằng các giác quan như vậy Tư duy nảy sinh và phụ thuộc vào một hình thức tổ chức vật chất đặc biệt là bộ não nhưng bản thân nó lại có tính tinh thần Tư duy không có những đặc tính của vật chất như khối lượng, trọng lượng, mùi vị Ngôn ngữ là hình thức tồn tại và biểu hiện của tư duy Vì thế, ngôn ngữ mang tính vật chất, tư duy là phi vật chất

Ngôn ngữ mang tính dân tộc còn tư duy có tính nhân loại Mọi người trên trái đất đều suy nghĩ theo những quy luật chung nhưng cách thể hiện tư duy bằng ngôn ngữ ở mỗi dân tộc lại khác Hoạt động của tư duy đòi hỏi phải hợp lý, logic trong khi đó ngôn ngữ lại hoạt động theo thói quen được cộng đồng chấp nhận Nói cách khác, trong ngôn ngữ cái logic mà không được cộng đồng chấp nhận cũng trở nên không có giá trị nhưng ngược lại, cái phi lôgic mà được cộng đồng chấp nhận thì vẫn dùng được bình thường

Trang 5

Những đơn vị tư duy cũng không đồng nhất với các đơn vị của ngôn ngữ Logic học nghiên cứu các quy luật của tư duy, phân biệt giữa các khái niệm, phán đoán, suy lý Những đơn vị này không trùng với các đơn vị ngôn ngữ như hình vị,

từ và câu Nhiều người đã cô lập một thế song song giữa khái niệm với từ, phán đoán với câu nhưng thực sự không hẳn như vậy Một khái niệm có thể biểu hiện bằng các từ khác nhau, trong ngôn ngữ khác nhau cũng như trong cùng một ngôn ngữ (hiện tượng từ đa nghĩa, từ đồng nghĩa) Ngược lại một vỏ ngữ âm có thể tương ứng nhiều khái niệm khác nhau (trường hợp từ đồng âm khác nghĩa) Ngoài

ra, có những từ không biểu thị khái niệm (thán từ, đại từ, danh từ riêng ) Những câu không biểu thị phán đoán (câu hỏi, câu cầu khiến) và các thành phần của phán đoán cũng không trùng với thành phần câu

Bên cạnh đó, ngôn ngữ và tư duy tạo thành một thể thống nhất biện chứng, bắt nguồn từ trong quá trình nhận thức Nhờ ngôn ngữ, con người trừu tượng hóa, khái quát hóa những thuộc tính và quan hệ của khách thể nhận thức, có thể suy nghĩ tách khỏi vật cảm tính Cũng nhờ ngôn ngữ kinh nghiệm được truyền từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác nên nó là hình thức tồn tại của tư duy Ngôn ngữ cũng phản ánh tồn tại khách quan, thông báo về thực tại đó, ghi lại kết quả nhận thức trước đây và hiện nay của xã hội Nó là hiện thực trực tiếp của tư duy Nghiên cứu tư duy không thể tách khỏi cái “vỏ vật chất” là ngôn ngữ

Tóm lại ngôn ngữ và tư duy thống nhất nhưng không đồng nhất Chức năng của ngôn ngữ đối với tư duy là thể hiện tư tưởng và trực tiếp tham gia vào việc hình thành tư tưởng

Ví dụ: như trong cuộc sống thực tế diễn ra hằng ngày của chúng ta, có rất nhiều tình huống tư duy chúng ta không thể biểu đạt bằng ngôn ngữ, đơn giản như nhìn một vụ việc cụ thể nào đó như một cảnh hoàng hôn đẹp trên biển chẳng hạn Chúng ta rất muốn diễn tả cảnh đẹp đó bằng ngôn từ như trong đúng tư duy chúng

ta liên tưởng nhưng rất nhiều lúc chúng ta không thể biểu hiện được cảm nhận, cảm xúc đó ra bằng ngôn ngữ được

Trang 6

4.Câu 6: kết cấu logic của khái niệm và mối quan hệ của các thành phần tạo nên khái niệm như thế nào? Cho ví dụ minh họa.

Trả lời:

4.1.Kết cấu logic của khái niệm

4.1.1.Nội hàm của khái niệm

Nội hàm của khái niệm là tổng hòa các dấu hiệu bản chất đặc trưng của đối tượng được phản ánh trong khái niệm

Nội hàm của khái niệm cho biết: sự vật ấy là cái gì? Như thế nào? Khác sự vật khác ở chỗ nào? Có thể nói, hiểu biết của chúng ta về những dấu hiệu bản chất đặc trưng của đối tượng hợp thành nội hàm của khái niệm

Nội hàm là tri thức khái quát về đối tượng mà khái niệm phản ánh, khi nói làm rõ khái niệm là hướng vào làm rõ nội hàm của nó Năm vững nội hàm của khái niệm là nắm vững nội dung của tư duy, làm cho tư duy rõ ràng, mạch lạc; khi giao tiếp, trao đổi thông tin mới bảo đảm tính chính xác, không hiểu sai và không nhầm lẫn đối tượng phản ánh

Ví dụ: khái niệm “nhà nước” Nội hàm của khái niệm “nhà nước” bao gồm các dấu hiệu: tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội; bao gồm một lớp người được tách ra từ xã hội để chuyên thực thi quyền lực; tổ chức và quản lý xã hội; phục vụ lợi ích chung của toàn thể xã hội cũng như lợi ích của lực lượng cầm quyền trong

xã hội

4.1.2.Ngoại diên của khái niệm

Ngoại diên là tập hợp gồm tất cả các đối tượng có chung những dấu hiệu bản chất đặc trưng được phản ánh trong nội hàm của khái niệm

Ngoại diên của khái niệm thường được biểu đạt bằng sơ đồ hình tròn

Có khái niệm trong ngoại diên chỉ một đối tượng duy nhất có dấu hiệu bản chất đặc trưng được nêu trong nội hàm, đó là khái niệm đơn nhất

Trang 7

Trong thực tế, có khái niệm không có ngoại diên gọi là khái niệm rỗng Có một số khái niệm rỗng nhưng trong quá trình phát triển của thực tiễn xã hội, nó không còn là khái niệm rỗng

Xác định ngoại diên của khái niệm là xác định phạm vi lớp đối tượng mà khái niệm phản ánh Qua đó biết được đối tượng nào thuộc hay không thuộc về khái niệm

Ví dụ: ngoại diên của khái niệm “nhà nước” là tập hợp các kiểu nhà nước như nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước tư sản, nhà nước phong kiến, nhà nước chủ nô,

4.2.Quan hệ giữa nội hàm và ngoại diên của khái niệm

Nội hàm và ngoại diên của khái niêm có quan hệ và quy định lẫn nhau chặt chẽ Nội hàm của khái niệm được xác định trên cơ sở lớp đối tượng là ngoại diên của khái niệm đó Sự thay đổi nội hàm sẽ dẫn đến sự thay đổi về ngoại diên và ngược lại Quan hệ giữa nội hàm và ngoại diên của khái niệm là quan hệ ngược chiều nhau Nghĩa là nếu nội hàm càng sâu ( các dấu hiệu về mặt nội hàm ngày càng mang tính chất cụ thể) thì ngoại diên càng hẹp (lớp đối tượng mà khái niệm phản ánh ngày càng ít) Ngược lại, nếu nội hàm càng nông (các dấu hiệu thuộc nội hàm ngày càng mang tính chất khái quát) thì ngoại diên càng rộng (lớp đối tượng

mà khái niệm phản ánh ngày càng lớn)

Ví dụ: Khái niệm “người Kinh” có khái niệm sâu hơn nội hàm khái niệm

“người Việt Nam” nhưng ngoại diên của khái niệm “người Việt Nam” rộng hơn ngoại diên của khái niệm “người Kinh”

PHẦN II:

1.Câu 5: Phân tích các phán đoán sau và cho biết công thức, kí hiệu của nó.

1.1.Mọi nhà nước đều mang tính giai cấp

Trang 8

Trả lời:

Phán đoán trên có :

Chủ từ (S): Nhà nước

Vị từ (P): mang tính giai cấp

Hệ từ: đều

Lượng từ: mọi

Do đó phán đoán trên là phán đoán khẳng định toàn thể

Công thức chung:

Kí hiệu bằng chữ “A”

1.2.Có hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm

Trả lời:

Phán đoán trên có:

Chủ từ (S): hành vi nguy hiểm cho xã hội

Vị từ (P): tội phạm

Hệ từ: là

Lượng từ: có

Do đó phán đoán trên là phán đoán khẳng định bộ phận

Công thức chung:

kí hiệu bằng chữ “I”

1.3.Có hành vi nguy hiểm cho xã hội không phải là tội phạm

Trả lời:

Phán đoán trên có:

Chủ từ (S): hành vi nguy hiểm cho xã hội

Vị từ (P): tội phạm

Hệ từ: không phải là

Lượng từ: Có

Do đó phán đoán trên là phán đoán phủ định bộ phận

Tất cả S là P

Một số S là P

Một số S không là P

Trang 9

Công thức chung:

Kí hiệu bằng chữ “O”

1.4.Tất cả công chức không được nhũng nhiễu dân

Trả lời:

Phán đoán trên có:

Chủ từ (S): công chức

Vị từ (P): nhũng nhiễu dân

Hệ từ: không được

Lượng từ: tất cả

Do đó phán đoán trên là phán đoán phủ định toàn thể

Công thức chung:

Kí hiệu bằng chữ “E”

2.Câu 6: Nếu khẳng định: “Tất cả hành vi nguy hiểm cho xã hội đều là tội phạm” là sai thì khẳng định nào sau đây là đúng? Tại sao?

Trả lời:

Phán đoán đã cho cho có:

Chủ từ (S): hành vi nguy hiểm cho xã hội

Vị từ (P): tội phạm

Hệ từ: là

Lượng từ: tất cả

Do đó phán đoán trên là phán đoán khẳng định toàn thể Kí hiệu “A”

2.1.Tất cả hành vi nguy hiểm cho xã hội không phải là tội phạm

Phán đoán trên có:

Chủ từ (S): hành vi nguy hiểm cho xã hội

Vị từ (P): tội phạm

Hệ từ: không phải là

Lượng từ: tất cả

Do đó phán đoán trên là phán đoán phủ định toàn thể Kí hiệu “E”

Theo hình vuông logic, phán đoán “A” sai thì giá trị của phán đoán “E” không xác định nghĩ là trong một số trường hợp thì phán đoán đó đúng và ngược lại

Tất cả S không là P

Trang 10

2.2.Có hành vi nguy hiểm cho xã hội không phải là tội phạm.

Phán đoán trên có:

Chủ từ (S): hành vi nguy hiểm cho xã hội

Vị từ (P): tội phạm

Hệ từ: không phải là

Lượng từ: có

Do đó phán đoán đã cho là phán đoán phủ định bộ phận Kí hiệu “O”

Theo hình vuông logic, phán đoán “A” sai thì giá trị của phán đoán “O” đúng 2.3.Không phải tất cả các hành vi nguy hiểm cho xã hội đều là tội phạm

Phán đoán trên có:

Chủ từ (S): hành vi nguy hiểm cho xã hội

Vị từ (P): tội phạm

Hệ từ: là

Lượng từ: không phải tất cả

Do đó phán đoán đã cho là phán đoán khẳng định bộ phận Kí hiệu “I”

Theo hình vuông logic, phán đoán “A” sai thì giá trị của phán đoán “I” không xác định nghĩ là trong một số trường hợp thì phán đoán đó đúng và ngược lại

2.4.Không có hành vi nguy hiểm cho xã hội nào cũng là tội phạm

Phán đoán trên có:

Chủ từ (S): hành vi nguy hiểm cho xã hội

Vị từ (P): tội phạm

Hệ từ: cũng là

Lượng từ: không có

Do đó phán đoán đã cho là phán đoán định toàn thể Kí hiệu “E”

Theo hình vuông logic, phán đoán “A” sai thì giá trị của phán đoán “E” không xác định nghĩ là trong một số trường hợp thì phán đoán đó đúng và ngược lại

Như vây, Nếu khẳng định: “Tất cả hành vi nguy hiểm cho xã hội đều là tội

phạm” là sai thì khẳng định đúng là: “Có hành vi nguy hiểm cho xã hội không phải

là tội phạm”

3.Câu 3: Các định nghĩa khái niệm sau có mắc lỗi logic không? Mắc lỗi gì? Tại sao?

3.1.Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội

Ngày đăng: 24/08/2017, 00:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w