1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

báo cáo thu hoạch quan trắc chất lượng nước

15 232 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 421 KB
File đính kèm NUOC.rar (224 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khai thác cát sạn lòng sông trong khu vực lòng dẫn sẽ làm thay đổi địa hình đáy hoạt động khai thác cát sạn trên dòng sông ở xã Hương Thọ có tổ chức do ban quản lý SH thực hiện có tính đ

Trang 1

Báo cáo thu hoạch

QUAN TRẮC CHẤT LƯỢNG NƯỚC

I MỤC ĐÍCH

- Nhằm thực hành công tác thu thập các dữ liệu, số liệu về môi trường nước phục vụ cơ sở cho lập báo cáo hiện trạng môi trường, cảnh báo tình trạng ô nhiễm môi trường

- Nâng cao khả năng đi thực địa về quan trắc môi trường nước

II ĐỐI TƯỢNG

- Nước sông Hương đoạn chảy qua thành phố Huế

- Nước thải từ một số nguồn thải điểm vào đoạn sông nói trên

III PHƯƠNG PHÁP

+ Phương pháp thu thập tài liệu

+ Phương pháp bản đồ

+ Tiến hành quan trắc tại chỗ, lấy mẫu và phân tích tại phòng thí nghiệm

IV NỘI DUNG

1 Tổng quan về sông Hương

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành lưu vực sông Hương

* Vị trí địa lý.

Thừa Thiên Huế là một tỉnh ven biển nằm ở Miền Trung Việt Nam, có toạ độ 16-16,8 vĩ độ Bắc và 107,8-108,2 kinh độ Đông Phía Bắc Thừa Thiên Huế giáp Quảng Trị, phía Nam giáp Thành phố Đà Nẵng, phía Tây giáp nước CHDCND Lào, phía Đông giáp biển Đông.Thừa Thiên Huế có 8 huyện và thành phố Huế với 150 xã, phường, thị trấn Diện tích toàn tỉnh là 5.053,99km2, tổng dân số năm 2006 là 1.137.692 người Thành phố Huế có diện tích: 70.99 km2 với 333.715 người dân (tính đến 31/12/2007) – chiếm 1.4% về diện tích nhưng chiếm 24.1% về dân số toàn tỉnh

* Chế độ khí hậu:

Cùng với các yếu tố ảnh hưởng khác, tác động của các hình thế thời tiết đặc biệt như bão, áp thấp nhiệt đới, hội tụ nhiệt đới, gió mùa Đông Bắc, gió mùa Tây Nam khô nóng làm cho chế độ mưa ở Thừa Thiên Huế biến động mãnh liệt và phức tạp theo mùa

Theo số liệu của trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn Thừa Thiên Huế lượng bức xạ tổng cộng đo trong toàn tỉnh là 135,2Kcal/cm2 Trong đó lượng bức xạ thấp nhất là tháng 1 (2,92 kcal/cm2) và cao nhất là tháng 5 hoặc tháng 6 (10,49kcal/m2)

- Số giờ nắng trung bình dao động trong khoảng 1600-2600 giờ/năm

Trang 2

- Độ ẩm tương đối của không khí khá lớn, bình quân năm dao động 83->86% nhiệt độ bình quân ở Thừa Thiên Huế là 25,20C

- Là tỉnh có lượng mưa lớn nhất nước nhưng phân bố không đồng đều giữa các mùa trong năm

Bảng 1: Lượng mưa ở tỉnh Thừa Thiên Huế.

Lượng mưa cao nhất

Lượng mưa thấp nhất

Số ngày mưa trung bình trong năm

Tổng lượng mưa trung bình mùa lũ

4937mm 1822mm

162 ngày

1745 mm

(Số liệu theo trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn tỉnh Thừa Thiên Huế)

- Mùa mưa (IX - XII) lượng mưa chiếm 65 -> 67% lượng mưa năm tạo ra dòng chảy mùa lũ với lưu lượng, vận tốc và cường suất lũ lớn Ngược lại, do lượng mưa trong 8 tháng còn lại (I - VIII) của mùa khô chỉ chiếm 25 – 35% lượng mưa năm nên lưu lượng, vận tốc, mực nước của dòng chảy mùa cạn rất thấp

- Gió phân làm 2 mùa rõ rệt:

Gió mùa hè (V - IX) hướng gió chính là Tây Nam (khô nóng) và Đông Nam (nóng ẩm) với tốc độ gió trung bình là 3 – 4m/s Gió mùa Đông thổi từ tháng X đến tháng II năm sau với hướng gió thịnh hành là hướng Tây Bắc và Đông Bắc với tốc độ gió trung bình là 4 – 5m/s

* Địa hình và lớp phủ thực vật rừng

Địa hình Thừa Thiên Huế nói chung và lưu vực sông Hương nói riêng chuyển biến khá đột ngột từ khu vực núi trung bình – thấp, qua khu vực đồi

gò, đồng bằng duyên hải đến đầm phá Hơn nữa, do địa hình đa dạng và bị chia cắt ngang mạnh nên độ dốc mặt đất cao, chiều dài và diện tích lưu vực sông suối rất hạn chế

Thời gian gần đây rừng đầu nguồn bị tàn phá nặng và thảm thực vật rừng bị suy kiệt, chất lượng mặt đệm kém, cùng với độ dốc mặt đất và đáy sông suối lớn, sông ngắn, lưu vực hẹp là những yếu tố thúc đẩy nhanh quá trình tập trung nước, truyền lũ và gây ra lũ quét nhiều nơi

* Đặc điểm địa chất thủy văn

Hầu như toàn bộ lãnh thổ đồi núi được cấu tạo từ đá cứng chặt sít, ít nức nẻ và chứa nước kém Địa hình dốc, độ che phủ rừng thấp, đá cứng chứa nước kém làm giảm lưu lượng nước tàng trữ trong đất đá, và hạn chế khả năng nước mưa ngấm xuống sâu trong đất đá và tăng hệ số, lượng dòng chảy

Trang 3

lũ hàng năm Đặc biệt trong các tháng kiệt (ứng với cực tiểu về mưa trong các tháng II, IV, VII) lưu lượng, vận tốc, mực nước các sông suối thấp nhất, xâm nhập mặn lấn sâu nhất vào đồng bằng

* Dân cư

Đoạn sông Hương từ ngã ba Tuần đến phá Tam Giang chảy qua 10 xã (gồm 36 thôn với hơn 112.000 người) và thành phố Huế (330.836 người năm 2006) Trong đó, có khoảng 75% số dân là sinh sống ngay trên bờ sông Đây là khu vực tập trung dân cư và các hoạt động kinh tế chủ yếu của tỉnh Thừa Thiên Huế

Ngành nghề chính của dân cư là sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và một phần nhỏ làm nghề ngư, khai thác cát sạn lòng sông

* Các hoạt động kinh tế xã hội 2 bên bờ sông:

+ Các công trình kinh tế: Nhà máy xi măng Long Thọ, khách sạn

Century, khách sạn Hương Giang, khách sạn Công Đoàn, nhà máy bia Huda, Công ty xuất nhập khẩu thuỷ hải sản Sông Hương

+ Các công trình văn hoá du lịch phân bố 2 bên bờ sông: Lăng Minh

Mạng, Điện Hòn Chén, chùa Thiên Mụ, Đại Nội là những bộ phận quan trọng của quần thể di sản văn hoá thế giới ở Thừa Thiên Huế

+ Các công trình xã hội: Bệnh viện thành phố, bệnh viện trung ương

Huế, các bệnh viện tư nhân và các trạm xá, các phòng khám nhỏ khác

+ Công trình chỉnh trị lòng dẫn và ổn định bờ:

- Kè bảo vệ bờ Xước Dũ

- Đập ngăn mặn La Ỷ

- Đập ngăn mặn Thảo Long

- Hồ chứa nước Tả Trạch

- Đập ngăn mặn Vạn Niên

+ Các hoạt động kinh tế chính như: Các công trình sử dụng nguồn

nước khai thác cát sạn lòng sông và nuôi trồng đánh bắt thuỷ hải sản

Khai thác cát sạn lòng sông trong khu vực lòng dẫn sẽ làm thay đổi địa hình đáy (hoạt động khai thác cát sạn trên dòng sông ở xã Hương Thọ có tổ chức do ban quản lý SH thực hiện có tính đến yêu cầu đảm bảo cân bằng dòng chảy nên không ảnh hưởng nhiều đến địa hình đáy của lòng sông) Hoạt động khai thác trên khúc sông từ ngã ba Tuần đến chùa Thiên Mụ mang tính tự phát của người dân, với công suất lớn và không tính đến đảm bảo cần bằng dòng chảy Hiện nay tình trạng khai thác chui rất mạnh và lấy

đi mỗi ngày khoảng 1200m3 cát sạn Nên việc quản lý khai thác cát sạn và bảo vệ độ ổn định của dòng sông đang gặp nhiều khó khăn

Trang 4

- Nuôi trồng đánh bắt thuỷ hải sản: Hình thức chính là nuôi cá lồng và đánh bắt bằng lưới Việc nuôi cá lồng ảnh hưởng nhất định đối với sự vận động của dòng chảy và chất lượng nước Trên toàn tuyến có nhiều vị trí tổ chức nuôi cá lồng với số lượng lớn như: Phà Tuần (30 lồng); đoạn Xước Dũ (> 50 lồng) Bao Vinh (>30 lồng)[1]

+ Giao thông vận tải:

Thuyền bè đi lại trên sông cũng góp phần làm khuấy động luồng nước làm giảm khả năng sa lắng của chất rắn lơ lửng Đồng thời làm tăng ô nhiễm như: Dầu mỡ, chất thải sinh hoạt Hoạt động du lịch bằng thuyền trên SH phát triển khá mạnh và tăng lên hàng năm Số lượng tăng lên: năm 2000 có

50 thuyền đến nay đã có gần 200 thuyền

+ Sự phân bố dân cư và sản xuất nông nghiệp.

Ở 2 bên bờ sông đoạn xã Hương Hồ, Thuỷ Biều, Hương Vinh, Phú Mậu tập trung dân cư với số lượng lớn là sản xuất nông nghiệp và khai thác bãi bồi ven sông.Trên hệ thống sông Hương, hiện có 960 hộ dân đang sinh sống trên nhà thuyền[1], tập trung chủ yếu ở nhánh sông Xước Dũ, nhánh sông Đông Ba, khu vực Cồn Hến và rải rác từ khu vực Phú Bình về đến Địa Linh (trong đó,có khoảng 170 nhà thuyền trên nhánh sông Xước Dũ và trên

150 nhà thuyền trên nhánh sông Đông Ba) với hoạt động kinh tế chủ yếu là khai thác cát sạn, nuôi cá lồng và đánh bắt thuỷ sản Việc sinh sống của bộ phận dân ngày cũng góp phần không nhỏ vào việc làm giảm chất lượng nước sông

Hình thái lưu vực sông Hương.

Hệ thống sông Hương có lưu vực dạng nan quạt với diện tích lưu lượng 2713km2 chiếm 60% diện tích toàn tỉnh.Sông Hương bắt nguồn từ các dãy núi cao của dãy núi Đông A Lưới thuộc Trường Sơn Bắc, trong đó, có hơn 80% là đồi núi, 5% là đồi cát ven biển

Hệ thống sông Hương gồm 3 nhánh chính là sông Bồ, sông Tả Trạch

và sông Hữu Trạch Nhánh Tả Trạch chảy từ núi Vang và nhánh Hữu Trạch bắt đầu từ núi Ruy, gặp nhau ở ngã ba Tuần (cách thành phố Huế 15km về phía Nam) tạo thành dòng chính sông Hương, rồi hội lưu với sông Bồ (bắt đầu từ núi Động – Quảng Điền) ở ngã ba Sình (cách Huế 8km về phía Bắc)

và đổ vào phá Tam Giang theo hướng Đông Bắc và Đông trước khi chảy ra biển ở cửa biển Thuận An Ngoài các chi lưu tự nhiên, còn có các sông đào nối với sông Hương, trong số đó có nhánh sông Đông Ba

Dốc lòng sông bình quân 11.7m/km2 Lượng nước trên lưu vực sông rất phong phú, đạt gần 6 tỉ m3/năm Do địa hình hẹp dốc, dòng chảy không

Trang 5

đồng đều trong năm, rừng ngày càng bị tàn phá nặng, thảm thực vật rừng bị

suy kiệt Cùng với độ dốc mặt đất và đáy sông suối lớn, sông ngắn và lưu

vực hẹp là những yếu tố thúc đẩy nhanh quá trình tập trung nước, truyền lũ

gây ra lũ quét và mặn thường xuyên ngập sâu lên sông Hương, có năm

(2002) vượt quá Huế 20 – 25km gây mặn toàn vùng Đó là hiểm họa toàn

vùng cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, cấp nước sinh hoạt

Theo đặc điểm hình thái, sông hương được chia làm 2 đoạn khá rõ rệt

- Đoạn chảy qua vùng đồi núi thì dốc, nhiều ghềnh thác, không chịu

ảnh hưởng nhiều của thuỷ triều Mùa lũ, thể tích dòng chảy lớn gây khó

khăn vận tải Mùa kiệt thì nước thấp, lòng sông cạn, trơ sỏi đá, dòng sông gồ

ghề, dốc (sông Tả Trạch từ Tân Ba trở lên, sông Hữu Trạch từ Bình Điền

trở len, sông Bồ từ núi Bân trở lên)

- Đoạn chảy qua vùng đồng bằng thì hiền hoà hơn, độ dốc mặt nước

bé, chịu ảnh hưởng mạnh của triều mặn

Chế độ dòng chảy trên lưu vực sông Hương.

Do bị hàng loạt các yếu tố tự nhiên, nhân tạo chi phối, chế độ dòng

chảy trên các sông ngoài biến động rất mạnh mẽ và phụ thuộc nhiều vào

mùa khí hậu

Dòng chảy mùa lũ: Mùa lũ chính vụ kéo dài 3 tháng (X - XI) chiếm

60-70% tổng lượng dòng chảy

Tuỳ thuộc vào đặc điểm địa hình, cường độ mưa, tâm mưa, sự chi

phối của đặc điểm triều (triều cường hay triều yếu) sẽ quyết định thời gian

truyền lũ, tốc độ truyền lũ, thời gian lũ, mực nước lũ

Dòng chảy mùa cạn: Nhất là các thời kỳ kiệt nước, mực nước trên

sông rất thấp và chủ yếu phụ thuộc nguồn nước dưới đất cung cấp ở vùng

đồi núi hoặc nước dưới đất và thuỷ triều bù cấp ở vùng đồng bằng duyên

hải Do lưu lượng dòng chảy từ thượng lưu đổ về ít, địa hình thấp thoải, đáy

sông vùng đồng bằng hạ lưu thấp hơn mực nước biển nên thuỷ triểu dễ lấn

sâu vào đồng bằng duyên hải tạo ra dòng chảy 2 chiều và xâm nhập mặn

2 Các điểm quan trắc

M1 Ngã ba BaoVinh Đánh giá tình trạng chất lượng nước sông trướckhi ra khỏi thành phố. M2 Đập La Ỷ Đây là khu vực tiếp nhận các chất thải của các

Trang 6

hoạt động công nghiệp, tiêu điểm là hai nhà máy lớn: Nhà máy bia Huda và công ty Hải sản Sông Hương Ngoài ra, đây cũng là nơi bị ảnh hưởng từ các chất thải sinh hoạt

Ba

Khu vực này là nơi tiếp nhận chất thải trực tiếp

từ chợ, từ siêu thị Coo.mart, nhà hàng, khách sạn, từ các hoạt động du lịch, dịch vụ Đồng thời đây cũng là nơi nhận nước thải của Bệnh viện Trung ương Huế và nước thải sinh hoạt của người dân

Đây là khu vực tiếp nhận nước thải sinh hoạt của người dân sống 2 bên ven bờ và các chất thải từ hoạt động nông nghiệp của người dân Đặc biệt khu vực này còn bị ô nhiễm kim loại nặng từ hoạt động đúc đồng của người dân M5 Gần chùa ThiênMụ Khảo sát hiện trạng chất lượng nước trước khiđi vào thành phố Huế

3 Kết quả quan trắc

Thông số đo đạc tại hiện trường

Vị

trí

Thời

gian

Mặt

cắt

Thông số hiện trường Vi khí hậu

K/cách (m) EC pH

Độ sâu (m) DO

n (vòng/phút)

v dòng chảy

To (0c)

Độ ẩm

P (hPa)

M1

6,68

4,2

8,50

153 0,181

28,2 69,1 0,4-1,1 1012

8h15 3 132,2 0,02 8,6 167 0,193

M2

6,68

4,2

7,75

179 0,203

29,3 69,6 0,4-1,2 1012,4

8h42 3 313,8 0,01 4,1 203 0,223

Trang 7

8h48 5 0,01 7,9 607 0,568

M3

6,3

3,8

7,28

292 0,299

28,1 75,3 0,4-2,1 1012,6

9h13 3 442,7 0,01 3,1 123 0,155

M4

6,38

4,2

7,74

330 0,332

28,9 74,5 0,4-2 1012,5 9h38 2 202,2 0,01 4,4 212 0,231

M5

5,56

2,9

7,50

63 0,104

23,2 72,37 1,7-2,3 1012,4

10h2 3 306,9 0,04 3,5 3 0,053

Thông số phân tích tại phòng thí nghiệm:

Vị trí SS (mg/l) COD (mg/l) BOD5(mg/l) NO3l)-(mg/ NH4+l) (mg/ PO43-l) (mg/

4 Nhận xét

 pH:

Trang 8

- pH tương đối ổn định ở ngoài hiện trường và khi đo ở trong phòng thí nghiệm khoảng 5,56 – 6,68, nằm trong giá trị thoả mãn của QCVN 08:2008 loại A2-B1

 DO:

- Nhìn chung, DO tại tất cả các vị trí lấy mẫu đều đảm bảo QCVN 08:2008 loại A1 Vì Huế vừa mới trải qua trận lũ khoảng 1 tuần trước khi lấy mẫu, nên chất lượng nước khá sạch

- 1 tuần sau lũ, các hoạt động sản xuất, sinh hoạt đã trở lại bình thường nên DO là thấp nhất ở chợ Đông Ba, do nước sông phải tiếp nhận một lượng nước thải từ chợ, khách sạn, nước thải bênh viện…

Trang 9

 Độ dẫn điện:

- Độ dẫn điệncao nhất tại đoạn Thiên Mụ Đây có thể là do lý do thời tiết nhiều ngày trước mưa nên nước nguồn từ trên đổ xuống mang theo nhiều chất hoà tan

 SS(mg/l):

- SS tăng dần từ chùa Thiên Mụ đến Bạch Hổ (do ở Bạch Hổ đang xây dựng cầu) và chợ Đông Ba (ở Chợ Đông Ba thì tiếp nhận nước thải từ chợ và các hoạt động du lịch Và đây cũng là vị trí có SS cao nhất)

- Sau đó SS lại giảm từ Đông Ba đến đập La Ỷ (nước thải từ nhà máy bia, nhà máy chế biến thuỷ sản…) và Bao Vinh

Trang 10

 COD

- Theo kết quả trên, COD ở đoạn đập La Ỷ là lớn nhất, COD ở đoạn gần chùa Thiên Mụ là thấp nhất Do đoạn đập La Ỷ tiếp nhận nhiều nguồn nước thải từ nhà máy bia Huda Huế và công ty Hải sản Sông Hương còn nước đoạn sông đi qua chua Thiên Mù mới chỉ tiếp nhận một lượng thải nhỏ chất thải sinh hoạt

- COD của đoạn gần chùa Thiên Mụ thoã mãn QCVN 08:2008 về chất lượng nước mặt loại A2 Tất cả các đoạn còn lại đều đạt chuẩn B1

 BOD5:

Trang 11

- BOD5 tại cầu Bạch Hổ thoả mãn chất lượng nươc mặt loại

A1(QCVN08:2008)

- Các vị trí còn lại chỉ thỏa mãn chất lượng nươc mặt loại A2

(QCVN08:2008) trừ đoạn ở đập La Ỷ

 NO3-(mg/l)

- Nồng độ NO3- lớn nhất tại đập La Ỷ, thấp nhất tại đoạn Bao Vinh

- Tất cả các mẫu phân tích đều đạt tiêu chuẩn chất lượng nước loại B1(QCVN08:2008)

Trang 12

 NH4+(mg/l)

- Nồng độ NH4+ lớn nhất tại chợ Đông Ba, thấp nhất tại đoạn Bao Vinh

- Tất cả các mẫu phân tích đều đạt tiêu chuẩn chất lượng nước loại B1(QCVN08:2008) Riêng ở đoạn Bao Vinh đạt tiêu chuẩn A2

 PO43-(mg/l):

- Nồng độ PO43- lớn nhất tại chợ Đông Ba, thấp nhất tại đoạn Thiên Mụ

- Tất cả các mẫu phân tích đều đạt tiêu chuẩn chất lượng nước loại B1(QCVN08:2008) Riêng ở đoạn Thiên Mụ đạt tiêu chuẩn A2

Trang 13

 Như vậy, qua kết quả quan trắc cho thấy:

- So với các năm trước đây, chất lượng nước sông Hương ngày càng đi xuống do gia tăng các hoạt động nông nghiệp, dịch vụ, du lịch…Đa số đạt loại B1(QCVN08:2008), chỉ một số đạt loại A2

- Mục đích chính của sông Hương là cấp nước cho sinh hoạt nên cần phải nghiêm túc thực hiện các biện pháp xử lý nước thích hợp nhằm đảm bảo chất lượng nước tốt để đáp ứng mục đích này

- Một số điểm bị ô nhiễm cục bộ: Chợ Đông Ba và đập La Ỷ do phải tiếp nhận các nguồn thải đặc biệt ô nhiễm

V KIẾN NGHỊ

Chất lượng nước sông Hương đang có nguy cơ bị ô nhiễm, vì vậy tôi đưa ra một số kiến nghị như sau:

+ Thực hiện việc quan trắc giám sát thường xuyên, liên tục, hiệu quả

Cụ thể mở rộng ra chương trình quan trắc quan trắc chất lượng nước sông Hương với 9 điểm:

Nhánh sông Tả Trạch

Nhánh sông Hữu Trạch

Hai điểm này ở thượng nguồn của lưu vực sông Hương, môi trường nước ở hai nhánh sông này chưa bị tác động của các yếu tố ô nhiễm do con người gây ra Đây được xem là điểm nền của môi trường nước sông Hương

Ở ngă ba Tuần, điểm này là sự hòa nhập của hai nhánh Tả Trạch và Hữu Trạch vào sông Hương trước khi chảy qua thành phố Huế nên chưa bị ảnh hưởng của các hoạt động của người dân thành phố Huế

Nơi phân thành nhánh sông Xước Dũ (trước khi qua Nhà máy xi măng Long Thọ), khu vực này nhận nước thải sinh hoạt của bộ phận dân sống ven hai bên bờ sông và các chất thải từ hoạt động nông, lâm, ngư nghiệp của người dân Đặc biệt khu vực này còn bị ô nhiễm kim loại nặng từ hoạt động đúc đồng của người dân

Ngay chợ Đông Ba đối diện với khách sạn Century, khu vực này là nơi tiếp nhận chất thải trực tiếp từ chợ, từ các hoạt động du lịch, dịch vụ Đồng thời đây cũng lŕ nơi nhận nước thải của Bệnh viện Trung ương Huế và nước thải sinh hoạt của người dân

Ở nhánh sông Đông Ba, nước sông ở đây chịu ảnh hưởng đáng kể của các chất thải từ chợ và nước thải sinh hoạt của người dân, đặc biệt là mọi chất thải của các cư dân vạn đò đều được thải trực tiếp ra đây

Ngày đăng: 23/08/2017, 20:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w