1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng thiết chế tài chính để nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng trong các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội

86 231 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---NGUYỄN THỊ THU HÀ SỬ DỤNG THIẾT CHẾ TÀI CHÍNH ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA SAU CÔNG BỐ CHẤT LƯỢ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THU HÀ

SỬ DỤNG THIẾT CHẾ TÀI CHÍNH ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA SAU CÔNG BỐ CHẤT LƯỢNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT, KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-NGUYỄN THỊ THU HÀ

SỬ DỤNG THIẾT CHẾ TÀI CHÍNH ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA SAU CÔNG BỐ CHẤT LƯỢNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT, KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

MÃ SỐ: 60.34.04.12

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Ngọc Song

Hà Nội, 2015

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 4

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 5

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7

3 Mục tiêu nghiên cứu 9

4 Phạm vi nghiên cứu 9

5 Mẫu khảo sát 10

6 Câu hỏi nghiên cứu 10

7 Giả thuyết nghiên cứu 10

8 Phương pháp nghiên cứu: 10

9 Kết cấu của Luận văn 11

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH THIẾT CHẾ TÀI CHÍNH ĐỂ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA SAU CÔNG BỐ CHẤT LƯỢNG 12

1.1 Hệ khái niệm 12

1.1.1 Khái niệm thiết chế tài chính 12

1.1.2 Hiệu quả quản lý của thiết chế tài chính 13

1.1.3 Điều kiện áp dụng thiết chế tài chính 13

1.1.4 Khái niệm về chất lượng hàng hóa 14

1.1.5 Đặc điểm của chất lượng hàng hóa 17

1.1.6 Vai trò của chất lượng hàng hóa 19

1.2 Các lý thuyết về quản lý chất lượng 20

1.2.1 Khái niệm về quản lý 20

1.2.2 Khái niệm về quản lý chất lượng 21

1.2.3 Các trường phái quản lý chất lượng 28

1.2.4 Các nguyên tắc quản lý chất lượng 29

1.3 Vai trò của các thiết chế tài chính trong việc quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng 31

1.3.1 Vai trò bảo đảm pháp chế, kỷ cương trong quản lý chất lượng 321

1.3.2 Vai trò ngăn ngừa vi phạm 32

1.3.3 Vai trò thúc đẩy bảo đảm chất lượng 32

Kết luận chương 1 33

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA SAU CÔNG BỐ CHẤT LƯỢNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 34

2.1 Tình hình quản lý chất lượng ở Việt Nam hiện nay 34

2.1.1 Khái quát chung về quản lý chất lượng ở Việt Nam 34

2.1.2 Cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý chất lượng hàng hóa 35

2.1.3 Hoạt động tiêu chuẩn và đánh giá sự phù hợp chất lượng tại Việt Nam 41

Trang 4

2.2 Thực trạng công bố chất lượng cho hàng hóa trên địa bàn thành phố Hà

Nội 48

2.2.1 Sự phân công trên địa bàn và hoạt động của Chi cục Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng Hà Nội 48

2.2.2 Điều tra về hiệu quả quản lý chất lượng sau công bố tại Sở Khoa học và Công nghệ 51

2.2.3 Điều tra, khảo sát doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội về xây dựng và công bố tiêu chuẩn 53

2.3 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân hạn chế kết quả quản lý nhà nước sau công bố chất lượng 55

2.3.1 Những tồn tại và hạn chế 55

2.3.2 Các nguyên nhân 58

Kết luận chương 2 62

CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG THIẾT CHẾ TÀI CHÍNH ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA SAU CÔNG BỐ CHẤT LƯỢNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT, KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 64

3.1 Xây dựng thiết chế tài chính đối với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng hóa có chất lượng không phù hợp với bản công bố 64

3.1.1 Xây dựng thiết chế tăng cường mức xử phạt về tài chính đối với doanh nghiệp vi phạm 64

3.1.2 Thiết chế tài chính về khen thưởng, khuyến khích đối với người tiêu dùng 65

3.2 Điều kiện để thực hiện thiết chế tài chính nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố 65

3.2.1 Điều kiện đối với doanh nghiệp 65

3.2.2 Điều kiện đối với chính sách quản lý nhà nước 66

3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý chất lượng hàng hóa sau công chất lượng trong các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh 67

3.3.1 Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan 67

3.3.2 Tăng cường năng lực tổ chức thực thi pháp luật và năng lực phối hợp trong quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố 67

3.3.3 Tăng cường năng lực hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước 69

3.3.4 Kiện toàn bộ máy Chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng thành phố Hà Nội 70

3.3.5 Tăng cường kiểm soát chất lượng hàng hóa bằng các công cụ, biện pháp cần thiết 72

Kết luận chương 3 73

KẾT LUẬN 75

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC 79

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Ngọc Song – Vụ trưởng Vụ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ - Người hướng dẫn khoa học,

đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo để tôi có thể hoàn thành Luận văn này

Xin bày tỏ lòng biết ơn tới các Thầy - Cô tại Khoa Khoa học Quản lý - Đại học KHXHNV đã tận tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức, phương pháp luận, kỹ năng, kinh nghiệm… trong suốt thời gian học tập tại Khoa

Xin trân trọng cảm ơn Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hà Nội, Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thành phố Hà Nội, các cơ quan quản lý, các chuyên gia đã hợp tác, tiếp đón, cung cấp thông tin số liệu và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình điều tra, phỏng vấn phục vụ nghiên cứu

Xin chân thành cám ơn các anh chị lớp Cao học Khóa QH-2012-X, về

sự giúp đỡ, hỗ trợ và động viên trong học tập

Mặc dù đã nỗ lực và cố gắng rất nhiều nhưng do thời gian và năng lực của bản thân còn hạn chế nên Luận văn còn những thiếu sót nhất định Kính mong nhận được ý kiến đóng góp, chỉ bảo của Thầy - Cô để Luận văn có thể hoàn thiện hơn nữa

Xin trân trọng cảm ơn./

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thời gian gần đây, thị trường và hoạt động thương mại ở nước ta đã có những bước phát triển tích cực, hàng hoá ngày càng đa dạng, phong phú, chất lượng ngày càng được nâng cao, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Tuy nhiên, công tác quản lý chất lượng hàng hoá, việc kiểm tra, kiểm soát, chấp hành các quy định về bảo đảm chất lượng hàng hoá sản xuất và lưu thông trên thị trường chưa được quan tâm đúng mức, hoạt động quản lý còn nhiều bất cập và hiệu quả quản lý còn hạn chế Hiện tượng buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng ngày càng có chiều hướng gia tăng, thậm chí có lúc, có nơi tình hình trở nên nghiêm trọng không những gây thiệt hại về quyền lợi, thậm chí làm ảnh hưởng tới sức khoẻ của người tiêu dùng, mà còn làm suy giảm uy tín và lợi ích kinh tế của những người kinh doanh chân chính, trung thực, đồng thời gây hậu quả xấu tới sản xuất, đời sống và sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế, xã hội ở nước ta

Nguyên nhân của tình trạng trên trước hết thuộc về quản lý nhà nước Các Bộ, Ngành và địa phương được giao trách nhiệm quản lý chất lượng hàng hoá chưa nhận thức một cách đầy đủ vai trò và trách nhiệm của mình trong việc tổ chức và phối hợp hoạt động nhằm thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc quản lý chất lượng đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trên địa bàn

Những nội dung quy định hiện hành về chất lượng hàng hoá của Nhà nước hoặc không theo kịp yêu cầu và đòi hỏi của phương thức quản lý tự công bố tiêu chuẩn chất lượng, công bố phù hợp quy chuẩn, chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn, chứng nhận phù hợp quy chuẩn của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hoặc chậm được điều chỉnh, bổ sung, thay thế cho phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của phương thức mới

Bộ máy tổ chức và lực lượng làm công tác kiểm tra, kiểm soát về chất lượng hàng hoá trong sản xuất và trong khâu lưu thông ở địa phương, ngay ở thành phố Hà Nội còn thiếu và yếu, hoạt động kém hiệu quả, chưa đáp ứng

Trang 8

được yêu cầu và đòi hỏi của quản lý chất lượng sau công bố chất lượng của sự phát triển hàng hoá và thị trường trong nền kinh tế thị trường như hiện nay

Một nguyên nhân chủ yếu nữa thuộc về các tổ chức doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Trong quá trình hội nhập, hình thức quản lý chất lượng đã có sự thay đổi căn bản từ bắt buộc đăng ký chất lượng sang tự nguyện công bố chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhưng nhận thức, trách nhiệm, được quản lý và tham gia vào quá trình quản lý còn rất hạn chế, có phần đối phó, né tránh

Là một cán bộ đang công tác tại một cơ quan nhà nước thuộc thành phố

Hà Nội quản lý về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, tôi nhận thấy việc quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng ở địa phương chưa thực sự đạt hiệu quả Chính vì vậy trong phạm vi luận văn Thạc sĩ, tôi đã tiến hành

nghiên cứu với đề tài “Sử dụng thiết chế tài chính để nâng cao hiệu quả

quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng trong các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội” nhằm góp

phần khắc phục tình trạng yếu kém về quản lý chất lượng hàng hoá sau công

bố, để sớm đưa hoạt động sản xuất, kinh doanh nói chung, công tác quản lý chất lượng hàng hoá nói riêng vào nền nếp, đúng pháp luật, góp phần thúc đẩy và phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn Hà Nội nói

riêng và cả nước nói chung

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lý nhà nước về chất lượng hàng hóa sau khi công bố chất lượng, có thể nhận thấy chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này

Cuốn Quản lý chất lượng sản phẩm của Đặng Đức Dũng (chủ biên), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001 đã trình bày lý thuyết cơ bản về quản

lý chất lượng sản phẩm, đảm bảo chất lượng, cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí trong sản xuất Các tác giả cũng đề xuất việc áp dụng các phương pháp thống kê trong quản lý chất lượng sản phẩm

Trang 9

Tác giả Hà Duyên Tư trong cuốn sách Quản lý chất lượng trong công nghiệp thực phẩm, NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2006 phân tích các kiến thức

cơ bản về chất lượng thực phẩm, nội dung các hoạt động quản lý và kiểm tra chất lượng, kĩ thuật lấy mẫu, kĩ thuật kiểm tra thống kê trong sản xuất, xử lý thống kê số liệu và công tác tiêu chuẩn hoá

Tác giả Nguyễn Mạnh Dũng trong cuốn Quản lý chất lượng sản phẩm

và vệ sinh an toàn thực phẩm trong chế biến nông lâm sản, NXB Nông nghiệp, 2008 đã đánh giá thực trạng nông sản chế biến trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế, chất lượng và quản lý chất lượng nông sản chế biến và một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm trong các doanh nghiệp chế biến nông sản thực phẩm

Tác giả Bùi Hồng Đăng trong bài viết Xây dựng mô hình quản lý chất lượng phù hợp trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất hàng xuất khẩu tại Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và phát triển số 130 (tháng 4 năm 2008) đã đề xuất các nội dung về áp dụng mô hình quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ với định hướng tập trung là áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO và quản lý chất lượng toàn diện (TQM)

Giáo trình Quản lý chất lượng của tác giả Ngô Phúc Hạnh, NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2011 đã trình bày các nội dung về chất lượng sản phẩm và dịch vụ, khách hàng và thị trường sản phẩm, chi phí chất lượng và năng suất, quản lý chất lượng trong các tổ chức và hệ thống quản lý chất lượng, các phương pháp, kỹ thuật quản lý chất lượng

Đi sâu nghiên cứu về thiết chế kiểm soát chất lượng hàng hóa, gần đây,

tác giả Phan Thanh Thôi đã nghiên cứu đề tài “Tăng cường các thiết chế kiểm soát chất lượng hàng hóa sau công bố tiêu chuẩn chất lượng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh” Ở đề tài này, tác giả cũng đã nêu ra được những tồn tại, hạn chế

trong việc quản lý chất lượng hàng hóa và cũng đã đưa ra được một số giải pháp để kiểm soát chất lượng hàng hóa sau công bố tiêu chuẩn chất lượng Tuy nhiên các giải pháp đó chưa thực sự rõ ràng, cụ thể và phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Trang 10

Đối với Hà Nội, đây cũng là một vấn đề cần được quan tâm, cần được nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện vì Hà Nội là trung tâm kinh tế của

cả nước, có số lượng lớn các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và số lượng hàng hóa lưu thông rất lớn Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, chưa có một công trình khoa học nào đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước về chất lượng hàng hóa sau công bố tiêu chuẩn chất lượng trên địa bàn thành phố Hà Nội, và đặc biệt là sử dụng thiết chế để nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý chất lượng hàng hóa, hiệu quả quản lý

- Mục tiêu chung: Xây dựng thiết chế tài chính để nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng trong các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Tìm kiếm các nguyên nhân gây ra hạn chế hiệu lực, hiệu quả của quản lý chất lượng hàng hóa nói chung và quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa sau công bố chất lượng nói riêng;

+ Phân tích những nguyên nhân cơ bản làm cho công tác quản lý nhà nước về chất lượng hàng hóa sau công bố chưa đạt hiệu quả cao;

+ Phân tích các nguyên nhân từ phía tổ chức doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh;

+ Xây dựng thiết chế tài chính để nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng của các tổ chức doanh nghiệp

4 Phạm vi nghiên cứu

+ Về nội dung: Tập trung nghiên cứu công tác quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố tiêu chuẩn chất lượng trên địa bàn thành phố Hà Nội

+ Về không gian: Địa bàn thành phố Hà Nội

+ Về thời gian: Từ năm 2009 đến nay

Trang 11

5 Mẫu khảo sát

Đề tài được khảo sát trực tiếp tại:

- Các cơ quản quản lý nhà nước về chất lượng hàng hóa;

- Các cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng: Quản lý thị trường, Thanh tra;

- Các chuyên gia, cán bộ, thanh tra thuộc Sở Khoa học và công nghệ

Hà Nội;

- Khoảng 40 cơ sở sản xuất, cửa hàng kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Thiết chế tài chính cần phải được xây dựng như thế nào để nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng trong các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội?

- Liệu xây dựng thiết chế tài chính có thể làm đổi mới công tác quản lý nhà nước về chất lượng hàng hóa không?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Thiết chế tài chính cần phải được xây dựng dựa trên tư tưởng là đưa

ra các hình thức xử phạt về mặt tài chính nhằm ngăn chặn hiện tượng sản xuất, kinh doanh hàng hóa có chất lượng không phù hợp với bản công bố

- Việc xây dựng thiết chế tài chính có thể làm đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng

8 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu và thu thập thông tin qua khảo cứu tài liệu: Phương pháp nghiên cứu này được sử dụng cho chương 1 và một phần nội dung chương 2 Tác giả nghiên cứu các công trình nghiên cứu đã có về quản

lý chất lượng hàng hóa sau công bố, các thiết chế kinh tế, tài chính, xã hội nhằm quản lý, kiểm soát chất lượng hàng hóa sau công bố; các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý, kiểm soát chất lượng hàng hóa, xử lý

vi phạm tiêu chuẩn, chất lượng hàng hóa…;

Trang 12

- Phương pháp điều tra qua phiếu trưng cầu ý kiến và xử lý dữ liệu: Phương pháp nghiên cứu này được sử dụng trong nghiên cứu chương 2 của luận văn Đối tượng khảo sát là cán bộ, công chức đang làm công tác quản lý nhà nước về chất lượng hàng hóa và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh các sản phẩm, hàng hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội Phương pháp nghiên cứu nhằm thu thập thông tin đánh giá về việc xử lý vi phạm chất lượng hàng hóa sau công bố, kết quả áp dụng các thiết chế tài trong xử lý vi phạm tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa sau công bố; mức độ thực hiện công bố chất lượng, tuân thủ các quy định về công bố chất lượng hàng hóa sau công bố của các doanh nghiệp

- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này nhằm thu thập ý kiến đánh giá của các chuyên gia về thiết chế tài chính đã và đang được áp dụng, các đề xuất về đổi mới thiết chế tài chính nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát chất lượng hàng hóa sau công bố

9 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được kết cấu thành ba chương: Chương 1 - Cơ sở lý luận của việc hình thành thiết chế tài chính để kiểm soát chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng

Chương 2 - Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về chất

lượng hàng hóa sau công bố chất lượng trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương 3 - Xây dựng thiết chế tài chính để nâng cao hiệu quả quản lý

chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng trong các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH THIẾT CHẾ TÀI CHÍNH

ĐỂ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA SAU CÔNG BỐ

CHẤT LƯỢNG

1.1 Hệ khái niệm

1.1.1 Khái niệm thiết chế tài chính

Thiết chế xã hội là khái niệm chỉ toàn bộ hệ thống tổ chức và hệ thống giám sát mọi hoạt động của xã hội Nhờ các thiết chế xã hội mà các quan hệ xã hội kết hợp lại với nhau, đảm bảo cho các cộng đồng hoạt động nhịp nhàng Về mặt tổ chức, thiết chế xã hội là hệ thống các cơ quan quyền lực, các đại diện cho cộng đồng, đảm bảo những hoạt động đáp ứng những nhu cầu khác nhau của cộng đồng và cá nhân Ngoài việc giám sát của các hệ thống tổ chức, còn

có hệ thống giám sát không mang những hình thức có tổ chức Đó là phong tục, tập quán, dư luận, luôn luôn đánh giá và điều chỉnh hành vi của các thành viên trong cộng đồng xã hội Các thiết chế xã hội đều có nhiệm vụ: đáp ứng các loại nhu cầu khác nhau của cộng đồng và của các thành viên, điều chỉnh hoạt động của các bộ phận trong cộng đồng và của các thành viên, kết hợp hài hoà các bộ phận, đảm bảo sự ổn định của cộng đồng Có nhiều loại thiết chế khác nhau:

+ Thiết chế kinh tế, tài chính bao gồm những thiết chế liên quan đến việc sản xuất và phân phối của cải, điều chỉnh sự lưu thông tiền tệ, tổ chức và phân công lao động xã hội

+ Thiết chế chính trị là những thiết chế như chính phủ, quốc hội, các đảng phái và tổ chức chính trị

+ Thiết chế tinh thần là những thiết chế liên quan đến các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, giáo dục, khoa học, tôn giáo

+ Thiết chế giao tiếp công cộng bao gồm tất cả các khuôn mẫu và phương thức hành vi trong sự giao tiếp công cộng

Các mối quan hệ xã hội giữa người với người đều kinh qua những thiết chế Những thiết chế này đều có tính độc lập tương đối so với các quan hệ xã

Trang 14

hội ấy Thiết chế thường có tính chất lạc hậu hơn so với các biến đổi của các quan hệ xã hội Việc cải biến và thay đổi các thiết chế xã hội liên quan trực tiếp đến quản lí xã hội và các chính sách xã hội

Thiết chế tài chính là một trong các thiết chế xã hội Thiết chế tài chính

có thể được hiểu là tổng thể các quy định và tổ chức về tài chính nhằm giám sát hoạt động của đời sống xã hội, góp phần bảo đảm sự vận hành bình thường của đời sống xã hội

1.1.2 Hiệu quả quản lý của thiết chế tài chính

Trong hoạt động quản lý, các chủ thể quản lý có thể sử dụng các thiết chế quản ý khác nhau So với những thiết chế quản lý khác, thiết chế tài chính

có những điểm ưu trội trên một số phương diện

Thứ nhất, thiết chế tài chính tác động trực tiếp vào lợi ích của đối tượng quản lý Với việc sử dụng thiết chế tài chính, chủ thể quản lý có thể khuyến khích các đối tượng quản lý thực hiện theo định hướng mà chủ thể quản lý mong đợi Mặt khác, thông qua thiết chế này, có thể tác động đến lợi ích vật chất, làm giảm lợi ích vật chất, doanh thu của đối tượng quản lý khi chủ thể quản lý áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm, yêu cầu khắc phục hậu quả

Thứ hai, thiết chế tài chính có tác động ngăn ngừa, tạo ra áp lực phải tuân thủ các quy định đã được đặt ra Vì thiết chế tài chính tác động đến lợi ích của các chủ thể, vì vậy, sự tác động của thiết chế này tạo ra áp lực phải tuân thủ Nếu đi ngược lại các quy định của thiết chế tài chính, đối tượng sẽ chịu thiệt hại về mặt kinh tế Thiết chế tài chính là thiết chế có tác dụng ngăn ngừa, đề phòng vi phạm Bên cạnh việc sử dụng các biện pháp thuyết phục, vận động thì thiết chế tài chính có vai trò, ý nghĩa rất lớn trong việc bảo đảm

kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm pháp chế Có thể khẳng định: không có cưỡng chế, không sử dụng thiết chế tài chính thì không có trật tự, quyền và lợi ích của nhà nước cũng như của mỗi cá nhân, tổ chức bị xâm phạm

1.1.3 Điều kiện áp dụng thiết chế tài chính

Để áp dụng thiết chế tài chính hiệu quả, các quy định về thiết chế tài chính cần phù hợp với yêu cầu kiểm soát chất lượng hàng hóa, có tính thực

Trang 15

tiễn và bao quát được các khía cạnh của quản lý chất lượng hàng hóa Trong triển khai thực hiện các thiết chế tài chính, vấn đề căn bản là cần có sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quy định các loại hình sản phẩm, hàng hóa cần phải công bố chất lượng, hoạt động kiểm tra, giám sát và

xử lý các vi phạm về chất lượng hàng hóa sau công bố Việc quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố liên quan đến nhiều chủ thể quản lý khác nhau Nếu thiếu sự phối hợp hiệp đồng giữa các chủ thể này thì các thiết chế tài chính khó đi vào thực tiễn hoặc chỉ áp dụng đơn lẻ đối với một số ít hàng hóa, một số ít doanh nghiệp sản xuất mà không tạo nên một thiết chế hiệu quả trong kiểm soát chất lượng hàng hóa

1.1.4 Khái niệm về chất lượng hàng hóa

Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường xuyên tiếp cận và nói nhiều các thuật ngữ "chất lượng", "chất lượng sản phẩm", "chất lượng cao", Mỗi quan niệm đều có những căn cứ khoa học và thực tiễn khác nhau nhằm thúc đẩy khoa học quản lý chất lượng không ngừng phát triển và hoàn thiện Tuy nhiên, chất lượng là một phạm trù phức tạp, một vấn đề gây nhiều tranh cãi, vì vậy, định nghĩa về chất lượng có những khác biệt tùy theo đối tượng sử dụng, tùy theo thời gian và cách tiếp cận

Theo quan điểm của triết học Mác-Lênin, chất lượng là mức độ, thước

đo biểu hiện giá trị sử dụng của nó Giá trị sử dụng của sản phẩm làm nên tính hữu ích của sản phẩm và nó chính là chất lượng sản phẩm

Chất lượng theo quan niệm thông thường được hiểu là tốt và tuyệt với của sản phẩm Quan niệm này mang tính trừu tượng vì chất lượng hàng hóa, sản phẩm không thể xác định một cách chính xác, đầy đủ và như nhau trong cảm nhận của các nhóm đối tượng

Chất lượng theo quan niệm của nhà sản xuất là sự đáp ứng và phù hợp của sản phẩm, dịch vụ với một tập hợp các yêu cầu, quy cách được xác định trước Chất lượng được hiểu là tổng hợp những tính chất đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức độ thỏa mãn các yêu cầu định trước cho nó trong điều kiện kinh tế, xã hội nhất định

Trang 16

Chất lượng hướng theo thị trường, trong nền kinh tế thị trường, khi mô

tả chất lượng sản phẩm, hàng hóa, người ta nêu bật bản chất mà người sản xuất người tiêu dùng gặp nhau: yêu cầu sử dụng cao và giá trị phù hợp Có rất nhiều định nghĩa chất lượng được các tác giả nêu ra:

- Theo Tổ chức kiểm tra chất lượng châu Âu (European organization for quality control): chất lượng là mức độ phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng;

- Theo tiêu chuẩn của Australia (AS1057-1985) thì "Chất lượng là sự phù hợp với mục đích"

- Theo một số chuyên gia quản lý chất lượng nổi tiếng thì: chất lượng là mức độ dự đoán trước tính đồng đều để tin cậy, tại mức chi phí thấp và thị trường chấp nhận (W.E Deming); Chất lượng là những đặc tính cơ bản của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà khi sử dụng sẽ làm cho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đáp ứng được mong đợi của khách hàng (A.Feigenbaun); Chất lượng

là sự thỏa mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất (Ishikawa)

Theo quan điểm chất lượng hướng theo công nghệ thì chất lượng sản phẩm là “tổng tính chất đặc trưng của sản phẩm thể hiện ở mức độ thỏa mãn những yêu cầu định trước cho nó trong những điều kiện xác định về kỹ thuật, kinh tế, xã hội”

Chất lượng sản phẩm là tập hợp những tính chất của sản phẩm có khả năng thỏa mãn được những nhu cầu phù hợp công dụng của sản phẩm đó, chất lượng sản phẩm là sự phù hợp các tiêu chuẩn hoặc quy định kỹ thuật

Từ khi tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO đưa ra định nghĩa ISO 9000:1994 (TCVN 5814-1994) thì các cuộc tranh cãi lắng xuống và nhiều nước chấp nhận định nghĩa này: "Chất lượng là một tập hợp các tính chất và đặc trưng của sản phẩm tạo ra cho nó khả năng thỏa mãn nhu cầu đã được nêu

ra hoặc còn tiềm ẩn"

Qua các định nghĩa trên ta có thể nêu ra 3 điểm cơ bản về chất lượng sản phẩm hàng hoá sau đây:

Trang 17

+ Chất lượng sản phẩm là một tập hợp các chỉ tiêu, các đặc trưng thể hiện tính năng kỹ thuật nói lên tính hữu ích của sản phẩm

+ Chất lượng sản phẩm phải được gắn liền với điều kiện cụ thể của nhu cầu, của thị trường về các mặt kinh tế, kỹ thuật, xã hội và phong tục

+ Chất lượng sản phẩm phải được sử dụng trong tiêu dùng và cần xem xét sản phẩm thỏa mãn tới mức nào của người tiêu dùng

Ở nước ta, Luật chất lượng sản phẩm, hàng hoá (Luật số 05/2007/QH12) cũng chỉ rõ: Chất lượng sản phẩm, hàng hoá là mức độ của các đặc tính của sản phẩm, hàng hoá đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công

bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng

Chất lượng hàng hóa thể hiện khả năng hàng hóa đáp ứng nhu cầu nhất định của con người Nói cách khác, chất lượng hàng hóa là thước đo mức độ

có ích của giá trị sử dụng Chất lượng hàng hóa được xác định theo mục đích

sử dụng cụ thể, theo nhu cầu của đối tượng sử dụng Chất lượng hàng hóa không cố định mà phụ thuộc vào điều kiện sản xuất và sử dụng nhất định Cùng với phát triển của sản xuất, những tiến bộ khoa học, công nghệ và xu hướng phát triển của xã hội, chất lượng hàng hóa cũng luôn luôn biến đổi, không ngừng nâng cao, đạt yêu cầu toàn diện hơn, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng

Chất lượng hàng hóa không chỉ đơn thuần là bảo đảm những tính chất

về mặt kỹ thuật mà còn mang cả nội dung kinh tế Người ta có thể sử dụng nguyên liệu quý, hiếm, dùng phương pháp công nghệ tiên tiến để sản xuất những hàng hóa khá hoàn hảo, song như vậy làm cho chi phí sản xuất quá lớn, giá thành quá cao, sản xuất sẽ không có lãi và cũng không thể kinh doanh được Người tiêu dùng không thể bỏ ra số tiền quá lớn để mua thứ hàng hóa

đó vì sự tăng thêm về chất lượng không tương ứng với số tiền bỏ thêm ra Vì vậy, để hàng hóa sản xuất ra tiêu thụ được nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu người tiêu dùng và kích thích được sản xuất phát triển thì không thể yêu cầu một chất lượng với bất kỳ giá nào mà phải là một chất lượng kinh tế nhất định, đảm bảo đáp ứng được những yêu cầu sử dụng nhất định và chi phí xã

Trang 18

hội ít nhất Do đó, chất lượng hàng hóa là tổng hợp các tính chất đặc trưng kinh tế, kỹ thuật tạo nên giá trị sử dụng làm cho hàng hóa có khả năng thỏa mãn nhu cầu xã hội trong những điều kiện sản xuất và sử dụng nhất định

Có thể phân hóa khái niệm về chất lượng theo các quan điểm như sau:

Thỏa mãn yêu cầu giá thành hợp lý và thời gian giao nhận tốt

1.1.5 Đặc điểm của chất lượng hàng hóa

Từ những khái niệm nêu trên, chất lượng hàng hóa có những đặc điểm

cơ bản sau:

- Do chất lượng được đo bằng mức độ thỏa mãn nhu cầu thông qua một tập hợp các chỉ tiêu, do vậy, một sản phẩm, vì một lý do nào đó mà có chỉ tiêu quy định không đạt yêu cầu, bởi vậy, không được thị trường chấp nhận, bị coi

là không có chất lượng, cho dù sản phẩm đó có giá trị sử dụng và ngay cả khi sản phẩm đã được chế tạo từ công nghệ có thể hiện đại hay giá trị của một số chỉ tiêu chất lượng có thể là rất cao Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở

để các nhà quản lý, các nhà sản xuất đưa ra những chính sách, chiến lược chất lượng sản phẩm và kinh doanh của mình

- Yêu cầu có thể là nhu cầu, đó là những đặc tính không thể thiếu đối với khách hàng hay các bên quan tâm về sản phẩm được cung cấp, những cũng có thể là mong đợi, nếu đáp ứng được sẽ đem lại tính cạnh tranh cao đối với sản phẩm, ví dụ như hình thức bên ngoài của sản phẩm, thái độ phục vụ, cung cấp dịch vụ, như vậy, có thể phân chia chất lượng thành hai loại: “chất lượng phải có” “ứng với đáp ứng nhu cầu” và “chất lượng hấp dẫn” “ứng với đáp ứng mong đợi” Tuy nhiên, do sự thay đổi điều kiện sống nên nhiều đặc

Trang 19

tính trong một thời kỳ được coi là mong đợi nhưng ở thời kỳ sau đó được coi

là nhu cầu

- Người kinh doanh không chỉ phải đáp ứng nhu cầu của khách hàng

mà muốn tồn tại, phát triển phải lưu ý đến các bên quan tâm khác, ví dụ như yêu cầu về pháp luật, tập quán hay văn hóa, sinh hoạt của cộng đồng xã hội và thị trường vươn tới

- Do chất lượng được đo bằng sự thỏa mãn nhu cầu mà nhu cầu luôn biến động nên chất lượng cũng biến đổi theo thời gian, không gian và điều kiện sử dụng

- Khi đánh giá chất lượng một sản phẩm, ta phải xem xét đặc tính chất lượng là đặc tính của đối tượng có liên quan đến những yêu cầu cụ thể Với cùng một chủng loại sản phẩm, các yêu cầu này khác nhau tùy theo điều kiện

cụ thể

- Yêu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, các tiêu chuẩn nhưng cũng có thể yêu cầu không mô tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chung hoặc có khi chỉ phát hiện được chúng trong quá trình sử dụng

- Chất lượng không chỉ dùng cho sản phẩm mà cần hiểu là áp dụng cho thực thể như sản phẩm, một hoạt động, một quá trình, một hệ thống

- Chất lượng luôn có tính chủ quan và mang tính khách quan Nó phản ánh tương tác giữa sản phẩm, con người (người tiêu dùng) và xã hội Cần hiểu nghĩa rộng chất lượng tổng hợp bao gồm thỏa mãn yêu cầu, giá cả dịch vụ bán hàng và sau giao hàng

Khi nói đến chất lượng không thể không nói đến khái niệm cấp chất lượng Cấp chất lượng là chủng loại hay thứ hạng của các yêu cầu chất lượng khác nhau đối với sản phầm, hàng hóa, quy trình hay hệ thống có cùng chức năng sử dụng

- Chất lượng hàng hóa có thể chia thành nhiều loại khác nhau:

+ Chất lượng thiết kế: là giá trị đem lại thông qua các chỉ tiêu đặc trưng của sản phẩm, hàng hóa được phác thảo qua văn bản để tổ chức sản xuất;

Trang 20

+ Chất lượng công bố: là chất lượng được cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn hoặc chấp nhận, trong đó các quy định mức chất lượng cần có của sản phẩm, hàng hóa đạt được Mặt khác, cơ quan có thầm quyền quản lý căn cứ tiêu chuẩn đã công bố (tiêu chuẩn cơ sở, tiêu chuẩn Việt Nam, quy chuẩn Việt Nam, quy chuẩn địa phương, tiêu chuẩn nước ngoài, tiêu chuẩn quốc tế) để kiểm soát chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

+ Chất lượng thực tế là chất lượng đạt được ở sản phẩm, hàng hóa qua thử nghiệm tại thời điểm cụ thể, việc kiểm tra chất lượng thực tế nhằm loại bỏ sản phẩm không đạt tiêu chuẩn, kiểm soát mức độ thỏa mãn yêu cầu hoặc đánh giá chất lượng còn lại sử dụng;

+ Chất lượng tối ưu là chất lượng đạt mức hợp lý nhất trong điều kiện sản xuất và kinh tế-xã hội nhất định nhằm thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng trong điều kiện cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa

1.1.6 Vai trò của chất lượng hàng hóa

Chất lượng của sản phẩm, hàng hoá thể hiện ở mức độ đáp ứng của sản phẩm, hàng hóa với nhu cầu của người tiêu dùng và bảo đảm an toàn cho con người, động thực vật, tài sản, môi trường… Bảo đảm chất lượng sản phẩm, hàng hoá có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ với người tiêu dùng, người sản xuất mà còn cả với nhà nước trong việc duy trì an ninh, trật tự công cộng và lợi ích quốc gia

Chất lượng sản phẩm là chính sách do doanh nghiệp thực hiện các chiến lược Marketing tạo uy tín và danh tiếng cho sản phẩm của doanh nghiệp, khẳng định vị trí của sản phẩm đó trên thị trường từ đó làm cơ sở cho

sự tồn tại và phát triển bền lâu của doanh nghiệp Nhờ phát triển chất lượng

đã giúp tiết kiệm nguyên vật liệu, tiết kiệm tài nguyên và giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Hiện nay, cuộc cạnh tranh toàn cầu đã, đang và sẽ trở nên ngày càng mạnh mẽ với qui mô và phạm vi ngày càng lớn Sự phát triển của khoa học và công nghệ cho phép các nhà sản xuất nhạy bén có khả năng đáp ứng ngày càng cao nhu cầu khách hàng, tạo ra lợi thế cạnh tranh Tình hình trên đã

Trang 21

khiến cho chất lượng trở thành yếu tố cạnh tranh, trở thành yếu tố quyết định

sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Chất lượng sản phẩm tốt đảm bảo hướng dẫn và kích thích tiêu dùng Riêng đối với sản phẩm là tư liệu sản xuất chất lượng sản phẩm tốt đảm bảo cho việc trang bị kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế quốc dân, nâng cao năng suất lao động Chất lượng sản phẩm không những làm tăng uy tín hàng hóa nước ta trên thị trường thế giới mà còn tạo điều kiện tăng cường thu nhập ngoại tệ cho đất nước

Bên cạnh đó đảm bảo chất lượng hàng hoá, chống hàng giả, hàng nhái, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, chống hàng lậu không đảm bảo chất lượng, không rõ nguồn gốc, góp phần tích cực trong việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng Việt Nam

1.2 Các lý thuyết về quản lý chất lƣợng

1.2.1 Khái niệm về quản lý

Quản lý là một hoạt động được hình thành từ khi xã hội loài người xuất hiện, con người có sự hợp tác với nhau hoặc cùng nhau hoạt động với những mục đích chung nào đó Ở đâu con người tạo lập nên nhóm xã hội là ở đó cần đến quản lý, dù nhóm nhỏ, nhóm lớn, nhóm chính thức, nhóm không chính thức và bất kể nội dung hoạt động nhóm là gì Từ xa xưa, con người đã biết

sử dụng hoạt động quản lý vào việc tổ chức các hoạt động của mình Ở Phương Đông, Khổng Tử đã đề cao xác định rõ vai trò cá nhân của người làm công tác quản lý - đặc biệt ông đã để lại một câu khá lý thú cho những người làm quản

lý "Bất tại kỳ vị bất mưu kỳ chính" (không ở vào địa vị ấy đừng nên bàn chuyện của nơi ấy) Vào thời Trung Hoa cổ đại, bốn chức năng cơ bản của quản lý đã

được xác định Đó là kế hoạch hoá, tổ chức, tác động và kiểm tra

Tuy tư tưởng và quan điểm về quản lý đã có cách đây 2500 năm, nhưng cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cuộc vận động theo khoa học mới xuất hiện Người khởi xướng cuộc vận động này là Frederich Winslow Taylor (1856 - 1915) Năm 1911, Winslow Taylor đã cho xuất bản cuốn sách "Các nguyên tắc quản lý theo khoa học" Ông đã cho rằng: "Quản lý là cải tạo mối

Trang 22

quan hệ giữa người với người, giữa người với máy móc" và "Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất" [8, tr 13]

Từ góc độ xã hội học về quản lý C.Mác viết: "Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần tìm đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một nghệ sĩ độc tấu vĩ cầm tự mình điểu khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [2, tr 21]

Ngày nay, khái niệm về quản lý được định nghĩa rõ ràng hơn:

Theo Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là

khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu dự kiến” [17]

Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [8, tr 1]

Theo cuốn giáo trình quản lý hành chính nhà nước của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, quản lý được xem như là “sự kết hợp giữa tri thức

và lao động” [16]

Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan

1.2.2 Khái niệm về quản lý chất lượng

Trong ISO 9000, quản lý chất lượng được định nghĩa là các hoạt động nhằm định hướng/hoạch định và kiểm soát về chất lượng của một tổ chức (ISO 9000:2005) Thực hiện quản lý chất lượng sản phẩm/hoạt động về bản chất là tìm câu trả lời cho bốn câu hỏi lớn Thứ nhất, “Các chuẩn mực/yêu cầu

mà một sản phẩm hay hoạt động cần đạt được là gì?” Kết quả của câu hỏi

Trang 23

này là một đa giác chất lượng (tiêu chuẩn) với mỗi đỉnh là một yêu cầu mà sản phẩm/hoạt động cần đạt được Câu hỏi thứ hai là “Làm thế nào để đạt được các chuẩn mực/yêu cầu đã xác định với sản phẩm/hoạt động?” Với câu hỏi này, đơn vị tìm câu trả lời cho những câu hỏi nhỏ hơn trong mô hình 5W +1H như tại sao phải thực hiện các hoạt động (Why), các công việc nào cần được tiến hành (What), ai tiến hành (Who), vào bao giờ (When), ở đâu (Where) và sẽ được thực hiện như thế nào (How) Các công cụ như phân tích quá trình cải tiến theo vòng tròn P-D-C-A (hoạch định, thực hiện, kiểm tra và điều chỉnh) và nguyên tắc coi trọng phòng ngừa hơn khắc phục có thể giúp các đơn vị đã và đang áp dụng ISO 9000 trả lời được câu hỏi thứ hai này Thứ

ba, “Làm thế nào để biết được sản phẩm/hoạt động đạt được các chuẩn mực

đã đề ra đến đâu?” Câu hỏi này yêu cầu đơn vị phải thiết lập được một hệ thống các “chốt kiểm soát” với sản phẩm/dịch vụ mà mình cung cấp cũng như những hoạt động được thực hiện Câu hỏi thứ tư cần lời giải trong quản lý chất lượng là “Làm thế nào để kết quả thực hiện các chuẩn mực chất lượng của sản phẩm/hoạt động được cải thiện?”

Trả lời câu hỏi này giúp đơn vị thiết lập được một cơ chế cải tiến liên tục với chất lượng sản phẩm và chất lượng hoạt động dựa trên các bước theo dõi, phân tích, đánh giá và xác định cơ hội cải tiến, xác định và thực hiện các biện pháp cải tiến, và theo dõi đánh giá kết quả cải tiến cũng như thực hiện các điều chỉnh cần thiết cho hoạt động cải tiến

Trang 24

Bảng 1.2 So sánh quản lý chất lượng truyền thống và đương đại tại tổ chức

công nghệ, sản xuất đơn thuần

Chất lượng là vấn đề tổng hợp (kinh tế, kỹ thuật – xã hội) là bộ phận gắn kết quản lý doanh nghiệp

Cấp quản lý Cấp phân xưởng, khu vực

sản xuất

Thực hiện ở mọi cấp + Cấp công ty

+ Cấp phân xưởng, phòng, ban + Tự quản

nhất

Kết hợp dài và ngắn hạn, thỏa mãn nhu cầu kinh tế cao nhất

gồm nội bộ và tiêu thụ bên ngoài

Khắc phục, tìm nguyên nhân, phòng ngừa

Trang 25

1.2.2.1 Quản lý nhà nước về chất lượng

Trước hết phải thấy rằng quản lý nhà nước về chất lượng là hoạt động tổng hợp mang tính kỹ thuật, kinh tế và xã hội, có mục tiêu, biến đổi theo thời gian và thông qua các cơ chế, chính sách và hệ thống tổ chức

Mục tiêu quản lý chất lượng của Nhà nước Việt Nam là “để đảm bảo nâng cao chất lượng hàng hóa, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động, bảo vệ môi trường, thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ, tăng cường năng lực quản lý nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác kỹ thuật, kinh tế và thương mại quốc tế” (Pháp lệnh Chất lượng Hàng hóa 1999)

Để thực hiện những mục tiêu nói trên, các biện pháp sau đây được tiến hành: Ban hành và áp dụng tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa; Kiểm tra và chứng nhận chất lượng hàng hóa, áp dụng và chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng; công nhận năng lực kỹ thuật và quản lý của các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực chất lượng; thanh tra và xử lý các vi phạm về chất lượng Những biện pháp quản lý của nhà nước về chất lượng này được thể hiện trong

hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về chất lượng Điều đó phù hợp với xu hướng chung của quản lý nhà nước bằng pháp luật

Nếu so sánh các quy định pháp luật của Việt Nam đối với chất lượng hàng hóa hiện nay, kể cả Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật mới được ban hành chúng ta thấy rằng phần lớn các nguyên tắc và yêu cầu của Hiệp định Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) và Hiệp định Áp dụng các biện pháp vệ sinh động và thực vật đã được đáp ứng Tuy nhiên, cũng cần phải chỉ ra một thực tế là đâu đó cũng còn có những sự không đồng bộ trong các quy định có liên quan giữa các cơ quan khác nhau, trong các biện pháp khác nhau được áp dụng mà nguyên nhân không phải từ phía chủ quan các cơ quan muốn áp đặt sự không đồng bộ đó để cản trở thương mại trong nước và với nước ngoài, mà do những yếu tố lịch sử và đặc biệt yếu tố về nguồn lực (nhân lực và vật lực)

Trang 26

Trong số các biện pháp quản lý chất lượng nêu trong Luật Tiêu chuẩn

và Quy chuẩn kỹ thuật, biện pháp người sản xuất kinh doanh công bố hàng hóa, dịch vụ do mình sản xuất hoặc cung cấp phù hợp với tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật Đây là một trong các bài bản quản lý được tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế đưa ra và khuyến khích các quốc gia áp dụng Có thể nói Việt Nam là một nước tiên phong trong khu vực ASEAN áp dụng một cách rộng rãi Việc áp dụng phương thức này sẽ làm giảm bớt sự can thiệp không cần thiết của các cơ quan nhà nước vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và như vậy sẽ tiết kiệm được chi phí, thời gian cho doanh nghiệp và sản phẩm sẽ rẻ hơn, nhanh đến với người tiêu dùng hơn Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng để thực hiện phương thức này, Nhà nước đã đặt niềm tin rất lớn vào các doanh nghiệp khi thể hiện trách nhiệm xã hội của mình đối với chất lượng hàng hóa, dịch vụ mình làm ra hay cung cấp, bên cạnh đó đòi hỏi người tiêu dùng phải nâng cao nhận thức để hiểu được các quyền hợp pháp và trách nhiệm công dân của mình đối với vấn đề chất lượng sản phẩm trong quá trình mua và sử dụng chúng

Biện pháp quản lý chất lượng khác cũng được Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật đề cập như chứng nhận sự phù hợp của hàng hóa, dịch vụ hoặc quá trình với tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật, công nhận năng lực của các

tổ chức hoạt động trong hoạt động kiểm tra, giám định và chứng nhận chất lượng sản phẩm hoặc quá trình/ hệ thống quản lý chất lượng, việc thừa nhận lẫn nhau giữa Việt Nam với các nước về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm nhằm thuận lợi hóa thương mại Những biện pháp được hài hòa ở mức độ cao với các tiêu chuẩn hoặc/và khuyến nghị của các tổ chức quốc tế có liên quan như ISO, IEC, ITU, CODEX và cả OIE, IPPC

1.2.2.2 Quản lý chất lượng trong doanh nghiệp

Hoạt động quản lý chất lượng trong doanh nghiệp về nguyên lý khác với hoạt động quản lý của nhà nước đối với chất lượng Điều này là do tính chất tổ chức của cơ quan nhà nước và của doanh nghiệp rất khác nhau vì

những mục tiêu khác nhau

Trang 27

Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ là kết quả của quá trình chịu

sự tác động của nhiều yếu tố liên quan Muốn đạt được chất lượng mong muốn phải quản lý đúng đắn các yếu tố này Quản lý chất lượng trong doanh nghiệp là cần thiết với loại hình, quy mô doanh nghiệp Trước hết, quản lý chất lượng doanh nghiệp là sự định hướng về mục tiêu, chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng Doanh nghiệp cần xác định và triển khai áp dụng các Hệ thống quản lý chất lượng, các công cụ cải tiến và kiểm soát mọi hoạt động ảnh hưởng đến chất lượng nhằm thỏa mãn yêu cầu khách hàng

A Định hướng, kiểm soát chất lượng và đảm bảo chất lượng

Việc định hướng và kiểm soát chất lượng gồm những hoạt động nào: 1/ Chính sách và mục tiêu chất lượng Đó là ý đồ và định hướng của doanh nghiệp liên quan đến chất lượng trên cơ sở nhu cầu của khách hàng, khả năng thỏa mãn của doanh nghiệp và điều kiện tổ chức thực hiện

2/ Hoạch định chất lượng là một phần của quản lý chất lượng, tập trung vào mục tiêu và quy định các quá trình tác nghiệp và nguồn lực để thực hiện mục tiêu chất lượng

3/ Kiểm soát chất lượng Ngay từ thập niên thứ 3 của thế kỷ XX, người

ta đã bắt đầu chú trọng đến quá trình tạo ra sản phẩm, chứ không đợi đến khâu cuối cùng mới tiến hành sàng lọc, phân loại chúng Kiểm soát chất lượng (Quality control) ra đời và ngày càng hoàn thiện đồng hành cùng lịch

sử phát triển nền sản xuất hàng hóa

Trong sản xuất kinh doanh nhằm đáp ứng yêu cầu chất lượng thường tập trung kiểm soát 5 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng Đó là:

- Kiểm soát con người thực hiện (men);

- Kiểm soát phương pháp và quá trình sản xuất (methods);

- Kiểm soát nguyên vật liệu (materials);

- Kiểm soát và bảo dưỡng thiết bị (machines);

- Kiểm soát thông tin (information)

Trang 28

Quy tắc 4M+I nêu trên mang đặc trưng của lực lượng sản xuất còn xét

về quan hệ sản xuất thì chất lượng sản phẩm, hàng hóa còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như nhu cầu của nền kinh tế, sự phát triển của khoa học và công nghệ, cơ chế quản lý và hiệu lực của cơ chế quản lý, các yếu tố phong tục, văn hóa

Cần hiểu đầy đủ hơn, theo quan điểm của ISO 9000:2000 kiểm soát chất lượng là một phần của quản lý chất lượng, là quá trình điều khiển các hoạt động tác nghiệp thông qua những kỹ thuật, phương tiện, phương pháp tác nghiệp nhằm đảm bảo chất lượng Nhiệm vụ chủ yếu của kiểm soát chất lượng là:

- Tổ chức các hoạt động nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng theo yêu cầu;

- Đánh giá việc thực hiện chất lượng trong thực tế của tổ chức;

- So sánh chất lượng thực tế với kế hoạch, công bố để phát hiện các sai lệch;

- Tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm khắc phục những sai lệch và

xử lý đảm bảo yêu cầu, đồng thời kiểm soát chất lượng là một phần yếu tố chính của đảm bảo chất lượng

4/ Đảm bảo và cải tiến chất lượng là một phần của quản lý chất lượng, khẳng định với khách hàng về khả năng cung cấp sản phẩm, hàng hóa đang tiến tới thỏa mãn hơn

B Nhiều hệ thống quản lý được doanh nghiệp lựa chọn áp dụng Tiêu

chuẩn quốc tế về hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 Bộ tiêu chuẩn quốc

tế ISO 9000 với phiên bản ISO 9000:2000 Năm 2008, một phiên bản mới là ISO 9000: 2008 đã thịnh hành đến nay

Đây cũng là hệ quả tất yếu quá trình quản lý chất lượng của thế giới trước tác động của quá trình toàn cầu hóa nói chung và tự do hóa thương mại đang ngày càng sâu rộng Ngoài ra, doanh nghiệp có thể áp dụng các hệ thống quản lý tùy theo yêu cầu và sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp sản xuất

- Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management – TQM) với mục tiêu của TQM là cải tiến chất lượng sản phẩm và thỏa mãn khách hàng ở mức tốt nhất có thể Phương pháp này cung cấp một hệ thống toàn diện cho

Trang 29

hoạt động quản lý và cải tiến mọi khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động sự tham gia của tất cả các cấp, của mọi người nhằm đạt được mục tiêu chất lượng đã đặt ra

Nhiều các hệ thống quản lý khác cũng đang được các doanh nghiệp Việt Nam xem xét áp dụng, như ISO 14001 – hệ thống quản lý môi trường, HACCP – Hệ thống Phân tích các nguy cơ và Kiểm soát các điểm trọng yếu trong lĩnh vực nông sản thực phẩm, GMP – Quy chế thực hành sản xuất tốt trong lĩnh vực dược và thực phẩm, OHSAS 18001 – Hệ thống quản lý an toàn

và sức khỏe nghề nghiệp, SA 8000 Hệ thống trách nhiệm xã hội và các hệ thống quản lý chất lượng tích hợp hoặc đặc thù như ISO 22000 Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm (food chain), ISO/TS 29001 Công nghiệp dầu khí

và hóa dầu - Hệ thống quản lý chất lượng trong các ngành công nghiệp đặc thù - yêu cầu đối với các tổ chức cung cấp sản phẩm và dịch vụ

Sự liệt kê các hệ thống quản lý chất lượng nêu trên cũng phản ảnh sự phát triển của hoạt động quản lý chất lượng trên phạm vi thế giới diễn ra trong hàng thế kỷ qua, thông qua sự thay đổi tư duy của các nhà quản lý chất lượng trong tiến trình phát triển kinh tế, thương mại, khoa học và công nghệ của thế giới

1.2.3 Các trường phái quản lý chất lượng

Trên thế giới có hai trường phái quản lý chất lượng:

- Trường phái thứ nhất: Quản lý chất lượng dựa trên cơ sở tiêu chuẩn hóa (Standard-based quality management) Trường hợp này chịu ảnh hưởng của học thuyết Taylor về chuyên môn hóa, hợp lý hóa sản xuất để tạo ra năng suất cao Trường phái này đã phát triển mạnh mẽ, làm cơ sở cho chuyên môn hóa hợp tác sản xuất không chỉ trong phạm vi một quốc gia và phát triển mạnh cả trong các khu vực và ngày nay là toàn thế giới Người ta chỉ có thể đánh giá và thừa nhận lẫn nhau trên cơ sở các tiêu chuẩn Đó có thể là các tiêu chuẩn kỹ thuật, phương pháp hay tiêu chuẩn về hệ thống quản lý

- Trường phái thứ hai: Quản lý chất lượng không xem nhẹ tiêu chuẩn hóa nhưng đặt trọng tâm vào việc phát huy nội lực (Endogeous capacity-

Trang 30

based quality management) Trường phái này chịu ảnh hưởng học thuyết Deming mà đỉnh cao là quản lý chất lượng toàn diện (total quality management-TQM) Theo trường phái này, người ta tìm cách làm con người

ý thức tối đa vài trò, trách nhiệm với chất lượng sản phẩm, phát huy mọi sáng kiến luôn luôn cải tiến để làm tốt hơn quy định và nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng và xã hội

Hai trường phái này không hề mâu thuẫn với nhau mà còn hỗ trợ cho nhau để cả hai cùng mang lại hiệu quả cho việc áp dụng và quản lý

1.2.4 Các nguyên tắc quản lý chất lượng

Quản lý chất lượng đã được áp dụng trong mọi ngành công nghiệp, không chỉ trong sản xuất mà còn trong mọi lĩnh vực, trong mọi loại hình công

ty từ quy mô lớn đến quy mô nhỏ, cho dù có tham gia vào thị trường quốc tế hay không Quản lý chất lượng đảm bảo cho doanh nghiệp làm đúng những việc phải làm và những việc quan trọng Nếu các doanh nghiệp muốn làm chủ thị trường nội địa và cạnh tranh trên thị trường quốc tế, phải tìm hiểu và triển khai áp dụng các nguyên tắc về quản lý chất lượng hiệu quả

1.2.4.1 Các nguyên tắc quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO

- Nguyên tắc 1 Định hướng bởi khách hàng

Doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng của mình và vì thế cần hiểu các nhu cầu hiện tại và tương lai của khách hàng, để không chỉ đáp ứng mà còn phấn đấu vượt cao hơn sự mong đợi của họ

- Nguyên tắc 2 Sự lãnh đạo

Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất đồng bộ giữa mục đích và đường lối của doanh nghiệp Lãnh đạo cần tạo ra và duy trì môi trường nội bộ trong doanh nghiệp để hoàn toàn lôi cuốn mọi người trong việc đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp

- Nguyên tắc 3 Sự tham gia của mọi người

Con người là nguồn lực quan trọng nhất của một doanh nghiệp và sự tham gia đầy đủ với những hiểu biết và kinh nghiệm của họ rất có ích cho doanh nghiệp

Trang 31

- Nguyên tắc 4 Quan điểm quá trình

Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quả khi các nguồn và các hoạt động có liên quan được quản lý như một quá trình

- Nguyên tắc 5: Tính hệ thống

Việc xác định, hiểu biết và quản lý một hệ thống các quá trình có liên quan lẫn nhau đối với mục tiêu đề ra sẽ đem lại hiệu quả của doanh nghiệp

- Nguyên tắc 6 Cải tiến liên tục

Cải tiến liên tục là mục tiêu, đồng thời cũng là phương pháp của mọi doanh nghiệp Muốn có được khả năng cạnh tranh và mức độ chất lượng cao nhất, doanh nghiệp phải liên tục cải tiến

- Nguyên tắc 7 Quyết định dựa trên sự kiện

Mọi quyết định và hành động của hệ thống quản lý hoạt động kinh doanh muốn có hiệu quả phải được xây đựng dựa trên việc phân tích dữ liệu

và thông tin

- Nguyên tắc 8 Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng

Doanh nghiệp và người cung ứng phụ thuộc lẫn nhau, và mối quan hệ tương hỗ cùng có lợi sẽ nâng cao năng lực của cả hai bên để tạo ra giá trị

1.2.4.2 Nguyên tắc quản lý chất lượng của Việt Nam

Hiện nay, việc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa được thực hiện căn cứ theo quy định tại Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa (Luật số 05/2007/QH12); Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa và các văn bản hướng dẫn

Ðiều 5, Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam năm 2007 xác định nguyên tắc quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá đã quy định như sau:

- Cơ sở quản lý chất lượng: Chất lượng sản phẩm, hàng hoá được quản

lý trên cơ sở tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng Căn

cứ vào khả năng gây mất an toàn, sản phẩm, hàng hoá được quản lý như sau:

Trang 32

+ Sản phẩm, hàng hoá nhóm 1 (sản phẩm, hàng hóa không có khả năng gây mất an toàn) được quản lý chất lượng trên cơ sở tiêu chuẩn do người sản xuất công bố áp dụng;

+ Sản phẩm, hàng hoá nhóm 2 (sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn) được quản lý chất lượng trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do người sản xuất công bố áp dụng

- Quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá là trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh nhằm bảo đảm an toàn cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường; nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá Việt Nam

- Quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nhằm thực thi các quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hoá

Hoạt động quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá phải bảo đảm minh bạch, khách quan, không phân biệt đối xử về xuất xứ hàng hoá

và tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hoá, phù hợp với thông lệ quốc tế, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng

Việc phân công trách nhiệm quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa cho các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực được quy định tại Điều 69, Điều 70 của Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa và Điều 31, Điều 32 Nghị định số 132/2008/NĐ-CP

1.3 Vai trò của các thiết chế tài chính trong việc quản lý chất lƣợng hàng hóa sau công bố chất lƣợng

Quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng có vai trò đặc biệt quan trọng trong quy trình quản lý chất lượng Hiệu quả của hoạt động này bảo đảm sự đồng nhất về chất lượng trước, trong và sau công bố chất lượng, đảm bảo quyền lợi của người sử dụng hàng hóa Để quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố, các chủ thể quản lý chất lượng có thể sử dụng các công cụ,

Trang 33

thiết chế khác nhau, trong đó thiết chế tài chính có vai trò đáng chú ý trên nhiều phương diện

1.3.1 Vai trò bảo đảm pháp chế, kỷ cương trong quản lý chất lượng

Bên cạnh hoạt động giáo dục, vận động, các thiết chế tài chính góp phần bảo đảm các quy định pháp luật về quản lý chất lượng được tuân thủ đầy

đủ trong thực tiễn Việc tuân thủ các quy định này vừa bảo đảm tính pháp chế, hiệu lực của pháp luật vừa bảo đảm quyền lợi của các đối tượng người tiêu dùng Tình trạng vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng diễn ra một phần vì thiếu các thiết chế tài chính hoặc việc thực hiện các thiết chế tài chính trong quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố còn chưa hiệu quả Các thiết chế tài chính là công cụ hỗ trợ cho việc bảo đảm pháp chế, kỷ cương trong việc bảo đảm chất lượng hàng hóa

1.3.2 Vai trò ngăn ngừa vi phạm

Thiết chế tài chính là công cụ ngăn ngừa vi phạm các quy định về chất lượng hàng hóa Thiết chế tài chính tác động vào lợi ích của các chủ thể sản xuất Các chủ thể sản xuất với mục tiêu bảo đảm lợi ích của chính mình cần phải tuân thủ các quy định về bảo đảm chất lượng sau công bố Thiết chế tài chính tạo ra áp lực tuân thủ pháp luật của các chủ thể sản xuất Việc ngăn ngừa vi phạm các quy định về quản lý chất lượng hàng hóa có ý nghĩa quan trọng tạo nên sự tự giác trong thực hiện pháp luật, khẳng định hiệu lực quản

lý chất lượng hàng hóa

1.3.3 Vai trò thúc đẩy bảo đảm chất lượng

Việc sử dụng các thiết chế như xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chất lượng hàng hóa không phải với mục đích tạo nguồn thu cho ngân sách Điều quan trọng là cần bảo đảm chất lượng hàng hóa được duy trì Thiết chế tài chính là công cụ góp phần thúc đẩy các hoạt động bảo đảm chất lượng, bảo đảm các cơ sở sản xuất duy trì chất lượng hàng hóa trong quá trình sản xuất, khắc phục tình trạng chất lượng hàng hóa suy giảm sau khi công bố chất lượng

Trang 34

* Kết luận Chương 1

Chương 1 đã khái quát một số vấn đề lý luận về việc hình thành thiết tài chính để kiểm soát chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng Trong Chương 1 các khái niệm có ý nghĩa công cụ của luận văn đã được luận giải Khái niệm thiết chế tài chính và hiệu quả của thiết chế tài chính được luận giải gắn liền với yêu cầu kiểm soát chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng Khái niệm chất lượng hàng hóa đã được hệ thống hóa từ các quan niệm khác nhau về nội hàm của khái niệm này với trọng tâm là khả năng đáp ứng được mong đợi của khách hàng Vấn đề quản lý chất lượng cũng được tiếp cận với hai góc độ quản lý nhà nước về chất lượng và quản lý chất lượng trong nội bộ doanh nghiệp Quản lý nhà nước về chất lượng được thể hiện ở vai trò tạo lập các thiết chế nhằm bảo đảm các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh các sản phẩm, hàng hóa có chất lượng Hoạt động quản lý chất lượng của các doanh nghiệp gắn liền với các hoạt động định hướng, kiểm soát, bảo đảm chất lượng Trong hoạt động kiểm soát chất lượng hàng hóa, các doanh nghiệp thường tập trung vào năm yếu tố: kiểm soát con người thực hiện; kiểm soát phương pháp và quy trình sản xuất; kiểm soát nguyên vật liệu; kiểm soát

và bảo dưỡng thiết bị; kiểm soát thông tin Đồng thời, trong Chương 1, vai trò của thiết chế tài chính trong việc quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố cũng được chỉ ra trên các phương diện về bảo đảm pháp chế, kỷ cương trong quản lý chất lượng, vai trò ngăn ngừa vi phạm và là công cụ thúc đẩy đảm bảo chất lượng sản phẩm, hàng hóa

Trang 35

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ CHẤT LƯỢNG HÀNG HÓA SAU CÔNG BỐ CHẤT LƯỢNG

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Tình hình quản lý chất lượng ở Việt Nam hiện nay

2.1.1 Khái quát chung về quản lý chất lượng ở Việt Nam

Trong thời kỳ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, vấn đề chất lượng được đề cao, được coi là điều kiện quan trọng để phát triển kinh tế Tuy nhiên, trong thực tế, hàng hóa sản xuất ra theo kế hoạch định sẵn, dù tốt hay xấu đều được tiêu thụ, phân phối, người sản xuất không lo đầu vào và đầu ra Việc quản lý chất lượng tại các doanh nghiệp được các phòng kiểm tra chất lượng sản phẩm thực hiện với nhiệm vụ là phân loại các sản phẩm đạt yêu cầu chất lượng hay phế phẩm

Ngày nay, nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần cùng với quá trình

mở cửa và hội nhập kinh tế, sự cạnh tranh diễn ra quyết liệt đã không còn chỗ đứng cho những sản phẩm, hàng hóa không đảm bảo chất lượng Trước sức

ép của hàng nhập ngoại và của người tiêu dùng trong nước, buộc các nhà kinh doanh cũng như các nhà quản lý không còn con đường nào khác là phải coi trọng vấn đề bảo đảm và nâng cao chất lượng Chất lượng cũng là nhân tố cơ bản để giải quyết sự tồn tại hay tiêu vong của một tổ chức và đó là sự hưng thịnh hay suy vong của một nền kinh tế

Trong thập niên cuối thể kỷ XX, Việt Nam thực sự đổi mới cả về tư duy, nhận thức lẫn hành động, nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế thị trường

có sự quản lý của nhà nước Biểu hiện cụ thể là một loạt các chính sách quản

lý, trong đó có những văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến chất lượng được ban hành, thay thế cho những văn bản không còn phù hợp Cả cơ quan quản lý nhà nước, nhà sản xuất, kinh doanh đều có cải tiến bước đầu về kiểm soát chất lượng, nhằm tạo ra bước chuyển biến, cải thiện tình hình yếu kém về chất lượng và quản lý chất lượng

Trang 36

Trong những năm gần đây, chúng ta đã có nhiều cố gắng trong lĩnh vực quản lý chất lượng, các tổ chức đã chú trọng hơn trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam đã từng bước chiếm lĩnh được thị trường, được người tiêu dùng trong nước cũng như tiêu dùng nước ngoài chấp nhận, một số mặt hàng như cà phê, chè, hạt điều, gạo, cao su, hàng thủy sản… đạt giá trị xuất khẩu cao Với xu hướng tự do thương mại trên thế giới và việc xóa bỏ hàng rào phi thuế quan, chúng ta chỉ có một con đường duy nhất để giải quyết bài toán tồn tại và phát triển là phải nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa

2.1.2 Cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý chất lượng hàng hóa

Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá, bên cạnh việc tạo điều kiện thuận lợi để lưu thông, trao đổi hàng hóa, các nước cũng cần ngăn cản các sản phẩm, hàng hóa kém chất lượng, không bảo đảm an toàn để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo vệ sản xuất trong nước và lợi ích quốc gia Vì yêu cầu

đó nên liên tục những năm gần đây, nhiều nước đã ban hành các đạo luật chuyên ngành để quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá Để quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá, nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh Chất lượng hàng hoá năm 1990 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 1999) với gần một trăm văn bản hướng dẫn thi hành Tuy nhiên, hệ thống pháp luật về chất lượng chưa thống nhất và đồng bộ, đang ngày tỏ ra bất cập với yêu cầu quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hoá trong tình hình mới Trong những năm gần đây, pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hoá nước ta không ngừng được hoàn thiện cho phù hợp với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và bối cảnh hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới Để nâng cao hiệu lực điều chỉnh của pháp luật với các quan hệ xã hội về chất lượng sản phẩm, hàng hóa tương xứng với vai trò quan trọng của nó trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhà nước đã ban hành Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật năm 2006 (có hiệu lực từ 01/1/2007) Ngày 21 tháng 11 năm 2007, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật

Trang 37

chất lượng sản phẩm, hàng hoá (số 05/2007/QH12), có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2008

Bên cạnh Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa là hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành được các cơ quan chức năng ban hành để hướng dẫn áp dụng Luật chất lượng sản phẩm vào thực tiễn Đó là:

- Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chất lượng sản phẩm, hàng hoá;

- Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật ngày 29/6/2006;

- Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật;

- Nghị định số 67/2009/NĐ-CP ngày 3/8/2009 của Chính phủ Sửa đổi một số điều của Nghị định số 127/2007/NĐ-CP và Nghị định số 132/2008/NĐ-CP;

- Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006 của Chính phủ về nhãn hàng hóa;

- Thông tư số 09/2007/TT-BKHCN ngày 06 tháng 4 năm 2007 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về nhãn hàng hoá;

- Thông tư số 14/2007/TT-BKHCN ngày 25 tháng 7 năm 2007 bổ sung Thông tư số 09/2007/TT-BKHCN ngày 06/4/2007 của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006 của Chính phủ về nhãn hàng hoá;

- Nghị định 80/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

- Thông tư số 19/2014/TT-BKHCN ngày 01/7/2014 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 80/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa;

Trang 38

- Thông tư số 16/2012/TT-BKHCN ngày 27/8/2012 của Bộ Khoa học

và Công nghệ quy định việc kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm trong sản xuất thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ;

- Thông tư số 26/2012/TT-BKHCN ngày 12/12/2012 của Bộ Khoa học

và Công nghệ quy định việc kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường;

- Thông tư số 27/2012/TT-BKHCN ngày 12/12/2012 của Bộ Khoa học

và Công nghệ quy định việc kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ;

- Thông tư số 28/2012/TT-BKHCN ngày 12/12/2012 của Bộ Khoa học

và Công nghệ quy định về công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy và phương thức đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật;

- Thông tư số 01/2009/TT-BKHCN ngày 20/3/2009 Quy định Danh mục sản phẩm, hàng hoá có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản

lý của Bộ Khoa học và Công nghệ;

- Thông tư số 21/2007/TT-BKHCN ngày 28/9/2007 của Bộ Khoa học

và Công nghệ hướng dẫn về xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn;

- Thông tư số 08/2009/TT-BKHCN ngày 8/4/2009 Hướng dẫn về yêu cầu, trình tự, thủ tục đăng ký lĩnh vực hoạt động đánh giá sự phù hợp;

- Thông tư số 09/2009/TT-BKHCN ngày 8/4/2009 Hướng dẫn về yêu cầu, trình tự, thủ tục chỉ định tổ chức đánh giá sự phù hợp;

- Thông tư số 11/2009/TT-BKHCN ngày 6/5/2009 Quy định về Giải thưởng Chất lượng Quốc gia;

- Thông tư số 19/2009/TT-BKHCN ngày 30/6/2009 Quy định các biện pháp quản lý chất lượng đối với sản phẩm, hàng hoá cần tăng cường quản lý trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường

- Thông tư số 22/2009/TT-BKHCN ngày 30/9/2009 Hướng dẫn trình

tự, thủ tục đăng ký sản phẩm mới có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ;

Trang 39

- Thông tư số 06/2009/TT-BTTTT ngày 24/3/2009 Quy định về chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy đối với sản phẩm chuyên ngành công nghệ thông tin và truyền thông;

- Thông tư số 07/2009/TT-BTTTT ngày 24/3/2009 Ban hành Danh mục sản phẩm chuyên ngành công nghệ thông tin và truyền thông bắt buộc phải chứng nhận và công bố hợp quy;

- Thông tư số 19/2010/TT-BCT ngày 17/5/2010 Ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hoá có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công thương;

- Thông tư số 03/2010/TT-BLĐTBXH ngày 19/1/2010 Ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hoá nhóm 2 và hướng dẫn trình tự, thủ tục và nội dung kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá trong sản xuất ;

- Quyết định số 36/2010/QĐ-TTg ngày 15/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành Quy chế phối hợp kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa

Ngoài ra, một còn một số quy định khác được quy định rải rác ở một số luật có liên quan như Luật Bảo vệ người tiêu dùng, Bộ luật dân sự, Luật thương mại

Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá là đạo luật đầu tiên trong lịch sử lập pháp Việt Nam quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hoá và tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hoá; quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa Luật áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hoá và tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hoá tại Việt Nam Theo quy định của Luật, hoạt động sản xuất, kinh doanh và hoạt động liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hoá phải tuân theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; hoạt động sản xuất, kinh doanh và hoạt động liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hoá là công trình xây dựng, dịch vụ, hàng hoá đã qua

sử dụng không thuộc diện phải kiểm định; sản phẩm, hàng hoá chuyên phục

vụ quốc phòng, an ninh và sản phẩm, hàng hoá đặc thù khác phải tuân thủ các

Trang 40

nguyên tắc chung của Luật này và được điều chỉnh cụ thể bằng văn bản pháp luật khác

Về danh mục sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 của các Bộ quản lý chuyên ngành lĩnh vực

1 Bộ Khoa học và Công nghệ

- Xăng – Nhiên liệu điezen;

- Khí dầu mỏ hóa lỏng;

- Mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy;

- Các sản phẩm điện tử (quản lý về an toàn);

- Nhiên liệu sinh học gốc;

- Đồ chơi trẻ em;

- Thép làm cốt bê tông;

- Tương thích điện tử (EMC) đối với thiết bị điện, điện tử gia dụng

2 Bộ Công thương

- Hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp;

- Máy, thiết bị công nghiệp có khả năng gây mất an toàn;

- Sản phẩm công nghiệp tiêu dùng (bếp ga và phụ kiện)

3 Bộ Thông tin và Truyền thông

- Thiết bị đầu cuối;

- Thiết bị vô tuyến điện;

- Thiết bị mạng;

- Thiết bị công nghệ thông tin

4 Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội

- Các loại máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ;

- Các công trình vui chơi công cộng;

- Phương tiện bảo vệ cá nhân

5 Bộ Y tế

- Thuốc thành phẩm, vắc xin, sinh phẩm điều trị;

- Nguyên liệu làm thuốc, dược liệu, tá dược, bao bì tiếp xúc trực tiếp với thuốc;

Ngày đăng: 29/11/2015, 10:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đặng Quốc Bảo (2003), Phát triển nhà trường: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nhà trường: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
10. Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1998), Đại Cương về quản lý, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, tr. 11, 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Cương về quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1998
16. Học viện Chính trị Quốc gia (1998), Giáo trình quản lý hành chính nhà nước, tập II, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý hành chính nhà nước
Tác giả: Học viện Chính trị Quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 1998
17. Học viện Hành chính Quốc gia (2006), Tài liệu bồi dưỡng về quản lý hành chính nhà nước chương trình chuyên viên phần II: Hành chính nhà nước và công nghệ hành chính, Hà Nội, tr. 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng về quản lý hành chính nhà nước chương trình chuyên viên phần II: Hành chính nhà nước và công nghệ hành chính
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Năm: 2006
18. Nguyễn Ngọc Quang (1989), Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục, Trường cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo trung ương 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Năm: 1989
21. Phan Thanh Thôi, Tăng cường các thiết chế kiểm soát chất lượng hàng hóa sau công bố tiêu chuẩn chất lượng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Luận văn Thạc sĩ Quản lý Khoa học và Công nghệ, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường các thiết chế kiểm soát chất lượng hàng hóa sau công bố tiêu chuẩn chất lượng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
1. Nguyễn Thị Tú An, Pháp luật về chất lượng sản phẩm hàng hóa và thực tiễn tại Việt Nam Khác
3. Bộ Khoa học và Công nghệ (2006), Quyết định số 26/2006/QĐ- BKHCN về việc ban hành quy định về tổ chức thực hiện việc kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa lưu thông trên thị trường trong nước và xuất khẩu, nhập khẩu Khác
4. Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Quyết định số 24/2007/QĐ- BKHCN về việc ban hành quy định chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy và công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy Khác
5. Bộ Khoa học và Công nghệ (2012), Thông tư số 27/2012/TT-BKHCN ngày 12/12/2012 quy định việc kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ Khác
6. Bộ Khoa học và Công nghệ (2012), Thông tư số 26/2012/TT- BKHCN ngày 12/12/2012 quy định việc kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường Khác
7. Bộ Khoa học và Công nghệ (2012), Thông tư số 28/2012/TT- BKHCN ngày 12/12/2012 quy định về công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy và phương thức đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Khác
8. Bộ Khoa học và Công nghệ (2009), Thông tư số 01/2009/TT-BKHCN ngày 20/3/2009 quy định Danh mục sản phẩm, hàng hoá có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ Khác
9. Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Nội vụ (2009), Thông tư liên tịch số 14/2009/TTlT-BKHCN-BNV về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thuộc Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Khác
11. Chính phủ (2007), Nghị định 127/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 8 năm 2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật Khác
12. Chính phủ (2008), Nghị định số 55/2008/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Khác
13. Chính phủ, Nghị định 132/2008/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2008 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa Khác
14. Chính phủ (2012), Nghị định số 80/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa Khác
15. Cục Quản lý Đo lường chất lượng (2009), Tài liệu tập huấn nghiệp vụ kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Quan điểm về chất lƣợng - Sử dụng thiết chế tài chính để nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng trong các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 1.1. Quan điểm về chất lƣợng (Trang 18)
Bảng 1.2. So sánh quản lý chất lượng truyền thống và đương đại tại tổ chức  Đặc điểm  QLCL truyền thống  QLCL đương đại - Sử dụng thiết chế tài chính để nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng trong các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 1.2. So sánh quản lý chất lượng truyền thống và đương đại tại tổ chức Đặc điểm QLCL truyền thống QLCL đương đại (Trang 24)
Bảng 2.1. Vai trò của quản lý chất lƣợng - Sử dụng thiết chế tài chính để nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng hàng hóa sau công bố chất lượng trong các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 2.1. Vai trò của quản lý chất lƣợng (Trang 47)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w