Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạtđổ ra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử lý trựctiếp đổ vào các nguồn nước tại cá
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
MỘT SỐ CHỈ TIÊU HÓA HỌC
Người thực hiện : VY THỊ CIN
Lớp : MTE
Khóa : 57
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Giáo viên hướng dẫn :ThS NGÔ THỊ THƯƠNG
Địa điểm thực tập : Bộ môn Hóa học
Hà Nội – 2016 LỜI CAM ĐOAN
Trang 2Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này
là trung thực
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này
đã được cảm ơn và các thông tin được trích dẫn trong chuyên đề này đã được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Vy Thị Cin
Trang 3Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Môi Trường đã tạođiều kiện thuận lợi trong quá trình tôi học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp này.
Tôi xin cảm ơn Ban quản lí khu Danh thắng động Nhị Thanh, Sở TàiNguyên Môi Trường tỉnh Lạng Sơn đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thànhkhóa luận này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ tình cảm sâu sắc nhất đến gia đình, người thân đãluôn quan tâm, lo lắng và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập,
để hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới bạn bè vì sự cộng tác vàgiúp đỡ tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp
Mặc dù đã cố gắng nhưng bản thân luận văn này không tránh khỏi nhữngthiếu sót và hạn chế Vì vậy, rất mong nhận được sự quan tâm và đóng góp ýkiến của quý thầy cô và các bạn để bản luận văn này được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Vy Thị Cin
MỤC LỤC
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nội dung đầy đủ
BTNMT Bộ tài nguyên môi trường
BOD Biochemical Oxygen Demand (Nhu cầu oxy sinh hóa)COD Chemical Oxygen Demand (Nhu cầu oxy hóa học)
DO Dissolved Oxygen (Lượng oxy hòa tan trong nước)ISO International Organization for Standardization
(Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế)QCVN Quy chuẩn Việt Nam
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 8MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, sự có mặt của nước là điềukiện đầu tiên xác định điều kiện tồn tại của sự sống Hiện nay, cùng với sự pháttriển về kinh tế xã hội, điều kiện vật chất tinh thần của con người ngày càngnâng cao Nguồn nước không chỉ bó hẹp trong việc ăn uống, nguồn nước sạch
có vai trò quan trọng trong hoạt động du lịch, từ nhà hàng, khách sạn cho đếncác khu vui chơi giải trí và giao thông vận tải Quan trọng hơn, du lịch ở cácđiểm gắn với tài nguyên nước như tại các hang động, các bãi biển, thác nướchiện nay đang cho thấy tiềm năng cũng như cần được chú trọng phát triển choxứng đáng với tiềm năng đó
Lạng Sơn là tỉnh miền núi biên giới phía bắc, có nhiều di tích, thắng cảnhnổi tiếng như Nhất, Nhị, Tam Thanh, Nàng Tô Thị, Thành Nhà Mạc, núi MẫuSơn, các di chỉ khảo cổ Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Bình Gia), Phai Vệ, Mai Pha(thành phố Lạng Sơn).v.v Các hang động Nhất, Nhị Thanh nằm trong quần thểdanh lam thắng cảnh Chùa Tam Thanh, núi Tô Thị, thành Nhà Mạc đều đãđược xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia từ năm 1962 Điểm đặc biệt nhất củakhu danh lam là động Nhị Thanh, với cảnh đẹp thiên tạo, trong có suối NgọcTuyền chảy uốn lượn xuyên qua động với chiều dài 570 m Giữa động có cửathông thiên tỏa ánh nắng mặt trời rọi xuống dòng nước, trong động còn có chùaTam Giáo (Tam Giáo tự thờ Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo) Hằng năm, quầnthể Danh lam thắng cảnh Nhị Thanh thu hút hàng nghìn lượt khách trong vàngoài nước đến thăm quan
Tuy nhiên, do quá trình đô thị hóa nhanh, tình trạng xây dựng nhà khôngphép, lấn chiếm cảnh quan môi trường khu di tích, dẫn tới tình trạng báo động ônhiễm nguồn nước suối Ngọc Tuyền chảy qua động Nhị Thanh và một phầnđộng Tam Thanh Phía cửa tiền động Nhị Thanh có một bể thu gom nước suối
Trang 9Ngọc Tuyền cùng rào chắn rác, tuy nhiên bể này chỉ có tác dụng điều tiết dòngchảy vào trong độngchứ không có công nghệ xử lý nào áp dụng, còn phía trướcrào chắn rác trông như một bãi rác khổng lồ Do đó, vào mùa khô nước suối cómàu đen sẫm, bốc mùi khó chịu, vào mùa mưa nước dồn về kéo theo rác rưởi,bùn đất trôi vào hang gây mất cảnh quan khu thắng cảnh.
Suối Ngọc Tuyền có vai trò vô cùng quan trọng trong quần thể danh thắngNhị -Tam Thanh Mục đích sử dụng nước của suối Ngọc Tuyền là phục vụ cho
du lịch tâm linh, bảo tồn động vật thủy sinh Xuất phát từ những thực tế trên, tôi
thực hiện đề tài: “ Quan trắc chất lượng nước suối Ngọc Tuyền đoạn chảy qua động Nhị Thanh phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn qua việc phân tích một số chỉ tiêu hóa học”
Từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý và cải thiện chất lượng nước suốiNgọc Tuyền, hạn chế ô nhiễm
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Quan trắc chất lượng nước suối Ngọc Tuyền đoạn chảy qua động NhịThanh, phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn thông qua một số chỉ tiêu HóaHọc và Vật lý để đánh giá biến động chất lượng nước suối và đưa ra một số giảipháp có tính thực thi để hạn chế ô nhiễm
1.3 Yêu cầu nghiên cứu của đề tài
- Xác định được các điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến
chất lượng nước suối Ngọc Tuyền
- Chỉ ra những nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước suối Ngọc Tuyền
- Phân tích sự thay đổi nồng độ các chỉ tiêu hóa học
- Đưa ra các giải pháp cải thiện chất lượng nước suối Ngọc Tuyền đoạnchảy qua động Nhị Thanh, phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
Trang 101.1 Tổng quan tài nguyên nước trên thế giới
1.1.1 Nhu cầu về nước trên thế giới
Nhu cầu nước trong công nghiệp
Ngành sản xuất nào cũng cần dùng đến nước Một vài ngành công nghiệp
có nhu cầu sử dụng nước rất cao so với các ngành công nghiệp khác Ví dụ,nước để làm nguội các động cơ, làm quay các tua bin, làm dung môi hòa tan cáchóa chất làm màu và các phản ứng hóa học Để sản xuất 1 tấn gang cần 300 tấnnước, 1 tấn xút cần 800 tấn nước, mất 10 lít nước để sản xuất ra 1 tờ giấy; tương
tự cần 91 lít nước để sản xuất ra 500g nhựa Công nghiệp hóa dẫn đến phát triểnhàng hóa, công ăn việc làm và thu nhập, cung cấp cơ hội làm việc làm cho thế
hệ và đảm bảo bình đẳng giới Người ta ước tính rằng 15% lượng nước sử dụngtrên toàn thế giới dành cho công nghiệp như: các nhà máy điện, sử dụng nước đểlàm mát hoặc như một nguồn năng lượng; quặng và các nhà máy lọc dầu, sửdụng nước trong quá trình hóa học và các nhà máy sản xuất, sử dụng nước nhưmột dung môi Mỗi ngành công nghiệp, mỗi loại hình sản xuất và mỗi côngnghệ yêu cầu một lượng nước và một loại nước khác nhau Nước góp phần làmđộng lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế Nếu không có nước thì chắc chắn toàn
bộ các hệ thống sản xuất công nghiệp, nông nghiệp… trên hành tinh này đềungừng hoạt động và không tồn tại (Trương Quang Học, 2011)
Tuy nhiên, các ưu tiên về phát triển công nghiệp và tăng năng suất sảnxuất tối ưu lại được ưu tiên chú ý hơn là ưu tiên sử dụng nước tiết kiệm, bềnvững Nhu cầu về nước dùng cho sản xuất toàn cầu dự tính sẽ tăng 400% từ năm
2000 đến năm 2050, nhiều hơn rất nhiều so với các ngành khác
Nhu cầu về nước trong nông nghiệp
Trong nông nghiệp, tất cả các cây trồng và vật nuôi đều cần đến nước đểphát triển Từ một hạt cải bắp phát triển thành một cây rau thương phẩm cần 25
Trang 11lít nước; lúa cần 4.500 lít nước để cho ra 1 kg hạt Dân gian ta có câu “Nhấtnước, nhì phân, tam cần, tứ giống”, qua đó chúng ta có thể thấy được vai trò củanước trong nông nghiệp Theo FAO, tưới nước và bón phân là hai yếu tố quyếtđịnh hàng đầu, là nhu cầu thiết yếu, đồng thời còn có vai trò điều tiết các chế độnhiệt độ, ánh sáng, chất dinh dưỡng, vi sinh vật, độ thoáng khí trong đất.
Sự phát triển trong sản xuất nông nghiệp như sự thâm canh, tăng vụ và
mở rộng diện tích đất canh tác đòi hỏi một lượng nước ngày càng cao TheoM.I.lvovits (1974), trong tương lai do thâm canh nông nghiệp mà dòng chảy cảnăm của các con sông trên thế giới có thể giảm đi khoảng 700 km3/năm Phầnlớn nhu cầu nước được thỏa mãn nhờ mưa ở vùng có khí hậu ẩm, nhưng cũngđược bổ sung bởi nước sông hoặc nước ngầm bằng biện pháp thủy lợi, nhất làvào mùa khô Người ta ước tính được mối quan hệ giữa lượng nước sử dụng vớilượng sản phẩm thu được trong quá trình canh tác như sau: để sản xuất ra 1 tấnlúa mì cần đến 1.500 tấn nước, 1 tấn gạo cần đến 1.000 tấn nước và 1 tấn bôngvải cần đến 10.000 tấn nước Sở dĩ cần một nước lớn như vậy chủ yếu do sự đòihỏi của quá trình thoát hơi nước của cây, sự thoát hơi nước của lớp nước mặttrên đồng ruộng, sự trực di của nước xuống các lớp đất bên dưới và phần nhỏ tích
tụ lại trong các sản phẩm nông nghiệp Dự báo nước trong nông nghiệp đến năm
2020 sẽ lên tới 4.500 km3/năm, chiếm 58% tổng nhu cầu nước trên toàn thế giới
Nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí
Theo sự ước tính thì các cư dân sinh sống kiểu nguyên thủy chỉ cần 5-10lít nước/người/ngày Ngày nay, do sự phát triển của xã hội loài người ngày càngcao, nhu cầu nước về sinh hoạt và giải trí ngày càng tăng theo nhất là ở các thịtrấn và các đô thị lớn, nước thải sinh hoạt tăng gấp hàng chục đến hằng trăm lần.Theo sự ước tính đó, thì đến năm 2020, nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí sẽtăng gấp gần 20 lần so với năm 1900, tức là chiếm 7% tổng nhu cầu nước trênthế giới
Trang 121.1.2 Tình hình ô nhiễm nước mặt trên thế giới
Ô nhiễm môi trường hiện nay là mối đe dọa lớn cho sự tồn tại, phát triểncủa loài người và trở thành mối quan tâm chung của toàn nhân loại Trong đó,môi trường nước có vai trò quan trọng đối với sự sống của con người và sinhvật, song chúng ta đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm ngày càng mạnh mẽvới tốc độ lan rộng khá nhanh
Nhìn chung, chất lượng nước trên thế giới bị suy giảm một cách nhanhchóng vào đầu những năm 60 của thế kỉ 19 Đây là giai đoạn mà sự tiến bộ khoahọc kĩ thuật của con người phát triển nhanh chóng với các ngành công nghiệp,nông nghiệp hóa chất, sự hình thành các thành phố và các khu đô thị lớn Tất cả
đã làm cho tốc độ ô nhiễn nước lục địa và đại dương gia tăng với nhịp độ đáng
lo ngại Tốc độ ô nhiễm nước phản ánh một cách chân thực tốc độ phát triểnkinh tế của một quốc gia Xã hội càng phát triển thì xuất hiện càng nhiều nguy
cơ (Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh, 2008)
Hiện nay, Nhật Bản là một nước có nền kinh tế đứng thứ ba thế giới cũng
là một trong những nước ô nhiễm nhất thế giới Có thể nói rằng vấn đề ô nhiễmmôi trường nước ở Nhật Bản là vấn đề lo ngại nhất và do 4 nguyên nhân chính:Công nghiệp hóa nhanh chóng, đô thị hóa nhanh chóng, sự tụt hậu trong việcxây dựng các cơ sở hạ tầng xã hội như hệ thống thoát nước, cũng như chính sáchmột thời coi trọng phát triển kinh tế hơn là sức khỏe nhân dân và môi trườngtrong sạch (huc.edu.vn)
Sự phát triển của kinh tế Trung Quốc có thể nói là ngoạn mục, đi kèm với
sự phát triển đó là nạn ô nhiễm nước trầm trọng Theo tổ chức hợp tác và pháttriển kinh tế (OECD) ở Paris, Pháp cho thấy năm 2011hơn một nửa số hồ lớn và
hồ chứa của Trung Quốc đã quá ô nhiễm để người dân có thể sử dụng 1/3 chiềudài các con sông, 75% các hồ lớn, 25% bờ biển Trung Hoa bị ô nhiễm cao vìnước thải gia dụng, nông nghiệp và kĩ nghệ được xả thẳng vào nguồn nước.(http://www.doisongphapluat.com)
Trang 13Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt
đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử lý trựctiếp đổ vào các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển Đây là thống kê củaViện Nước quốc tế (SIWI) được công bố tại Tuần lễ Nước thế giới (World WaterWeek) khai mạc tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển ngày 5/9 Thực tế trên khiếnnguồn nước dùng trong sinh hoạt của con người bị ô nhiễm nghiêm trọng Mộtnửa số bệnh nhân nằm viện ở các nước đang phát triển là do không được tiếpcận những điều kiện vệ sinh phù hợp (vì thiếu nước) và các bệnh liên quan đếnnước Thiếu vệ sinh và thiếu nước sạch là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 1,6triệu trẻ em mỗi năm Tổ chức Lương Nông Liên Hợp Quốc (FAO) cảnh báotrong 15 năm tới sẽ có gần 2 tỷ người phải sống tại các khu vực khan hiếmnguồn nước và 2/3 cư dân trên hành tinh có thể bị thiếu nước Đặc biệt, tìnhtrạng thiếu nước thể hiện rõ ở các khu vực đông dân cư, theo Lan Anh (2011)nhận định rằng ở Châu Phi hơn 1 tỷ người sẽ lâm vào cảnh thiếu nước và tìnhtrạng này cũng là mối đe dọa của cả Trung Quốc và Ấn Độ Bên cạnh đó, quátrình Công Nghiệp Hóa, Đô Thị Hóa ồ ạt đã khiến cho nguồn nước cung cấp chosinh hoạt hằng ngày của người dân trở nên tồi tệ, có đến hơn 1 tỷ người sống ởcác nước đang phát triển không có cơ hội sử dụng nước sạch và 1,7 tỷ ngườiđang sống trong điều kiện thiếu vệ sinh
Có thể thấy rằng tình trạng ô nhiễm nước trên thế giới hiện nay càng có
xu hướng gia tăng với quy mô và mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn Nguyênnhân là do con người đã đưa những chất ô nhiễm vào nước thông qua hoạt độngsống và sản xuất của mình Một số những nguyên nhân gây ô nhiễm nước chủyếu là: Ô nhiễm do vi sinh vật gây bệnh, ô nhiễm do chất vô cơ, chất hữu cơ…
+ Ô nhiễm do chất vô cơ:
Do thải vào nước các chất nitrat, phosphat dùng trong nông nghiệp và cácchất thải do luyện kim và các công nghệ khác như Zn, Cr, Ni, Cd, Mn, Cu, Hg lànhững chất độc cho thủy sinh vật
Trang 14Sự ô nhiễm do các chất khoáng là do sự thải vào nước các chất như nitrat,phosphat và các chất khác dùng trong nông nghiệp và các chất thải từ các ngànhcông nghiệp
Nhiễm độc chì: Chì được sử dụng làm chất phụ gia trong xăng và các chấtkim loại khác như đồng, kẽm, crom, nikel, rất độc đối với sinh vật thủy sinh
Thủy ngân dưới dạng hợp chất rất độc đối với sinh vật và người Ví dụ: ỞNhật Bản, người dân ăn cá và các động vật biển khác ở vịnh Minamata đã bịnhiễm thuỷ ngân do nhà máy ở đó thải ra, đã gây tử vong cho hàng trăm người
và gây nhiễm độc nặng hàng ngàn người khác
Sự ô nhiễm nước do nitrat và phosphat từ phân bón hóa học cũng đáng longại Khi phân bón được sử dụng một cách hợp lý thì làm tăng năng suất câytrồng và chất lượng của sản phẩm cũng được cải thiện rõ rệt Nhưng các câytrồng chỉ sử dụng được khoảng 30 - 40% lượng phân bón, lượng dư thừa sẽ vàocác dòng nước mặt hoặc nước ngầm, sẽ gây hiện tượng phì nhiêu hoá sông hồ,gây yếm khí ở các lớp nước ở dưới (tiasang.com.vn)
+ Ô nhiễm do chất hữu cơ:
Chất hữu cơ là tác nhân ô nhiễm phổ biến nhất trong các sông hồ Tácnhân ô nhiễm này có nồng độ lớn trong nước thải sinh hoạt và nước thải của một
số ngành công nghiệp chế biến như: Chế biến thực phẩm, dệt nhuộm, thuộc da,
… Ô nhiễm chất hữu cơ được đánh giá thông qua các chỉ số: Oxy hòa tan (DO),nhu cầu oxy hóa học (COD), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5) Từ số liệu của hàngtrăm trạm quan trắc cho thấy trên thế giới có khoảng 10% số dòng sông bị ônhiễm hữu cơ rõ rệt (BOD5> 6,5mg/l, COD > 44mg/l), 5% số dòng sông cónồng độ DO thấp, 50% dòng sông trên thế giới bị ô nhiễm hữu cơ nhẹ (BOD5
khoảng 3mg/l, COD khoảng 18mg/l) (tiasang.com.vn)
+ Vi sinh vật gây bệnh:
Do các con sông nhận khối lượng lớn nước thải sinh hoạt, từ các trungtâm dân cư nên ô nhiễm vi trùng xảy ra thường xuyên
Trang 15Nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trường nước chủ yếu là phân rác,nước thải sinh hoạt, xác chết sinh vật, nước thải các bệnh viện, Ðể đánh giáchất lượng nước dưới góc độ ô nhiễm tác nhân sinh học, người ta thường dùngchỉ số coliform Ðây là chỉ số phản ánh số lượng vi khuẩn coliform trong nước,thường không gây bệnh cho người và sinh vật, nhưng là biểu hiện sự ô nhiễmnước bởi các tác nhân sinh học.
Những tác nhân gây bệnh đe doạ đến cuộc sống con người chứa trongchất thải gồm có bệnh dịch tả, bệnh sốt thương hàn và bệnh kiết lị, bệnh sánmáng (bệnh do các sán lá schristosoma ký sinh trong máu gây ra), bệnh viêmgan A, bệnh nhiễm khuẩn đường ruột và một số bệnh (tiasang.com.vn)
Hiện tượng trên thường gặp ở các nước đang phát triển và chậm phát triểntrên thế giới Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 1992, nước bị ô nhiễmgây ra bệnh tiêu chảy làm chết 3 triệu người và 900 triệu người mắc bệnh mỗinăm Ðã có năm số người bị mắc bệnh trên thế giới rất lớn như bệnh giun đũa
900 triệu người, bệnh sán máng 600 triệu người Mới đây kết quả từ Tổ chức Y
tế thế giới (WHO) ước tính trong năm 2015, thế giới vẫn có 2,7 tỷ người khôngđược tiếp cận với những điều kiện tối thiểu về vệ sinh và mỗi năm có 1,5 triệungười chết do sử dụng nước không an toàn, điều kiện vệ sinh không đảm bảo.Hầu hết số người chết là trẻ em (http://khoahoc.tv)
Ðể hạn chế tác động tiêu cực của ô nhiễm vi sinh vật nguồn nước mặt,con người cần nghiên cứu các biện pháp xử lý nước thải, cải thiện tình trạng vệsinh môi trường sống của các khu vực dân cư, tổ chức tốt hoạt động y tế và dịch
vụ công cộng…
1.2 Tình hình ô nhiễm nước mặt ở Việt Nam
Nguồn nước mặt Việt Nam hiện nay, đang phải đối diện với nhiều tháchthức, trong đó đáng quan tâm nhất là ô nhiễm và suy kiệt nước mặt trên diệnrộng Với mạng lưới sông ngòi dày đặc, trong đó có 13 hệ thống sông lớn códiện tích trên 10.000 km3, tài nguyên nước mặt của Việt Nam chiếm khoảng 2%
Trang 16tổng lượng dòng chảy của của các sông trên thế giới Theo khuyến cáo của các
tổ chức thế giới về tài nguyên nước, ngưỡng khai thác được phép giới hạn trongphạm vi 30% lượng dòng chảy, nhưng trên thực tế hiện nay, hầu hết các tỉnhMiền Trung và Tây Nguyên đã và đang khai thác trên 50% lượng dòng chảy.Riêng tỉnh Ninh Thuận đã khai thác tới 80% lượng dòng chảy trên địa bàn.(http://sotnmt.vinhphuc.gov.vn.)
Theo Trần Hiếu Nhuệ (2000), ở nước ta hiện nay có khoảng 621 đô thị
lớn nhỏ, trong đó có 78 đô thị có dân số từ 15000 người trở lên, chiếm tổng sốkhoảng 12 triệu người hay 80% tổng dân số đô thị Số đô thị còn lại thuộc đô thịnhỏ Với dân số gần 90triệu người, Việt Nam có tổng lượng nước bình quân đầungười theo năm đạt khoảng 9.560 m3/người, thấp hơn chuẩn 10.000
m3/người/năm của quốc gia có tài nguyên nước ở mức trung bình theo quanđiểm của Hiệp hội Nước quốc tế (IWRA) Tính theo lượng nước nội sinh thìViệt Nam hiện mới đạt khoảng 4.000 m3/người/năm, và đến năm 2025 có thể bịgiảm xuống còn 3.100 m3 Đặc biệt, trong trường hợp các quốc gia thượngnguồn không có sự chia sẻ công bằng và sử dụng hợp lý nguồn nước trên cácdòng sông liên quốc gia, thì Việt Nam chắc chắn sẽ phải đối mặt với nguy cơkhan hiếm nước, có khả năng sẽ xảy ra khủng hoảng nước, đe dọa đến sự pháttriển ổn định về kinh tế, xã hội và an ninh lương thực
Giống như một số nước trên thế giới, Việt Nam cũng đang đứng trướcthách thức hết sức lớn về nạn ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt là tại các khucông nghiệp và đô thị
Mức độ ô nhiễm nước đang ngày càng gia tăng do không kiểm soát nguồngây ô nhiễm hiệu quả Tình trạng này đang gây ra những ảnh hưởng đến sứckhỏe của người, làm tăng nguy cơ ung thư, sảy thai và dị tật bẩm sinh, dẫn đếnsuy giảm nòi giống Tại một số địa phương của Việt Nam, khi nghiên cứu cáctrường hợp ung thư, viêm nhiễm ở phụ nữ, đã thấy 40 – 50% là do từ sử dụngnguồn nước ô nhiễm Theo thống kê và đánh giá của Bộ Y tế và Bộ Tài Nguyên
Trang 17Môi Trường (2015), trung bình mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 9.000 người tửvong vì nguồn nước và điều kiện vệ sinh kém và gần 200.000 trường hợp mắcbệnh ung thư mới phát hiện, mà một trong những nguyên nhân chính là sử dụngnguồn nước ô nhiễm.
Theo khảo sát của Trung tâm Quan trắc môi trường Quốc gia – Tổng cụcMôi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho thấy hiện trạng môi trườngnước mặt lục địa nhiều nơi bị ô nhiễm nghiêm trọng Miền Bắc tập trung đôngdân cư (đặc biệt là Đồng bằng sông Hồng) lượng nước thải đô thị lớn hầu hếtcủa các thành phố đều chưa được xử lý và xả trực tiếp vào các kênh mương vàchảy thẳng ra sông Ngoài ra một lượng lớn nước thải công nghiệp, làng nghềcũng là áp lực lớn đối với môi trường nước
Tại Hà Nội, hiện nay tình trạng ô nhiễm sông hồ đang diễn ra nghiêmtrọng Qua số liệu quan trắc, môi trường nước ở 4 sông ở Hà Nội đã bị ô nhiễmtới mức báo động, nhất là ô nhiễm các chất hữu cơ Hàm lượng amoni trongnước các hồ dao động thấp nhất là 0,58mg/l và cao nhất là 51,5mg/l, trong khitiêu chuẩn cho phép đối với nguồn nước loại B là 1mg/l, hàm lượng BOD daođộng trong khoảng 13mg/l - 68mg/l, trong khi tiêu chuẩn cho phép là 25mg/l,hàm lượng các chất ô nhiễm trung bình trong 4 con sông còn cao hơn nữa Điềuđáng quan tâm là các mẫu nước sông được quan trắc trong năm 2004 có hàmlượng BOD, COD cao hơn từ 7 - 10 lần so với hàm lượng của các mẫu đượcquan trắc trong năm 1994 Tại công viên Yên Sở, nơi được coi là thùng chứanước thải của Hà Nội với hơn 50% lượng nước thải của thành phố Người dântrong khu vực này không có đủ nước sạch cho nhu cầu sinh hoạt và tưới tiêu.Điều kiện sống của họ cũng bị đe dọa nghiêm trọng vì nhiều khu vực trong côngviên là nơi nuôi dưỡng mầm mống của dịch bệnh Mặc dù mở cửa từ năm 2002nhưng công viên Yên Sở không được sử dụng hiệu quả do sự ô nhiễm và mùikhó chịu bốc lên từ hồ Vì vậy, quá trình phát triển vẫn dậm chân tại chỗ Nhiềusông hồ ở phía Nam thành phố như Tô Lịch và Kim Ngưu cũng đang nằm trong
Trang 18tình trạng ô nhiễm như vậy (Phạm Mạnh Cổn, Nguyễn Mạnh Khải, Phạm Quang
Hà, Trần Ngọc Anh, 2013)
Sông nội thành Hà Nội nơi tiếp nhận và dẫn nước thải sinh hoạt, nước thảicông nghiệp cho thành phố nên mức ô nhiễm nghiêm trọng, biến thiên tùy thờiđiểm Các thông số đều vượt QCVN 08:2008/BTNMT Quy chuẩn kĩ thuật quốcgia về chất lượng nước mặt, cột B1 nhiều lần, thậm chí vượt QCVN14:2008/BTNMT Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt Cụ thể, hàmlượng COD đo được trên các sông thuộc khu vực nội thành Hà Nội thuộc lưu vựcsông Nhuệ - Đáy năm 2007 - 2011 được thể hiện bằng biểu đồ sau:
Hình 1.1: Diễn biến hàm lượng COD trên một số sông nội thành thuộc lưu
vực sông Nhuệ - Đáy năm 2007 - 2011
Nguồn: Tổng cục Môi trường, 2012
Một số sông ở vùng núi Đông Bắc như: Chất lượng sông Kỳ Cùng và cácsông nhánh trong những năm gần đây giảm sút xuống loại A2, sông Hiến, sôngBằng Giang còn ở mức B1 Đầu nguồn (Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang)vài năm gần đây mùa khô xuất hiện hiện tượng ô nhiễm bất thường trong thời
Trang 19gian ngắn 3 – 5 ngày Sông Hồng qua Phú Thọ, Vĩnh Phúc hầu hết các thông sốvượt QCVN 08:2008 – A1, một số địa điểm gần các nhà máy thậm chí xấp xỉ B1(đoạn sông Hồng từ Cty Super Phốt phát và hóa chất Lâm Thao đến KCN phíanam TP.Việt Trì), các thông số vượt ngưỡng B1 nhiều lần So với các sông kháctrong vùng, sông Hồng có mức độ ô nhiễm thấp hơn.
Sông Cầu, một trong những lưu vực sông lớn của hệ thống sông TháiBình bao gồm toàn bộ các tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên và một phần các tỉnh BắcNinh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, huyện Đông Anh, Sóc Sơn và tỉnh Hải Dương,hiện nay đã xảy ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng, nhất là đoạn chảy qua các
đô thị, KCN và các làng nghề Sông Ngũ Huyện Khê là một trong những điểnhình ô nhiễn trên lưu vực sông Cầu và tình trạng ô nhiễm gần như không thayđổi Theo báo cáo diễn biến lưu vực sông Cầu từ năm 2006 đến năm 2010 chothấy giá trị COD quan trắc từ năm 2006 đến 2010 có xu hướng tăng nhẹ tại TháiNguyên và tăng cao tại các tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang Đối với lưu vực sôngNhuệ và sông Đáy đây là lưu vực bao gồm 6 tỉnh phía Bắc với mật độ dân sốtrên 1.000 người/km2 cao gấp 4 lần so với mật độ chung của cả nước Chất thảichưa được xử lý mà đổ thẳng ra sông, hồ gây ô nhiễm môi trường nước, lưulượng nước thải sinh hoạt ở các đô thị trong lưu vực này tăng từ 200 nghìn
m3/ngày đêm (năm 1989) lên 385 nghìn m3/ngày đêm (năm 2004), vào mùa khôgiá trị các thông số BOD5, COD, TSS… tại các điểm đo vượt QCVN 08:2008loại A1 nhiều lần Sông Nhuệ bị ô nhiễm nặng sau khi tiếp nhận nước từ sông
Tô Lịch Lưu vực sông Mã, riêng thông số độ đục rất cao, do lượng phù sa lớn
và hiện tượng xói mòn từ thượng nguồn
Miền Trung và Tây Nguyên có một số khu vực chất lượng nước giảm doviệc đổi dòng phục vụ các công trình thủy lợi (hiện tượng ô nhiễm trên sông Bavào mùa khô) Nguồn ô nhiễm chính khu vực Đông Nam Bộ là nguồn ô nhiễmnước mặt chủ yếu do nước thải công nghiệp và sinh hoạt Sông Đồng Nai khu
Trang 20vực thượng lưu sông chất lượng nước tương đối tốt nhưng khu vực hạ lưu (đoạnqua TP Biên Hòa) nước sông đã bị ô nhiễm.
Sông Sài Gòn trong những năm gần đây mức độ ô nhiễm mở rộng hơn vềphía thượng lưu Sông Thị Vải các khu vực ô nhiễm trước đây đã từng bướcđược khắc phục một số điểm ô nhiễm cục bộ Hệ thống sông ở Đồng bằng sôngCửu Long nước thải nông nghiệp lớn nhất nước (70% lượng phân bón được cây
và đất hấp thụ, 30% đi vào môi trường nước) Vì vậy chất lượng nước sông Tiền
và sông Hậu đã có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ (mức độ ô nhiễm sông Tiền cao hơnsông Hậu) Sông Vàm Cỏ bị ô nhiễm bởi nhiều yếu tố: Hoạt động sản xuất từnhà máy, khu dân cư tập trung Sông Vàm Cỏ Đông có mức độ ô nhiễm cao hơnsông Vàm Cỏ Tây
Nhìn chung, môi trường nước Việt Nam đang bị ảnh hưởng mạnh của sựgia tăng dân số, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, khai thác khoáng sản vớitốc độ cao, đặc biệt là các lưu vực sông lớn như sông Hồng, sông Đồng Nai - SàiGòn, sông Cửu Long vài dải ven biển miền Trung Ở các khu vực này, mật độdân cư cao nhưng chưa có hệ thống xử lí nước thải, chất thải và phần lớn chúngđược thải vào nguồn nước Mặc dù, các cấp các ngành có nhiều cố gắng trongviệc thực hiện chính sách và pháp luật bảo vệ môi trường nhưng tình hình ônhiễm nước đang là vấn đề đáng lo ngại
+ Ô nhiễm do hoạt động nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất dùng để tưới tiêu cho lúa
và hoa màu,… chủ yếu là ở đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng Việc sửdụng nông dược và phân bón hóa học để bảo vệ vật nuôi và cây trồng khôngđúng cách, các phế liệu phụ phẩm vứt bừa bãi làm môi trường nông thôn càng ônhiễm Ước tính hàng năm lượng hóa chất bảo vệ thực vật sử dụng trong nôngnghiệp khoảng 0,5 – 3,5 kg/ha/vụ Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và phânkhoáng trong sản xuất nông nghiệp cũng gây ra phú dưỡng hoặc ô nhiễm độcnước
Trang 21Với hoạt động nuôi trồng thủy sản, đối với các mô hình nuôi thâm canhcao, quy mô công nghiệp ngày càng lớn và mức độ nguy hại cho môi trườngnước càng nhiều Các nguồn thải sau khi nuôi trồng thuỷ sản chưa được xử lýđạt tiêu chuẩn môi trường vẫn được thải ra các sông, kênh, rạch trong khu vực.
Ví dụ, tại các xã Quảng Lưu, Quảng Hải, Quảng Thái, huyện Quảng Xương(Thanh Hoá), nguồn nước nơi đây bị ô nhiễm nặng bởi nước thải từ các hồ nuôitôm trên cát nên những năm gần đây người dân ở nơi đây không còn sử dụngđược nguồn nước để sinh hoạt nữa Mặt khác, việc nguồn nước bị ô nhiễm cònkhiến hàng chục ha đất sản xuất của bà con xung quanh khu vực nuôi tôm bị ảnhhưởng Nhiều diện tích lúa và hoa màu sau khi gieo cấy đã bị chết do nguồnnước bị nhiễm mặn Điều này đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộcsống của người dân cũng như môi trường xung quanh
Bên cạnh đó việc nuôi trồng thủy sản tại các cơ sở sản xuất không đảm bảoquy trình kỹ thuật, các hồ nuôi không đảm bảo quy định nên hiện tượng nước mặn
từ các hồ nuôi ngấm vào nguồn nước ngầm gây sự nhiễm mặn ảnh hưởng trực tiếp
đến chất lượng nước khu vực xung quanh (stmnt.binhduong.gov.vn).
+ Ô nhiễm do hoạt động công nghiệp
Công nghiệp là ngành làm ô nhiễm nước không thể bỏ qua, mỗi ngành cómột loại nước thải khác nhau Do công nghệ sản xuất của nước ta phần lớn là cũ
và lạc hậu, lại không hoặc rất ít các thiết bị xử lý nước thải, khí thải, rác thải, hạtầng cơ sở đô thị như hệ thống cấp thoát nước, hệ thống quản lý chất thải rắn,…rất thấp kém, đồng thời quá trình đô thị hóa phát triển trong mấy năm gần đâylại khá nhanh, gây ra hiện tượng môi trường bị quá tải Ô nhiễm môi trườngnước ở các đô thị và khu chế xuất ở nước ta nói chung và đặc biệt vùng Đồngbằng sông Hồng nói riêng đang ở tình trạng báo động do các nguồn nước mặt(sông, ao, hồ) đều là nơi tiếp nhận nước thải chưa qua xử lý và có nồng độ cácchất ô nhiễm cao như chất rắn lơ lửng, nhu cầu oxy sinh hóa, nhu cầu oxy hóa
Trang 22học, nitơ amôn,… Giá trị của các thông số này đều gấp từ 5 đến 10 lần trị số tiêuchuẩn cho phép.
Theo Viện kiến trúc quy hoạch (Bộ Xây Dựng) tính đến thời điểm tháng2/2011, cả nước hiện có 256 Khu công nghiệp và 20 khu kinh tế đã được thànhlập Theo báo cáo giám sát của Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường củaQuốc hội, tỉ lệ các khu công nghiệp của hệ thống xử lí nước thải tập trung tạimột số đại phương rất thấp, có nơi chỉ đạt 15 - 20% như Bà Rịa - Vũng Tàu,Vĩnh Phúc Một số khu công nghiệp có xây dựng hệ thống xử lí nước thải tậptrung nhưng hầu như không vận hành vì để giảm chi phí Đến nay, mới có 60khu công nghiệp đã hoạt động có trạm xử lí nước thải tập trung (chiếm 42% sốkhu công nghiệp đã vận hành) và 20 khu công nghiệp đang xây dựng hệ thống
xử lí nước thải Bình quân mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải rakhoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và chất độc hại khác
Khu công nghiệp Thái Nguyên thải nước biến sông Cầu thành màu đen,mặt nước sủi bọt trên chiều dài hàng chục cây số Khu công nghiệp Việt Trì xảmỗi ngày hàng ngàn mét khối nước thải của nhà máy hóa chất, thuốc trừ sâu,giấy, dệt, (khoảng 35 triệu m3 nước thải hàng năm, trong đó có khoảng 4.000tấn axit các loại 1.300 tấn xút, 300 tấn benzene, 25 tấn chất hữu cơ và nhiều chấtkhác) xuống sông Hồng làm nhiễm bẩn nước sông trên hàng chục km từ Việt Trìtới hạ lưu sông Hồng
Dưới ảnh hưởng của các loại chất thải công nghiệp, chất lượng nước lưuvực một số con sông ở nước ta ngày càng xấu đi Theo các kết quả nghiên cứucho thấy trong số các con sông sông Đuống, sông Cà Lồ, sông Cấm, sông LạchTray, sông Bạch Đằng, sông Trới, sông Sinh, sông Cầu, sông Ngũ Huyện Khê,sông Thái Bình, sông Sặt, sông Bắc Hưng Hải, sông Bần, sông Đáy, sông Nhuệkhông có sông nào đạt quy chuẩn nước mặt loại A1 (nguồn cấp nước sinh hoạt),một số sông (sông Cầu và sông Ngũ Huyện Khê tại Bắc Ninh, sông Cà Lồ tạiHương Canh - Vĩnh Phúc, sông Sặt tại Hải Dương, sông Bắc Hưng Hải và sông
Trang 23Bần tại Hưng Yên) không đạt quy chuẩn nước dùng cho mục đích tưới tiêu thủylợi do có các thông số BOD5 và COD vượt QCVN 08:2008/BTNMT loại B1.Trên sông Cầu nhiều đoạn bị ô nhiễm nặng đến mức báo động Tiêu biểu là đoạn
từ nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ tới Gia Bẩy, do ảnh hưởng của nước thải từ nhàmáy giấy và khu dân cư tập trung nên độ đục tăng, lượng oxy hoà tan đạt mứcthấp nhất (0,4 – 0,5 mg/l), BOD5 và COD đạt giá trị cao nhất (>1.000ml),coliform ở một số nơi vượt tiêu chuẩn đến hàng chục lần
Nhìn chung, hầu hết các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nước chưa đápứng được những tiêu chuẩn về môi trường theo quy định Thực trạng đó làm chomôi trường sinh thái ở một số địa phương bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng đếnnhững người dân sống ở vùng lân cân, gây phản ứng quyết liệt của bộ phận dân cư
này, làm nảy sinh các xung đột xã hội gay gắt (stmnt.binhduong.gov.vn).
+ Ô nhiễm do hoạt động sinh hoạt
Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng nhanh do dân số vàcác đô thị Nước cống từ nước thải sinh hoạt cộng với nước thải của các cơ sởtiểu thủ công nghiệp trong khu dân cư là đặc trưng ô nhiễm của các đô thị ởnước ta Đặc điểm cơ bản của nước thải sinh hoạt là hàm lượng chất hữu cơ cao,các chất hữu cơ không bền vững, dễ phân hủy sinh học, chất dinh dưỡng, chất
rắn và vi trùng (stmnt.binhduong.gov.vn).
Hiện nay, hầu hết nước thải đô thị chưa được xử lý trước khi xả ra môitrường, là nguyên nhân chính làm ô nhiễm hệ thống thủy vực nội đô và ven đônước ta
Trang 24Bảng 1 1: Ước tính lưu lượng và thải lượng các chất ô nhiễm trong nước
thải sinh hoạt đô thị qua các năm
Năm Lưu lượng nước thải sinh
hoạt đô thị (m 3 /ngày)
Tổng thải lượng các chất (kg/ngày)
Nguồn: Trung tâm quan trắc môi trường – TCMT, 2015
Theo thống kê sơ bộ thì có khoảng 4,62% lượng nước thải công nghiệpđược xử lý đảm bảo tiêu chuẩn môi trường Tính đến đầu năm 2005 hàng ngày
có khoảng 3 triệu m3 nước thải sinh hoạt đô thị, bệnh viện bình quân mỗi ngàysông Đồng Nai và sông Sài Gòn phải hứng chịu trên 852.000 m3 lượng ô nhiễm
từ nước thải sinh hoạt với hàm lượng DO thấp và COD quá cao
Đến năm 2010 tại các khu đô thị, trung bình mỗi ngày thải ra 20.000 tấnchất thải rắn nhưng chỉ thu gom và đưa ra các bãi rác được trên 60% tổng lượngchất thải nên đã gây ô nhiễm nguồn nước Theo kết quả xét nghiệm mẫu nướctại bãi rác Nam Sơn (Hà Nội) và một bãi rác ở tỉnh Lạng Sơn cho thấy, tất cả cácmẫu nước thải từ bãi rác đều có vi khuẩn Coliform cao gấp hàng trăm lần tiêuchuẩn cho phép Có tới 97,5% mẫu nước ăn uống của người dân khu vực lân cận
2 bãi rác trên không đạt tiêu chuẩn vệ sinh Ngoài chất thải từ đô thị, khu côngnghiệp, làng nghề, chất thải bệnh viện đa phần chưa được xử lý, thải trực tiếp ramôi trường cũng gây ô nhiễm nguồn nước trầm trọng đặc biệt là ảnh hưởng trựctiếp đến nguồn nước sinh hoạt của người dân
Tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, nơi có dân cư đông đúc và các khu côngnghiệp thì tình trạng đáng báo động hơn Ước tính mỗi ngày cư dân Hà Nội thải
Trang 25ra khoảng 0,6 triệu m3 nước thải sinh hoạt với khoảng 250 tấn rác thải ra cácsông mà chưa qua xử lí do đó nhiều ao hồ và sông ngòi tại Hà Nội đã bị ô nhiễmnặng.
1.3 Hiện trạng nước mặt tại các khu du lịch, di tích, lịch sử tại Việt Nam
Không chỉ với số lượng lớn, các di tích tại Việt Nam còn rất phong phú vềthể loại, được chia thành Di tích văn hóa, di tích thắng cảnh, di tích nghệ thuật,
di tích lịch sử v.v Phần nhiều trong số các di tích này đều sở hữu tiềm năngphát triển các hoạt động văn hóa, du lịch rất lớn Điều này dẫn đến thực tế là tạinhiều di tích, việc khai thác tiềm năng du lịch một cách ồ ạt, thiếu sự đầu tư,quản lí đúng đắn đã gây ra các vấn đề môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng lớnkhông chỉ đến bản thân di tích mà còn cả khu vực xung quanh
Vùng di sản Vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận có diện tích 434km2 Khu vực gồm có 775 đảo, những đảo đá nhấp nhô trên sóng nước tạothành một khung cảnh huyền ảo Trong những đảo đá có những hang động đẹpnổi tiếng Tất cả được xem như một kiệt tác của tạo hóa Nhìn chung, chấtlượng nước ngoài khơi Vịnh Hạ Long vẫn tốt, chưa có biểu hiện ô nhiễm Tuynhiên, ở một số khu vực gần bờ có biểu hiện của ô nhiễm, như độ đục tăng, rácthải trôi nổi trên mặt vịnh, xuất hiện dầu mỡ trong nước biển Nguyên nhâncủa việc ô nhiễm là do việc xả rác của người dân ở khu vực ven bờ ví dụ nhưsau lễ hội du lịch Hạ Long, các khu ven bờ, rác thải chất thành đống Nguyênnhân nữa xuất phát từ các tàu du lịch Hiện có khoảng trên 520 tàu du lịch đanghoạt động trên vịnh Hạ Long, song chỉ 20% tàu có hệ thống xử lý môi trườngđạt chuẩn Ngoài ra, hoạt động sống của các làng chài trên Vịnh và các tàu chởhàng cũng góp phần gây nên tình trạng ô nhiễm trên Vịnh Hạ Long là một kỳquan mà thiên nhiên bạn tặng cho Việt Nam Nếu không biết gìn giữ, bảo tồn thìtác phẩm tự nhiên này sẽ không được toàn vẹn và sẽ bị mai một do sự tác tráchcủa nhiều người
Trang 26Chùa Hương thuộc thôn Yến Vĩ, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh HàTây, nơi có động Hương Tích với vẻ đẹp hiếm có được coi là Nam thiên đệ nhấtđộng, một vùng sơn thuỷ hữu tình, non xanh nước biếc, không chỉ bao gồm cácquần thể di tích có bề dầy lịch sử hơn năm trăm năm, mà còn là một danh thắngnổi tiếng về du lịch và lễ hội lâu đời mang yếu tố tâm linh của người dân đấtViệt mỗi dịp tết đến, xuân về Mùa lễ hội chùa Hương kéo dài khoảng 3 thángthu hút khoảng 1,5 triệu lượt khách/năm Tuy nhiên, bên cạnh những bước pháttriển về kinh tế - xã hội ngày càng tiến bộ nhờ lượng khách du lịch đến ChùaHương có mức tăng trưởng liên tục, người dân địa phương cũng như khu di tích,danh thắng phải đối mặt với một vấn đề bức xúc đó là tình trạng ô nhiễm môitrường Trong đó một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm nhất, đó làvấn đề thu gom và xử lý rác thải, nước thải Chùa Hương Đến với chùa Hươngbạn sẽ được du thuyền trên bến Đục, có thể thấy ‘vật thể lạ” nổi lềnh bềnh trênsông Đó là túi nilon, chai nhựa, đồ ăn.v.v Hàng năm, sau mỗi dịp lễ hội, chínhquyền địa phương ở đây không có biện pháp xử lí chất thải nổi đó Vì vậy, quatừng năm lượng rác thải đó càng nhiều, và một lượng lớn bị chìm xuống lòngbến Đục và thực sự bến Đục giờ đây đã đục thật Mặt khác, theo số liệu thống kêcủa Sở khoa học công nghệ - môi trường Hà Tây số lượng sinh vật tại các dòngsông, dòng suối nằm trong phạm vi xã Hương Sơn quanh khu vực chùa Hương
từ 85 loài (năm 1996) giảm xuống còn 4 loài (năm 2005) Nguyên nhân, thứnhất có thể thấy rõ rác thải đó phần lớn là của khách du lịch hoặc là cố tình hoặc
là vô ý hoặc là chưa có sự bố trí hợp lý các thùng rác dẫn đến việc vứt rác bừabãi gây ô nhiễm nguồn nước Thứ hai, do các dịch vụ ăn uống, sinh hoạt phục vụkhách du lịch là rất lớn, lượng phế thải phát sinh từ quá trình phục vụ khôngđược xử lý đúng nơi đúng chỗ và cũng do sự nhận thức của người dân còn kémcũng là nhân tố gây ô nhiễm nguồn nước ở nơi đây
Chùa Cầu hay còn gọi là chùa Nhật Bản, nằm trong khu phố cổ Hội An,được công nhận là Di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia năm 1990 Chùa Cầu là
Trang 27công trình do các thương gia Nhật Bản đến buôn bán tại Hội An xây dựng vàokhoảng giữa thế kỉ 16 Đây là môt trong những điểm du lịch nổi tiếng tại Hội
An, đến Hội An mà chưa ghé thăm chùa Cầu coi như chưa đến Tuy nhiên, hiệnnay cùng với sự phát triển của du lịch các hoạt động dịch vụ kéo theo như kháchsạn, nhà hàng, ăn uống cùng với sự quản lý chưa chặt chẽ của địa phương, chùaCầu- Biểu tượng của phố cổ Hội An đang dần trở thành nỗi ám ảnh của ngườidân và du khách thập phương bởi con kênh chạy qua đây ô nhiễm nặng và bốcmùi vô cùng khó chịu Trong số hơn 6.000 m3 nước thải từ các hoạt động du lịchcũng như sinh hoạt của người dân TP.Hội An thì có đến hơn 2.000 m3 nước thải
đổ trực tiếp ra kênh Chùa Cầu mà không qua xử lý Kết quả lấy mẫu phân tích,kiểm tra của Phòng Tài nguyên – Môi trường TP.Hội An, nước thải của các nhàhàng, khách sạn, các cơ sở kinh doanh trên địa bàn có các chỉ tiêu oxy sinh hóa(BOD5) và vi khuẩn gây các bệnh liên quan đến đường ruột (Coliforms) vượtchỉ tiêu cho phép nhiều lần Cũng tại các đợt kiểm tra, phòng đã phát hiện 11 cơ
sở vi phạm về ô nhiễm môi trường trong việc xả thải ra kênh Chùa Cầu Tùy tiệnthải nước không qua xử lý của các hộ dân và doanh nghiệp là nguyên nhân trựctiếp khiến khu vực môi trường Chùa Cầu bị ô nhiễm nặng Nếu không có biệnpháp xử lý, khắc phục thì ô nhiễm ở chùa Cầu sẽ “đuổi” du khách ở Hội An
1.4 Tổng quan về khu danh lam thắng cảnh Nhị - Tam Thanh
Khu di tích danh thắng Nhị - Tam Thanh nằm trong dãy núi đá vôi phíaTây Bắc thành phố Lạng Sơn (thuộc phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn).Với diện tích trên 52 ha, nơi đây có những hang động đẹp tự nhiên, kỳ thú Theotài liệu của nhà địa chất, đây là vùng thuộc địa Triat, phiết thạch, các hạng độngnày được tạo nên rất lâu đời cách ngày nay từ 360 đến 245 triệu năm
Động Nhị Thanh được danh nhân Ngô Thì Sĩ khám phá và tôn tạo khi ônglàm quan đốc trấn Lạng Sơn từ năm 1777 – 1780 Ông là một bậc hiền thánh đã
có công lao to lớn trong việc mở mang ruộng đất, yên ổn dân sinh và xây dựngLạng Sơn thành khu thương mại sầm uất Trong thời gian ngao du sơn thủytrong vùng ông đã phát hiện ra động Nhị Thanh và bắt đầu cho tôn tạo, xây dựngchùa Tam Giáo tại đây Phía bên phải động là chùa Tam Giáo (có 3 đạo thờ
Trang 28chung một chùa), có kiến trúc rất đặc biệt: không có mái, không có nhà, bàn thờđược đặt trong hang, hốc đá làm cho ta có cảm giác thiên tạo với những nhũ đá
kỳ vỹ càng tạo nên sự linh thiêng của ngôi chùa Bên trái chùa Tam Giáo làđường vào động Nhị Thanh và suối Ngọc Tuyền uốn lượn với nhiều ngõ ngách
và nhũ đá tự nhiên rũ xuống tuyệt đẹp Dọc theo động là suối Ngọc Tuyền làmkhông khí trở nên dịu mát và con đường nhỏ uốn cong theo suối Giữa động cócửa Thông Thiên nhìn thẳng lên trời, giúp ánh sáng mặt trờ rọi xuống suối vànhiều khu vực trong hang Hàng năm, khu danh thắng thu hút hàng nghìn lượtkhách đến thăm quan hưởng ngoại, là điểm dừng chân không thể bỏ qua nếu cóchuyến đi về tỉnh này
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do tốc độ đô thi hóa nhanh, cho nêntại các khu danh thắng Nhất- Nhị Thanh, một số hộ dân xây dựng công trình lấnchiếm và xâm hại di tích, tình trạng xây dựng nhà không phép, lấn chiếm cảnhquan môi trường khu di tích có xu hướng ngày càng tăng, dẫn đến không gian vàmôi trường danh thắng Nhất, Nhị Thanh bị hủy hoại nghiêm trọng Bên cạnh đó,trong công tác quy hoạch đô thị, thành phố đã không tính đến tốc độn suy thoáitài nguyên rừng và môi trường, dân đến việc nguồn cung cấp nước cho nướcsuối Ngọc Tuyền chảy qua khu danh thắng bị cạn kiệt nước vào mùa khô Cònmùa lũ, toàn bộ lượng nước thải của hàng nghìn hộ dân ở Kéo Táu và các khối
6, 7 và khối 11 phường Tam Thanh, đổ chảy vào động, ngập úng, rác thải trôivào trong động Vào mùa khô, bầu không khí trong động Nhất, Nhị Thanh càng
bị ô nhiễm nặng, nguồn nước thải sinh hoạt của các hộ dân chảy qua động cómàu đen đặc, bốc mùi rất khó chịu, làm nhiều du khách không dám vào thămđộng Nhất, Nhị Thanh Do đó, hiện nay các cấp các ngành có liện quan đang tìmkiếm những giải pháp xử lý, ngăn chặn các tình trạng ô nhiễm, cải tạo xử lýnước thải sinh hoạt của dân cư, trước khi cho chảy qua động Nhất, Nhị Thanh…tránh lặp lại bài học Nàng Tô Thị bị đốn ngã để “Nung vôi” năm nào
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 292.1 Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng nước suối Ngọc Tuyền và các yếu tố ảnh hưởng đến chấtlượng nước suối Ngọc Tuyền đoạn chảy qua động Nhị Thanh, phường TamThanh, thành phố Lạng Sơn
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: Suối Ngọc Tuyền đoạn bắt đầu từ cửa trước độngTam Thanh đến cửa sau chảy động Nhị Thanh, phường Tam Thanh, thành phốLạng Sơn
Thời gian nghiên cứu từ 12/2015– 5/2016
2.3 Nội dung nghiên cứu
Điều tra thực tế các nguồn phát sinh gây ảnh hưởng đến chất lượng nướcsuối Ngọc Tuyền
Quan trắc chất lượng nước suối Ngọc Tuyền đoạn chảy qua động NhịThanh, phường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn thông qua một số thông số hóahọc
Đề xuất một số giải pháp thực tế nhằm cải thiện chất lượng môi trườngnước tại suối Ngọc Tuyền
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp.
Thu thập số liệu thứ cấp:
Thu tập thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, du lịch v.v.v tạiphường Tam Thanh, thành phố Lạng Sơn, đặc điểm thời tiết, khí hậu thủy văn,hiện trạng nguồn gây ô nhiễm, giải pháp quản lí môi trường đang được thực hiệnđối với suối Ngọc Tuyền
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Trang 30Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa, thu thập thông tin về khu vực để chọn vị trí lấy mẫu, các thông tin về nguồn phát sinh, thực trạng công tác quản límôi trường đang áp dụng đối với suối Ngọc Tuyền
2.4.3 Phương pháp lấy mẫu, bảo quản
Tiến hành lấy mẫu tại 3 vị trí của suối Ngọc Tuyền vào chai nhựa PVC500ml theo tiêu chuẩn lấy mẫu (TCVN 6663-1/2011) làm cơ sở để nghiên cứu
và đánh giá hiện trạng chất lượng nước của suối Ngọc Tuyền
Vị trí lấy mẫu: Mẫu được lấy tại 3 vị trí
Vị trí 1 (VT-1) : Nước suối Ngọc Tuyền tại điểm bắt đầu chảy vào khudân cư (đây được coi là mẫu đối chứng vì điểm này chưa tiếp nhận nước thải)
Vị trí 2 (VT-2) : Nước suối Ngọc Tuyền tại điểm cuối chảy qua khu dân
cư (trước cửa động Nhị Thanh)
Vị trí 3 (VT-3) : Nước suối Ngọc Tuyền tại cửa sau động Nhị Thanh.Tổng số mẫu: 3 mẫu/ lần
Tần suất và thời gian lấy mẫu: 1 lần/ tháng trong khoảng thời gian từ12/2015 – 5/2016
Mẫu được bảo quản theo TCVN 6663-3/2008 - Chất lượng nước - Lấymẫu - Hướng dẫn bảo quản và xử lý cho chai 500ml
Trang 31Bảng 2.1: Phương pháp bảo quản mẫu STT Thông số Bảo quản Thời gian Điều kiện
1 pH Không bảo quản Phân tích ngay Lấy đầy
2 DO Không bảo quản Phân tích ngay Lấy đầy
3 TSS Không bảo quản Phân tích ngay Lấy đầy
2SO4
5 N - NO2- Bảo quản 1 - 2 ngày 0,5 ml H2SO4
6 N - NO3- Bảo quản 1 - 2 ngày 0,5ml H2SO4 giữ lạnh
7 N - NH4+ Bảo quản 1 - 2 ngày 0,5ml H2SO4 giữ lạnh
8 Phosphat Bảo quản 1 – 2 ngày 0,5ml H
2SO4 giữ lạnh
2.4.4.Phương pháp phân tích
Bảng 2.2: Các phương pháp phân tích.
Thông số Phương pháp phân tích
TSS Phương pháp lọc, sấy xác định khối lượng
N-NO2- Phương pháp Griess llosvay Diazonium, so màu tại
bước sóng 530nmN-NO3- Phương pháp Natrisalixilat so màu tại bước sóng
420nmPhosphat Phương pháp axit Ascobic, so màu tại bước sóng