1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tập bài giảng chuyên đề triết học

77 239 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 707,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế giới quan tôn giáo có cơ sở lý luận là chủ nghĩa duy tâm trong triết học, phản ánh trình độ nhận thức và năng lực hoạt động thực tiễn của con người còn hạn chế, thể hiện sự yếu đuối,

Trang 1

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ -

TẬP BÀI GIẢNG

(LƯU HÀNH NỘI BỘ)

CHUYÊN ĐỀ TRIẾT HỌC

(DÀNH CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGÀNH GDCT)

Tác giả: Trần Hương Giang Nguyễn Thị Như Nguyệt

NĂM 2017

Trang 2

2

MỤC LỤC

CHUYÊN ĐỀ 1: CHỦ NGHĨA DUY VẬT MÁCXÍT - CƠ SỞ LÝ LUẬN

CỦA THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC 5 1.1 Chức năng thế giới quan của triết học ………5 1.2 Bản chất của chủ nghĩa duy vật mácxít……… 8

1.3 Những nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa

duy vật Mácxít và việc vận dụng vào cách mạng Việt Nam hiện nay ……… 15 CHUYÊN ĐỀ 2: PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT –

PHƯƠNG PHÁP LUẬN CHUNG NHẤT CỦA NHẬN

THỨC KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CÁCH MẠNG ………16 2.1 Phương pháp và phương pháp luận……… 16 2.2 Vai trò phương pháp luận của phép biện chứng duy vật……… 19 2.3 Tính cách mạng của phép biện chứng duy vật và ý nghĩa

phương pháp luận của nó đối với thực tiễn cách mạng

trong thời đại ngày nay……… 23 CHUYÊN ĐỀ 3: NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN……… 28 3.1 Quan điểm mácxit về thực tiễn và mối quan hệ biện chứng giữa

lý luận và thực tiễn……….28 3.2 Phê phán bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều……….35 CHUYÊN ĐỀ 4: LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI

VỚI SỰ NHẬN THỨC CON ĐƯỜNG ĐI LÊN

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA ……… 39 4.1 Học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội, nền tảng lý luận của

chủ nghĩa duy vật lịch sử………39 4.2 Quá độ lên chủ nghĩa xã hội, con đường phát triển tất yếu của

cách mạng Việt Nam……… 45 CHUYÊN ĐỀ 5: GIAI CẤP VÀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP

BIỆN CHỨNG GIỮA LỢI ÍCH GIAI CẤP, LỢI ÍCH DÂN TỘC

VÀ LỢI ÍCH NHÂN LOẠI TRONG

THỜI ĐẠI NGÀY NAY ……… 48 5.1 Chủ nghĩa Mác - Lênin với vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp……… 48

Trang 3

3

5.2 Biện chứng giữa lợi ích toàn nhân loại với lợi ích dân tộc

và lợi ích giai cấp……….55 5.3 Vận dụng quan điểm Mác xít về giai cấp và đấu tranh giai cấp

trong giai đoạn cách mạng hiện nay ở nước ta……….60 CHUYÊN ĐỀ 6: TIẾN BỘ XÃ HỘI VÀ VẤN ĐỀ CÁCH MẠNG

XÃ HỘI TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY ……… 63 6.1 Tiến bộ xã hội……….63 6.2 Vấn đề cách mạng xã hội trong thời đại ngày nay……….69

Trang 4

4

LỜI NÓI ĐẦU

Chuyên đề triết học là một học phần quan trọng trong chương trình đào tạo cử nhân

Giáo dục chính trị ở các trường đại học và cao đẳng, giúp cho người học nắm được các chuyên đề cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Để phù hợp với sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị, chúng tôi tiến hành biên

soạn Tập bài giảng Chuyên đề triết học bao gồm 06 chương với nhiệm vụ chủ yếu là đi sâu

các chuyên đề, đặc biệt định hướng vận dụng cho sinh viên trong quá trình nhận thức và phân tích thực tiễn

Mặc dù đã hệ thống hóa một cách cô động những nội dung cơ bản tuy vậy không thể tránh khỏi những bổ sung và chỉnh sửa Rất mong các đồng nghiệp và sinh viên đóng góp ý kiến để bài giảng hoàn thiện hơn

Quảng Bình, tháng 05 năm 2017

Nguyễn Thị Như Nguyệt

Trang 5

5

CHUYÊN ĐỀ 1 CHỦ NGHĨA DUY VẬT MÁCXÍT - CƠ SỞ LÝ LUẬN

CỦA THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC

1.1 Chức năng thế giới quan của triết học

1.1.1 Thế giới quan và các hình thức cơ bản của thế giới quan

a Khái niệm thế giới quan

Triết học có nhiều chức năng khác nhau trong đó chức năng thế giới quan là chức năng cơ bản và quan trọng nhất

Thế giới quan được hình thành do nhu cầu tất yếu của đời sống con người với

tư cách là chủ thể của nhận thức Để tồn tại và phát triển, con người cùng một lúc phải quan hệ với tự nhiên và quan hệ với nhau để sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất phục vụ nhu cầu của con người Trong quá trình quan hệ đó, con người có nhu cầu nhận thức thế giới và nhận thức chính bản thân mình Những vấn đề đặt ra đối với con người cần phải lý giải như: bản chất của thế giới là gì? Thế giới tồn tại hay không tồn tại? con người sinh ra từ đâu? Con người có vị trí và vai trò như thế nào trong thế giới? Trả lời những vấn đề đó đã hình thành nên các quan điểm, quan niệm, tư tưởng của con người về thế giới

Thế giới quan là hệ thống những quan điểm, quan niệm, tư tưởng của con người về thế giới (thế giới tự nhiên, xã hội và bản thân con người)

- Nội dung và hình thức biểu hiện của thế giới quan

+ Nội dung: thế giới quan phản ánh thế giới theo ba phương diện là: đối tượng bên ngoài chủ thể, bản thân chủ thể, mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể

Ba phương diện đó thể hiện ý thức, quan niệm của con người về thế giới, đồng thời thể hiện ý thức, quan niệm của con người về chính bản thân mình

+ Hình thức: thế giới quan biểu hiện dưới dạng các quan điểm, quan niệm, có thể rời rạc, có thể là một hệ thống lý luận chặt chẽ của con người (là một cá nhân, một giai cấp hoặc một thời đại)

- Chức năng của thế giới quan:

Thế giới quan được tạo thành từ các yếu tố như tri thức, tình cảm, niềm tin… trong đó tri thức là yếu tố cơ bản nhất

Tri thức: là sự hểu biết của con người về thế giới, là kết quả của quá trình nhận thức thế giới của con người cấu trúc tri thức, nếu chia theo lĩnh vực, gồm: tri thức về

tự nhiên, tri thức về xã hội; nếu chia theo cấp độ gồm: tri thức kinh nghiệm, tri thức lý luận Tri thức có vai trò là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, song tri thức chỉ gia nhập vaò sự hình thành thế giới quan khi nó biến thành niềm tin Như vậy, niềm tin là kết quả của sự chuyển hóa từ tri thức Khi tri thức khoa học biến thành niềm tin thì nó có tính sâu sắc, bền vững và trở thành cơ sở cho hành động Niềm tin nó đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người, nó làm tăng ý chí, nghị lực, quyết tâm của con người trong cuộc sống

Về chức năng của thế giới quan bao gồm: chức năng nhận thức, chức năng xác lập giá trị, chức năng đánh giá, chức năng giáo dục, chức năng điều chỉnh hành

Trang 6

6

vi….Từ các chức năng này, có thể khái quát, chỉ ra chức năng bao trùm của thế giới quan là chức năng định hướng cho toàn bộ hoạt động đời sống con người

b Những hình thức cơ bản của thế giới quan

Với tư cách là sản phẩm của nhận thức, thế giới quan được hình thành, phát triển cùng với lịch sử phát triển của nhận thức con người

- Thế giới quan huyền thoại: là hình thức đầu tiên của thế giới quan, đặc trưng cho tư duy nguyên thủy, được thể hiện đậm nét trong các câu truyện thần thoại, phản ánh trình độ nhận thức của con người ở xã hội nguyên thủy

Đặc điểm: phản ánh một cách hoang đường thế giới khách quan, là kết quả của nhận thức cảm tính, trong đó có sự đan xen giữa hiện thực và tưởng tượng, giữa tư duy và xúc cảm

- Thế giới quan tôn giáo: là hệ thống những quan điểm, tư tưởng tôn giáo, thể hiện niềm tin của con người vào sức mạnh của các lực lượng siêu nhiên, được biểu hiện tập trung trong các kinh, sách của các tôn giáo, được các chức sắc tôn giáo truyền bá một cách tự giác

Thế giới quan tôn giáo có cơ sở lý luận là chủ nghĩa duy tâm trong triết học, phản ánh trình độ nhận thức và năng lực hoạt động thực tiễn của con người còn hạn chế, thể hiện sự yếu đuối, sợ hãi, bất lực của con người trước những lực lượng tự nhiên, lực lượng xã hội đang thống trị con người, dẫn đến sự sung bái, thần thánh hóa, biến các lực lượng ấy thành sức mạnh siêu nhiên

Đặc trưng của thế giới quan tôn giáo là: đặt niềm tin cao hơn lý trí, đó là niềm tin vào thế giới quan tưởng tượng mà con người hướng tới Lênin: “sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào một cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia, cũng giống y như sự bất lực của con người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, vào những phép màu…” Theo C.Mác: thế giới quan tôn giáo là biểu hiện của sự nghèo nàn của hiện thực, đồng thời còn là sự phản kháng chống lại sự nghèo nàn hiện thực ấy Vì vậy, thế giới quan tôn giáo còn bao hàm khát vọng của con người vào cuộc sống trần gian tốt đẹp hơn

- Thế giới quan triết học: là hệ thống những quan niệm, quan điểm triết học của con người về thế giới được thể hiện quan hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật

Thế giới quan triết học ra đời khi nhận thức của con người đạt đến trình độ khái quát hóa, trừu tượng hóa, hệ thống hóa và cùng với đó là các lực lượng xã hội có ý thức về sự cần thiết phải có định hướng về tư tưởng để chỉ đạo cuộc sống

Thế giới quan và triết học không tách rời nhau Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan Do đó, nó là bộ phận quan trọng nhất chi phối các quan điểm, quan niệm về kinh tế, chính trị, văn hóa…

Thế giới quan triết học được chia thành thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm Ngoài ra còn có thế giới quan khoa học và thế giới quan phản khoa học

1.1.2 Thế giới quan duy vật

a Thế giới quan duy tâm và thế giới quan duy vật

Trang 7

7

- Thế giới quan duy tâm coi bản chất của thế giới là tinh thần và thừa nhận vai trò quyết định của tinh thần đối với thế giới vật chất nói chung, đối với con người, xã hội loài người nói riêng

Thế giới quan duy tâm có nhiều cấp độ khác nhau và được biểu hiện dưới nhiều hình thức đa dạng Cấp độ khác nhau của thế giới quan duy tâm phụ thuộc vào trình

độ nhận thức của con nguời và tương ứng với từng cấp độ nhận thức, thế giới quan duy tâm được thể hiện dưới hình thức huyền thoại, tôn giáo hay triết học

- Thế giới quan duy vật thừa nhận bản chất của thế giới là vật chất và vai trò quyết định của vật chất đối với thế giới

Những đặc trưng chủ yếu của thế giới quan duy vật

+ Khẳng định chủ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất, thế giới vật chất không sinh ra, không mất đi, nó tồn tại vĩnh viễn, vô tận vô hạn

+ Thế giới quan duy vật thừa nhận có sự tồn tại của các hiện tượng ý thức, tinh thần, song nó chỉ rõ mọi biểu hiện của ý thức, tinh thần đều có nguồn gốc vật chất

+ Trong khi khẳng định sự tồn tại của con người hiện thực và vai trò quyết định của hoàn cảnh vật chất, thế giới quan duy vật nhấn mạnh tính năng động sáng tạo của

ý thức

b Lịch sử phát triển của thế giới quan duy vật

- Thế giới quan duy vật chất phát: ra đời và tồn tại gắn liền với lịch sử thời cổ

đại, thể hiện trình độ nhận thức ngây thơ, mộc mạc của những nhà triết học duy vật

Đó là thời kỳ đời sống xã hội còn ở trình độ thấp, sản xuất vật chất bằng lao động cơ bắp với công cụ thô sơ là chủ yếu, còn hoạt động nhận thức của một bộ phận lao động trí óc phần nhiều chỉ dựa vào quan sát trực tiếp thế giới, vào phỏng đoán chứ chưa có luận chứng khoa học

Đặc điểm: Thừa nhận tính thứ nhất của vật chất, lý giải toàn bộ sự sinh thành

của thế giới từ một hoặc một số dạng vật chất cụ thể, cảm tính, coi đó là bản nguyên của thế giới

Tiêu biểu: Talét (nước), Anaximen (không khí), Hêraclit (lửa), Đêmôcrit (nguyên tử),…

Đánh giá:

Tích cực: tuy còn nhiều hạn chế, nhưng chủ nghĩa duy vật cổ đại về cơ bản là đúng vì đã lấy bản thân vật chất của giới tự nhiên để giải thích chính nó mà không viện đến một đấng thần linh hay đấng sáng tạo nào như tôn giáo

Trang 8

8

Thứ tư, chỉ dừng lại ở việc giải thích thế giới chưa có vai trò cải tạo thế giới

- Thế giới quan duy vật siêu hình:

Thể hiện khá rõ từ thế kỷ XV đến XVIII và đạt đỉnh cao ở thế kỷ XIX Đây là thời kỳ mà cơ học cổ điển phát triển nên CNDV giai đoạn này chịu sự tác động mạnh

mẽ của phương pháp tư duy siêu hình, máy móc

Họ quan niệm thế giới giống như một cỗ máy cơ giới khổng lồ, mà mỗi bộ phận tạo nên nó luôn ở trong trạng thái biệt lập, tĩnh tại; nếu có biến đổi thì chỉ là sự tăng, giảm đơn thuần về lượng và do những nguyên nhân bên ngoài gây nên

Hạn chế: mang nặng tư duy máy móc, chưa phản ánh đúng hiện thực trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển

Đóng góp: góp phần vào việc chống lại thế giới quan duy tâm và tôn giáo thời

kỳ này

Thế giới quan duy vật siêu hình có hai đặc trưng cơ bản:

Một là, phủ nhận vai trò của đấng sáng tạo, thừa nhận bản chất của thế giới là vật chất, tiếp tục khẳng định và phát triển tư tưởng coi thế giới được tạo thành bởi bản nguyên vật chất Nhìn chung, các nhà triết học duy vật siêu hình quan niệm rằng thế giới chẳng qua là vô số những vật thể cụ thề mà cái này tồn tại bên cạnh cái kia, không thấy mối liên hệ hữu cơ, tác động, chuyển hóa lẫn nhau

Hai là, họ đề cao vị trí và giá trị con người, song quan niệm về con người của

họ là siêu hình Vd: Hốpxơ: coi trái tim của con người như chiếc lò xo, dây thần kinh như sợi chỉ, các khớp xương như những bánh xe…

- Thế giới quan duy vật biện chứng:

Đây là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật, do Mác và Ăngghen sáng lập từ những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó được Lênin kế thừa và phát triển

Là kết quả của sự kế thừa tinh hoa các học thuyết triết học trước đó và sử dụng triệt để những thành tựu khoa học tự nhiên đương thời Đã khắc phục được hạn chế của CNDV cổ đại và CNDV siêu hình thời cận đại

1.2 Bản chất của chủ nghĩa duy vật Mácxít

1.2.1 Nội dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng

a Quan điểm duy vật về thế giới:

Bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất và và vật chất là thực tại khách quan, tồn tại độc lập với ý thức, quyết định ý thức và được ý thức phản ánh

- Luận điểm của Ăngghen về tính thống nhất vật chất của thế giới: “Tính thống nhất của thế giới không phải ở sự tồn tại của nó, mặc dù tồn tại là tiền đề của sự thống nhất của nó, vì trước khi thể giới có thể là một thể thống nhất thì trước hết thế giới phải tồn tại đã”

“Tính thống nhất thật sự của thế giới là ở tính vật chất của nó” (Mác- Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG HN 1994, tr 20; tr.67)

- Triết học Mác – Lênin cho rằng: Bản chất của thế giới là vật chất Thế giới thống nhất ở tính vật chất ấy Điều này được thể hiện:

Trang 9

9

Một là: Chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất Thế giới

vật chất tồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thức con người

Hai là: Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận, không được sinh ra

và không bị mất đi

Ba là: Mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ khách quan, thống

nhất với nhau, biểu hiện ở chổ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, hoặc có nguồn gốc vật chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan phổ biến của thế giới Trong thế giới không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang biến đổi và chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau

Bốn là: ý thức là đặc tính của bộ não người, là kết quả phản ánh hiện thực

khách quan của bộ não người

Nội dung trên không phải là sự khái quát tùy tiện chủ quan mà là sự tổng kết được rút ra từ những thành tựu của khoa học tự nhiên (thuyết tế bào, thuyết tiến hóa, định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng)

Tóm lại, luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tính thống nhất vật chất của thế giới không chỉ định hướng cho con người giải thích về tính đa dạng của thế giới

mà còn định hướng cho con người tiếp tục nhận thức về tính đa dạng ấy để thực hiện quá trình cải tạo hợp quy luật

b Quan điểm duy vật về xã hội

- Thứ nhất: Xã hội là một bộ phận đặc thù của giới tự nhiên

Vận dụng quan điểm duy vật vào nghiên cứu xã hội, dựa trên bằng chứng của khoa học, nghĩa duy vật biện chứng khẳng định xã hội là một bộ phận đặc thù của tự nhiên Chính sự phát triển dưới hình thức tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên đã dẫn đến

sự ra đời của con người và xã hội loài người Xã hội là một bộ phận đặc thù và là sản phẩm phát triển cao nhất của giới tự nhiên

Tính đặc thù thể hiện ở hai nội dung: sự tồn tại, vận động, phát triển của xã hội

có hệ thống quy luật riêng Sự vận động, phát triển của xã hội bao giờ cũng phải thông qua hoạt động của ý thức con người, đang theo đuổi những mục đích nhất định

-Thứ hai, Sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tình thần nói chung, tồn tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội

Sản xuất là một loại hình hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài

người, bao gồm: Sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại trong đó sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội

Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động

vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của giới tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người và xã hội

Do đó, sản xuất vật chất là một loại hoạt động thực tiễn có mục đích mang tính khách quan, tính xã hội, tính lịch sử và tính sáng tạo

Trang 10

10

+ Phương thức sản xuất là cách thức mà con người sử dụng để tiến hành quá

trình sản xuất vật chất của xã hội ở những giai đoạn lịch sử nhất định

Mỗi xã hội ở một giai đoạn phát triển nhất định đều có thể có sự đan xen của một số phương thức sản xuất nào đó, nhưng thường được đặc trưng bằng một phương thức sản xuất quyết định

Phương thức sản xuất là cái mà nhờ nó người ta có thể phân biệt được sự khác nhau của những thời đại kinh tế khác nhau Sự thay thế kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất trong lịch sử quyết định sự phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao

+ Mỗi phương thức sản xuất đều có hai phương diện cơ bản là kỹ thuật và kinh tế

Phương diện kỹ thuật chỉ quá trình sản xuất được tiến hành bằng cách thức kỹ thuật, công nghệ nào để làm biến đổi các đối tượng của quá trình sản xuất Phương diện kinh tế chỉ quá trình sản xuất được tiến hành với những cách thức tổ chức kinh tế nào

Ví dụ: Trong xã hội nông nghiệp truyền thống, phương thức kỹ thuật chủ yếu là các công cụ kỹ thuật thủ công, quy mô nhỏ và khép kín về phương diện kinh tế Ngược lại, trong các xã hội hiện đại phương diện kỹ thuật công nghiệp và tổ chức kinh tế thị trường với quy mô ngày càng mở rộng

-Thứ ba, sự phát triển các hình thái ý thức xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên:

Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy

Khi phân tích sự phát triển của lịch sử nhân loại theo lý luận cấu trúc hình thái kinh tế – xã hội, Mác đã cho rằng: “Sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội

là một quá trình lịch sử - tự nhiên” Tính lịch sử - tự nhiên đó được thể hiện:

- Một là: sự vận động và phát triển của xã hội không tuân theo ý chí chủ quan

của con người mà tuân theo các quy luật khách quan, mà trước hết và cơ bản nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; quy luật kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng

- Hai là, nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển của xã hội, của lịch sử

nhân loại, của mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, của xã hội, suy đến cùng đều

có nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp từ sự phát triển của lực lượng sản xuất của xã hội đó

- Ba là, quá trình phát triển, hay là quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thái

kinh tế – xã hội khác nhau trong lịch sử nhân loại, và cũng chính là sự phát triển của lịch sử xã hội loài người, có thể do sự tác động của nhiều nhân tố chủ quan, nhưng nhân tố giữ vai trò quyết định chính là sự tác động của các quy luật khách quan, đó chính là quá trình thay thế tuần tự của các hình thái kinh tế – xã hội: nguyên thủy, nô

lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa (cộng sản chủ nghĩa)

Sự tác động của các quy luật khách quan làm cho các hình thái kinh tế - xã hội phát triển thay thế nhau từ thấp đến cao - đó là con đường phát triển chung của nhân loại

Trang 11

11

Song, con đường phát triển của mỗi dân tộc không chỉ bị chi phối bởi các quy luật chung,

mà còn bị tác động bởi các điều kiện về tự nhiên, chính trị, truyền thống văn hóa, Cho nên lịch sử phát triển của nhân loại hết sức phong phú và đa dạng Có những dân tộc lần lượt trải qua các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao; nhưng cũng có những dân tộc

bỏ qua một hay một số hình thái kinh tế - xã hội nào đó Tuy nhiên, việc bỏ qua đó cũng diễn ra theo một quá trình lịch sử - tự nhiên chứ không phải theo ý muốn chủ quan

Như vậy, lịch sử nhân loại nói chung, lịch sử phát triển của mỗi cộng đồng người nói riêng vừa tuân theo tính tất yếu của quy luật xã hội, vừa chịu sự tác động đa dạng của các nhân tố khác nhau, trong đó có cả nhân tố hoạt động chủ quan của con người Lịch

sử phát triển của nhân loại là lịch sử thống nhất trong tính đa dạng và đa dạng trong tính thống nhất của nó

Thứ tư, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử

Con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử nhưng không phải là theo phương thức, hành vi đơn lẻ, rời rạc, cô độc của mỗi con người mà là theo phương thức liên kết những con người thành sức mạnh cộng đồng xã hội có tổ chức, có lãnh đạo của những

cá nhân hay tổ chức chính trị, xã hội nhất định nhằm giải quyết các nhiệm vụ lịch sử trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa của xã hội – cộng đồng đó chính là quần chúng nhân dân

Quần chúng nhân dân không phải là một cộng đồng bất biến mà trái lại, nó thay đổi cùng với sự biến đổi của những nhiệm vụ lịch sử ở mỗi thời đại, mỗi giai đoạn phát triển nhất định

- Những lực lượng cơ bản tạo thành cộng đồng quần chúng nhân dân:

+ Những người lao động sản xuất ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần - đó

là hạt nhân cơ bản trong cộng đồng quần chúng nhân dân

+ Những bộ phận dân cư chống lại giai cấp thống trị áp bức, bóc lột, đối kháng với quần chúng nhân dân

+ Những giai cấp, tầng lớp xã hội thúc đẩy sự tiến bộ xã hội thông qua hoạt động của mình, trực tiếp hoặc gián tiếp trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

- Theo quan điểm duy vật lịch sử, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo

chân chính ra lịch sử, là lực lượng quyết định sự phát triển của lịch sử Do đó, lịch sử trước hết và căn bản là lịch sử hoạt động của quần chúng nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội Cụ thể:

+ Thứ nhất: quần chúng nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản của mọi xã hội,

trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của con người, của xã hội - đây là nhu cầu quan trọng bậc nhất của mọi xã hội ở mọi thời đại, mọi giai đoạn lịch sử

+ Thứ hai, quần chúng nhân dân đồng thời cũng là lực lượng trực tiếp hay gián

tiếp sáng tạo ra các giá trị tinh thần của xã hội; là lực lượng trực tiếp hay gián tiếp

“kiểm chứng” các giá trị tinh thần đã được các thế hệ và các cá nhân sáng tạo ra trong lịch sử

+ Thứ ba, quần chúng nhân dân là lực lượng và động lực cơ bản của mọi cuộc

cách mạng và các cuộc cải cách trong lịch sử

Trang 12

12

Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng không có một cuộc cách mạng hay cuộc cải cách xã hội nào có thể thành công nếu nó không xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân

* Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân, như Nguyễn Trãi đã nói: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân, thuận lòng dân thì sống, nghịch lòng dân thì chết”

Đảng Cộng sản Việt Nam cũng khẳng định rằng: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân Và quan điểm “Lấy dân làm gốc” trở thành tư tưởng thường trực nói lên vai trò sáng tạo ra lịch sử của quần chúng nhân dân Việt Nam

- Vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân không bao giờ có thể tách

rời vai trò cụ thể của mỗi cá nhân mà đặc biệt là vai trò của các cá nhân ở vị trí thủ lĩnh, lãnh tụ hay ở tầm vĩ nhân của cộng đồng nhân dân

+ Khái niệm cá nhân, vĩ nhân, lãnh tụ:

• Cá nhân dùng để chỉ một con người cụ thể sống trong một cộng đồng xã hội nhất định và được phân biệt với những con người khác thông qua tính đơn nhất và tính phổ biến của nó

• Vĩ nhân là những cá nhân kiệt xuất trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, khoa học, nghệ thuật,

• Lãnh tụ chỉ những cá nhân kiệt xuất do phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân tạo nên, gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân

+ Để trở thành lãnh tụ của quần chúng nhân dân, được quần chúng nhân dân tín nhiệm, lãnh tụ phải là người có những phẩm chất cơ bản sau:

• Có tri thức khoa học uyên bác, nắm bắt được xu thế vận động, phát triển của lịch sử

• Có năng lực tập hợp quần chúng nhân dân, thống nhất ý chí và hành động của quần chúng nhân dân vào việc giải quyết những nhiệm vụ lịch sử, thúc đẩy sự tiến bộ

- Việc lý giải một cách khoa học về vai trò quyết định lịch sử của quần chúng nhân dân đã xóa bỏ được sai lầm của chủ nghĩa duy tâm đã từng thống trị lâu dài trong lịch sử nhận thức về động lực và lực lượng sáng tạo ra lịch sử xã hội loài người Đồng thời, đem lại một phương pháp luận khoa học trong việc nghiên cứu và nhận định lịch sử, cũng như việc nghiên cứu và đánh giá vai trò của mỗi cá nhân, thủ lĩnh,

vĩ nhân, lãnh tụ trong cộng đồng xã hội

- Lý luận về vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân đã cung cấp một phương pháp luận khoa học để các Đảng Cộng sản phân tích các lực lượng xã hội, tổ chức xây dựng lực lượng quần chúng nhân dân trong công cuộc cách mạng XHCN

Đó là, sự liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức đặt

Trang 13

13

dưới sự lãnh đạo của ĐCS, trên cơ sở đó tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp nhằm tạo ra động lực to lớn trong sự nghiệp cách mạng XHCN đi tới thắng lợi cuối cùng

1.2.2 Bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng

a Giải quyết đúng đắn các vấn đề cơ bản của triết học trên quan điểm thực tiễn

Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Xoay quanh vấn đề cơ bản của triết học đã có nhiều cách giải quyết khác nhau thậm chí đối lập nhau Cụ thể:

Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức là nguồn gốc của vật chất, quyết định vật chất

Chủ nghĩa duy vật trước Mác: khẳng định bản chất của thế giới là vật chất Đã

có ý nghiã to lớn trong phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm và đặt nền móng cho chủ nghĩa duy vật sau này Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật trước Mác đã mắc sai lầm khi giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là: không thấy được sự tác động trở lai của ý thức đối với vật chất dẫn dến duy tâm về xã hội và con người Nguyên nhân của hạn chế trên là thiếu điểim thực tiễnn

Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận nhận thức,

do đó có cơ sở giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội

Chủ nghĩa duy vật biện chứng xem thực tiễn là khâu trung gian giữa vật chất và

ý thức khi giải quyết vấn đề cơ bản của triết học Thực tiễn là nơi con người vật chất hóa ý thức tư tưởng, biến ý thức tư tưởng thành hiện thực

b Sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng

Trước chủ nghĩa Mác, thế giới quan duy vật và phép biện chứng tách rời nhau

Cụ thể: thế giới quan duy vật mặc dù có chứa đựng một số yếu tố biện chứng nhất định song tính chất siêu hình là đặc trưng cơ bản Còn phép biện chứng lại đạt đến đỉnh cao trong triết học duy tâm của Hêghen

Chủ nghĩa duy vật biện chứng: đã khắc phục những hạn chế nêu trên đồng thời thống nhất giữa thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật Xét về ý nghĩa cơ bản, thuật ngữ chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật là bình đẳng, đồng nhất Sự thống nhất thể hiện ở chỗ chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng còn phép biện chứng là phép biện chứng duy vật Bởi vì chủ nghĩa duy vật triệt để, bản thân nó phải mang tính chất biện chứng và ngược lại, phép biện chứng triệt để phải là phép biện chứng duy vật

c Quan điểm duy vật triệt để

Chủ nghĩa duy vật trước Mác là chủ nghĩa duy vật không triệt để, là chủ nghĩa duy vật về tự nhiên nhưng duy tâm về xã hội Quan điểm duy tâm về xã hội của chủ nghĩa duy vật trước Mác có nhiều nguyên nhân, trong đó có ba nguyên nhân chủ yếu là: không hiểu đúng về vật chất, nhất là vật chất trong xã hội; chưa lý giải đúng nguồn gốc, bản chất của ý thức; thiếu quan điểm thực tiễn và quan điểm biện chứng Do đó

Trang 14

sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên

Với những quan điểm duy vật đó về xã hội, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khắc phục tính không triệt để của chủ nghĩa duy vật trước Mác Lênin đánh giá: trong khi nghiên cứu sâu và phát triển chủ nghĩa duy vật triết học, Mác đã đưa học thuyết

đó tới chỗ hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài người Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học

Sự ra đời chủ nghĩa duy vật lịch sử là một cuộc cách mạng đối với quan niệm

về xã hội, nó đã đem lại cho con người công cụ vĩ đại để nhận thức và cải tạo thế giới

d Tính thực tiễn các mạng

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng là vũ khí lý luận của giai cấp vô sản

Mác và Awngghen đã phát triển các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đứng trên lập trường vô sản, xuất phát từ thực tiễn phong trào công nhân, dựa vào việc nghiên cứu quá trình lịch sử xã hội, khái quát kinh nghiệm đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản Bản thân hai ông vừa là nhà cách mạng vừa là nhà khoa học sáng tạo lý luận Đối với các ông, nghiên cứu lý luận không phải là mục đích tự thân mà là nhằm giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn của phong trào công nhân Do đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã được phong trào công nhân tiếp nhận

và trở thành vũ khí lý luận trong cuộc đấu tranh giải phóng mình và giải phóng toàn thể nhân loại Vũ khí lý luận này đã góp phần tạo nên bước chuyển về chất của phong trào công nhân từ tự phát lên tự giác

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ đóng vai trò giải thích thế giới mà còn đóng vai trò cải tạo thế giới

Cũng như mọi triết học đều có chức năng giải thích thế giới, chủ nghĩa duy vật biện chứng là một hệ thống lý luận khoa học phản ánh đúng bản chất của các quá trình tự nhiên, xã hội, vì thế: triết học Mác là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị,

nó cung cấp cho loài người và nhất là giai cấp công nhân công cụ nhận thức vĩ đại

Song để có vai trò cải tạo thế giới thì lý luận khoa học phải đi vào cuộc sống được quần chúng nhân dân tiếp nhận và hành động theo Chủ nghĩa duy vật biện chứng đi vào phong trào công nhân, thể hiện sức mạnh cải tạo thế giơi thông qua thực tiễn cách mạng, từng bước xóa bỏ các chế độ áp bức, bóc lột, đưa loài người tiến tới

xã hội mới tốt đẹp hơn

- Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định sự tất thắng của cái mới

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng quan niệm về tính hợp lý của cái đang tồn tại đã ao hàm cả sự phủ định, sự diệt vong tất yếu của hiện tồn đó Ăngghen cho rằng: đối với triết học duy vật biện chứng đó thì không có gì là tối hậu, là tuyệt đối, là

Trang 15

15

thiêng liêng cả Nó chỉ ra trên mọi sự vật và trong mọi sự vật dấu ấn của sự suy tàn tất yếu, và đối với nó không có gì tồn tại ngoài quá trình không ngừng của sự sinh thành

và sự tiêu vong, của sự tiến triển không ngừng từ thấp đến cao

Như vậy, quá trình xóa bỏ cái cũ, cái lạc hậu để xác lập cái mới, cái tiến bộ hơn

là một tất yếu Đó chính là sự thực chất tư ưởng về sự phát triển của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Tóm lại, nội dung, bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng thể hiện sâu sắc,

phong phú qua từng luận điểm của nó, có thể khái quát thành tư tưởng cơ bản: chỉ có

một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất; trong thế giới vật chất, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức song ý thức có tính độc lập tương đối tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người

1.3 Những nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật Mácxít và việc vận dụng vào cách mạng Việt Nam hiện nay (SV tự học)

b.Khi có đường lối, chủ trương chính sách đúng phải tổ chức được lực lượng vật chất để thực hiện có hiệu quả

Tư tưởng tự bản thân nó không thể trở thành hiện thực mà phải thông qua hoạt động thực tiễn của con người Khi lịch sử đặt ra cho con người những nhiệm vụ phải giải quyết thì đồng thời cũng sản sinh ra những điều kiện vật chất để giải quyết những nhiệm vụ lịch sử đó Cho nên, để hiện thực hóa đường lối, chủ trương, chính sách, con người phải tìm tòi, huy động, tổ chức được những yếu tố vật chất thành lực lượng vật chất có đủ sức mạnh để thực hiện

1.3.2 Phát huy tính năng động chủ quan

- Coi trọng đề cao tri thức khoa học

- Tích cực truyền bá tri thức khoa học vào quân chúng

- Thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội

Trang 16

16

CHUYÊN ĐỀ 2 PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT-PHƯƠNG PHÁP LUẬN CHUNG

NHẤT CỦA NHẬN THỨC KHOA HỌC

VÀ THỰC TIỂN CÁCH MẠNG

2.1.Phương pháp và phương pháp luận

2.1.1 Phương pháp

Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là Methodos, theo nghĩa thông thường dùng để chỉ những cách thức, thủ đoạn nhất định, được chủ thể hành động sử dụng để thực hiện mục đích đã vạch ra Còn theo nghĩa chặt chẽ và khoa học, phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khác quan để điều chỉnh hoạt động nhân thức và thực tiễn nhằm thực hiện mục đích nhất định

Phương pháp là phạm trù gắn liền với hoạt động có ý thức của con người, phản ánh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Do đó phương pháp là một trong những yếu tố quyết định thành công hay thất bại trong hoạt động nhận thức và cai tạo hiện thực Trên cơ sở những điều kiện khách quan

đã có, phương pháp càng đúng đắn thì kết quả nhận được càng cao và ngược lại Ph.Bêcơn, nhà triết học nổi tiếng người Anh, thế kỉ XVII đã ví phương pháp như một chiếc đèn soi đường cho khách lữ hành trong đêm tối Nói về vai trò của phương pháp cách mạng, đồng chí Lê Duẩn viết: “phong trào cách mạng có khi dậm chân tại chỗ, thậm chí thất bại nữa, mà chủ yếu vì thiếu một phương pháp cách mạng thích hợp”

Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm quan niệm hoàn toàn khác nhau và nguồn góc bản chất của phương pháp Chủ nghĩa duy tâm coi phương pháp là những nguyên tắc do lý trí con người tự đặt ra để tiện cho nhận thức và hành động

Những người duy tâm xem phương pháp như một phạm trù thuần tuý chủ quan Trái lại, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng, phương pháp hình thành không phải một cách tuỳ tiện Phương pháp không phải là những nguyên tắc có sẵn bất biến Nó phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu và mục đích đặt ra, chủ thể phải nghiên cứu đối tượng và mục đích cần đạt tới một cách khách quan Nghĩa là vạch rõ những tính chất, chỉ tiêu về số lượng và chất lượng… từ đó, nhận thức rõ những quy luật của nó, chỉ trên cơ sở đó, và sau đó, chủ thể mới xác định được phải nghiên cứu và hành động như thế nào, và cần phải sử dụng phương tiện, công cụ và biện pháp gì cho thích hợp, cũng như cần phải kết hợp các yếu tố theo trình tự như thế nào cho hợp lí Nghĩa là khi xác định phương pháp chỉ theo một logic nhất định, tuỳ thuộc vào logic của đối tượng Như vậy phương pháp bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh những quy luật khách quan của đối tượng nghiên cứu Sức mạnh của phương pháp là trong khi phản ánh đúng đắn những quy luật khách quan, nó đem lại chho khoa học và thực tiễn một công

Trang 17

17

cụ có hiệu quả để nghiên cứu thế giới và cải tạo thế giới Phương pháp có nhiều loại và nhiều cấp độ khác nhau:

- Phương pháp riêng, phương pháp đặc thù và phương pháp chung

- Phương pháp nhận thức và phương pháp thực tiễn

Việc phân biệt các loại phương pháp như trên chỉ có ý nghĩa tương đối tuỳ theo góc độ và tiêu chuẩn phân loại Tính tương đối giữa các loại phương pháp phản ánh tình hình thực tế là hoạt động nhận thức và thực tiễn, các loại phương pháp có thể được phối hợp, đan xen và bổ sung cho nhau Cùng một đối tượng hay công việc có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau, nhưng cuối cùng chủ thể phải chọn một phương pháp tối ưu, mang lại hiệu quả cao nhất Lựa chọn những phương pháp “giản tiện” để giải quyết các công việc phức tạp nhằn rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí, đưa lại hiệu quả cao dựa trên sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đang là xu hướng được chú ý hiện nay Chẳng hạn, với sự phát triển của công nghệ vi xử lý, máy tính điện tử, phương tiện thông tin hiện đại …, hiện nay người kỹ sư chỉ cần thực hiện những phương pháp hết sức “giản đơn” là bấm nút điều chỉnh, nhìn màn ảnh vô tuyến, nghe điện thoại mà vẫn có thể điều hành được một công đoạn hay toàn bộ quá trình sản xuất

2.1.2 Phương pháp luận

Trong thực tiễn, con người có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để giải quyết công việc đã định Quá trình lựa chọn phương pháp có thể đúng hoặc sai Vậy làm thế nào để xác định được phương pháp đúng đắn, khoa học? Từ đó, xuất hiện nhu cầu tri thức khoa học về phương pháp và đó cũng là lí do để khoa học về phương pháp ra đời Đó chính là phương pháp luận

Vậy, phương pháp luận là lí luận về phương pháp, là khoa học về phương pháp Phương pháp luận giải quyết những vấn đề như: phương pháp là gì? Bản chất, nội dung, hình thức của phương pháp như thế nào? Phân loại phương pháp

ra sao? Vai trò của phương pháp trong hoạt động nhận thưc và hoạt động thực tiễn của con người như thế nào? do đó, có thể nói cách khác, cụ thể hơn, phương pháp luận là hệ thống những quan điểm những nguyên tắc xuất phát chỉ đạochủ thể trong việc xác định phương pháp cũng như trong việc xác định phạm

vi, khả năng áp dụng chúng một cách hợp lí, có hiệu quả tối đa

Chẳng hạn, phương pháp luận toán học có nhiệm vụ nêu ra những quan điểm, nguyên tắc chung chỉ đạo quá trình xác định và áp dụng các phương pháp toán cụ thể như phương pháp tiên đề, phương pháp giả thiết – diễn dịch vv… hoặc, trong kinh tế, nhiệm vụ của phương pháp luận kinh tế là nghiên cứu các phương pháp

cụ thể như: phương pháp điều tra chọn mẫu, phương pháp phân tích các hoạt động kinh tế, phương pháp thống kê vv… Trên cơ sở đó rút ra những quan điểm, nguyên tắc chung chỉ đạo việc sử dụng các pương pháp kinh tế cụ thể như: quan điểm về hậu quan điểm về đồng bộ, quan điểm về phát triển và tiến bộ xã hội vv… Việc lựa chọn, áp dụng một phương pháp kinh tế cụ thể nào phải xuất phát

từ những quan điểm, nguyên tắc chung đó

Trang 18

18

Như vậy, phương pháp luận và phương pháp là khác nhau Phương pháp luận

là lí luận về phương pháp, là những quan điểm, nguyên tắc xuất phát chỉ đạo chủ thể xác định phương pháp một cách đúng đắn Còn phương pháp là cách thức thủ đoạn hoạt động (cả trong nhận thức và thực tiễn) cụ thể của chủ thể, cái thứ nhất

là thuần tuý lý luận, cái thứ hai là cả lý luận và thực tiễn Phương pháp luận nghiên cứu phương pháp, nhưng không nhằm mục đích xác định phương pháp cụ thể mà rút ra những quan điểm, nguyên tắc chung cho việc xác định và áp dụng phương pháp Vì vậy không nên nhầm lẫn giữa phương pháp luận và phương pháp Nhưng phương pháp và phương pháp luận lại thống nhất với nhau ở chỗ, phương pháp luận là cơ sở nghiên cứu các phương pháo cụ thể, còn phương pháp

cụ thể phải xuất phát từ quan điểm, nguyên tắc của phương pháp luận

Phương pháp luận cũng có các cấp độ khác nhau: phương pháp luận bộ môn, phương pháp luận chung và phương pháp luận chung nhất – phương pháp luận triết học

Phương pháp luận bộ môn là phương pháp luận của các bộ môn khoa học cụ thể như: phương pháp luận toán học, vật lý học, hoá học, sinh vật học, kinh tế học, công nghệ học vv… Đó là những quan điểm, nguyên tắc xuất phát để xác định các phương pháp cụ thể, nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể của các bộ môn khoa học đó

Phương pháp luận khoa học chung là những quan điểm, nguyên tắc chung hơn chỉ đạo việc xác định phương pháp bộ môn hay phương pháp luận của một nhóm các ngành của các bộ môn khoa học có những điểm chung nào đó Ví dụ, phương pháp luận chung của các ngành khoa học tự nhiên hoặc phương pháp luận chung của các ngành khoa học xã hội Phương pháp luận bộ môn nào đó cũng có thể được coi là phương pháp luận khoa học chung nếu bộ môn đó được phát triển và chia thành những môn học độc lập Ví dụ, phương pháp luận toán học trở thành phương pháp luận khoa học chung cho các bộ môn toán học như:

số học, hình học, đại số vv… Hay phương pháp luận sinh vật học trở thành phương pháp luận chung cho các bộ môn sinh học cụ thể khác nhau như tế bào học, vi sinh học vv… phương pháp luận chung nhất là phương pháp luận triết học Nó khái quát những quan điểm, nguyên tắc chung nhất làm xuất phát điểm cho việc xác định các phương pháp luận khoa học chung, phương pháp luận bộ môn và các phương pháp hoạt động cụ thể của nhận thức và thực tiễn

Các phương pháp luận bộ môn, phương pháp luận khoa học chung và phương pháp luận khoa học chung nhất hợp thành một hệ thống khoa học về phương pháp chỉ đạo chủ thể nhằm xác định các phương pháp cụ thể một cách đúng đắn Các loại phương pháp này vừa đọc lập tương đối với nhau, vừa bổ sung cho nhau, thâm nhập vào nhau mặc dù không thể thay thế cho nhau Do đó đòi hỏi

chúng ta phải biết vận dụng tổng hợp các loại phương pháp luận, trong đó phép

biện chứng duy vật là phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng

Trang 19

và được hoàn thiện dần với thắng lợi của tư duy biện chứng duy vật

Tư duy siêu hình chỉ có ý nghĩa trong những giới hạn hết sức chật hẹp, nếu vượt ra ngoài giới hạn đó tư duy siêu hình sẽ mắc sai lầm Ph.Ăngghen nhận xét:

“phương pháp tư duy ấy … nếu cứ quanh quẩn trong cái lĩnh vực tầm thường giữa bốn bức tường của nó thì là một ông bạn rất đáng kính; song nếu nó liều lĩnh xông vào thế giới bao la của sự nghiên cứu… thì sớm hay muộn thế nào nó cũng vấp phải một hàng rào mà vượt ra ngoài hàng rào đó thì nó sẽ trở thành phiến diện, chật hẹp trừu tượng và sa vào những mâu thuẩn không thể nào giải quyết được…”

Hạn chế của phương pháp siêu hình còn thể hiện: “chỉ thấy những vật chất cá biệt mà không thấy mối liên hệ giữa những sự vật ấy; chỉ thấy sự tồn tại của sự vật mà không thấy sự ra đời và sự biến đi của sự vật; chỉ thấy trạng thái tĩnh mà không thấy trạng thái động của sự vật; chỉ thấy cây mà không thấy rừng”

Ngược lại, quan niệm biện chứng không chỉ thấy những sự vật cá biệt mà còn thấy cả mối liên hệ qua lại giữ chúng; không chỉ thấy sự tồn tại mà còn thấy cả

sự hình thành và tiêu vong của sự vật; không chỉ thấy trạng thái tĩnh mang còn thấy cả trạng thái động, biến đổi của sự vật; không chỉ thấy cây mà còn thấy cả rừng

Ph.Ăngghen nhận xét rằng, tư duy của nhà siêu hình chỉ dựa trên những phản ánh tuyệt đối không thể dung hoà được, họ nói có là có, không là không Đối với

họ, một sụ vật hoặc tồn tại hoặc không tồn tại, một hiện tượng không thể vừa là chính nó vừa là cái khác nó, cái khẳng định và cái phủ định tuyệt đối bài trừ lẩn nhau vv… Ngược lại tư duy biện chứng là tư duy mềm dẻo, linh hoạt Tư duy biện chứng thừa nhận trong những trường hợp cần thiết , bên cạnh cái “ hoặc là… hoặc là…” còn có cái “ vừa là… vừa là…” nữa Chẳng hạn, một vật hữu hình trong một lúc vừa là nó lại vừa không phải nó, một cái tên đang bay trong mỗi lúc vừa ở vị trí A lại vừa không phải ở vị trí A, cái khẳng định và cái phủ định loại trừ nhau lại vừa không thể lìa nhau vv…

Tóm lại, quan điểm siêu hình là quan điểm luôn luôn xem xét mọi sự vật trong trạng thái biệt lập, ngưng đọng, tĩnh lại với tư duy cứng nhắc; trong khi đó quan điểm biện chứng là quan điểm luôn luôn xem xét sự vật trong mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau và trong trạng thái vận động, biến đổi, phát triển không ngừng với tư duy mềm dẻo linh hoạt

Trang 20

20

Trong lịch sử triết học, thuật ngữ “siêu hình” có nguồn gốc từ chữ

“metaphysique” được nhà bác học Arixtot dùng để chỉ những hoạt động nghiên cứu khoa học sau vật lý học của mình Từ nữa cuối thế kỉ XV, thực nghiệm khoa học mới bắt đầu phát triển Đây là thời kì khoa học tự nhiên đi sâu vào phân tích, chia nhỏ giới tự nhiên thành những bộ phận riêng biệt, cố định để nghiên cứu Điều đó đã đưa đến những thành tựu trong phát triển khoa học Những phương pháp nghiên cứu đó cũng tạo ra một thói quen xem xét sự vật trong trạng thái cô lập, tách rời, bất biến, tức là phương pháp siêu hình Từ khi Bêcơn và Lốccơ đưa cách xem xét đó từ khoa học tự nhiên sang triết học thì nó làm cho phương pháp siêu hình thành phương pháp thống trị Nhưng cuối thế kỉ XVIII, sang thế kỉ XIX, khi công việc nghiên cứu tiến từ giai đoạn sưu tập sang giai đoạn chỉnh lý, sang giai đoạn nghiên cứu về các quá trình, về sự phát sinh, phát triển của sự vật, thì phương pháp siêu hình không còn đáp ứng được yêu cầu của nhận thức khoa học nữa Cuộc khủng hoảng vật lý học cuối thế kỉ XIX, do quan niệm siêu hình chi phối là một ví dụ điển hình Những kết quả nghiên cứu mới, nhất là trong vật

lý học và sinh vật học… đã đòi hỏi phải có một cách nhìn biện chứng về thế giới Củng như thuật ngữ “siêu hình” thuật ngữ “ biện chứng” đã được hình thành

ở thời kì Hy Lạp cổ đại gắn liền với phép biện chứng duy tâm của Xocrat và Platon

Khi đó phép biện chứng được hiểu là nghệ thuật tranh luận nhằm tìm ra chân

lý bằng cách phát hiện các mâu thuẩn trong các lập luận của đối phương và tìm cách giải quyết mâu thuẩn ấy Nhưng trước Xocrat đã có phép biện chứng tự phát gắn liền với tên tuổi của Heraclit… phép biện chứng tự phát cổ đại đã phải lùi bước trước phép biện chứng duy tâm của Xocrat và Platon bởi vì, về cơ bản tuy phép biện chứng ấy là đúng, nhưng chỉ là kết quả của những trực biến chứ chưa phải là kết quả của sự nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh Đến lượt mình phép biện chứng của Xocrat và Platon lại bị phép siêu hình 9 thế kỉ XVII – XVIII) phủ định Sau đó, phép biện chứng duy tâm cận đại Đức lại phủ định phép siêu hình,

do đòi hỏi một sự phát triển của khoa học phải có một cách nhìn biện chứng về thế giới Phép biện chứng do nền triết học cận đại Đức phát triển bắt đầu từ Cantơ và hoàn chỉnh ở Heghen Tính chất duy tâm của phép biện chứng ấy (mà triết học Heghen được coi là hệ thống hoàn chỉnh) thể hiện: coi biện chứng là sự phát triển của “ ý niệm tuyệt đối” Trong quá trình ấy, “ý niệm tuyệt đối” “tự tha hoá”, tức là chuyển hoá thành giới tự nhiên và sau đó lại trở về với bản thân mình trong tinh thần Vì vậy, ở Heghen sự phát triển biện chứng của thế giới chỉ

là thể hiện sự tự vận động của “ý niệm tuyệt đối” mà thôi

Chính tính chất duy tâm trong phép biện chứng của Heghen là cái phải gạt

bỏ, Mác và Angghen đã cải tạo nó bằng cách chứng minh rằng, những ý niệm trong đầu óc của chúng ta chẳng qua chỉ là sự phản ánh của các sự vật hiện thực,

do đó bản thân biện chứng của ý niệm cung chỉ là sự phản ánh biện chứng của thế giới hiện thực Làm như vậy, Mác và Ăngghen đã đặt phép biện chứng của Heghen từ chỗ trước kia đứng bằng đầu nay đứng bằng chân, cải tạo phép biện

Trang 21

Phép biện chứng duy vật không chỉ khái quát những thành tựu của tất cả các khoa học cụ thể, mà còn kết tinh những tinh hoa trong quá trình phát triển tư tưởng của nhân loại Phép biện chứng duy vật trình bày một cách có hệ thống, chặt chẽ tính chất biện chứng của thế giới thông qua những phạm trù và những quy luật chung nhất của thế giới (tự nhiên, xã hội, tư duy) Phép biện chứng duy vật bao gồm hai nguyên lí cơ bản, những phạm trù và những quy luật cơ bản, vừa

là lí luận duy vật biện chứng, vừa là lí luận nhận thức khoa học vừa là logic học của chủ nghia Mác Ở đây có sự thống nhất giữ phép biện chứng duy vật, lý luận nhận thức và logic học Phép biện chứng duy vật trở thành phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng Trong khi vạch ra những tính chất biện chứng chung nhất của thế giới, thông qua những phạm trù, quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của cả tự nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng duy vật rút ra những quan điểm nguyên tắc xuất phát để chỉ đạo việc hoạch định phương pháp cho mọi hoạt động của con người Đi sâu vào từng nguyên lý, phạm trù và quy luật của phép biện chứng duy vật, chúng ta

sẽ thấy sự thống nhất chặt chẽ giũa lý luận và phương pháp của phép biện chứng duy vật

Nguyên lí về mối liên hệ của phép biện chứng duy vật khai quát bức tranh toàn cảnh chằng chịt những mối liên hệ của thế giới (tự nhiên, xã hội, tư duy) Tính chất vô hạn của thế giới, cũng như tính có hạn của sự vật, hiện tượng, quá trình chỉ có thể giải thichd được trong mối liên hệ phổ biến và được quyết định bởi rất nhiều loại mối liên hệ có vai trò và vị trí khác nhau Sự liên hệ phổ biến là đặc trưng phổ quát nhất của thế giới Vì vậy, quán triệt quan điểm toàn diện là nguyên tắc phương pháp luận chung nhất chỉ đạo mọi hoạt động và suy nghĩ của con người Nội dung chính của nguyên tắc đó là 1- phải xem xét toàn diện các mối liên hệ; 2 – trong tổng số các mối liên hệ phải rút ra được những mối liên hệ bản chất, chủ yếu để hiểu thấu bản chất của sự vật; 3 – từ bản chất của sự vật phải quay lại hiểu rõ sự vật trên cơ sở liên kết mối liên hệ bản chất, chủ yếu với tất cả các mối liên hệ khác của sự vật để đảm bảo tính đồng bộ khi giải quyết mọi vấn đề trong đời sống Quan điểm toàn diện đối lập với mọi suy nghĩ và hành động phiến diện, chiết trung, siêu hình

Nguyên lí về sự phát triển của phép biện chứng duy vật phản ánh đặc trưng biện chứng phổ quát nhất của thế giới Mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động, biến đổi không ngừng về phương diện bản chất của mọi sự vận động, biến đổi

Trang 22

22

của thế giới có xu hướng phát triển Vì vậy, quát triệt quan điểm phát triển là

nguyên tắc chung nhất chỉ đạo mọi hành động suy nghĩ của con người Yêu cầu của nguyên tắc này đòi hỏi phải xem xét sự vật trong sự vận động, biến đỏi và phát triển của nó, phải tư duy năng động, linh hoạt, mềm dẻo, phải nhận thức được cái mới và ủng hộ cái mới

Lý luận về các cặp phạm trù và quy luật của phép biện chứng duy vật như là

sự cụ thể hoá thêm nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển Ở đây, cần phan biệt nguyên lí với các cặp phạm trù và quy luật của phép biện chứng duy vật Có như vậy mới thấy rõ ý nghĩa của các cặp phạm trù và các quy luật Nguyên lý của phép biện chứng duy vật là quan niệm bao quát những tính chất biện chứng chung nhất của thế giới Còn các cặp phạm trù và quy luật là lý luận nghiên cứu các mối liên hệ và khuynh hướng phát triển trong thế giới của các sự vật, hiện tượng, quá trình cụ thể Chính vì thế các cặp phạm trù và các quy luật của phép biện chứng duy vật cho ta phương pháp luận thực hiện quan điểm toàn diện và quan điểm phát triển gắn liền với quan điểm lịch sử cụ thể trong việc nhận thức và hoạt động thực tiễn

Nếu các cặp phạm trù cái chung và cái riêng, tất nhiên và ngẫu nhiên, bản chất và hiện tượng là cơ sở phương pháp luận trực tiếp của các phương pháp như: phân tích và tổng hợp; diễn dịch và quy nạp; khái quát hoá và trừu tượng hoá, để giúp chúng ta rút ra được mối liên hệ bản chất, từ đó hiểu được các mói liên hệ theo theo một hệ thống nhất định, thì các cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả, khả năng và hiện thực lại là cơ sở để chỉ rõ trình tự nối tiếp nhau của các mối liên

hệ và sự phát triển là một quá trình tự nhiên Song cặp phạm trù nội dung và hình thức lại là cơ sở phương pháp luận để xây dựng các hình thức tồn tại trong sự phụ thuộc vào nội dung, phản ánh tính đa dạng của các phương pháp nhận thức

và hoạt động thực tiễn Khả năng sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để đạt mục đích xuất phát từ quan niệm cho rằng: cùng một nội dung có thể dược thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, vấn đề là phải tuân theo mối liên hệ nội taị của các yếu tố cấu thành nội dung chứ không được tuỳ tiện…

Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương pháp luận chỉ đạo mọi hoạt động của con người để thực hiện quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử – cụ thể về phương diện vạch ra nguồn gốc, động lực, cách thức và xu hướng phát triển tiến lên của sự vật hiện tượng trong thế giới

Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (gọi tắt là qquy luật mâu thuẩn) là hạt nhân của phép biện chứng quy luật này vạch ra nguồn góc, động lực của sự phát triển; phản ánh quá trình đấu tranh giải phóng mâu thuẩn bên trong của sự vật Từ đó phải vận dụng nguyên tắc mâu thuẩn và yêu cầu cơ bản của nó là phải nhận thức đúng đắn mâu thuẩn của sự vật, trước hết là mâu thuẩn cơ bản và mâu thuẩn chủ yếu, phải phân tích mâu thuẩn và quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẩn Đấu tranh là phương thức giải quyết mâu thuẩn Lenin nói “ sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập” Tuy

Trang 23

23

nhiên, hình thức đấu tranh rất đa dạng, linh hoạt, tuỳ thuộc mâu thuẩn cụ thể và hoàn cảnh lịch sử – cụ thể Ở đây, quy luật mâu thuẩn là cơ sở phương pháp luận chỉ đạo mọi phương pháp đấu tranh cụ thể của con người với tự nhiên và xã hội,

là cơ sở của nghệ thuật vận dụng mâu thuẩn có lợi cho cách mạng, cho hoà bình

và tiến bộ xã hội

Quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng dẫn tới những biến đổi về chất và ngược lại (gọi tắt là quy luật lượng – chất) phản ánh cách thức, cơ chế của quá trình phát triển là đi từ những biến đổi nhỏ nhất, dần dần về lượng đến giới hạn của độ thì gây ra sự biến đổi cơ bản về chất, thông qua bước nhảy vọt và ngược lại Đó chính là cơ sở phương pháp luận chung nhất cho mọi cơ chế phát triển với ba yêu cầu cơ bản là:

- Thường xuyên và tăng cường tích luỹ về lượng để tạo điều kiện cho sự thay đổi về chất Chống chủ nghĩa chủ quan duy ý chí muốn đốt cháy giai đoạn

- Khi lượng tích luỹ đến giới hạn độ, phải mạnh dạn thực hiện bước nhảy vọt

Quan điểm lịch sử – cụ thể là kết quả trực tiếp của việc vận dụng các nguyên

lý, các cặp phạm trù và quy luật của phép biện chứng duy vật, là cơ sở phương pháp luận chung nhất vô cùng quan trọng cho mọi người trong hoạt đọng nhận thức và cải tạo hiện thực “Phân tích cụ thể mỗi tình hình cụ thể” là yêu cầu bắt buộc của nguyên tắc quan trọng này V.I Lênin coi nó là “ bản chất, linh hồn sống của chủ nghiac Mác” Chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo, xa rời yêu cầu này nhất định sẽ rơi vào vũng lầy của bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa

Tóm lại, mỗi nguyên lý, phạm trù, quy luật của phép biện chứng duy vật có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng Vì vậy, chúng ta phải được vận dụng tổng hợp trong nhận thức khoa học thực tiễn cách mạng

2.3.TÍNH CÁCH MẠNG CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA NÓ ĐỐI VỚI THỰC TIỄN

CÁCH MẠNG TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

Phép biện chứng duy vật mang tính khoa học và tinh cách mạng sâu sắc Tính khoa học và tính cách mạng của phép biện chứng duy vật thống nhất với nhau

Trang 24

Với bản chất cách mạng sâu sắc và triệt để, được thể hiện trong những cặp nguyên lí, các cặp phạm trù và những quy luật của mình, phép biện chứng duy vật đã vạch ra biện chứng của quá trình phát triển, với nội dung và hình thức hết sức phong phú Nó là cơ sở pháp luận, chỉ đạo chủ thể xác định phương pháp khoa học và đúng đắn Bất cứ hành động cách mạng nào, nếu xa rời quan điểm

và nguyên tắc của phép biện chứng duy vật, thì sớm muộn gì cũng phải trả giá cho điều đó Như vậy, đối với mọi người cách mạng, phép biện chứng duy vật trở thành công cụ quan trọng bậc nhất không thể thiếu được nhận thức và hành động

để cải tạo hoàn cảnh và cải tạo bản thân

Cách mạng là quá trình xoá bỏ cái củ, lỗi thời và xác định cái mới, tiến bộ hơn Với bản chất ấy, cách mạng không phải là quá trình dễ dàng, thẳng tắp, trơn tru, mà là một quá trình khó khăn, phức tạp, quanh co, thậm chí có sự thụt lùi tạm thời nhưng cuối cùng cái mới tiến bộ hơn là cái chiến thắng Quan điểm đó của phép biện chứng duy vật là cơ sở khoa học để xác định tinh thần lạc quan cách mạng, giữ vững niềm tin vào lý tưởng xã hội chủ nghĩa, mặc dù hiện nay chủ nghĩa xã hội thế giới đang lâm vào khủng hoảng và thoái trào

Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 đến nay, chưa bao giờ tình hình thế giới lại diễn biến phức tạp như ngày nay Trong bối cảnh ấy, sự nghiệp đổi mới trên đất nước ta lại gặp nhiều khó khăn và phức tạp Đó là một thử thách to lớn đối với đảng ta và dân tộc ta Chính sự nghiệp đổi mới ngày càng đặt ra nhiều vấn đề

lý luận và thực tiễn hết sức mới mẻ cần phải được giải quyết… nhưng chính tình hình càng phức tạp, lại càng đòi hỏi phải nắm vững các phép biện chứng duy vật, cần mài sắc tư duy biện chứng để nhận thức đúng những biến đổi sâu sắc tình hình thế giới, để đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp đổi mới đất nước

ta trong giai đoạn hiện nay

Lênin là người đã nêu tấm gương sáng về việc nắm vận dụng tài tình phép biện chứng duy vật trong việc nhận định khả năng và đề ra phương pháp tiến hành cách mạng vô sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, cũng như vận động

Trang 25

25

phép biện chứng duy vật để vạch ra “chính sách kinh tế mới” – cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện một nước kém phát triển Ngày nay, học tập Lênin, việc nắm vững phép biện chứng duy vật và mài sắc tư duy biện chứng,

sẽ giúp chúng ta nhận thức rõ tính chất biện chứng chung của thế giới cung như của công cuộc đổi mới đất nước Từ đó giúp chúng ta nhận thức rõ tính chất biện chứng chung của thế giới cung như của công cuộc đổi mới ở nước ta Từ đó giúp chúng ta xác định phương pháp nhận thức và hành động đúng dắn

Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại phát triển như vũ bão, bắt đầu

từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai Những thành tựu vĩ đại của chúng nhanh chóng được áp dụng vào đời sống xã hội, đem lại bước phát triển kì diệu của nhân loại, đưa loài người lên trình độ văn minh mới – văn minh trí tuệ Nếu văn minh mới là một bằng chứng sống chỉ rỏ sự phát triển biện chứng của xã hội vẫn

là một quá trình lịch sử tự nhiên hướng tới lý tưởng cao đẹp mà học thuyết Mác

và Lênin đã vạch ra Đó là lí tưởng xã hội chủ nghĩa, là lý tưởng giải phóng con người, thực hiện sự bình đẳng, công bằng để đem lại “sự phát triển tự do của con người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”

Tuy nhiên, những hình thức và con đường thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa, ngay cả khi chủ thể không măc sai lầm chủ quan, cũng không phải là những công thức có sẵn và càng không phải là bất biến Nghĩa là, chúng phải được vận dụng mọt cách linh hoạt, mềm dẻo và luôn luôn đổi mới, phù hợp với điều kiện quốc tế và diều kiện của mỗi nước Như vậy, để đi lên chủ nghĩa xã hội, các nước khác nhau có thể áp dụng những mô hình, phương pháp và biện pháp khác nhau Những thành tựu mới của cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật, những biến đổi mới trong hệ thống các nước tư bản chủ nghĩa và tình hình mới đang tạo những tiền đề cho quá trình lựa chọn đó

Trong khi thích nghi với điều kiện thời đại ngày nay để tiếp tục phát triển, để khắc phục những mâu thuẩn gay gắt trong hệ thống nói chung và trong từng bước nói riêng, để giải quyết những vấn đề toàn cầu đang ảnh hưởng đến sự sống còn của chủ nghĩa tư bản, các nước tư bản chủ nghĩa buộc phải đẩy nhanh tiến bộ khoa học kĩ thuật, vận dụng nhanh những tiến bộ ấy vào đời sống xã hội, trước hết vào lĩnh vực quân sự và kinh tế buộc phải thay đổi nhất định các hình thức sở hữu và thực hiện một số chính sách xã hội… vì thế chủ nghĩa tư bản đã tạm thời làm dịu đi những mâu thuẩn vốn có của nó Nhưng cũng qua đó chủ nghĩa tư bản

đã tạo ra một cách khách quan những tiền đề cho sự thực hành lý tưởng xã hội chủ nghĩa Những tiền đề ấy chính là: hình thành nền tảng công nghiệp mới (các công nghệ kĩ thuật cao), hệ thống điều tiết sản xuất và kinh doanh ở mức độ nhất định, trong phạm vi toàn xã hội: các cơ chế phân phối lại thu nhập quốc dân; hệ thống bảo hiểm và các quỹ phúc lợi xã hội; mở rộng sự tham gia của nhân dân lao động vào công việc quản lý vv… cũng vì thế chủ nghĩa tư bản hiện đại, tất nhiên vẫn là chủ nghĩa tư bản, nhưng nó đang chuẩn bị những điều kiện tự phủ định chính nó, những điều kiện cho sự chuyển biến lên mặt đối lập của nó là chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, như trên đã phân tích, điều đó không phụ thuộc vào ý

Trang 26

sự thống nhất biện chứng

Ngày nay, sự “đồng nhất” và “thống nhất” của các mặt đối lập ngày càng mở rộng Những giải pháp khoa học và kĩ thuật tiên tiến, những vấn đề toàn cầu… tạo ra những môi trường thuận lợi cho việc mở rộng đó Đương nhiên, không nên lầm lẩn điều đó với thuyết “hội tụ”, “hội tụ” dẫ đến thủ tiêu cách mạng, còn sự

“đồng nhất” và “thống nhất” của các mặt đối lập dẫn tới cách mạng sâu sắc thông qua những biện pháp cách mạng phong phú, đa dạng và uyển chuyển Vì vậy, bước chuyển biến cách mạng từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội không thể không mang những hình thái đặc thù: có thể cho phép thực hiện bằng biện pháp hoà bình bên cạnh biện pháp dùng bạo lực cách mạng giành chính quyền; có thể cho phép các nước kém phát triển đi lên xã hội chủ nghĩa bỏ qua một hay nhiều giai đoạn nào đó trong sự phát triển tư bản chủ nghĩa Nhưng dù nói với bất cứ đặc thù nào vẫn phải đảm bảo yêu cầu của tính “lịch sử tự nhiên” trong quá trình vận động cách mạng

Từ một xã hội với điều kiện một nền kinh tế chậm phát triển, nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Đó là con đường quá độ lâu dài, mà có thể nói, mâu thuẩn cơ bản của nó là mâu thuẩn giữa xu hướng tự phát lên chủ nghĩa tư bản với xu hướng tự giác lên chủ nghĩa xã hội Phải giải quyết đúng đắn mâu thuẩn này mới bảo đảm yêu cầu của quá trình lịch sử tự nhiên trong sự phát triển cách mạng nước ta, trong đó, tính chủ động sáng tạo và tự giác của đảng và nhà nước ta giữ vai trò quyết định

Quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẩn cơ bản trên đây của cách mạng nước ta là quá trình vừa tuân theo những sự phát triển tiến hoá dần dần về lượng, lại vừa tranh thủ những bước phát triển cách mạng nhảy vọt về chất ; vừa kế thừa tất cả những mặt cần thiết “hợp lý” của chủ nghĩa tư bản để phát triển lực lượng sản xuất, lại vừa đấu tranh tích cực để loại bỏ những mặt tiêu cực, mất nhân tính của chủ nghĩa tư bản; vừa biết tích luỹ nội dung, lại vùa phải luôn luôn nhạy bén

để cải tạo hình thức cho phù hợp; vừa kết hợp những giá trị truyền thống của dân tộc với những tiến bộ của nền văn minh mới

Con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đòi hỏi phải chủ động và tự giác phát triển và sử dụng chủ nghĩa tư bản làm khâu trung gian, làm phương tiện

để đi lên xã hội chủ nghĩa, nhất là hướng chủ nghĩa tư bản vào con đường tư bản

Trang 27

27

nhà nước Đó chính là sự kết hợp tự giác của các mặt đối lập thông qua hàng loạt các khâu trung gian và bước quá độ

Cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẩn giữa hai xu hướng – tư bản chủ nghĩa và

xã hội chủ nghĩa được cụ thể hoá trong các cuộc đấu tranh giải quyết các mâu thuẩn khác trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng vv… bởi vì mâu thuẩn cơ bản là cơ sở nảy sinh và chi phối các mâu thuẩn khác Chính các cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẩn ấy là quá trình trực tiếp giải quyết mâu thuẩn cơ bản, là các hìnhthức cụ thể nhằm phát huy tổng hợp các yếu tố tích cực, tiến bộ của dân tộc và của thời đại, bảo đảm cho công cuộc đổi mới thành công, đưa sự nghiệp cách mạng nước ta đến thắng lợi hoàn toàn

Trang 28

28

CHUYÊN ĐỀ 3 NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN

3.1 QUAN ĐIỂM MACXIT VỀ THỰC TIỄN VÀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

3.1.1 phạm trù thực tiễn

Các nhà duy vật trước Mác đã có công lao lớn trong việc phát triển thế giới quan duy vật và đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và thuyết không thể biết Tuy nhiên, lý luận của họ còn nhiều khuyết điểm, mà trong đó khuyết điểm lớn nhất là không thấy được hoạt động có tính lịch sử xã hội với nhận thức, do đó chủ nghĩa duy tâm của họ mang tính trực quan Mác đã ghi rõ: “khuyết điểm chủ yếu, từ trước cho đến nay của chủ nghĩa duy vật (kể cả chủ nghĩa duy vật của phơbach) là không thấy được vai trò của thực tiễn”

Phơbach, nhà triết học duy vật lớn nhất trước Mác Tuy có đề cập đến thực tiễn song ông không thấy được thực tiễn như là hoạt động vật chất cảm tính, có tính năng động của con người Do đó, ông đã coi thường hoạt động thực tiễn, xem thực tiễn là cái gì có tính chất con buôn bẩn thỉu, ông không hiểu được vai trò, ý nghĩa của thực tiễn đối với việc nhận thức và cải tạo thế giới Đối với ông chỉ có hoạt dộng lý luận mới là quan trọng, mới là hoạt động tích cực của con người

Các nhà duy tâm tuy đã thấy được mặt năng động, sáng tạo trong hoạt động của con người nhưng lại phát triển lên một cách trừu tượng, thái quá Vì vậy, chủ nghĩa duy tâm cũng chỉ hiểu thực tiễn như là hoạt động tinh thần chứ không hiểu

nó như hoạt động hiện thực, hoạt động vật chất cảm tính của con người Khi đề cập đến “ ý niệm thực tiễn”, Heghen, nhà triết học duy tâm lớn nhất trước Mác

đã có tư tưởng hợp lý sâu sắc là: bằng thực tiễn, chủ thể tự “nhân đôi” mình, đối tượng hoá bản thân mình trong quan hệ với thế giới bên ngoài Song do quan điểm duy tâm nên ông chỉ giới hạn thực tiễn ở ý niệm, ở hoạt động tư tưởng Đối với Heghen, thực tiễn là một “suy lý logic”

Kế thừa những yếu tố hợp lý và khắc phục những thiếu sót trong quan điểm của các nhà triết học trước mình về thực tiễn, Mác và Ăngghen đã đem lại một quan niệm đúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của nó đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Các ông không những trực tiếp tham gia vào hoạt động thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản

và còn dựa trên thực tiễn xã hội để khái quát, phát triển lý luận cách mạng Nhờ

đó, làm cho lý luận gắn bó trực tiếp với thực tiễn trở thành vũ khí nhận thức thế giới và cải tạo thế giới Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận của mình, Mác và Ăngghen đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng, Lênin nhận xét rằng: “Quan điểm

Trang 29

Vậy, thực tiễn là gì?

Thực tiễn là những hoạt động vật chất “cảm tính”, có mục đích, có tính lịch sử- xã hội của con người, nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội

Thực tiễn không phải bao gồm toàn bộ hoạt động của con người, mà chỉ là

những hoạt động vật chất để (phân biệt với hoạt động tinh thần, hoạt động lý luận), hay nói theo thuật ngữ của Mác là hoạt động cảm tính của con người Trong hoạt động thực tiễn, con người phải sử dụng các phương tiện, công cụ vật chất, sức mệnh vật chất của mình tác động vào tự nhiên, xã hội để cải tạo làm biến đổi chúng phù hợp với nhu cầu của mình Bằng hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi bản thân sự vật trong hiện thực, từ đó làm cơ sở để biến đổi hình ảnh của sự vật trong nhận thức Do đó, hoạt động thực tiễn là hoạt động có

tính năng động, sáng tạo, là hoạt động đối tượng hoá, là quá trình chuyển hoá cái

tinh thần thành cái vật chất Hoạt động thực tiễn là quá trình tương tác giữa chủ thể và khác thể, trong đó, chủ thể hướng vào việc cải tạo khách thể; trên cơ sở đó nhận thức khách thể Vì vậy, thực tiễn trở thành khâu trung gian nối liền ý thức con người với thế giới bên ngoài

Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người, là hoạt động đặc trưng cho con người Nếu động vật hoạt động theo bản năng, nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, thì con người nhờ vào thực tiễn như là hoạt động có ý thức, có mục đích của mình mà cải tạo thế giới để thoả mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới để làm chủ thế giới Con người không thể thoả mãn những gì mà tự nhiên cung cấp cho mình dưới dạng có sẵn Con người phải tiến hành lao động sản xuất ra của cải vật chất

để nuôi sống mình Để lao động và lao động có hiệu quả, con người phải biết chế tạo công cụ và sử dụng công cụ lao động Bằng hoạt động thực tiễn, trước hết là lao động sản xuất con người tạo nên những vật phẩm vốn không có sẵn trong tự nhiên Không có hoạt động đó, con người và xã hội loài nguời không thể tồn tại

và phát triển được Vì vậy, có thể nói rằng, thực tiễn là phương thức tồn tại cơ

bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan

hệ giữa con người với thế giới

Tuy trình độ và các hình thức của các hoạt động thực tiễn có thay đổi các giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội, nhưng thực tiễn luôn luôn là dạng hoạt động

cơ bản và phổ biến của xã hội loài người Thực tiễn là hoạt động có tính chất loài

(loài người) Hoạt động đó không thể được tiến hành chỉ bằng vài cá nhân riêng

lẻ, mà phải bằng hoạt động của đông đảo quần chúng nhân trong xã hội Do đó,

về nội dung cũng như về phương thức thực hiện, thực tiễn có tính lịch sử – xã

hội Thực tiễn cũng có quá trình vận động và phát triển của nó, trình độ phát triển

Trang 30

30

của thực tiễn nói lên trình độ chinh phục giới tự nhiên, trình độ làm chủ xã hội của con người

Thực tiễn có kết cấu phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố và nhiều dạng hoạt

động Bất kì quá trình hoạt động thực tiễn nào cũng gồm những yếu tố như : nhu

cầu, lợi ích, mục đích, phương tiện và kết quả Các yếu tố đó có liên hệ với nhau, quy định lẫn nhau mà nếu thiếu chúng thì hoạt động thực tiễn không thể diễn ra được

Thực tiễn gồm những dạng cơ bản và những dạng không cơ bản Dạng cơ bản đầu tiên của thực tiễn là hoạt động sản xuất vật chất Đây là dạng hoạt động

thực tiễn nguyên thuỷ nhất và cơ bản nhất vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người và quyết định các dạng khác các hoạt động thực tiễn;

nó tạo thành cơ sở của tất cả các hình thức khác của hoạt động sống của con người, gíup con người thoát khỏi giới hạn tồn tại của động vật Một dạng cơ bản

khác của thực tiễn là hoạt động chính trị- xã hội nhằm cải tạo, biến đổi xã hội,

phát triển các quan hệ xã hội, chế độ xã hội Ngoài ra, với sự phát triển của khoa

học, một dang cơ bản khác của thực tiễn cũng xuất hiện - đó là hoạt động thực

nghiệm khoa học Dạng hoạt động thực tiễn này ngày càng trở nên quan trọng do

sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học- kĩ thuật hiện đại

Trên cơ sở những dạng cơ bản, những dạng không cơ bản của thực tiễn được hình thành Đó là mặt thực tiễn của các hoạt động trong một số lĩnh vực như : đạo đức, nghệ thuật, giáo dục, tôn giáo… Sở dĩ gọi là “không cơ bản” không phải

vì những dạng này kém quan trọng mà chỉ vì chúng được hình thành và phat triển

từ những dạng cơ bản, chúng là dạng thực tiễn phái sinh

3.1.2.Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn là một trong những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung và lý luận nhận thức mácxít nói riêng Quán triệt mối quan hệ đó có ý nghĩa quan trọng đối với nhận thức khoa học là hoạt động thực tiễn cách mạng

Theo quan điểm duy vật biện chứng, nhận thức là quá trình con người phản ánh một cách biện chứng thế giới khách quan trên cơ sở thực tiễn- xã hội Quá trình nhận thức diễn ra không giản đơn, thụ động, máy móc, nhận thức không có sẵn , bất di bất dịch mà là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người một cách năng động, sáng tạo, biện chứng Đó là quá trình đi từ không biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ nông đến sâu, từ không đầy đủ và không chính xác trở thành đầy đủ hơn và chính xác hơn

Quá trình nhận thức của con người và loài người nói chung trải qua hai giai

đoạn là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Nhận thức cảm tính là giai đoạn

đầu của quá trình nhận thức, là sự phản ánh trực tiếp, cụ thể, sinh động hiện thực khách quan và các giác quan của con người Nhận thức cảm tính gồm các hình

thức là cảm giác, tri giác và biểu tượng Nhận thức lý tính hay tư duy trừu tượng

là giai đoạn cao của nhận thức, nó là sự phản ánh trừu tượng, khái quát và phản ánh hiện thực Nhận thức lý tính được hình thành từ những tài liệu do nhận thức

Trang 31

31

cảm tính đem lại và thể hiện dưới các hình thức là khái niệm, phán đoán và suy

luận Nếu nhận thức cảm tính mới dừng lại ở các bề ngoài, chưa phân biệt được

các riêng và chung, bản chất và hiện tượng…, thì nhận thức lý tính có thể giúp ta

đi sâu vào những mối liên hệ bản chất, phổ biến, tất nhiên, bên trong của sự vật,

do đó nhận thức sự vật sâu sắc hơn và đầy đủ hơn

Sự phát triển của nhận thức loài người tất yếu dẫn đến sự xuất hiện của lý luận Lý luận là sản phẩm của sự phát triển cao của nhận thức, đồng thời thể hiện như là trình độ cao của nhận thức theo Hồ Chí Minh, lý luận “là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và

xã hội tích luỹ trong qua trình lịch sử.”

Xét về bản chất, lý luận là một hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ về bản chất, những tính quy luật của thế giới khách quan Lý luận được hình thành không phải bên ngời thực tiễn mà trong mối liên hệ thực tiễn Giữa lý luận và thực tiễn có mối liên hệ biện chứng với

nhau, tác động qua lại nhau, trong đó, thực tiễn giữ vai trò quyết định Lênin nhận xét rằng: “thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận) vì nó có ưu điểm không

những tính phổ biến, mà cả tính hiện thực trực tiếp”

Vai trò của thực tiễn được biểu hiện trước hết ở chỗ thực tiễn là cơ sở, mục đích và động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức nói chung trong đó có lý luận Ăngghen nhận xét rằng: “từ trước tới nay khoa học tự nhiên cung như triết học đã hoàn toàn coi thường ảnh hưởng của hoạt động của con người đối với tư duy của họ Hai môn ấy một mặt chỉ biết có tự nhiên, mặt khác, chỉ biết có tư

tưởng Nhưng chính việc người ta biến đổi tự nhên, chứ không phải chỉ một

mình giới tự nhiên với tính cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên”

Con người quan hệ với thế giới bắt đầu không phải bằng lý luận mà bằng thực tiễn Chính từ trong quá trình hoạt động thực tiễn, cải tạo thế giới mà nhận thức, lý luận ở con người mới được hình thành và phát triển, bằng hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới, buộc thế giới phải bộc lộ những thuộc tính, những tính quy luật để cho con người nhận thức chúng Ban đầu con người thu nhận những tài liệu cảm tính, những kinh nghiệm, sau đó tiếp tục so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá… để phát triển thành lý tính, xây dựng thành lý luận, khoa học phản ánh bản chất, quy luật vận động của các sự vật hiện tượng trong thế giới Do đó, có thể nói, thực tiễn cung cấp những tài liệu cho nhận thức, cho lý luận Không có thực tiễn thì không có nhận thức, cho lý luận Không có thực tiễn thì không có nhận thức, không có lý luận Mọi tri thức

dù trực tiếp hay gián tiếp đối với người này hay người kia, thế hệ này hay thế hệ khác, dù ở giai đoạn cảm tính hay lý tính, ở trình độ kinh nghiệm hay lý luận xét đến cùng đều bắt nguồn thực tiễn

Trong quá trình tồn tại, con người không được thế giới đáp ứng thoã mãn, nên con người phải cải tạo thế giới bằng thực tiễn của mình, và chính trong quá

Trang 32

32

trình con người cũng biến đổi luôn cả bản thân mình, phát triển năng lực bản chất, năng lực trí tuệ của mình Nhờ đó, con người ngày càng đi sâu vào nhận thức thế giới, khám phá những bí mật của thế giới, làm phong phú và sâu sắc tri thức của mình về thế giới Thực tiễn còn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức, lý luận Nhu cầu,thực tiễn đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết kinh nghiệm, khái quát lý luận, thúc đẩy sự ra đời phát triển của các nền khoa học

Như vậy, trong quá trình hoạt độngt hực tiễn, trí tuệ con người được phát triển, được nâng cao dần cho đến lúc có lý luận, khoa học Song bản thân lí luận,

khoa học không có mục đích tự thân Lý luận, khoa học ra đời chính vì và chủ

yếu vì chúng cần thiết cho hoạt động của con người Thực tiễn là mục đích của nhận thức lý luận Nhận thức, lý luận sau khi ra đời phải quay về phục vụ thực tiễn, hướng dẫn, chỉ đạo thực tiễn, phải biến thành hành động thực tiễn của quần chúng, lý luận, khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn phục vụ mục tiêu phát triển nói chung

Ngày nay, công cuộc đổi mới xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ và phức tạp, đòi hỏi lý luận phải đi sâu vào nghiên cứu để áp dụng những yêu cầu đó Chẳng hạn đó là vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên ở nước ta, về kinh tế thị trường, về hoàn chỉnh hệ thống quan diểm đổi mới vv… qua việc làm sáng tỏ những vấn đề trên, chắc chắn lý luận sẽ góp phần đắc lực vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta

Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, lý luận còn thể hiện ở chỗ thực tiễn là

tiêu chuẩn của chân lý Mác viết: “vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có

thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận

mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh

chân lý…”

Chỉ có lấy thực tiễn kiểm nghiệm mới xác định được tri thức đạt được là đúng hay sai, là chân lý hay sai lầm Thực tiễn sẽ nghiêm khắc chứng minh chân lý, bác bỏ sai lầm

Tuy nhiên, cần phải hiểu tiêu chuẩn thực tiễn một cách biện chứng, tiêu

chuẩn này vừa có tính tuyệt đối (hay tính xác định) vừa có tính tương đối (hay

tính không xác định) Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tuyệt đối vì thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để kiểm nghiệm chân lý, thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử có thể xác nhận được chân lý Nhưng tiêu chuẩn thực tiễn có cả tính tương đối vì thực tiễn không đứng yên một chỗ mà biến đổi và phát triển; thực tiễn là một quá trình và được thực hiện bởi con người nên không tránh khỏi các yếu tố chủ quan Tiêu chuẩn thực tiễn không cho phép biến những tri thức của con người trở thành những chân lý vĩnh viễn, tuyệt đích cuối cùng Trong quá trình phát triển của thực tiễn và nhận thức, những tin tức đạt được trước kia và hiện nay vẫn phải thường xuyên chịu kiểm nghiệm bởi thực tiễn tiếp theo Vì vậy, những tri thức được thực tiễn chứng minh ở một giai đoạn nhất định phải tiếp tục được thực tiễn bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa, và phát triển hoàn thiện

Trang 33

33

hơn Việc quán triệt tính biện chứng của tiêu chuẩn thực tiễn giúp chúng ta tránh khỏi những cực đoan sai lầm của chủ nghĩa giáo điều bảo thủ hoặc chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa tương đối

Sự phân tích trên đây về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, lý luậnthống nhất với yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu đi sát thực tiễn, coi trọng việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, “học đi đôi với hành” Nếu rời xa thực tiễn sẽ dẫn tới các sai lầm của bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, bệnh quan liêu, chủ nghĩa xét lại

Tuy nhiên, việc coi trọng thực tiễn không có nghĩa là coi nhẹ lý luận, hạ thấp vai trò của lý luận Không nên đề cao cái này và hạ thấp cái kia, và ngược lại Không thể dừng lại những kinh nghiệm thu nhập được ở trực tiếp từ thực tiễn mà

phải nâng lên thành lý luận Kinh nghiệm và lý luận là trình độ khác nhau của

nhận thức, đồng thời lại thống nhất với nhau; chúng bổ sung cho nhau, giả định lẫn nhau, thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận cũng không đồng nhất với nhận thức cảm tính và lý tính Bởi vì trong nhận thức kinh nghiệm ngoài hoạt động trực quan cảm tính, còn có sự tham gia của yếu tố lý tính Do đó, có thể coi kinh nghiệm và lý luận là những bậc thang của lý tính, nhưng khác nhau về đối tượng, về trình độ, tính chất phản ánh hiện thực, về chức năng cũng như về trật tự lịch sử

Tri thức kinh nghiệm là tri thức chủ yếu thu được từ quan sát và thí nghiệm

Tri thức kinh nghiệm này nẩy sinh một cách trực tiếp từ thực tiễn – từ lao động sản xuất, đến đấu tranh xã hội hoặc thí nghiệm khoa học Có hai loại tri thức kinh nghiệm: 1) tri thức kinh nghiệm thông thường (tiền khoa học) thu được từ những quan sat hàng ngày trong cuộc sống và lao động sản xuất; và 2) tri thức kinh nghiệm khoa học thu nhận được từ những thí nghiệm khoa học Trong sự phát triển của xã hội hai loại tri thức kinh nghiệm này ngày càng xâm nhập lẫn nhau Tri thức kinh nghiệm giới hạn ở lĩnh vực các sự kiện, miêu tả phân loại các dữ kiện, miêu tả phân loại các dữ kiện thu nhận được từ quan sát và thí nghiệm Tri thức kinh nghiệm đã mang tính trừu tượng và khái quát song mới là bước đầu và còn hạn chế

Tri thức kinh nghiệm có vai trò không thể thiếu được trong cuộc sống hằng ngày của con người, và có vai trò quan trọng trong đấu tranh cách mạng, nhất là trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội – một sự nghiệp rất mới mẻ và đầy khó khăn, phức tạp Ở đây, không thể tìm câu giải đáp cho mọi vấn đề của thực tiễn cách mạng đặt ra từ trong sách vở hay suy diễn thuần tuý từ lý luận có sẵn Chính kinh nghiệm của đông đảo quần chúng nhân dân trong đấu tranh cách mạng sẽ đem lại cho chúng ta những bài học quan trọng Kinh nghiệm là cơ sở

để chúng ta kiểm tra lý luận, sửa đổi, bổ sung lý luận đã có, tổng kết khái quát thành lý luận mới

Nhưng, tri thức kinh nghiệm còn có hạn chế bởi nó chỉ mới đem lại sự hiểu biết về các mặt riêng rẽ, về các mối liên hệ bên ngoài của sự vật và còn rời rạc Ở

Trang 34

34

trình độ tri thức kinh nghiệm chưa thể nắm được cái tất yếu sâu sắc nhất, mối quan hệ bản chất giữa các sự vật, hiện tượng Theo Ăngghen: “sự quan sát theo kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minhđược đầy đủ tinh tất yếu”

Vì vậy, không nên coi thường kinh nghiệm song cũng không nên cường điệu kinh nghiệm; không nên dừng lại ở kinh nghiệm mà cần nâng lên trình độ lý luận

Lý luận là một trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm Tri thức lý luận

là tri thức khái quát từ tri thức kinh nghiệm, nó tồn tại trong các hệ thống khái niệm, phạm trù, quy luật của lý luận nói chung Lý luận được hình thành từ kinh nghiệm, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm nhưng lý luận không hình thành một cách tự phát Từ kinh nghiệm nhưng không phải mọi lý luận đều trực tiếp xuất phát từ kinh nghiệm Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những giữ kiện kinh nghiệm Tuy nhiên, điều đó vẫn không làm mất đi mói liên

hệ giữa lý luận với kinh nghiệm

Khác với kinh nghiệm, lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao, nhờ

đó, nó đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, tính tất nhiên, tính quy luật của các sự vật, hiện tượng khách quan Nhận thức lý luận là nhận thức hướng vào nắm bắt bản chất, quy luật của sự vật Do đó, theo Mác nhiệm vụ của nhận thức

lý luận là “đem quy sự vận động bề ngoài chỉ biểu hiện trong hiện tượng về sự vận động bên trong vật chất”

Như vậy, lý luận thể hiện tính chân lý sâu sắc hơn, chính xác hơn, nghĩa là có tính bản chất sâu sắc hơn và do đó, phạm vi ứng dụng của nó cũng phổ biến hơn, rộng hơn nhiều so với tri thức kinh nghiệm

Nhờ có những ưu điểm trên đây, lý luận có vai trò rất lớn đối với thực tiễn, tác động trở lại thực tiễn, góp phần làm biến đổi thực tiễn thông qua hoạt động của con người Lý luận là “kim chỉ nam” cho hành động, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Lênin viết: “không có lý luận cách mạng thì cung không thể có phong trào cách mạng”

Lý luận một khi thâm nhập vào quần chúng thì biến thành sức mạnh vật chất,

lý luận có thể dự kiện được sự vận động và phát triển của sự vật trong tương lai, chỉ ra những phương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn Nhờ có lý luận khoa học mới làm cho hoạt động của con người trở nên chủ động, tự giác, hạn chế tình trạng mò mẫm, tự phát

Tuy nhiên, mặt khác cũng phải thấy rằng, do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao trong sự phản ánh hiện thực nên lý luận có khả năng xa rời thực tiễn và trở thành ảo tưởng, giáo điều Khả năng ấy càng tăng lên nếu lý luận đó lại bị chi phối bởi hệ tư tưởng không khoa học, phản động và thái độ độc quyền chân lý

Vì vậy, phải coi trọng lý luận, nhưng không cường điệu vai trò lý luận, coi thường thực tiễn, tách rời lý luận khỏi thực tiễn Điều đó cũng có nghĩa, phải quát triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức khoa học và hoạt động cách mạng Hồ Chí Minh viết: “thống nhất giũa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cơ bản của chủ của chủ nghĩa Mác – Lênin Thực tiễn

Trang 35

35

không có lý luận hướng dẫn thì thực tiễn thành mù quáng Lý luận mà không liên

hệ thực tiễn là lý luận xuông” chính chủ nghĩa Mác - Lênin là tiêu biểu cho sự gắn bó mật thiết giữa lý luận với thực tiễn trong quá trình hình thành và phát triển của nó Lý luận Mác – Lênin là sự khái quát thực tiễn cách mạng, lịch sử xã hội, là sự đúc kết những kinh nghiệm và tri thức lý luận trên các lĩnh vực cụ thể

để xây dựng nên hệ thống lý luận khoa học hoàn chỉnh Sức mạnh của nó là ở chỗ nó gắn bó hữu cơ với thực tiễn xã hội Chính Lênin là người đã nên một tấm gương sáng về sự phát triển sáng tạo của chủ nghĩa Mác trong điều kiện thực tiễn mới Khi chuyển sang thời kì chính sách kinh tế mới (NEP), Lênin nhận xét:

“toàn bộ quan điểm của chúng ta về chủ nghĩa xã hội đã thay đổi về căn bản” Đáng tiếc là sau Lênin, do những nguyên nhân khách quan và sai lầm chủ quan, ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã có sự vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc thống nhất giữ lí luận và thực tiễn, từ đó làm cho lý luận bị lạc hậu, giáo điều dẫn tới sự khủng hoảng về lý luận của chúng ta hiện nay

3.2 PHÊ PHÁN BỆNH KINH NGHIỆM VÀ BỆNH GIÁO ĐIỀU

3.2.1 Bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều ở cán bộ ta, nguyên nhân và phương hướng khắc phục

Việc vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thường dẫn đến hai sai lầm cực đoan là bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều chủ nghĩa Đây là hai “căn bệnh” mà cán bộ, đảng viên chúng ta ít nhiều đã mắc phải trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa qua và đã gây ra tác hại nhất định Vì vậy, đại hội VII của Đảng ta đề ra nhiệm vụ phải xây dựng phương pháp tư duy khoa học, chống chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa kinh nghiệm

Biểu hiện trước tiên của bệnh giáo điều là bệnh sách vở, nắm lý luận chỉ ở câu chữ theo kiểu “tầm chương trích cú”, hiểu lý luận một cách trừu tượng mà không thâu tóm được thực chất cách mạng và khoa học của nó, nặng nề về diễn dãi những gì đã có trong sách vở mà không đổi chiều với cuộc sống, thoát ly thực tiễn, tiếp nhận những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa khoa học một cách đơn giản, phiến diện mang tính chất cảm tính, từ đó biến chúng trở thành những tín

hiệu và áp dụng rập khuôn mô hình chủ nghĩa xã hội của nước ta Khi đề ra chủ

trương và chính sách, người mắc bệnh giáo điều thường nặng về xuất phát từ sách vở mà không xuất phát từ điều kiện lịch sử- cụ thể của thực tiễn đất nươc;

xa rời thực tiễn sinh động

Một biểu hiện khác của bệnh giáo điều là áp dụng một cách rập khuôn, máy móc kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước khác; là áp dụng kinh nghiệm tiến hành chiến tranh cách mạng vào quá trình xây dựng kinh tế trong hoà bình; áp dụng máy móc kinh nghiệm của địa phương này vào địa phương khác…ở đây, bệnh giáo điều thể hiện bằng “giáo điều kinh nghiệm”

Như vậy, bệnh giáo điều là khuynh hướng tư tưởng cường điệu vai trò lý luận, coi nhẹ thực tiễn, tách rời lý luận khỏi thực tiễn, thiếu quan điểm lịch sử- cụ thể, áp dụng kinh nghiệm một cách rập khuôn máy móc

Trang 36

36

Bệnh kinh nghiệm là khuynh hướng tuyệt đôi hoá tư tưởng kinh nghiệm, coi

thường lý luận khoa học, khuếch đại vai trò thực tiễn để hạ thấp vai trò lý luận Người mắc bệnh kinh nghiệm thường thoã mãn với vốn kinh nghiệm của bản thân, ngại học lý luận, không chịu nâng cao trình độ lý luận, coi thường khoa học- kĩ thuật, coi thường giới tri thức, thiếu nhìn xa trông rộng, dễ bảo thủ, trì trệ Ở nước ta điều kiện sản xuất nhỏ và phổ biến, trình độ dân trí còn thấp, khoa học- kĩ thuật còn chưa phát triển, tư tưởng nho giáo phong kiến còn ảnh hưởng nhiều trong nhân dân là mảnh đất thuận lợi cho bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa nảy sinh

Như vậy, sự yếu kém về lý luận là một nguyên nhân trực tiếp và rất quan

trọng của bệnh kinh nghiệm Tuy nhiên sự yếu kém về lý luận không chỉ dẫn đến bệnh kinh nghiệm và còn dẫn đến bệnh giáo điều Bởi vì, chính sự yếu kém về lý luận không chỉ dẫn đến bệnh kinh nghiệm mà còn bệnh giáo điều Bởi vì chính

sự yếu kém về lý luận làm cho chúng ta dễ tiếp thu lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin một cách đơn giản, phiến diện, cắt xén, sơ lược, không đến nơi đến chốn Việc tiếp thu lý luận từ trình độ tư duy kinh nghiệm dễ dẫn đến làm méo mó lý luận Trước đây khi nói về Đảng ta, Hồ Chí Minh cho rằng Đảng ta còn có nhiều nhược điểm, mà một trong những nhược điểm lớn là trình độ lý luận còn thấp

kém Có thể nói, nhận định đó ngày nay vẫn đúng Vì vậy, nâng cao một cách

căn bản trình độ lý luận, trình độ trí tuệ của Đảng, là một phương hướng quan trọng và cấp bách để khăc phục cả bệnh kinh nghiệm, và cả giáo điều trong cán

Để khắc phục sự yếu kém về lý luận, trước hết phải coi trọng lý luận và công tác lý luận, phải đổi mới công tác lý luận của Đảng trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phải quán triệt nhiệm vụ và hướng nghiên cứu chủ yếu cũng như những phương châm lớn chỉ đạo hoạt động lý luận đã đước nêu ra trong nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay

Phải tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, khắc phục sự lạc hậu của lý luận, thu hẹp tối đa khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn Phải đổi mới việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn; từ bỏ lối sống kinh viện, tư biện; thường xuyên đối chiếu lý

Trang 37

37

luận với cuộc sống Kết hợp lý luận với thực tiễn, vận dụng lý luận vào hoàn cảnh thực tế cách mạng nước ta một cách sáng tạo

Coi trọng tổng kết thực tiễn là một phương pháp căn bản trong hoạt động lý

luận Đó cũng là phương pháp căn bản để khăc phục bệnh kinh nghiệm và giáo điều, thực hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Qua tổng kết thực tiễn mà sửa đổi, Phát triển lý luận đã có bổ sung hoàn chỉnh đường lối, chính sách, hình thành lý luận mới, quan điểm mới để chỉ đạo sự nghiệp đổi mới xã hội nước ta

3.2.2 Vai trò của lý luận trong thời đại ngày nay

Lịch sử phát triển của khoa học chỉ ra rằng, vai trò của lý luận khoa học ngày càng tăng lên Đối với sự phát triển của xã hội, xu hướng đó thể hiện trong quá trình phát triển từ tri thức tiền khoa học đến tri thức khoa học; từ tri thức kinh nghiệm đến tri thức lý luận; từ khoa học thực nghiệm đến khoa học lý thuyết; từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội

Đặc biệt, trong giai đoạn mới của thời đại ngày nay, từ thập kỷ 80 với những biến đổi sâu sắc làm thay đổi bộ mặt thế giới, với cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc đang diễn ra gay go, phức tạp, với sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng

của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, vai trò lý luận khoa học càng trở nên quan trọng Chỉ có bằng tư duy lý luận khoa học mới có thể lý giải được tính chất hết sức đa dạng, phức tạp và đầy mâu thuẫn với những biến động to lớn của thời đại ngày nay

Chủ nghĩa tư bản thích nghi được với thời đại, tiếp tục duy trì sự tồn tại của mình và phát triển nhờ sử dụng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ,

sử dụng kết quả của các học thuyết xã hội và những biện pháp khác Trong các nước xã hội chủ nghĩa, trong một thời gian dài lý luận cách mạng bị lạc hậu, giáo điều, do không được bổ sung, phát triển, không theo kịp yêu cầu của thực tiễn nên đã dẫn đến sự khủng hoảng về lý luận của chủ nghĩa xã hội

Sự khủng hoảng về lý luận là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự khủng khoảng của chủ nghĩa nói chung Vừa qua do quá trình cải cách, cải tổ ở một số nước xã hội chủ nghĩa xã hội không được soi sáng bởi lý luận đúng đắn, nên đã đưa lại những hậu quả hết sức nặng nề Chế độ xã hội chủ nghĩa không những không được tăng cường, mà trái lại, còn bị suy yếu thêm, và đi đến sự sụp

đổ trong một loạt nước

Ở nước ta, công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội do Đảng ta khởi xướng đã thu được những thành tựu bước đầu quan trọng Tuy nhiên, tính chất khó khăn và phức tạp của sự nghiệp đổi mới cũng như chiều sâu và tầm cỡ của nó đang đặt ra rất nhiều vấn đề lý luận lớn lao và gay cấn, đòi hỏi phải được giải quyết Cho

nên, có thể nói rằng, chưa bao giờ lý luận lại cần thiết và có tầm quan trọng lớn

như hiện nay Lý luận trở thành thiết thân đối đôi với sự nghiệp đổi mới nói

riêng, đối với toàn bộ vận mệnh của chủ nghĩa xã hội nói chung

Muốn lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đi lên thành công, Đảng ta cần phải tự đổi mới và tự chỉnh đốn, trước hết phải nâng cao trình độ trí tuệ, trình độ lý luận của

Trang 38

38

Đảng “Chỉ Đảng nào được một lý luận tiên phong hướng dẫn, thì mới có khả

năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong”

Lý luận phải trở thành cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, phải cung cấp nội dung khoa học cho đổi mới, phải góp phần vào

sự nghiệp xây dựng đất nước ngày một phát triển

Ngày đăng: 22/08/2017, 13:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w