1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

nhan vat lich su 11

54 855 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Minh Trị
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại bài viết
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chế độ Mạc Phủ đại diện cho giai cấp quý tộc phong kiến Nhật Bản đang gặp khủng hoảng trầm trọng phong trào khởi nghĩa của nông dân và đấu tranh của thị dân nổ ra mạnh mẽ, các nước đế qu

Trang 1

Minh Trị (Mâygi) (1852-1912)

Minh Trị Thiên Hoàng (Meiji Tennô) là biệt hiệu của hoàng đế Nhật Bản Mưtxưhitô (Mutsuhito) người tiến hành cuộc duy tân ở Nhật Bản năm 1868, mở đầu thời kỳ chuyển biến từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bảnchủ nghĩa

Năm 1867, Mưtxưhitô lên nối ngôi vua cha mới 15 tuổi Tất cả mọi quyền hành trong nước đều nằm trong tay Mạc phủ dòng họ Tôkưgaoa Chế độ Mạc Phủ đại diện cho giai cấp quý tộc phong kiến Nhật Bản đang gặp khủng hoảng trầm trọng (phong trào khởi nghĩa của nông dân và đấu tranh của thị dân nổ ra mạnh mẽ, các nước đế quốc Mỹ, Anh, Pháp ép buộc Mạc Phủ phải ký những hiệp ước bất bình đẳng) Với sự hỗ trợ của các đại quý tộc địa phương (đaimyo) và giai cấp tư sản, năm 1868, Thiên hoàng Mưtxưhitô ép buộc tướng quân Mạc phủ phải từ chức và trao lại quyền hành cho Thiên hoàng Tướng quân Mạc phủ và phe cánh nổi lên chống lại Thiên hoàng, bị quân đội Thiên hoàng đánh tan

Sau khi lật đổ chế độ Mạc phủ, Thiên hoàng Mưtxưhitô thực hiện một số cải cách có tính chấ tư sản, mà lịch

sử gọi là "Cải cách Minh Trị" (Minh Trị có nghĩa là sự cai trị sáng suốt) Những cải cách này đã thủ tiêu chế độphong kiến phân tán và những cản trở của chế độ phong kiến, thúc đẩy nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển đưa nước Nhật từ một nước phong kiến thành một nước tư bản chủ nghĩa, thoát khỏi sự nô dịch của nước ngoài

Cuộc cải cách Minh Trị được đánh giá là một cuộc cách mạng tư sản không triệt để, vì tuy nó đã xóa bỏ những hạn chế phong kiến, mở đường cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, tiếp thu nền văn minh phương Tây, nhưng chính quyền và chỉ huy quân đội vẫn nằm trong tay giai cấp quý tộc (đaimyô) và võ sĩ (samurai) Nhật Bản đã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm lược đế quốc chủ nghĩa Trong thời kỳ Minh Trị trị vì, đã diễn ra cuộc chiến tranh Trung - Nhật năm 1895 và Nga - Nhật năm 1905

Trang 2

Der Meiji Tenno Mutsuhito

1868 - 1912

Trang 3

Năm 1863, khi chính quyền của Napôlêông III nới rộng quyền dân chủ, ông lại được bầu vào Quốc hội Sau cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (1870 - 1871), đế chế II của Napôlêông III sụp đổ, một chính phủ mới do Chie đứng đầu, hoàn toàn phải chấp nhận những điều khoản trong hòa ước với Đức Được sự giúp sức của Đức, quân đội của Chie đã tàn sát đẫm máu những chiến sĩ Công xã Pari (30.000 người bị giết, hơn 40.000 người bị

tù đầy) Tháng 8-1971, Chia trở thành Tổng thống nước Cộng hòa Pháp Tuy nhiên, trong Quốc hội, phái bảo hoàng chiếm đa số, họ muốn khôi phục lại chế độ quân chủ Nhưng cái kỷ niệm khủng khiếp về Công xã Pari làm cho Chie không dám lập lại chế độ quân chủ Tháng 5-1873, phái bảo hoàng trong quốc hội buộc Chie từ chức Từ đó Chie chỉ còn là thủ lĩnh của phái đối lập Cộng hòa trong quốc hội

Trang 4

CHIE (1797 - 1877)

Trang 5

Mac (CAC) (1818 - 1883)

Cac Mac (Karl Marx) - nhà triết học, kinh tế học, người sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học (chủ nghĩa

macxit), lãnh tụ cách mạng vĩ đại của giai cấp công nhân thế giới

Cac Mac sinh ngày 5-5-1818 ở thành phố Tơriơ thuộc vùng sông Rainơ nước Phổ, một tỉnh công nghiệp tiên tiến gần biên giới Pháp - Đức, trong một gia đình trí thức (bố là luật sư người Do Thái)

Khi nhỏ, Mac học ở trường trung học Tơriơ, rất thông minh Sau ông học luật, đồng thời đi sâu nghiên cứu lịch

sử và triết học ở trường Đại học Bon và Beclin Năm 23 tuổi, ông đỗ tiến sĩ triết học

Sau đó, ông chuyển sang hoạt động chính trị, làm báo và nghiên cứu triết học Tháng 2.1848, ông cùng Enghencông bố Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đó là văn kiện đầu tiên của chủ nghĩa xã hội khoa học, gồm những luận điểm cơ bản về sự phát triển của Xã hội và cách mạng xã hội chủ nghĩa

Cách mạng 1848 bùng nổ, Mac đã tới những vùng trung tâm theo dõi và giúp đỡ phong trào Mac tổng kết cuộccách mạng Pháp 1848 trong bài Đấu tranh giai cấp ở Pháp (1850), Ngày 18 Bruyme (tháng Sương mù) của Lui Bônapac (1852)

Sau cách mạng 1848, Mac tập trung vào việc nghiên cứu kinh tế chính trị học nhằm vạch trần bản chất bóc lột của giai cấp tư sản và biên soaạn bộ Tư bản, tác phẩm khoa học có tầm quan trọng to lớn về mặt lý luận của chủ nghĩa Mac

Năm 1864, Hội Liên hiệp công nhân quốc tế (về sau gọi là Quốc tế I) được thành lập Mac trong ban lãnh đạo Quốc tế, đã tiến hành đấu tranh kịch liệt chống các bè phái xã hội chủ nghĩa phi vô sản (Pruđông, Bacunin )

và đưa chủ nghĩa Mac thành hệ tư tưởng cách mạng chủ đạo trong phong trào công nhân quốc tế

Quốc tế I giải tán (1876), Mac vẫn tích cực lãnh đạo phong trào công nhân các nước Ông đã góp ý kiến để sửa chữa? những sai lầm về chính trị và góp phần khôi phục lại Đảng xã hội - dân chủ Đức Ông hoạt động tích cực cho việc thành lập các Đảng công nhân ở Pháp, Anh, Mỹ

Những năm cuối cùng của đời mình, mặc dù sức đã yếu, Mac vẫn say sưa viết nốt quyển II, III của Bộ Tư bản Ngày 14.3.1883, sau một thời gian bị bệnh, Cac Mac - Người sáng lập chủ nghĩa Mac, nhà tư tưởng vĩ đại của nhân loại - đã từ trần

Trang 6

Mac (CAC) (1818 - 1883)

Trang 7

Năm 1866, Bixmac gây chiến và đánh bại áo Phổ trở thành người đứng đầu Liên hiệp Đức Nhưng Phổ cũng mới chỉ tập hợp được các bang ở miền Bắc Đức, còn các bang ở miền Nam không tham gia vì bị Napôlêông IIIngăn cản Năm 1870, Bixmac gây chiến tranh với Pháp và đánh bại Pháp Tháng 1 - 1871, đế quốc Đức thống nhất được thành lập, vua Phổ Vinhem I được suy tôn là Đức hoàng

Sau khi lên ngôi hoàng đế Đức, Vinhem I đã cử Bixmac làm Thủ tướng Bixmac giữ chức vụ này trong suốt 20năm Bixmac thực hiện chính sách phản động để củng cố và phát triển thế lực của đế quốc Đức, đặc biệt là đấutranh khốc liệt chống phong trào công nhân xã hội chủ nghĩa bằng "đạo luật đặc biệt" Tuy vậy, phong trào công nhân XHCN Đức vẫn tiếp tục lớn mạnh, vì thế năm 1890, hoàng đế Đức Vinhem II đã buộc Bixmac phải

từ chức

Trang 8

BIXMAC (1815 - 1898)

Trang 9

về lĩnh vực toán học và điều khiển pháo Năm 24 tuổi, ông được phong vượt cấp từ đại úy lên thiếu tướng, nhờ

đã sử dụng pháo binh, đánh bại quân Anh, giải phóng Tulông (Nam Pháp)

Nhờ có tài tổ chức và lãnh đạo quân sự, Bônapac đã nhiều lần đánh bại liên quân phong kiến áo - Phổ - Nga được Anh hỗ trợ (trận chiến thắng oanh liệt nhất là trận Aoxteclit ngày 2-12-1805 đánh bại liên quân áo - Nga).Lên ngôi hoàng đế năm 1804, Napôlêông I củng cố chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước Pháp và các vùng chiếm đóng (ban hành bộ dân luật, khuyến khích phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa ), mặt khác, tiếp tục cuộc chiến tranh với Anh và các quốc gia phong kiến châu Âu Napôlêông I đã ban bố sắc lệnh về "phong tỏa lục địa" nhằm bao vây kinh tế Anh Cuộc kháng chiến của nhân dân Tây Ban Nha (1808 - 1814) và nhất là cuộc chiến tranh về quốc vĩ đại của nhân dân Nga (1812) đã làm phá sản mưu đồ thống trị toàn châu Âu của Napôlêông I

Napôlêông bị bắt và đày ở đảo Enba (một đảo nhỏ nằm bên đảo Coocxơ và Italia) (4-1814) Năm sau, ông trốn

về Pháp, khôi phục lại chính quyền, nhưng chỉ được có 100 ngày (từ 20-3 đến 22-6-1815) Trong trận đánh cuối cùng ở Oateclô (gần Brucxen, Bỉ), Napôlêông bị thua và bị đày ra đảo Xanh Êlen, ngoài khơi Đại Tây Dương và chết ở đó năm 1821

Trang 10

Napoleon I 1769-1821

BÔNAPAC (LUI NAPÔLÊÔNG) (1808 - 1873)

Trang 11

Lui Napôlêông Bônapac (Lui Napoléon Bonaparte) - chính khách Pháp, Tổng thống nước Cộng hòa Pháp từ

1848 - 1852, hoàng đế Pháp, hiệu là Napôlêông III từ 1852 - 1870

Lui Napôlêông Bônapac là cháu gọi Napôlêông I (Napôlêông Bônapac) bằng bác ruột; nhưng so với

Napôlêông I thì ông là người tầm thường, ti tiện, xảo quyệt; vì thế người ta gọi ông là "đứa cháu nhỏ của một ông bác vĩ đại" hay "Napôlêông bé", "Napôlêông tiểu đế"

Sau cuộc cách mạng 1848 nước Pháp thành lập chế độ cộng hòa và bầu cử tổng thống Ông tranh cử chức tổng thống và giành được thắng lợi, nhờ vào uy tín của Napôlêông I và được nông dân, công nhân ủng hộ vì họ căm thù viên tướng Cavainhăc, tên đao phủ đàn áp cuộc biểu tình của quần chúng nhân dân, đối thủ chính tranh cử chức tổng thống với ông

Khi hết nhiệm kỳ tổng thống 4 năm, ông tiến hành một cuộc đảo chính (2-12-1851), để kéo dài nhiệm kỳ tổng thống 10 năm Nhưng một năm sau, ông xóa bỏ chế độ Cộng hòa, lên ngôi hoàng đế, hiệu là Napôlêông III

Napôlêông III đã dựa vào giáo hội Thiên chúa giáo và những tay chân thân tín để thực hiện chế độ độc tài Nhưng phong trào đấu tranh của phe Cộng hòa tư sản và của giai cấp công nhân ngày càng lên mạnh, đã làm lung lay Đế chế II của Napôlêông III Cuộc chiến? tranh Pháp - Phổ năm 1870 - 1871 đã bộc lộ sự thối nát và yếu hèn của Đế chế II Cuộc chiến tranh kéo dài chưa được một tháng (4-8 đến 2-9-1870), hoàng đế NapôlêôngIII cùng đạo quân chủ lực của mình ở Xơđăng đã phải đầu hàng quân đội Phổ và bị đưa sang giam giữ ở Đức

ít lâu sau, ông được chính quyền Đức cho phép rời Đức sang Anh xum họp với vợ và mất ở bên đó

Lương Khải Siêu (1873 - 1929)

Lương Khải Siêu - học giả, nhà cải lương nổi tiếng, người gắn bó với Khang Hữu Vi trong phong trào Duy Tân

ở Trung Quốc

Trang 12

Lương Khải Siêu xuất thân trong một gia đình địa chủ ở Quảng Đông Thời trẻ, ông theo học Khang Hữu Vi và

là người học trò tâm đắc suốt đời cùng chung lí tưởng với thầy dạy của mình Năm 1895, sau khi đỗ cử nhân, ông lên Bắc Kinh dự thi và đã kí vào đơn của Khang Hữu Vi đệ lên hoàng đế Quang Tự yêu cầu cải cách Trong phong trào Duy Tân, ông là cánh tay đắc lực của Khang Hữu Vi, vận động tuyên truyền tư tưởng Duy Tân Ông đã tham gia Cường học hội của Khang Hữu Vi và viết nhiều bài báo giới thiệu nền chính trị dân chủ

và thành tựu khoa học của Phương Tây, cổ động cho cuộc cải cách ở Trung Quốc Sau cuộc cải cách Duy Tân của vua Quang Tự thất bại (1898), ông trốn sang Nhật Bản

Năm 1902, ông trở về nước, sáng lập tờ Tân dân tùng báo tiếp tục cổ động tư tưởng cải cách Tờ báo này đối lập với tờ Dân báo của Tôn Trung Sơn tuyên truyền tư tưởng cách mạng Sau khi nhà Thanh sụp đổ, ông tham gia chính phủ quân phiệt Bắc Kinh với tư cách là đại diện cho Đảng Tiến bộ do ông thành lập năm 1913 Vào cuối đời, ông dạy học ở trường Đại học Thanh Hoa Bắc Kinh

Lương Khải Siêu còn là một học giả uyên bác Ông viết nhiều tác phẩm về chính trị, kinh tế, triết học, ngôn ngữ, lịch sử và văn hóa nghệ thuật Đặc biệt ông là người tích cực vận động dùng văn bạch thoại dễ hiểu, đơn giản trong văn thơ thay thế văn chương khó hiểu, rườm rà cổ xưa

Trang 13

Lương Khải Siêu (Liang Qichao)

Tôn Trung Sơn (1866-1925)

Tôn Trung Sơn - nhà cách mạng dân chủ Trung Quốc, người lãnh đạo cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 lật đổ triều đại phong kiến Mãn Thanh và thiết lập nước Trung Hoa dân quốc Tôn Trung Sơn tên là Tôn Văn, tự là Tôn Dật Tiên, sinh trưởng trong một gia đình nông dân khá giả ở tỉnh Quảng Đông Thời niên thiếu, ông sang

Trang 14

Hônôlulu (quần đảo Haoai) ở với người Anh buôn bán kinh doanh, ở bên đó ông theo học các trường tiểu học

và trung học của người Âu Châu Năm 1883, Tôn Trung Sơn trở về nước, theo học trường Đại học y khoa ở Hương Cảng và trở thành bác sĩ Trong hoàn cảnh đất nước đang bị đế quốc xâu xé, ông thấy việc cứu nguy cho toàn xã hội quan trọng hơn là trị bệnh cho một vài người, nên ông bỏ nghề y tham gia hoạt động chính trị

Năm 1894, Tôn Trung Sơn sang Haoai, tập hợp những Hoa kiều cùng chí hướng, thành lập Hưng Trung hội với tôn? chỉ đánh đổ mãn Thanh, khôi phục Trung Hoa Năm 1905, Tôn Trung Sơn hợp nhất Hưng Trung hội với một số tổ chức cách mạng ở trong nước, lập thành Trung Quốc Đồng minh hội do ông làm Tổng lý Trên tờDân báo, cơ quan ngôn luận của Hội, ông đã công bố Chủ nghĩa tam dân (dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc) do ông đề xướng

Từ 1905-1911, Trung Quốc đồng minh hội tổ chức nhiều cuộc binh biến ở các tỉnh miền Nam, nhưng không thành công Ngày 10-10-1911, Đồng minh hội vận động được binh sĩ ở thành phố Vũ Xương (Hồ Bắc) nổi dậykhởi nghĩa và giành được thắng lợi (mở đầu cách mạng Tân Hợi) Phong trào khởi nghĩa bùng nổ ở nhiều tỉnh khác Ngày 24/12/1911, Tôn Trung Sơn về nước, được đại hội đại biểu các tỉnh họp tại Nam Kinh đề cử làm Tổng thống của Chính phủ trung ương lâm thời Ngày 1/1/1912, Tôn Trung Sơn nhậm chức tại Nam Kinh và tuyên bố thành lập nước Trung Hoa dân quốc Ông đã ban bố bản Lâm thời ước pháp (Hiến pháp lâm thời) để làm cơ sở cho việc xây dựng nước Trung Hoa dân quốc

Ngày 13/2/1912, để lôi kéo bọn quân phiệt Bắc Dương theo cách mạng, Tôn Trung Sơn đã từ chức Tổng thốnglâm thời để cho Viên Thế Khải, một đại thần của triều đình Mãn Thanh lên thay Viên Thế Khải lên làm Tổng thống chính thức nước Trung Hoa dân quốc, tuy đã buộc vua Thanh là Phổ Nghi thoái vị, những cũng có nhiều hành động phản bội lại phong trào cách mạng, tước bỏ dần những thành quả của cách mạng Tân Hợi Tôn Trung Sơn tập hợp các lực lượng cách mạng Tân Hợi Tôn Trung Sơn tập hợp các lực lượng cách mạng ở các tỉnh phía Nam chống lại Viên, nhưng bị Viên đàn áp nhanh chóng (lịch sử gọi Cuộc cách mạng lần thứ hai) Sau khi Viên Thế Khải chết (1916), các lực lượng quân phiệt chia nhau thống trị các vùng ở Trung Quốc gây hỗn chiến liên miên

Cách mạng tháng Mười 1917 ở Nga đã ảnh hưởng lên tới tư tưởng của Tôn Trung Sơn Ông cải tổ Quốc dân đảng (Quốc dân đảng thành lập vào tháng 8-1912 thay thế Đồng minh hội), hiệp tác với Đảng Cộng sản Trung Quốc và bổ sung chủ nghĩa tam dân thêm ba nội dung mới: liên minh với Liên Xô, liên minh với Đảng Cộng sản, dựa vào công nông Tháng 3-1923, ông đã thành lập chính phủ cách mạng ở Quảng Đông và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng Trong khi phong trào cách mạng đang sôi nổi, lên cao thì Tôn Trung Sơn mắc bệnh,

từ trần (12/3/1925) Cái chết của ông là một tổn thất lớn cho phong trào cách mạng Trung Quốc lúc đó

Trang 15

Tôn Trung Sơn.

Xen Cataiama (1859-1933)

Xen Cataiama - người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Mác vào Nhật Bản, lãnh tụ nổi tiếng của giai cấp công nhân Nhật Bản

Trang 16

Xen Cataiama sinh trưởng trong một gia đình nông dân Năm 1881, ông đến thủ đô Tôkiô làm công nhân ấn loát và học thêm tiếng Anh Ba năm sau, ông sang Mỹ vừa làm vừa học đại học Tại Mỹ, ông đã tiếp thu chủ nghĩa Mác, sau đó sang Luân Đôn (thủ đô Anh) tìm hiểu tình hình thực tế của phong trào công nhân Anh Năm 1896, ông trở về nước, tổ chức Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác, xuất bản tờ báo Lao động thế giới và thành lập một số tổ chức của giai cấp công nhân như công đoàn luyện kim Tháng 5.1901 ông sáng lập Đảng

Xã hội - dân chủ Nhật Bản Nhưng đảng đảng vừa tuyên bố thành lập đã phải giái tán Năm 1904, khi hai nước

đế quốc Nga - Nhật ráo riết chuẩn bị chiến tranh, thì trong đại hội công nhân quốc tế ở Amxtecđam (Hà Lan), Xen Cataiama đã bắt tay nhà cách mạng Nga Plêkhanốp cùng ra quyết nghị phản đối chiến tranh

Xen Cataiama, con người kiên cường, đã lãnh đạo phong trào công nhân Nhật Bản đấu tranh, bất chấp sự thốngtrị hà khắc của bọn quân phiệt Nhật Bản Tháng 12/1911, ông lãnh đạo công nhân xe điện Tôkiô đấu tranh bãi công đòi tăng lương Cuộc bãi công thu được thắng lợi, nhưng ông đã bị bắt Sau khi mãn hạn tù, ông buộc phải lưu vong sang Mỹ, sau sang Maxcơva làm việc trong tổ chức Quốc tế Cộng sản Ông cũng rất quan tâm đến phong trào độc lập dân tộc và? phong trào cộng sản ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa

Trang 17

phương Tây Ông cho rằng chỉ có cải cách đất nước theo con đường tư bản chủ nghĩa với thể chế quân chủ lập hiến như ở Anh thì mới cứu Trung Quốc khỏi nguy cơ thuộc địa

Năm 1888, ông lên Bắc Kinh dự thi và viết một bức thư dâng lên Hoàng đế Quang Tự yêu cầu cải cách, nhưng thư không đến được tay vua, ông còn bị gạt ra khỏi danh sách trúng cử Năm 1895, ông lại lên Bắc Kinh dự thi lần thứ hai Lần này, ông đã vận động được 1300 cử nhân cùng ông viết bức thư tuy cũng không đến được tay vua, nhưng đã gây một tiếng vang lớn trong giới trí thức và quan lại tiến bộ Ông còn thành lập tổ chức Cường học hội và xuất bản báo chí để tuyên truyền cổ động cho cải cách Lần này ông đỗ tiến sĩ và được bổ nhiệm làm quan trong triều, điều kiện thuận lợi cho ông tiến hành cuộc vận động cải cách

Vua Quang Tự 28 tuổi, đang có nhiệt tình và đầy tham vọng Nhà vua muốn dựa vào phái cải cách làm một cuộc duy tân để thay đổi xã hội Trung Quốc, đồng thời thay đổi luôn cả địa vị lệ thuộc của mình vào Từ Hi tháihậu Năm 1898, sau nhiều lần bàn bạc với Khang Hữu Vi, vua Quang Tự đã ban bố một loạt pháp lệnh cải cách

về các mặt kinh tế, chính trị, quân sự và văn hóa - giáo dục (lịch sử gọi là biến pháp Mậu Tuất) Những biện pháp cải cách trên có ý nghĩa tiến bộ rất lớn nhằm chuyển biến Trung Quốc từ chế độ phong kiến sang chế độ

tư bản chủ nghĩa Động chạm tới quyền lợi của đa số quan lại phong kiến, cho nên bọn họ đã tập hợp xung quanh Từ Hi thái hậu, chống phá phong trào Duy Tân Từ Hi thái hậu đã tổ chức tiến hành chính biến, bắt giamvua Quang Tự và truy nã phái Duy Tân Khang Hữu Vi trốn thoát và nhờ sứ quán Anh đưa ra nước ngoài Khang Hữu Vi tuy thất bại trong cuộc Duy Tân năm 1898, nhưng vẫn không từ bỏ con đường cải lương, vẫn chủ trương bảo tồn nên quân chủ và phản đối chính thể cộng hòa khi cách mạng Tân Hợi 1911 nổ ra

Trang 18

Khang Hữu Vi (1858 - 1927)

Tilăc (1856-1920)

Trang 19

Ban Ganggađa Tilăc (Bal Gangadar Tilak) - nhà cách mạng ấn Độ, lãnh tụ phái cấp tiến trong Đảng Quốc đại

ấn Độ, một học giả, một triết gia về truyền thống dân tộc cổ ấn Độ

Tilăc sinh ra trong một gia đình trí thức Bà La Môn ở bang Maharastra (vùng ven biển miền Tây Âu) Từ thuở nhỏ, Tilăc đã cảm nhận truyền thống dân tộc Maratha và có tinh thần yêu nước nồng nàn Năm 1880, sau khi tốt nghiệp cử nhân luật, ông từ chối làm quan chức trong chính quyền thực dân, mà cùng với bạn mở trường tư thục ở? Poana, nhằm giáo dục thanh niên tinh thần độc lập dân tộc Ngoài ra, ông còn đứng ra thành lập tờ báo

Sư tử bằng tiếng dân tộc Marathi và tờ Maratha bằng tiếng Anh để tuyên truyền nền văn hóa dân tộc, thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân, đả kích nền thống trị của thực dân Anh Năm 1885, ông tham gia Đảng Quốc đại

và trở thành lãnh tụ nhóm cấp tiến phái tả của Đảng đó

Để tập hợp nhân dân, Tilăc đã đứng ra tổ chức những ngày lễ hội truyền thống của địa phương mình và các địaphương khác được đông đảo nhân dân hưởng ứng Qua những buổi hội làng, ông tuyên truyền và giác ngộ nhân dân Năm? 1897, nhân việc một viên sĩ quan người Anh bị ám sát, bọn thực dân lấy cớ là Tilăc viết báo xúi giục nhân dân nổi loạn nên bắt giam và xử tù ông 18 tháng Trong phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân ấn Độ những năm 1905-1907, Tilăc hô hào nhân dân đứng lên lật đổ nền thống trị Anh

Phương pháp cách mạng của ông không phù hợp với phái ôn hòa trong Đảng Quốc đại, ông bị khai trừ khỏi Đảng Năm 1908, bọn thực dân Anh một lần nữa lại kiếm cớ bắt giam ông, xử ông 6 năm khổ sai và đày sang Manđalay (Mianma) Trước tòa án, Tilăc là người đã tố cáo đanh thép và lên án tội ác của chính quyền thực dân Nhân dân khắp nơi sôi sục phản đối bản án Trong nhà tù, Tilăc viết sách về triết học truyền thống của ấn

Độ để bày tỏ lòng quyết têm đối với cách mạng Sau khi được trả tự do (1914), ông lại tiếp tục đấu tranh Năm

1916, ông thành lập Liên đoàn tự trị Ông mất ở Bombay năm 1920

Kỳ (1861-1862), và cũng đang dòm ngó Campuchia Năm 1861, Bắc Biển Hồ lại bùng lên cuộc khởi nghĩa lớn

do hoàng thân Xivôtha lãnh đạo Nghĩa quân đánh chiếm kinh đô Uđông, khiến Nôrôđôm I phải chạy sang BăngCôc, cầu cứu vua Xiêm Thực dân Pháp nhảy vào giúp đỡ Nôrôđôm I khôi phục lại quyền lực Năm 1863,

Trang 20

đô đốc Pháp ở Nam Kỳ là Đờ La Grăngđie đã sang Uông viếng thăm Nôrôđôm I và ép buộc vua Campuchia kýbản hiệp ước thừa nhận sự "bảo hộ" của Pháp (11/8/1863) Bọn phong kiến Xiêm đã tìm cách chống lại thực dân Pháp để bảo vệ quyền lời của chúng ở Campuchia Cuộc tranh chấp giữa Pháp và Xiêm cuối cùng đã đi tớichỗ thỏa thuận: lễ đăng quang của Nôrôđôm I đáng lẽ cử hành tại BăngCôc, thì nay thực hiện ở Uđông, với sự tham dự của đại biểu chính phủ Pháp và đại biểu chính phủ Xiêm (3/6/1864) Thực dân Pháp và chính phủ Xiêm ký hiệp ước ngày 15/7/1867 chia nhau quyền lợi ở Campuchia: nước Xiêm thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Campuchia và chính phủ Pháp cắt nhường các tỉnh Battambăng và Ăngco cho nước Xiêm Sau khi đã gạt được Xiêm ra khỏi Campuchia, thực dân Pháp lấn thêm bước nữa, ép buộc Nôrôđôm I phải ký hiệp ước ngày 17/6/1884 (giữa Nôrôđôm I và thống đốc Nam Kỳ Tomxơn), sau đó được bổ sung bằng hiệp ước năm

1897 giữa Nôrôđôm I và Pôn Đume Hai hiệp ước này đã thiết lập chế độ "bảo hộ", một hình thức thuộc địa thực sự trên đất nước Campuchia

Nôrôđôm I và giai cấp phong kiến Khơme buộc phải trao chủ quyền cho thực dân Pháp Nhưng nhân dân Campuchia thiết tha yêu độc lập tự do đã đứng dậy, tập hợp dưới cờ khởi nghĩa của Xivôtha, Achasoa,

Pucumbô đấu tranh anh dũng chống bọn cướp nước và bọn bù nhìn tay sai của chúng

Phacađuôc

Phacađuôc hay Phò Cađuột - lãnh tụ cuộc khởi nghĩa nhân dân Lào ở Xavanakhet năm 1902

Sau Hiệp định Pháp - Xiêm 1893, chế độ cai trị của thực dân Pháp được thiết lập trên đất Lào Bọn thực dân Pháp tăng cường vơ vét lâm sản, đánh thuế cao và bắt nhân dân Lào lao dịch nặng nề Nhân dân Lào không chịu đựng nổi sự áp bức, bóc lột của thực dân Pháp đã nổi dậy khởi nghĩa, tiêu biểu là phong trào Phacađuôc

Trang 21

Phacađuôc, một nhân vật có uy tín trong nhân dân, người huyện Kanthabuly (một huyện nằm trên bờ sông Mêkông, ở phía Bắc và rất gần thị xã Xavanakhet), đã tổ chức nhân dân nổi dậy chống lại chính quyền thực dân Pháp Tháng 3/1902, nhân dân ở quanh thị xã Xavannakhet kéo vào thị xã, chiếm lấy nhà bưu điện Tháng 4/1902, nhân dân lại kéo vào thị xã, uy hiếp cả tòa Công sứ Pháp Thực dân Pháp điều lính khố xanh do sĩ quanPháp chỉ huy, đàn áp, bắn giết, làm bị thương một số người Phacađuôc và một số cán bộ trung kiên rút lên cao nguyên Ta Hoi và chuyển đến vùng giáp biên giới Việt Nam để tiếp tục cuộc chiến đấu Tuy nhiên, do bị truy lùng ráo riết và bị rơi vào ổ phục kích, Phacađuôc và nhiều chiến hữu của ông đã bị bắt và bị sát hại vào cuối năm 1902,

Phong trào Phacađuôc tuy chỉ diễn ra trong vòng một năm, nhưng đã diễn ra ở vùng đông dân cư ngay trong một thị xã lớn, nên đã có tiếng vang và có ý nghĩa lớn Phong trào Phacađuôc mở đầu cho cuộc đấu tranh giànhđộc lập tự do của nhân dân Lào trong suốt hơn 80 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1893-1975)

Pucômbô

Pucômbô - lãnh tụ phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân Campuchia trong những năm 1866-1867 Pucômbô là nhà sư yêu nước người Khơme bị thực dân Pháp bắt quản thúc tại Sài Gòn vào giữa năm 1865 Sau gần một năm bị giam lỏng, nhân lúc địch sơ hở, ông đã trốn khỏi Sài Gòn đến Tây Ninh, vùng giáp biên

Trang 22

giới giữa hai nước Việt Nam - Campuchia để hoạt động Để dễ vận động nhân dân ông tự xưng là con vua AngChan Ông thành lập một đội nghĩa quân bao gồm cả người Khơme, người Việt, người Chàm và các dân tộc khác

Pucômbô có tài về quân sự Ông đã giáng cho thực dân Pháp và bọn tay sai nhiều đòn thất bại nặng nề Trận tấn công đầu tiên của nghĩa quân vào Tây Ninh ngày 7/6/1866 Sau đó là những trận tiêu diệt các đội quân tiếp viện của địch trong suốt tháng 6/1866 Thủ lĩnh nghĩa quân Việt Nam là Trương Quyền đã liên hệ mật thiết vớiPucômbô tổ chức những trận chiến đấu phối hợp

Từ 7/1866, nghĩa quân chuyển về hoạt động trên lãnh thổ Campuchia Nghĩa quân chiến đấu rất linh hoạt, lúc nơi này, lúc nơi khác, giáng cho địch những đòn bất ngờ Lúc đầu, nghĩa quân hoạt động ở tỉnh Ba Phnôm, quân triều đình do viên thượng thư Bộ binh chỉ huy, kéo đến đàn áp, đã bị đánh tan tác, bản thân viên thương thư bị tử trận Thực dân Pháp đưa một lực lượng quân sự, được trang bị đầy đủ, phối hợp với quân triều đình, càn quét vùng Ba Phnôm Nghĩa quân chuyển sang đánh Uđông, quân triều đình khốn đốn Thực dân Pháp đưa quân đến cứu nguy cho Uđông, nghĩa quân đã nhanh chóng chuyển sang vùng khác Cuối năm 1867, Pucômbô dẫn nghĩa quân đột nhập tỉnh Compông Soài (tức Compông Thom) Thực dân Pháp đã mang quân đến bao vây

họ Nghĩa quân đã chiến đấu dũng cảm đến người cuối cùng, không ai đầu hàng hay bỏ chạy Thủ lĩnh

Pucômbô bị trọng thương, rơi vào tay quân địch Thực dân Pháp đã chặt đầu ông, rồi mang về Phnôm Pênh bêu

ở gần hoàng cung nhằm khủng bố tinh thần nhân dân Campuchia

CAĐE (APĐEN) (1808-1883)

Apđen Cađe (Abdel Kader) - Lãnh tụ phong trào khởi nghĩa chống Pháp của nhân dân Angêri 1932 - 1847 Apđen Cađe là tù trưởng của một bộ lạc Arập ở Maxcara (Angiêri) Trước khi Angiêri trở thành thuộc địa của Pháp, Angiêri là một quốc gia tự trị do bọn lãnh chúa phong kiến cai trị và phải cống nạp cho đế quốc Thổ Nhĩ

Trang 23

Kỳ Apđen Cađe là người có nghĩa khí, nhiều lần đứng lên phản đối sự chuyển chế của các lãnh chúa, bảo vệ quyền lợi nhân dân các bộ lạc, do đó có uy tín lớn trong các bộ lạc Năm 1830, thực dân Pháp đổ bộ vào Angiêri, chiếm đóng thủ đô Angiê Năm 1832, Apđen Cađe lãnh đạo nhân dân Angiêri nổi dậy chống bọn xâm lược Pháp Ngoài việc dựa vào nhân dân Arập và Becbe, ông còn liên hệ với nước láng giềng Marôc, để chống lại thực dân Pháp Ông đã vận dụng chiến tranh du kích, đánh bại nhiều cuộc tấn công của quân đội viễn chinh Pháp, mặc dầu quân Pháp được trang bị ưu việt hơn hẳn nghĩa quân Năm 1837, Pháp phải ký với Apđen Cađe một hiệp ước thừa nhận chủ quyền của ông ở miền Tây Angiêri

Tháng 7-1839, thực dân Pháp bội ước, chúng đã tập trung binh lực tấn công Apđen Cađe Sau khi tổng hành dinh của ông bị thất thủ và bạn đồng minh Marôc của ông bị bại trận ở Isly (giáp giới với Angiêri), năm 1847, ông phải đầu hàng thực dân Pháp Ông bị đưa về Pháp giam cầm cho đến năm 1952, thì bị đưa sang quản chế ởDamat (Xyri) và mất ở đây năm 1883

Apđen Cađe là người anh hùng dân tộc Angiêri, được nhân dân kích phục Năm 1966, sau khi Angiêri giành được độc lập, chính phủ Angiêri đã đưa thi hài của ông về nước

Trang 24

CAĐE (APĐEN) (1808-1883)

LÊNIN (1870 - 1924)

Trang 25

Vlađimia Ilitsơ Ulianôp (Vlađimir Ilitch Oulianov)? tức Lênin - nhà tư tưởng, và hoạt động cách mạng vĩ đại Nga, người lãnh đạo cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga thắng lợi và xây dựng nhà nước Liên

nổ ra, Lênin trở về nước lãnh đạo cách mạng Cuối năm 1907, để tránh chính quyền Nga hoàng khủng bố, Lênin lại ra sống ở nước ngoài

Trong Chiến tranh thế giới I (1941 - 1948) - Lênin kiên quyết chống chiến tranh đế quốc trong khi bọn lãnh tụ

cơ hội chủ nghĩa của các Đảng Xã hội dân chủ Tây Âu trong Quốc tế II ủng hộ giai cấp tư sản nước mình, phản bội quyền lợi của giai cấp công nhân Lênin đề ra khẩu hiệu: Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng Sau khi cuộc Cách mạng dân chủ tư sản Nga tháng 2-1917, Lênin từ Thụy Sĩ trở về nước và trình bày một bản cương lĩnh quan trọng vạch ra đường lối lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn mới, được gọi là Luận cương tháng Tư nổi tiếng Tháng 7-1917, Chính phủ lâm thời tư sản ra lệnh truy nã Lênin, buộc Lênin phải sống ẩn náu, sau đó ra nước ngoài Ngày 7-10-1917 (20-10-1917), Lênin bí mật từ Phần Lan trở về

Pêtơrôgrat để lãnh đạo Cách mạng tháng Mười Nga Đêm 25-10 (7-11-1917), đại hội Xô viết toàn Nga lần thứ hai đã long trọng tuyên bố nước Nga là nước Cộng hòa Xô viết của công nhân và nông dân, và nầu Lênin là Chủ tịch Hội đồng ủy viên nhân dân (chính phủ cách mạng) đầu tiên của nước Cộng hòa Xô viết Nga

Lênin đã xây dựng chính quyền mới, xây dựng cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh thắng lợi chống cuộc can thiệp vũ trang của bọn đế quốc và nội chiến, xây dựng Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) (1922) Lênin còn là người sáng lập ra Quốc tế II hay Quốc tế Cộng sản (3-1919), đấu tranh kiên quyết chống chủ nghĩa cơ hội "hữu" khuynh và bệnh ấu trĩ "tả" khuynh trong phong trào cộng sản

Bị thương nặng do bọn phản cách mạng mưu sát (năm 1818), sức khỏe ngày càng giảm sút, Lênin vẫn dành những ngày cuối cùng của đời mình để vạch ra đường lối, phương châm và kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô Lênin mất ngày 21-1-1924 Nhân dân Liên Xô, giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc bị

áp bức trên toàn thế giới đời đời nhớ ơn Người

Trang 26

LÊNIN (1870 - 1924)

LƠVÔP (1861 - 1952)

Ghêoocghi Iepghêniêvitsơ Lơvôp (Ghéorghi Ievghenivvitch Lvov, huân tước) - chính khách Nga, Thủ tướng Chính phủ lâm thời tư sản sau cuộc Cách mạng dân chủ tư sản tháng 2-1917 ở Nga

Trang 27

Lơvôp sinh ngày 2-11-1861 trong một gia đình đại địa chủ quý tộc ở Pôpôpka, gần Tula Ông tham gia hoạt động chính trị khá sớm Năm 1906, ông được bầu vào Viện Đuma (nghị viện lập pháp ở Nga dưới thời Nga hoàng) lần thứ nhất và ngồi dự cùng với các Đảng viên Đảng Dân chủ lập kiến Trong Chiến tranh thế giới I, ông là Chủ tịch Liên minh hội đồng địa phương toàn Nga Sau cuộc Cách mạng dân chủ tư sản tháng 2-1917 ở Nga, ông được chỉ định làm Thủ tướng Chính phủ lâm thời lần thứ nhất, kiêm Bộ trưởng Nội vụ (3-7-1917) Trong Chính phủ lâm thời tư sản của ông gồm đa số bộ trưởng thuộc các đảng của giai cấp tư sản và đại địa chủ, chỉ có một đại biểu của đảng thuộc giai cấp tiểu tư sản - Đảng Xã hội - cách mạng là Kêranxki Thời gian hai chính quyền song song tồn tại, bên cạnh Chính phủ lâm thời tư sản còn có các Xô viết đại biểu công nhân

và binh lính ở thủ đô Pôtơrôgat và các thành phố khác Sau những cuộc biểu tình lớn của quần chúng nhân dân trong tháng 4-1917, Chính phủ lâm thời đã phải cải tổ, trở thành Chính phủ liên hiệp vẫn do Lơvôp cầm đầu Trong Chính phủ liên hiệp, thành phần tư sản giảm bớt và thành phần tiểu tư sản - bọn Xã hội cách mạng và bọn Mensơvich tăng thêm Chính phủ liên hiệp Lơvôp chủ trương tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh đế quốc

và đàn áp nhân dân trong nước Do những thất bại ngoài mặt trận và vì những cuộc biểu tình của nhân dân, đầutháng 7-1917, Chính phủ liên hiệp Lơvôp bị đổ Lơvôp nhường chức vụ thủ tướng cho Kêrenxki Năm sau, Lơvôp sống lưu vong ở Pháp và tham gia tổ chức can thiệp vũ trang của nước ngoài chống nước Nga Xô viết

KÊNENXKI (1881 - 1970)

Ngày đăng: 06/07/2013, 01:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

• Đám mây hình nấm do quả bom nguyên tử ném xuống Nagasaki, Nhật Bản vào năm 1945 cao đến 18 km.năm 1945 cao đến 18 km. - nhan vat lich su 11
m mây hình nấm do quả bom nguyên tử ném xuống Nagasaki, Nhật Bản vào năm 1945 cao đến 18 km.năm 1945 cao đến 18 km (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w