1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

nhân vật lịch sử 10,11

62 717 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những nhân vật lịch sử 10&11
Người hướng dẫn GV Phương Quốc Oai - Tổ Lịch Sử
Trường học Trường THPT Đoàn Kết
Thể loại tài liệu
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 2,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giengit Khan đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức và huấn luyện quân đội, biến những người dân du mục thành những kị binh ưu tú, Giengit Khan đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược tàn khố

Trang 1

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

KHỐI 10

Tần Thủy Hoàng (221-210 TCN)

Tần Thủy Hoàng (hay Tần Thủy Hoàng đế ) hiệu của vua Tần Doanh Chính, hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc thống nhất Doanh Chính lên ngôi vua nước Tần vào năm 246 TCN Nước Tần hùng mạnh nhất trong bảy nước lớn thời Chiến Quốc Trong vòng 10 năm, từ 230-221 TCN, Doanh Chính lần lượt chinh phục các nước Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề Sau khi thống nhất đất nước, Doanh Chính xưng làm hoàng đế năm 221 TCN, lấy hiệu là Thủy Hoàng Đế (Hoàng đế đầu tiên) của nhà Tần

Sự thống nhất Trung Quốc của Tần Thủy Hoàng đã chấm dứt thời kỳ phân tranh cát cứ kéo dài 550 năm(thời Xuân Thu - Chiến Quốc, 770-221 TCN), đảm bảo cho nhân dân được yên ổn làm ăn Những chính sách cai trị của Tần Thủy Hoàng được áp dụng trong toàn quốc như chia nước thành quận huyện do quan lại của triều đình cử xuống cai trị, pháp luật, tiền tệ, chế độ đo lường được thống nhất trong toànquốc Tuy nhiên, trong khi xây dựng bộ máy nhà nước chuyên chế trung ương tập quyền, Tần Thủy Hoàng lại dùng pháp luật khắc nghiệt để cai trị nhân dân Các học giả phái Nho phê phán chính sách tàn bạo của vua Tần bị đàn áp tàn khốc (460 học trò phái Nho gia bị chôn sống)

Tần Thủy Hoàng mở nhiều cuộc chiến tranh xâm lược ra bên ngoài, đánh đuổi người Hưng Nô ở

Phương Bắc, xâm lược đất đai và đặt ách đô hộ các tộc Bác Việt ở Phương Nam Để thỏa mãn cuộc sống xa hoa, Tần Thủy Hoàng đã bắt nhân dân lao dịch cực khổ xây dựng nhiều công trình đồ sộ như Vạn Lý trường thành ở biên giới phía Bắc, lăng Li Sơn và cung A Phòng ở kinh đô Hàm Dương và hơn

700 hành cung rải rác khắp cả nước

Tần Thủy Hoàng chết trong một cuộc tuần du lịch địa phương Thi hài của ông được chôn cất nghiêm mật ở lăng Li Sơn Vua kế nghiệp Tần Nhị Thế ra lệnh chôn theo Tần Thủy Hoàng tất cả những cung phi chưa có con, đồng thời lấp kín hầm mộ, không cho những người làm nhiệm vụ chôn cất Tần Thủy Hoàng ra khỏi hầm mộ để giữ bí mật lăng vua Sau khi Tần Thủy Hoàng chết, nhân dân Trung Quốc căm phẫn, oán giận sự thống trị tàn bạo của nhà Tần, đã nổi dậy khởi nghĩa khắp nơi, lật đổ ách thống trịnhà Tần

GIENGIT KHAN (Thành Cát Tư Hãn) (1206 - 1227)

Giengit Khan tên hiệu của Têmudin (Thiết Mộc Chân) (1155 - 1227)- vua đầu tiên của đế quốc Mông

Cổ, nổi tiếng trong lịch sử trung đại về tài quân sự thao lược, cũng như về sự tàn bạo

Giengit Khan xuất thân trong một gia đình quý tộc thị tộc Mông Cổ, con trai của thủ lĩnh bộ lạc Taisiut Ông thông minh, khôn ngoan, dũng cảm, nhưng cũng hết sức lạnh lùng, tàn nhẫn Năm 1189, Têmudin được giới quý tộc trong bộ lạc mình bầu làm thủ lĩnh bộ lạc (gọi là Khan) Năm 1206, trong hội nghị quý tộc thị tộc Kuruntai của liên minh bộ lạc Mông Cổ - Tatarơ (Thái Đát0), Têmudin được bầu làm thủlĩnh tối cao của liên minh bộ lạc (gọi là Khan lớn hay vua) Têmudin lấy biệt hiệu là Giengit Khan (vua của những người dũng cảm).Sau khi nắm quyền hành, Giengit Khan xây dựng liên minh bộ lạc Mông

Cổ - Tatarơ thành một quốc gia phong kiến tập trung hùnh mạnh Giengit Khan đặc biệt quan tâm đến việc tổ chức và huấn luyện quân đội, biến những người dân du mục thành những kị binh ưu tú, Giengit Khan đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc, chiếm đóng một lãnh thổ rộng lớn bao gồm miềnNam Xibia, Bắc Trung Quốc, Trung á và một phần ngoại Capcadơ Quân đội Mông Cổ đi đến đâu, tàn phá, giết chóc, cướp bóc khủng khiếp đến đó Nhiều thành thị, làng mạc bị thiêu trụi, biến thành đống gạch vụn, xác chất cao như núi Nhân dân nhiều nơi đã nổi dậy, kháng chiến anh dũng chống trả quyết liệt quân xâm lược Mông Cổ

Trang 2

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

Năm 1227 trên đường viễn chinh, Giengit Khan lâm bệnh rồi chết Đế quốc Mông Cổ còn được những người thừa kế của Giengit Khan tiếp tục bành trướng, mở rộng bằng chiến tranh xâm lược tàn bạo

Thành Cát Tư Hãn

Hồng tú Toàn (1813 - 1864)

Hồng Tú Toàn - lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa nông dân Thái Bình thiên quốc ở Trung Quốc

Hồng Tú Toàn xuất thân trong một gia đình trung nông ở Quảng Đông Khi còn nhỏ, học rất thông minh; sau gia đình gặp khó khăn, ông phải nghỉ học ở nhà giúp đỡ gia đình và trở thành thầy đồ dạy trẻ Ông mấy lần đi thi nhưng không đỗ Một lần, tình cờ đọc cuốn Lời lành răn đời của Hội Truyền bá đạo Kitô xuất bản ở Quảng Châu, đang sẵn có tâm lý bất mãn với chế độ khoa cử, căm thù sự hủ bại của triều đình Mãn Thanh và thông cảm với nỗi thống khổ của nhân dân, ông đã quyết tâm lấy chủ nghĩa bình đẳng của đạo Kitô làm gốc, sáng lập ra đạo "Bái Thượng đế" để tập hợp nhân dân chống lại chính quyền Mãn Thanh

Năm 1844, ông đi truyền đạo và năm 1850, phát động khởi nghĩa vùng núi tỉnh Quảng Tây Sau khi giành được một số thắng lợi, ông tuyến bố thành lập chính quyền mới gọi là Thái bình thiên quốc, tự xưng là Thiên vương và phân phong cho các tướng lĩnh Tháng 3-1853, quân Thái Bình chiếm được Nam Kinh, đặt làm kinh đô của Thái Bình thiên quốc và đổi tên là Thiên kinh Ngoài việc tiến hành Bắc phạt và Tây chinh nhằm lật đổ triều đình Mãn Thanh, Hồng Tú Toàn còn ban bố Chế độ ruộng đất thiên triều và nhiều chính sách cải cách chính trị, xã hội tiến bộ khác Nhưng Thái Bình thiên quốc đã không xây dựng những căn cứ vững chắc trong những vùng mình chiếm đóng Bộ phận lãnh đạo phạm vào nhiều sai lầm về chính trị và quân sự Năm 1856, Hồng Tú Toàn thủ tiêu một số tướng tá có thế lực của Thái bình thiên quốc (trong đó có Dương Tú Thanh, một viên tướng tài giỏi, thành phần cố nông) không

ăn cánh với mình, làm cho lực lượng cách mạng giảm sút đi nhiều.Các nước tư bản phương Tây (Anh, Pháp, Mỹ) lợi dụng sự rối ren của đất nước Trung Quốc, trước hết dùng vũ lực buộc triều đình Mãn Thanh khuất phục (Cuộc chiến tranh thuốc phiện lần thứ 2 1857 - 1860), sau đó tích cực giúp đỡ triều đình Mãn Thanh và bọn địa chủ quan liêu vũ trang tấn công Thái bình thiên quốc Năm 1864, Thiên Kinh bị quân đội Mãn Thanh và đội vũ trang của bọn địa chủ quan liêu bao vây chặt Quân đội và tàu chiến của Anh, Pháp, Mỹ cũng tham gia tấn công Nghĩa quân và nhân dân trong thành chiến đấu dũng cảm Khi thành Thiên Kinh sắp thất thủ, Hồng Tú Toàn đã tự vẫn (1-6-1864)

Trang 3

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

là Đại Đô (Bắc Kinh ngày nay) và năm 1271 đặt tên nước là Nguyên, xưng là Nguyên Thế Tổ Năm

1267, Khubilai bắt đầu cho quân xâm lược Nam Tống Năm 1276, kinh đô của Nam Tống là Lâm An (Hà Châu) bị chiếm đóng, vua Tống Cung Đế bị bắt, đưa về Bắc Cuộc kháng chiến của quân dân Nam Tống còn kéo dài đến năm 1279 mới bị tan rã

Với chính sách giết sạch, cướp sạch, đốt sạch của người Mông Cổ, đất nước Trung Hoa bị tàn phá nặng

nề Nguyên Thế Tổ (Khubilai) được bọn Hán gian giúp sức, đã tổ chức lại bộ máy nhà nước giống như các triều đại phong kiến trước, những người Mông Cổ và các dân tộc khác đi theo Mông Cổ vào xâm lược Trung Quốc được dành quyền ưu đãi Mâu thuẫn dân tộc kết hợp với mâu thuẫn giai cấp đã tồn tại trong suốt thời kỳ thống trị của nhà Nguyên

Sau khi chinh phục Nam Tống xong Nguyên Thế Tổ tiếp tục bành trướng xuống phương Nam Năm

1282, quân Nguyên do Toa Đô chỉ huy, vượt biển, xâm chiếm Champa Năm 1285 và năm 1287 - 1288, hai lần quân Nguyên do Thoát Hoan, con trai của Khubilai, cầm đầu kéo quân vào lâm lược Đại Việt Nhưng những cuộc xâm lược của quân Nguyên đều thất bại Từ đó nhà Nguyên không dám tiến xuống phương Nam nữa

Lí Uyên (618 - 626)

Lí Uyên người sáng lập triều đại nhà Đường, hiệu là Đường Cao Tổ

Lí Uyên nguyên là một võ tướng của nhà Tùy, trấn thủ Thái Nguyên (Sơn Tây) một địa điểm quân sự quan trọng bảo vệ biên giới phía Bắc, binh lực mạnh Vào cuối đời Tùy, do sự thống trị tàn bạo của vua Tùy Dưỡng Đế, phong trào khởi nghĩa của nông dân nổ ra khắp nơi Một cánh quân khởi nghĩa tấn công vào kinh đô thứ hai của nhà Tùy là Lạc Dương Tùy Dưỡng Đế bỏ kinh đô thứ nhất là Trường An, chạy xuống miền Nam Thấy tình hình nhà Tùy sắp sụp đổ, Lí Uyên bèn cùng với con là Lí Thế Dân, khởi binh ở Thái Nguyên, kéo về chiếm Trường An (617) Năm sau, khi nghe tin Tùy Dưỡng Đế bị bộ hạ giếthại tại Giang Đô, Lí Uyên lên ngôi hoàng đế lấy hiệu là Đường Cao Tổ, lập ra nhà Đường

Đường Cao Tổ (Lí Uyên) đã dần dần tiêu diệt hết các cánh quân khởi nghĩa và bọn phong kiến cát cứ ở các nơi, thống nhất đất nước Trung Quốc Đường Cao Tổ trị vì được 8 năm, thì xảy ra cuộc tranh chấp

đổ máu trong hoàng tộc Lí Thế Dân là người có công lao lớn trong việc xây dựng triều đại, nhưng lại là con thứ, không được quyền thừa hưởng ngôi báu, nên đã giết hết các anh em, buộc Đường Cao Tổ phải nhường ngôi cho Đường Thái Tổng (Lí Thế Dân) tiếp tục sự nghiệp của Đường Cao Tổ (Lí Uyên) đưa triều Đường trở thành một đế quốc hùng cường trong lịch sử Trung Quốc

Trang 4

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

Lí Tự Thành.

Lí Tự Thành - thũ lĩnh cuộc khởi nghĩa nông dân cuối đời Minh

Lí Tự Thành là con một gia đình nông dân nghèo, lúc nhỏ làm mục đồng cho nhà giàu, tự mình luyện tập cưỡi ngựa, bắn tên Khi lớn, ông bị bắt làm phu trạm vì phạm tội, phải bỏ trốn, làm nghề đồ tể để kiếm sống

Khi phong trào khởi nghĩa nông dân lan rộng, Lí Tự Thành tổ chức một đạo quân, nhận làm bộ tướng cho Cao Nghênh Tường Năm 1635, nhà Minh điều một lực lượng quân đội đến bao vây, nhằm tiêu diệt quân khởi nghĩa Cao Nghênh Tường hội tụ thủ lĩnh bàn việc phối hợp hành động, phá thế bị bao vây Trong cuộc họp, kế hoạch tác chiến của Lí Tự Thành được mọi người tán thành Nghĩa quân phá được vòng vây, tiến thẳng đến Phụng Dương (An Huy), đốt phá lăng tẩm của tổ tiên nhà Minh để tỏ rõ quyết tâm tiêu diệt triều Minh Năm 1636, Cao Nghênh Tường tử trận Lí Tự Thành lên thay, trở thành người lãnh đạo chủ chốt của nghĩa quân Để thu phục nhân tâm Lí Tự Thành phân phát của cải, chia đều ruộng đất, miễn giảm tô thuế, trọng vọng hiền tài và ban bố nghiêm lệnh Vì thế nghĩa quân được nhân dân ủng

hộ, đánh đâu thắng đấy.Năm 1644, Lí Tự Thành lên ngôi hoàng đế ở Tây An (Thiểm Tây), đặt tên nước

là Đại Thuận Sau đó, Lí Tự Thành tấn công và chiếm được Bắc Kinh Vua Minh Sùng Trinh Đế thắt cổ

tự tử.Khi nghe tin nhà Minh sụp đổ, viên tổng binh nhà Minh đóng giữ Sơn Hải Quan là Ngô Tam Quế

đã đầu hàng Mãn Thanh, Lí Tự Thành đem quân đánh Ngô Tam Quế bị liên quân Mãn Thanh - Ngô Tam Quế đánh bại Lí Tự Thành phải rút khỏi Bắc Kinh (sau 43 ngày làm chủ kinh thành), rời về Tây An; sau đó lại phải bỏ Tây An, chạy xuống Hồ Bắc Cuối cùng Lí Tự Thành bị lực lượng vũ trang của địa chủ bao vây và giết chết ở núi Cửu Cung

Lưu Bang

Lưu Bang (tức Hán Cao Tổ) lãnh tụ cuộc khởi nghĩa nông dân cuối Tần, lật đổ nhà Tần và đánh bại các lãnh tụ khác của cuộc khởi nghĩa, lên ngôi hoàng đế, hiệu là Hán Cao Tổ (202-195 TCN) thành lập nhà Hán

Sau khi Trần Thắng - Ngô Quảng phát động cuộc khởi nghĩa nông dân chống Tần được hai tháng, thì Lưu Bang là một viên đình trưởng ở ấp Bái (huyện Bái, Giang Tô) cũng nổi lên, giết viên lệnh huyện Bái, lập ra một cánh quân khởi nghĩa, tự xưng là Bái Công Lúc đầu, Lưu Bang đi theo đạo quân khởi nghĩa của hai chú cháu Hạng Lương, Hạng Vũ (Hạng Tịch) Sau khi Hạng Lương tử trận, Hạng Vũ trở thành người đứng đầu phong trào khởi nghĩa chống Tần Năm 207 TCN, Hạng Vũ đánh bại quân chủ lực Tần do Chương Hàm chỉ huy ở trận Cự Lộc (Hà Bắc) Lợi dụng lúc Hạng Vũ đang đánh nhau với quân Tần, Lưu Bang kéo quân vào kinh đô Hàm Dương của nhà Tần Khi đó, Tần Nhị Thế đã bị giết hại, vua Tần mới là Tử Anh ra hàng Lưu Bang hủy bỏ những chính sách tàn bạo của nhà Tần, duy trì kỷluật trong quân đội, cho nên được nhân dân Tần ngưỡng mộ

Sau đó Hạng Vũ cũng kéo quân vào Hàm Dương, giết chết vua Tần Tử Anh đã đầu hàng, đốt cháy cung điện của nhà Tần, cướp rất nhiều của cải châu báu và bắt phụ nữ đem về căn cứ Hạng Vũ tự xưng là Tây Sở bá vương, phân phong cho các tướng tá làm vua chư hầu, Lưu Bang được phong làm Hán Vương, cai trị đất Ba Thục và Hán Trung (vùng Tứ Xuyên ngày nay)

Chẳng bao lâu, một cuộc chiến tranh khốc liệt đã diễn ra giữa Hạng Vũ và Lưu Bang để giành bá quyền,gọi là Chiến tranh Hán - Sở (206 - 202 TCN) Buổi đầu, Sở mạnh hơn Hán, nên Hán thua Nhưng vì LưuBang biết dựa vào dân, tận dụng tài năng các tướng, cho nên lực lượng ngày càng lớn mạnh Còn Hạng

Vũ cậy mình khỏe mạnh, tài giỏi, đi đâu cũng ? giết người, đốt nhà, cho nên bị nhân dân chống lại, chư hầu phản bội, ngày càng bị cô lập Năm 202 TCN, trong trận quyết chiến Cai Hạ (huyện Linh Bích An

Trang 5

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

Huy), Hạng Vũ bị đánh thua, bỏ chạy đến sông Ô thì tự sát Lưu Bang lên ngôi hoàng đế, hiệu là Hán Cao Tổ

Chính quyền nhà Hán do Lưu Bang thành lập là chính quyền quân chủ chuyên chế tập quyền Lúc mới thành lập, các công thần của Hán Cao Tổ nắm giữ nhiều vùng đất đai rộng lớn, Hán Cao Tổ đã tìm cách

ám hại những người này (Hàn Tín, Bành Việt, Kình Bố v.v ) để thu hồi lại đất đai, nhưng sau đó lại phân cấp đất đai cho anh em con cháu mình làm vương hầu Vì thế chính quyền trung ương ở đầu đời Hán chưa thực sự được củng cố Về mặt kinh tế xã hội, Hán Cao Tổ đã ban hành nhiều chính sách tiến

bộ, nhờ đó đã sớm ổn định được xã hội và phát triển nền kinh tế, đặt nền móng cho sự thiết lập một đế quốc hùng mạnh trong lịch sử phong kiến Trung Quốc - đế quốc Hán

La quán Trung (k.1328 - 1398)

La Quán Trung - nhà văn lớn của Trung Quốc cuối Nguyên, đầu Minh, tác giả Tam Quốc chí diễn nghĩa La Quán Trung, tên chính là Bản, tự Quán Trung, ham mê du lịch nên còn biệt hiệu Hồ Hải tản nhân Tương truyền La Quán Trung xuất thân bản gia đình quý tộc ở đất Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây Từnhỏ, La Quán Trung đã nổi tiếng là người hay chữ, có tài văn chương Tuổi thanh niên, ông nuôi chí phòvua giúp nước; song lúc đó, triều đình nhà Nguyên đang suy tàn, ông bỏ đi phiêu lãng Có tài liệu nói, ông tham gia nghĩa quân nông dân Trương Sĩ Thành chống Nguyên Sau khi Chu Nguyên Chương diệt nghĩa quân Trương Sĩ Thành, ông không tham gia hoạt động chính trị nữa, mà chuyển sang hoạt động văn chương Ngoài Tam Quốc chí diễn nghĩa, ông còn có những bộ tiểu thuyết khác như Tùy Đường lưỡng triều chỉ truyện, Tấn Đường ngũ đại sử diễn nghĩa Những bộ tiểu thuyết này của ông đã bị người đời sau thay đổi đi nhiều không còn như nguyên tác nữa

Sáng tác Tam Quốc chí diễn nghĩa, La Quán Trung căn cứ vào những truyện kể dân gian, có tham khảo

bộ chính sử Tam Quốc chí của Trần Thọ (viết vào đời Tấn), và Tam Quốc chí chú của Bùi Tùng Chi (đời Lưu Tống - Nam Triều)

Tam Quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung gồm 240 hồi, kể lại cuộc tranh chấp giữa ba tập đoàn phong kiến Ngụy, Thục, Ngô thời Tam Quốc, diễn tả sinh động những nhân vật, những cuộc chiến tranhtàn khốc, những tai họa và nỗi thống khổ của nhân dân Tác phẩm là một bộ bách khoa về lịch sử, quan

hệ xã hội, đặc biệt có nhiều tri thức vầ quân sự Bộ Tam Quốc chí diễn nghĩa về sau được Mao Tôn Cương (đời Thanh) chỉnh lý còn 120 hồi và thêm lời bàn, hiện nay đang lưu truyền

Tào Tuyết Cần (1723-1763)

Tào Tuyết Cần, - nhà văn lớn đời Thanh, Trung Quốc, tác giả tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng

Tào Tuyết Cần tên là Chiêm, tự Mông Nguyên, xuất thân trong một gia đình quý tộc người Hán, nhập quốc tịch Mãn Châu Ông sinh ở Nam Kinh, nhưng sống và làm việc tại Bắc Kinh Bố của Tào Tuyết Cần là một quý tộc quan lại nhà Thanh, nhưng đế đời vua Ung Chính thì bị cách chức, từ đó gia cảnh sa sút, cuộc sống túng thiếu Thuở niêu thiếu, Tào Tuyết Cần luôn sống trong cảnh bần hàn, cô độc và bất đắc chí, do vậy ông đã nhận rõ sự mục nát và những thói hư tật xấu của bọn vua quan phong kiến Mãn Thanh Tào Tuyết Cần có thái độ phê phán nghiêm khắc về chế độ khoa cử đương thời,về chức tôn giáo

và những đạo đức cổ hủ của xã hội phong kiến Trung Quốc

Hồng Lâu Mộng (giấc mộng lầu son) miêu tả một cách sinh động và sâu sắc xã hội phong kiến Trung Quốc đang trong thời kỳ suy tàn Thông qua tấn bi kịch của đôi thanh niên nam nữ Giả Bảo Ngọc, một chàng công tử quý tộc là Lâm Đại Ngọc, một cô gái xinh đẹp, bệnh tật, cõi cút, tác giả đã khắc họa sự

Trang 6

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

thối nát của xã hội đại quý tộc và những con bài của nó Bộ tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng gồm 120 hồi, nhưng Tào Tuyết Cần mới xong 80 hồi đầu thì mất, hơn 20 năm sau, Cao Ngạc, một nhà văn từng đỗ tiến sĩ, có lẽ được xem qua bản thảo viết dở của Tào Tuyết Cần, đã viết tiếp mà rất ăn khớp 40 hồi sau

Dưới thời Asôca, đạo Phật phát triển mạnh và được coi là quốc giáo Nhà vua đã gia nhập hội Phật giáo Dưới sự bảo trợ của Asôca, lần đầu tiên trong lịch sử ấn Độ và lịch sử Phật giáo, một đại hội Phật giáo

có tính chất quốc gia đã được triệu tập tại kinh đô Pataliputơra Nhờ đại hội này, giáo hội Phật giáo đã được củng cố và hoàn thiện với hệ thống tổ chức, giáo lý, lễ nghi và cùng với nó là việc xuất hiện nhiều chùa chiền, nhiều ngôi mộ hình tháp (stupa) Asôca còn khuyến khích việc truyền bá đạo Phật ra nước ngoài Một phái đoàn trong đó có em trai và em gái của Asôca tham gia đã được phái sang truyền đạo ở Xrilanca (đảo Xâylan) và trồng cây bồ đề làm lưu niệm ở bên đó

ASÔCA (292 - 237 TCN)

Trang 7

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

ACƠBA (1542 - 1605)

Acơba (Akbar) - hoàng đế hùng cường nhất của triều đại Môgôn ở ấn Độ, trị vì 1556 - 1605

Acơba sinh ra trong lúc vua cha là Humayun đang trên đường đi lánh nạn Từ nhỏ, Acơba đã biểu lộ một

tư chất đặc biệt về thể thao và võ nghệ Khi Hamayun khôi phục lại được ngôi báu, Acơba mới 13 tuổi

đã được phong làm tổng trấn xứ Pungiap và năm 14 tuổi, khi vua cha mất, lên ngôi hoàng đế ở Đêli Acơba một mặt thiết lập chính quyền chuyên chế tập trung cao độ, tiến hành chinh phục và đàn áp khốc liệt các vùng lân cận không chịu quy thuận; mặt khác, lại thi hành chính sách khoan dung đối với mọi tôn giáo Tuy là một tín đồ trung thành của đạo Hồi, ông đã có một thái độ rất độ lượng đối với mọi tôn giáo đang tồn tại ở ấn Độ Ông đã ra lệnh bãi bỏ "thuế đầu người" hay "thuế ngoại đạo", một thuế đánh vào bất cứ người dân nào không theo đạo Hồi Ông khuyến khích quý tộc Mông Cổ kết thân với quý tộc

ấn Độ theo ấn giáo Chính Acơba cũng lấy một công chúa xứ Ratputana theo ấn giáo làm vợ và tuyển nhiều cung phi là con gái của các gia đình quý tộc ấn Độ Acơba thực hiện chính sách trọng đãi người tài, tuyển dụng cả những người ấn Độ theo ấn giáo vào những chức vụ cao trong chính quyền Do đó, Acơba đã đưa đế quốc Môgôn trở thành đế quốc hùng cường nhất trong lịch sử ấn Độ

Tuy bản thân không biết chữ, nhưng Acơba rất trọng đãi các trí thức và văn nghệ sĩ Trong cung điện của Acơba thường tổ chức những buổi bàn luận của các học giả Nhà vua hăng hái tham gia thảo luận với họ về các vấn đề văn học, triết học, tôn giáo Acơba đã cho thành lập một thư viện lớn gồm hàng vạncuốn sách chép tay và những bản dịch sách cổ ấn Độ sang tiếng Ba Tư (ngôn ngữ được sử dụng ở triều đình Môgôn) Một sử gia đã gọi Acơba là "nhà vua học giả uyên bác không biết chữ"

KILIĐASA (T.K.IV-V)

Kaliđasa - nhà thơ lớn của ấn Độ, ở thời Gupta, tác giả vở kịch Sơkuntơla nổi tiếng

Theo truyền thuyết, Kaliđasa mồ côi cả cha lẫn mẹ từ bè, được một người chăn bò nuôi dưỡng Lớn lên, Kađiđasa là một chàng trai khỏe mạnh, nhưng trí tuệ rất kém cỏi Về sau được nữ thần Kali truyền cho trí tuệ và óc thông minh Do vậy, ông đã lấy tên là "kẻ nô lệ của thần Kali" (Kaliđasa) Kaliđasa đã hấp thụ được những truyền thống văn hóa lâu đời và rực rỡ của nền văn minh ấn Độ Bản chất là một người yêu thiên nhiên, yêu cái đẹp, đặc biệt là lòng thương yêu con người sâu sắc, Kaliđasa đã tiếp tục phát triền chủ đề tình yêu trong một xã hội mà chế độ đẳng cấp khắc nghiệt đang ngự trị, và có lẽ cũng chính

vì thế Kaliđasa đã trở thành một trong những nhà thơ, nhà viết kịch lớn của thời đại Kaliđasa được vua

ấn Độ Vikrammađitya (biệt hiệu của Chandragupta II) mời vào cung và được coi là một trong chín viên ngọc quý của hoàng cung

Kaliđasa có nhiều sáng tác về thơ ca, về kịch, trong đó nổi tiếng nhất là tập thơ trỡ tình Mây đưa tin và

vở kịch thơ Sơkuntơla viết bằng tiếng Sănxkri Đối với nhân dân ấn Độ, Sơkuntơla của Kaliđasa từ lâu

đã đi vào tâm tư tình cảm của họ, đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho những sáng tác, những hoạt động văn hóa của họ (ngâm vịnh, diễn kịch, đóng phim, hội họa, âm nhạc ) Kaliđasa cũng được dịch

ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, đã được dàn dựng ôpêra, quay phim và công diễn ở khắp mọi nơi

Trang 8

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

GAMA (VAXCÔ ĐƠ) (k 1469 - 1524)

Vaxcô đơ Gama (Vasco de Gama) - nhà hàng hải Bồ Đào Nha đã hoàn thành cuộc thám hiểm vòng quanh châu Phi sang ấn Độ lần đầu tiên (1497 - 1498)

Vaxcô đơ Gama thủy thủ Đồ Đào Nha, từ thời niên thiếu đã theo các tàu buôn qua lại nhiều nước ở châu

Âu và dọc bờ biển châu Phi Sau cuộc thám hiểm thành công của Bactôlômêu Điaxơ tới mỏm cực Nam châu Phi (1487), nhiều nhà hàng hải muốn tiếp tục hoàn thành cuộc thám hiểm sang ấn Độ, nhưng vua

Bồ Đào Nha đã chọn Vaxcô đơ Gama, nhà hàng hải dũng cảm và có chí lớn này thực hiện

Ngày 6-7-1497, Vaxcô đơ Gama chỉ huy đoàn tàu gồm 4 chiếc Caravela cùng 168 thủy thủ, mở đầu cuộc thám hiểm Cuối năm, họ tới mũi Bão Táp và đi lên phía Bắc Vaxcô đơ Gama loanh quanh ở bờ biển phía đông Châu Phi một thời gian không dám vượt qua ấn Độ Dương Sau nhờ một thủy thủ ARập thông thuộc đường đi và hiểu biết gió mùa ở ấn Độ Dương dẫn đường đoàn tàu của Vaxcô đơ Gama cậpđược bến Calicut ở bờ biển Tây Nam ấn Độ (1498) Lưu lại ở đây hơn một năm, tiến hành nhiều cuộc cướp bóc và cũng xảy ra nhiều vụ xung đột với các tàu buôn ARập và dân địa phương, đến tháng 8-

1499, đoàn tàu của Vaxcô đơ Gama trở về nước, chỉ còn 55 người sống sót, nhưng chở về đầy vàng và hương liệu Sau đó, Vaxcô đơ Gama còn trở lại ấn Độ nhiều lần và đã hi sinh trên đất ấn Độ

GAMA (VAXCÔ ĐƠ)

Ngày 3-8-1492, Côlômbô được phong Đô đốc, cầm đầu một đoàn tàu gồm ba thuyền buồm và 60 thủy thủ rời cảng Palôxơ (Nam Tây Ban Nha) đi tìm đường sang ấn Độ theo hướng tây Sau hai tháng rưỡi lênh đênh ngoài biển khơi Đại Tây Dương đầy gian khổ và lo âu, ngày 12-10-1492, đoàn tàu của

Côlômbô đến được vùng quần đảo Bahama, rồi Cuba và Haiti Côlômbô tưởng rằng mình đã đến Nhật Bản hoặc những hòn đảo ven bờ ấn Độ (cho nên ông gọi dân bản xứ là người ấn Độ - Indian) Nhưng gần nửa năm sục sạo ở các hòn đảo này, ông không tìm thấy hạt tiêu và hương liệu và những thứ hàng đắt giá ở châu Âu, mà chỉ thu hoạch được một ít vàng và đường Tháng 3-1943, ông trở về Tây Ban

Trang 9

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

Nha, được triều đình và nhân dân Tây Ban Nha đón tiếp trọng thể Ông được vua Tây Ban Nha phong phó vương các thuộc địa ở Tần lục địa

Từ 1493 - 1504, Côlômbô còn thực hiện ba chuyến thám hiểm nữa sang lục địa mới Ông đã khám phá

ra hầu hết các đảo trên quần đảo Ăngti và cả bờ biển Trung Mỹ Nhưng số vàng bạc và của cải mà ông mang về cho vua Tây Ban Nha quá ít ỏi, vì thế ông không được nhà vua tín nhiệm nữa Năm 1506, ông mất tại một thành phố nhỏ ở miền Bắc Tây Ban Nha trong sự nghèo khổ và lãng quên

Magienlan Tiếp theo, đoàn thám hiểm đi vào một đại dương trong cảnh bể lặng sóng yên Magienlan đặt tên là Thái Bình Dương Thái Bình Dương rộng lớn hơn Đại Tây Dương nhiều Đoàn thám hiểm lênh đênh giữa biển khơi hơn một năm trời, đói khát, bệnh tật đã làm họ kiệt quệ Tháng 2.1521, đoàn thám hiểm đến Philipin Magienlan tìm thấy ở đây có nhiều hồ tiêu, hương liệu, mặt hàng rất quý đối với châu Âu Trong những cuộc đụng độ, cướp đoạt những sản phẩm này của dân bản xứ nhiều thủy thủ

bị giết, bản thân Magienlan cũng bị chết ngày 6/3/1521 Đoàn thám hiểm chỉ còn một tàu vượt qua mũi Nam Phi trở về nước

Ngày 15/4/1522, đoàn thám hiểm về đến Tây Ban Nha chỉ còn lại 13 thủy thủ, nhưng trên tàu đầy ắp hương liệu Magienlan cùng các thủy thủ đã thực hiện một cuộc hành trình - một chuyến đi vòng quanh thế giới lần đầu tiên Cuộc thám hiểm đã khẳng định là Trái Đất hình tròn

Ferdinand Magellan (c 1480-1521)

CANVANH (1509 - 1564).

Trang 10

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

Giăng Canvanh (Jean Calvin) - nhà cải cách tôn giáo Pháp, người sáng lập giáo hội Tin lành ở Giơnevơ

và đã gây ra một phong trào cải cách tôn giáo rộng lớn ở châu Âu

Canvanh sinh ngày 10-9-1509 tại thị trấn Noayông, miền Bắc nước Pháp Cha ông làm thư ký cho vị giám mục của xứ này, và muốn con mình trở thành luật sư, nên đã gửi ông học luật ở trường đại học Pari Tại thủ đô nước Pháp, ông đã tiếp thu tư tưởng của các nhà nhân văn chủ nghĩa và tư tưởng cải cách tôn giáo của Luthơ Khi chính quyền quân chủ chuyên chế Pháp tiến hành khủng bố những người theo cải cách tôn giáo, ông đã bỏ sang Đức, rồi sau định cư ở Giơnevơ

Năm 1536, ông đã cho ra mắt công chúng tác phẩm Thiết chế của đạo Kitô, trình bày một cách hệ thống

tư tưởng cải cách tôn giáo Giáo lý căn bản của ông là thuyết định mệnh Ông cho rằng số phận của mỗi người, giàu hay nghèo, là do Chúa trời định Nhưng người ta không biết được số mệnh của mình, mà cứ phải lao động, kinh doanh kiếm tiền hết sức mình, còn kết quả thành bại là do Thượng đế quyết định Thuyết định mệnh của Canvanh phản ảnh đúng thực trạng tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản, nhưng

nó cũng thúc đẩy sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa

Năm 1541, Canvanh đã xây dựng ở Giơnevơ một tổ chức Công xã của những người được lựa chọn hay quốc gia của Canvanh giáo Nhà thờ của giáo hội Canvanh được trang trí đơn giản, mục sư là người giảng giải giáo lý (chủ yếu là kinh Phúc âm) và lo về phần hồn của tín đồ Vai trò quản lý của công xã làthuộc về Hội đồng trưởng lão do tín đồ bầu ra

Tôn giáo cải cách của Canvanh đáp ứng được yêu cầu về tư tưởng và tổ chức của giai cấp tư sản, cho nên đã truyền bá rộng rãi ở Pháp, Anh và nhất là ở Nêđeclan

LUTHƠ (1483 - 1546)

Mactin Luthơ (Martin Luther) - nhà thần học, nhà cải cách tôn giáo ở Đức vào thế kỉ XVI, người đề xướng ra tôn giáo mới (Tân giáo) hay đạo Tin lành chống giáo hội Thiên chúa giáo phản động Luthơ sinh ngày 10-10-1483 ở thị trấn Âyxlêben, miền Trung nước Đức Cha ông là chủ hầm mỏ và lò luyện sắt Cha mẹ ông đều là những con chiên ngoan đạo, ông được học trường dòng và trở thành tu sĩ Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ thần học, năm 1513, ông làm giáo sư triết và thần học ở trường đại học Vitttenbec Nghiên cứu hình thức tổ chức và lễ nghi đơn giản của đạo Kitô nguyên thủy và chịu ảnh hưởng những

tư tưởng của các nhà nhân văn và cải cách giáo hội trước, Luthơ đã đề ra chủ trương "sự cứu vớt con người bằng lòng tin", có nghĩa là con người sẽ được cứu vớt bằng lòng tin vào Thượng đế, chứ không cần những lễ nghi phiền toái, tốn kém, tổ chức đẳng cấp giáo hội phức tạp và chế độ sở hữu ruộng đất

Trang 11

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

phong kiến của giáo hội Hay nói cách khác, Luthơ đã phát biểu quan điểm giáo hội "rẻ tiền" của giai cấp tư sản Năm 1517, Luthơ đứng lên phản đối việc bán thẻ xá tội của Giáo hoàng và viết một bài văn gồm 95 luận điểm để trình bày quan điểm của mình và đem dán ở trước cửa trường đại học Viitenbec Năm 1520, Giáo hoàng ban hành chiếu chỉ rút phép thông công (khai trừ khỏi giáo hội) đối với Luthơ Sinh viên ở trường đại học Vittenbec và đông đảo nhân dân quanh vùng, đã đem chiếu chỉ của Giáo hoàng rút phép thông công Luthơ ra đốt Cuộc vận động cải cách tôn giáo ở Đức bắt đầu Một số quý tộcphong kiến Đức đã đi theo tôn giáo cải cách (Tân giáo) để chiếm đoạt tài sản và tịch thu ruộng đất của giáo hội Thiên chúa giáo Nông dân Đức cũng nổi dậy chống lại cả giáo hội Thiên chúa giáo lẫn quý tộc phong kiến trong cuộc chiến tranh nông dân Đức (1524 - 1525) Luthơ đứng về phía quý tộc phong kiến Đức, kêu gọi quý tộc đàn áp cuộc khởi nghĩa nông dân Cải cách tôn giáo của Luthơ trở thành công cụ của một bộ phận quý tộc phong kiến Đức tăng cường thế lực chống lại hoàng đế Đức và bộ phận quý tộcphong kiến vẫn duy trì đạo Thiên chúa (gọi là phái Cựu giáo) Cuộc chiến tranh giữa hai phái Tân giáo

và Cựu giáo trong suốt hai thế kỷ XVI - XVII đã làm cho nước Đức bị tàn phá và kiệt quệ

Khi phong trào cải cách tôn giáo của Luthơ diễn ra, Muynxơ nhiệt liệt hoan nghênh Nhưng tư tưởng cách mạng triệt để của Mynxơ khác xa với tư tưởng cải lương, thỏa hiệp của Luthơ Bị trục xuất khỏi Xơvichcao,? Muynxơ sang Tiệp, liên kết với phái Huxơ (phong trào cải cách tôn giáo tích cực do Gian Hunxơ phát động) Khi phong trào khởi nghĩa của nông dân bùng nổ mạnh mẽ ở Đức, ông trở về nước Cuối năm 1524, Muynxơ tham gia cuộc khởi nghĩa nông dân ở Sơvaben và công bố Bức thư luận cương, trình bày cương lĩnh của phong trào bình dân và nông dân Đầu năm 1525, Muynxơ trở về thành phố Muynhaoden (Dắc den) và trực tiếp lãnh đạo phong trào quần chúng ở đây Sau khi cuộc khởi nghĩacủa dân nghèo ở Muynhaoden giành được thắng lợi, Muynxơ được bầu làm Chủ tịch Hội đồng thành phố Ông đã xây dựng một đạo quân mạnh bảo vệ thành phố và hỗ trợ cho phong trào cách mạng của nông dân, thị dân, thợ mỏ ở các vùng xung quanh Bọn lãnh chúa phong kiến đã liên kết với nhau tấn công nghĩa quân Quân phong kiến có kị binh, pháo binh yểm trợ, ưu thế hơn nghĩa quân Nghĩa quân tuy có tinh thần chiến đấu cao, nhưng vì trang bị kém, huấn luyện chưa đầy đủ, những người chỉ huy thiếu kinh nghiệm tổ chức và chiến đấu, nên nghĩa quân bị thiệt hại nặng nề Muynxơ bị thương nặng, bịbắt, sau đó bị bọn phong kiến tra tấn dã man, nhưng ông nhất định không chịu khuất phục Bọn phong kiến đã đem Muynxơ ra chặt

Trang 12

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

xã hội Nêđeclan đều bất mãn với chế độ cai trị của Tây Ban Nha Một đoàn đại biểu quý tộc, do Ghiôm Orăng cầm đầu, dâng lên người đại diện của Philippô II lời thỉnh cầu nhà vua giảm bớt chính sách hà khắc, nhưng nhà vua không chấp nhận Năm 1566, một cuộc nổi dậy của nhân dân kéo đến phá hủy các nhà thờ của giáo hội Thiên chúa giáo (phong trào "phá hoại tượng thánh") mở đầu cuộc cách mạng tư sản ở Nêđeclan Vua Tây Ban Nha đưa quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa Nhân dân Nêđeclan thành lậpcác đội du kích (bọn quý tộc Tây Ban Nha gọi họ là "những kẻ khốn cùng") chiến đấu ở cả trong rừng lẫn ngoài biển chống quân đội Tây Ban Nha Ghiôm Orăng cũng tổ chức một đội quân đánh thuê về tham gia chiến đấu Ông được nghĩa quân bầu làm Thống lĩnh (cũng gọi là Quốc trưởng)

Cuộc chiến tranh cách mạng diễn ra ngày càng ác liệt, khí thế cách mạng của nhân dân ngày càng lên cao Năm 1579 bọn quý tộc bảo thủ và một bộ phận tư sản ở miền Nam Nêđeclan rút khỏi cuộc đấu tranh cách mạng, thừa nhận sự thống trị của Tây Ban Nha 17 tỉnh miền Bắc kiên quyết chiến đấu đến khi giành được thắng lợi, thành lập nước cộng hòa, gọi là "Các tỉnh liên hiệp" (về sau gọi theo tên? của một tỉnh quan trọng nhất và có thủ đô Amxtecđam là Hà Lan) Năm 1584, Ghiôm Orăng người tiêu biểucho cuộc đấu tranh giải phóng Nêđeclan, bị một tên tay sai của Tây Ban Nha ám sát Sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc được giao cho con ông là Môrit Orăng một người có tài tổ chức và chỉ huy quân đội Năm 1609, Tây Ban Nha phải ký hòa ước đình chiến với "Các Tỉnh liên hiệp" và năm 1648 chính thức thừa nhận nền độc lập của "Các Tỉnh liên hiệp"

CRÔMOEN (1599 - 1658)

Trang 13

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

Ôlivơ Crômoen (Oliver Cromwell) - nhân vật chủ chốt của cách mạng tư sản Anh (1640 - 1660), người

có nhiều công lao đưa cuộc cách mạng đến thắng lợi và đã nắm chính quyền độc tài quân sự 1653 -

1658 Crômoen là một địa chủ, đại diện cho tầng lớp quý tộc mới, có tinh thần cách mạng, khả năng tổ chức và chỉ huy quân sự Năm 1640, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội Trong Quốc hội, ông đã hănghái chống lại nhà vua và giáo hội Anh Khi cuộc chiến tranh chống vua Saclơ I nổ ra (1642), ông đã tổ chức đạo quân "kiểu mới", làm hạt nhân cho quân đội của Quốc hội (quân "đầu tròn", vì đầu tóc cắt ngắn, ăn mặc giản dị) Đơn vị kị binh của Crômoen, do lòng dũng cảm và chí kiên quyết, được mệnh danh là "sườn sắt" Quân đội "đầu tròn" của Quốc hội đã đánh bại quân đội "kị sĩ" của vua và bắt giam vua (1648)

Sau khi vua Anh Saclơ I bị xử tử (1649), chế độ Cộng hòa được thành lập Chính phủ Cộng hòa đã phái Crômoen mang quân đội sang đàn áp những cuộc khởi nghĩa của nhân dân Airơlen, Xcôtlen và tiến hành chiến tranh với Hà Lan buộc nước xảy ra nhiều biến động do quần chúng lớp dưới không thỏa mãnvới những chính sách của chính phủ Cộng hòa, bọn sĩ quan cao cấp và bọn đại tư sản ở Luân Đôn đã ủng hộ Crômoen thực hiện chế độ độc tài quân sự Năm 1653, Hội đồng sĩ quan bầu Crômoen làm người đứng đầu Chính phủ và phong cho ông chức vụ suốt đời làm Bảo hộ công Lúc đầu, Crômoen cònchia sẻ quyền lợi với một hội đổng quốc gia, nhưng từ 1655, ông nắm tất cả mọi quyền hành, không triệu tập cả Quốc hội Crômoen mất ngày 3-9-1658

CRÔMOEN (1599 - 1658)

Oasinhtơn (1732-1799 )

Gioóccgiơ Oasinhtơn (George Washington) - người lãnh đạo chủ yếu cuộc chiến tranh giành độc lập ở Bắc Kỳ, Tổng chỉ huy quân khởi nghĩa và Tổng thống đầu tiên của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1789-1796) Oasinhtơn là một điền chủ giàu có ở bang Vơcginia Khi 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ nổi dậy

Trang 14

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

giành độc lập, triệu tập Đại hội lục địa ở Philađenphia (1774), Oasinhtơn là một trongnhững đại biểu củaBang Vơcginia và được cử làm Tổng chỉ huy quân đội lục địa (1776)

Oashingtơn có công lớn trong việc tổ chức quân đội cách mạng Đội quân cách mạng có tinh thần yêu nước, hy sinh chiến đấu, nhưng kỷ luật kém và thiếu thốn đủ mọi thứ, nhất là vũ khí Oasinhtơn đã thực hiện chiến thuật chiến đấu mới là phân tán lực lượng, bố trí lực lượng kín đáo trong rừng, thành từng toán bắn tỉa để chống lại quân đội Anh theo đội hình dàn hàng ngang Quân của Oasinhtơn đã liên kết với quân Pháp do chính phủ Pháp gửi sang giúp đỡ cách mạng Bắc Mỹ chiến đấu chống quân đội Anh Năm 1789, Oasinhtơn được bầu làm Tổng thống đầu tiên của Hợp chúng quốc châu Mĩ và bốn năm sau (1792), ông được bầu lại lần thứ hai Ông mất năm 1799

Trang 15

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

Môngtexkiơ phê phán nền quân chủ chuyên chế và tán thành chế độ quân chủ lập hiến Trong cuốn sách nhỏ Những bức thư Ba Tư, dưới hình thức những bức thư của hai người Ba Tư viếng thăm Pari viết cho bạn bè, ông châm biếm những phong tục và thể chế của xã hội phong kiến Pháp thời "Vua mặt trời" Lui XIV

Trong cuốn Tinh thần pháp luật, Môngtexkiơ đã phân tích một cách hệ thống và chi tiết những hình thứcchính quyền, những điều kiện và nguyên tắc của chúng Ông cho rằng một quốc gia muốn có quy củ, phải có hiến pháp và phải xác định ba quyền riêng biệt và độc lập với nhau: quyền lập pháp, quyền hànhpháp và quyền tư pháp Lý luận của Môngtexkiơ không nhằm lật đổ chế độ quân chủ hiện hành bằng cách mạng, mà chỉ nhằm hạn chế quyền hành của nhà vua và mở rộng quyền hạn của giai cấp tư sản trong việc tham gia vào công việc quản lý nhà nước Học thuyết ba quyền phân lập của Môngtexkiơ đã

có ảnh hưởng đến các nhà cách mạng tư sản Pháp ở thế kỷ XVIII trong khi soạn thảo hiến pháp

tư hữu nhỏ Ruxô khẳng định chế độ tư hữu lớn gây ra sự bất bình đẳng xã hội và sự áp bức của người giàu đối với người nghèo, người mạnh đối với người yếu, do đó cần phải hạn chế chế độ tư hữu lớn và bảo vệ những người tư hữu nhỏ Tư tưởng của Ruxô phản ánh tâm trạng của các tầng lớp tiểu tư sản thành thị và của quần chúng nông dân muốn thủ tiêu chế độ phong kiến, nhưng lại sợ những tai họa của chủ nghĩa tư bản và mơ ước ngây thơ rằng có thể tránh được những tai họa đó bằng cách hạn chế chế độ

tư hữu lớn, duy trì chế độ tư hữu nhỏ Học thuyết của Ruxô có ảnh hưởng lớn trong cách mạng tư sản Pháp, nhất là đối với phái Giacôbanh

Trang 16

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

Ruxô (1712-1778)

Vônte (1694-1778)

Vônte (Voltaire) - nhà sĩ, thi sĩ, kịch sĩ, sử gia, triết gia và đại biểu xuất sắc của triết học ánh sáng Pháp Vônte, tên chính là Phơrăngxoa Mari Aruê (Francois Maria Arouet), là con một viên chưởng khế ở Pari Hồi trẻ, Vônte học trường Đại học luật Pari, rồi làm việc ở tòa án Nhưng sau vì thích hoạt động văn họcông bỏ nghề luật chuyển sang nghề văn Ông sáng tác nhiều thơ ca, truyện ngắn, sử thi, những khảo luậnlịch sử và triết học

Năm 22 tuổi, vì sáng tác những bài thơ châm biếm có tính chất chống lại vị Nhiếp chính của triều đình, ông bị tống giam vào ngục Baxti, sau bị trục xuất khỏi nước Pháp, sang sống ở nước Anh 4 năm Khi trở

về Pháp, Vônte đã cho xuất bản tập Những bức thư triết học nổi tiếng (1734) Trong cuốn cách này, Vônte đả kích sự chuyên quyền của giáo hội, chính sách ngu dân và những tục lệ phong kiến lạc hậu củanước Pháp Cuốn sách bị giáo hội thiêu hủy và tác giả phải trốn ra nước ngoài để khỏi bị đàn áp

Về mặt chính trị, Vônte tuy chống lại sự độc đoán của chính quyền chuyên chế, nhưng lại không muốn lật đổ chế độ quân chủ, xóa bỏ chế độ tư hữu, mà chủ trương thực hiện nền "chuyên chế sáng suốt", đặt

hy vọng vào những vị vua sáng suốt thấm nhuần triết học Đối với nhân dân, một mặt ông bảo vệ tích cực những người bị áp bức, những nạn nhân của sự chuyên quyền độc đoán, nhưng mặt khác ông lại kinh thị nhân dân, không đồng ý bạo động Ông đã kích kịch liệt giáo hội Thiên chúa giáo, đòi hỏi tự do tín ngưỡng, nhưng ông lại cho rằng tôn giáo "vẫn có ích" đối với tầng lớp bình dân và tuyên bố: "Nếu không có Thượng đế thì phải tạo ra Thượng Đế" Vônte đã có một vai trò to lớn trong việc truyền bá tư tưởng ánh sáng và có ảnh hưởng cách mạng mạnh mẽ đối với những phần tử tư sản tiên tiến trong cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến

Rôbexpie (1758-1794)

Maximiliêng đơ Rôbexpie (Maximilien de Robespierre) - nhà cách mạng tư sản cánh tả trong Cách mạng tư sản Pháp (1789-1794), người lãnh đạo chủ chốt của phái Giacôbanh, phái đã đưa cuộc cách mạng tư sản Pháp lên đỉnh cao nhất

Trang 17

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

Rôbexpie là luật sư ở Arat (miền Bắc nước Pháp), nổi tiếng về tinh thần cách mạng ngoan cường và đức tính chính trực, liêm khiết (người ta gọi ông là "Người không thể mua chuộc")

Năm 1789, Rôbexpie được bầu vào Hội nghị ba đẳng cấp Sau Hội nghị ba đẳng cấp chuyển thành Quốchội Trong Quốc hội, Rôbexpie đứng đầu cánh tả hay còn gọi là phái Núi, đấu tranh kiên quyết chống lạiphái hữu để bảo vệ quyền lợi của bình dân và đòi đưa vua Lui XVI ra xét xử Cuộc khởi nghĩa ngày 31-

5 và 2-6-1973, do nhân dân Pari tiến hành đưa phái Giacôbanh, đứng đầu là Rôbexpie, lên nắm chính quyền Rôbexpie đã tiến hành nhiều chính sách cách mạng và thực hiện chính sách "khủng bố" để thúc đẩy cách mạng tiến lên Quân đội cách mạng, dưới sự lãnh đạo của phái Giacôbanh, đã liên tiếp đánh bại

và đẩy lùi quân đội can thiệp của các nước châu Âu ra ngoài biên giới Nhưng rồi trong nội bộ phái Giacôbanh có sự phân hóa: một bộ phận giàu có lên muốn ngừng cuộc cách mạng lại, còn bộ phận những nghèo khổ (những người "không quấn chẽn") muốn thúc đẩy cách mạng tiến lên hơn nữa

Rôbexpie không đáp ứng đầy đủ quyền lợi cho quần chúng "không quần chẽn", cho nên nhiệt tình cách mạng của họ không được như trước nữa Ngày 9 Técmiđo (tháng Nóng) năm II Cộng hòa (27/7/1794) bọn phản động và thái hóa trong quốc hội đã tấn công và bắt giam Rôbexpie Sáng ngày 10 Tecmiđo (28-7-1794), Rôbexpie cùng các bạn chiến đấu của mình đã bị đưa lên máy chém không qua xét xử

ở Giênôva, nhưng thất bại và bị kết án tử hình vắng mặt Ông bỏ trốn sang Nam Mỹ, ở đó ông đã tham gia cuộc khởi nghĩa của nhân dân Brazin và chiến đấu bảo vệ nước Cộng hòa Uruguay Trong những trận chiến đấu này, đội quân của ông mặc áo sơmi đỏ, nên được mệnh danh là đội quân "áo đỏ" Những chiến thắng của đội quân "áo đỏ" đã vang dội về đất nước Italia

Khi cuộc kháng chiến chống áo của nhân dân Italia nổ ra, ông trở về nước Tháng 6-1848, ông cập bến Nixơ và được đón tiếp như "người anh hùng của hai lục địa" Tháng 2-1849, nước Cộng hòa Rôma do Mađini đứng đầu, được thành lập; Garibanđi nhận nhiệm vụ chỉ huy những chiến sĩ bảo vệ nước Cộng hòa này Quân đội Pháp sang giúp Giáo hoàng đàn áp cuộc khởi nghĩa, chiếm lại Rôma và tiêu diệt nướcCộng hòa Rôma, Garibanđi phải lưu lạc nhiều nơi và cuối cùng dừng lại ở đảo Caprêra bên bờ Địa

Trang 18

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

Trung Hải, mua một thái ấp làm nơi trú ngụ Năm 1859, chiến tranh nổ ra giữa áo và liên minh Pháp - Piêmôntê Garibanđi tổ chức và chỉ huy đội quân tình nguyện "xạ thủ núi Anpơ" chiến đấu bên cạnh quân đội Piêmôntê, được thủ tướng Phiêmôntê Cavua phong làm trung tướng Quân đội của Garibanđi

đã giải phóng một loại thành phố Lômbacđia Năm 1860, cuộc khởi nghĩa của nhân dân đảo Xixilia nổ

ra chống chính quyền phong kiến tay sai đế quốc áo Cavua khuyến khích Garibanđi đem quân xuống giúp nhân dân Nam Italia Đội quân tình nguyện "áo đỏ" hơn một nghìn người do Garibanđi chỉ huy (cho nên gọi là đội quân "một nghìn" đổ bộ lên đảo Xixilia, giải phóng toàn đảo Sau đó, đội quân "một nghìn" tăng lên đến 16.000 người, đổ bộ lên miền Nam Italia tiến vào thủ đô Napôli, giải phóng toàn bộ miền Nam Italia Cavua không muốn cho miền Nam Italia thành lập chính quyền dân chủ, cho nên đã đưa quân xuống miền Nam Italia, ép Garibanđi đem Nam Italia sát nhập vào Piêmôntê Tháng 1-1861, vương quốc Italia thống nhất được thành lập, vua Piêmôntê được tôn lên làm vua Italia Nhưng còn hai vùng lãnh thổ trên bán đảo chưa được giải phóng là Vênêđia (thuộc áo) và Rôma (quân đội Pháp bảo hộ) Garibanđi không nhận một chức vụ nào của triều đình mà quay trở về sống ở thái ấp của mình trên đảo Caprêra Năm 1866 Garibanđi tham dự cuộc chiến tranh của Italia liên minh với Phổ chống áo Trong khi quân đội Italia thua cả trên bộ và trên biển thì quân tình nguyện của Garibanđi đánh thắng áo nhiều trận ở vùng Tirôn Cuộc chiến tranh kết thúc áo phải trao trả Vênêdia cho Italia Tháng 10-1867, Garibanđi lại hành quân vào Rôma, đánh bại quân đội của Giáo hoàng Nhưng quân viễn chinh Pháp kéo sang giúp Giáo hoàng, đánh bại Garibanđi Năm 1870, khi chiến tranh Pháp - Phổ nổ ra, Garibanđi kéo quân sang giúp nước Cộng hòa Pháp chống lại quân đội Phổ Sau khi Công xã Pari thất bại, ông lại trở về sống những ngày cuối của đời mình trên đảo Caprêra

GARIBANĐI (1807 - 1882)

CAVUA (1810 - 1861)

Camilô Benxô đơ Cavua (Camillo Benso de Cavour bá tước)- Thủ tướng của vương quốc Piêmôntê, người đóng vai trò chủ chốt trong việc thống nhất Italia

Trang 19

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

Cavua xuất thân từ một gia đình quý tộc đại địa chủ, nhưng lại mang tư tưởng tự do tư sản, có đầu óc canh tân Năm 1852, ông được vua Piêmôntê vời ra làm thủ tướng Vương quốc Piêmôtê là một trong bảy quốc gia phong kiến trên bán đảo Italia và là quốc gia duy nhất thoát khỏi ách thống trị của đế quốc

áo Cavua đã đẩy mạnh canh tân xứ Piêmôtê nhỏ bé và xúc tiến việc thống nhất quốc gia Italia "từ trên xuống" Ngoài việc phát triển thực lực của mình, Cavua còn trông mong vào sự ủng hộ của Pháp Năm

1859, Piêmôntê đã cùng Pháp tiến hành cuộc chiến tranh chống áo trên đất Italia Cuộc chiến tranh này

đã mang lại cho Piêmôntê xứ Lômbacđia Phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân và của phái dân chủ đã thúc đẩy nhanh sự thống nhất nước Italia Đạo quân "áo đỏ" hay đạo quân "một nghìn" do người anh hùng dân tộc Garibandi chỉ huy, đã giải phóng miền Nam Italia Vùng này sau được sát nhập vào Piêmôntê Tháng 3-1861, Quốc hội Italia đầu tiên họp ở Tôrinô (thủ đô của Piêmôntê), tuyên bố thành lập vương quốc Italia thống nhất Vua Piêmôntê Vichto- Emmanuen II được tôn làm vua Italia và Cavua làm thủ tướng Nhưng ba tháng sau Cavua mất Công cuộc thống nhất Italia tuy chưa hoàn thành,nhưng Cavua đã là người đóng góp phần cơ bản cho sự thống nhất của nước Italia

CAVUA (1810 - 1861)

LINGÔN (1809 - 1865)

Abraham Lincôn (Abraham Lincoln) - Tổng thống thứ 16 của Hoa Kì, người đã lãnh đạo miền Bắc Hoa

Kỳ giành thắng lợi trong cuộc Chiến tranh Li khai (1861 - 1865) và thủ tiêu chế độ nô lệ da đen ở Hoa

Kì Abraham Lincôn sinh ra trong một gia đình chủ trại nghèo ở Kentơcki Hồi trẻ, ông làm nhiều nghề

để sinh sống, tranh thủ thời gian học luật và trở thành luật sư Năm 1848, Lincôn được bầu làm đại biểu Quốc hội Ông đã đọc nhiều bài diễn văn chống lại chế độ nô lệ da đen Năm 1860, Đảng Cộng hòa đề

cử Lincôn ra tranh chức Tổng thống và ông đã thắng Bọn chủ nô miền Nam đã nổi loạn để chống lại việc bầu một người chủ trương xóa bỏ chế độ nô lệ lên làm Tổng thống Cuộc hội chiến giữa các bang miền Bắc và các bang miền Nam Hoa Kì nổ ra, mà lịch sử gọi là Cuộc chiến tranh li khai kéo dài 14 năm (1861 - 1865) Nhờ có những chính sách tiến bộ của Licôn như cấp đất ở miền Tây cho những người di cư, xóa bỏ chế độ nô lệ da đen, nên quân đội miền Bắc đã đánh thắng quân đội miền Nam, hợp nhất hai miền Ngày 14-4-1865, trong một buổi dạ hội long trọng tại thủ đô Oasinhtơn, Lincôn bị ám sát

do một diễn viên kịch được bọn chủ nô miền Nam thuê Abraham Lincôn được đánh giá là một trong những Tổng thống vĩ đại của Hoa Kì

Trang 20

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

Niutơn là người phát minh những định luật trong lĩnh vực vật lý và toán học Cống hiến lớn khiến tên tuổi ông trở thành bất tử là "nguyên lý vạn vật hấp dẫn" Đây là nguyên lý cơ sở cho những phát minh vật lý học, cơ học, thiên văn học trong nhiều thế kỷ Một lần, Niutơn trông thấy quả táo rụng từ trên cây xuống, ông liền nghĩ đến những nguyên nhân về sự rơi của các vật và tìm ra sức hút của quả đất

Những phát kiến về thiên văn học của Niutơn dựa vào định luật vạn vật hấp dẫn đã giáng đòn chí mạng vào uy tín của giáo hội Bọn bảo vệ tôn giáo đã phản ứng lại một cách quyết liệt đầy căm phẫn trước những phát minh về thiên văn học của Niutơn Do ảnh hưởng của giáo hội, nhiều trường đại học ở châu

Âu đến tận thế kỷ XIX vẫn cấm dạy môn cơ học, những vấn đề có liên quan đến định luật vạn vật hấp dẫn của Niutơn Niutơn sống cuộc đời độc thân và hết sức đãng trí Tính đãng trí của ông đã trở thành những giai đoạn như chuyện mời cơm khách, chuyện luộc đồng hồ, chuyện đục hai lỗ cho chó và mèo Niutơn mất năm 84 tuổi Ông được mai táng ở Đài kỷ niệm quốc gia Anh trong tu viện Oetminxtơ - nơi

an nghỉ của các vua chúa và các bậc vĩ nhân của nước Anh

Trang 21

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

trọng về thiên văn, khí tượng và nhiều ngành khoa học, kĩ thuật khác Lơmanôxôp còn đề cập đến cả triết học, kinh tế học, sử học, văn học với nhiều ý kiến sáng tạo Trong việc xuất bản cuốn Văn phạm Nga đầu tiên (1757), ông đã trở thành một nhà cải cách thơ ca và ngôn ngữ văn chương Ông cũng là một nhà thơ có tài, ông đã làm nhiều bài thơ bài ca ngợi thiên nhiên, ca ngợi khoa học và những khả năng thần kì của con người Lơmanôxôp là người sáng lập trường Đại học Tổng hợp Matxcơva mang tên ông

Trang 22

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

ĐACUYN (1809 - 1882)

Saclơ Đacuyn (Charles Darwin) - nhà tự nhiên học và sinh vật học người Anh

Đacuyn là con một gia đình trí thức Ngay từ bé, Đacuyn đã ham mê đùa nghịch ngoài đồng nội, thích đilang thang trong rừng để nhặt nhạnh những mẫu đá, cây cỏ, sưu tập những loài sâu bọ Gia đình cho ông đi học ngành y Nhưng được hai năm, thấy "không có khả năng" với nghề y, gia đình lại chuyển ôngsang học khoa triết để hi vọng trở thành giáo sĩ Sau kỳ thi tốt nghiệp khoa triết vào loại trung bình, người ta chuẩn bị cho ông bộ áo dài đen của một thầy tu trẻ, thì một việc xảy ra làm đảo lộn hết thảy Một đoàn khảo sát vùng Đất Lửa (Nam Mỹ) trên con tàu Bigơn đang chuẩn bị tiến hành Đacuyn lúc đó

22 tuổi tìm mọi cách để được tham gia cuộc khảo sát Suốt năm năm trời (1931 - 1836), ông đã cùng contàu Bigơn đi dọc theo bờ biển châu Mỹ, châu úc Ông đã quan sát thiên nhiên, sưu tầm các động thực vật, tìm hiểu phong tục thổ dân Ông viết nhật ký và thư từ trao đổi với bạn bè và gia đình về những kếtquả sưu tập và những nhận xét khoa học Trong lúc con tàu Bigơn còn đang lênh đênh trên Thái Bình Dương, thì một người bạn của ông đã thông báo về những công trình sơ thảo của ông cho các hội viên của Hội khoa học Hoàng gia Anh Cho nên khi ông trở về nước, ông đã được đón tiếp như một nhà bác học lớn Nhưng Đacuyn còn nhiều việc phải làm, phân loại mẫu sưu tập, chỉnh lý những tài liệu ghi chép, thực hiện thí nghiệm mới hoàn chỉnh được học thuyết về tiến hóa đang thai nghén Đacuyn đã dành suốt 20 năm để hoàn thành công trình nghiên cứu Cuốn Nguồn gốc các giống loài theo con đường đào thải tự nhiên của ông xuất bản năm 1859 như một tiếng sấm làm rung chuyển màn mây mù tăm tối Bằng những lập luận chặt chẻ trên cơ sở tư liệu phong phú, Đacuyn đã giải thích sự hình thành các loài sinh vật bằng quá trình tiến hóa chọn lọc, chứ không phải bằng "bàn tay Thượng đế" Học thuyết của ông đã lật đổ quan niệm cũ về tính cố định và bất biến của tự nhiên Giáo hội Thiên chúa giáo và một số nhà bác học thủ cựu, đả kích kịch liệt học thuyết "phản chúa" của Đacuyn Nhưng

những công trình lý thuyết của Đacuyn và của các nhà khoa học khác, cùng những công trình thực nghiệm ở nhiề nước đã tạo thêm sức thuyết phục cho học thuyết tiến hóa và đã làm cho học thuyết Đacuyn chiến thắng Cuộc chiến đấu cho chân lý

đã làm cho sức khỏe của ông giảm sút Tuy nhiên, ông vẫn bắt tay vào soạn thảo những công trình kế tiếp để bổ sung hoàn chỉnh cho những lập luận về tiến hóa Cho đến những ngày cuối cùng của cuộc đời,khi đã 73 tuổi, ông vẫn không rời căn phòng làm việc Ông mất ngày 19-7-1882

Trang 23

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

du lịch khắp châu Âu Khi cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789 nổ ra, ông trở về nước Lúc đầu, ông có cảm tình với cách mạng, nhưng đến thời kỳ "khủng bố" thì tỏ ra thất vọng Ông có xu hướng xây dựng

xã hội mới bằng tri thức khoa học, nên mặc dù đã có 40 tuổi, ông vẫn xin vào học trường Đại học Bách Khoa và say sưa với công tác nghiên cứu khoa học Ông viết sách tuyên truyền tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng

Xanh - Ximông công kích kịch liệt chế độ tư bản và kêu gọi cải cách xã hội theo chủ nghĩa xã hội, bảo đảm cho tất cả mọi giai cấp được thỏa mãn nhu? cầu sinh sống và văn hóa Ông quan tâm đến số phận của giai cấp vô sản, nhưng không nhận thức được vai trò và sứ mệnh lịch sử của nó Ông phủ nhận đấu tranh giai cấp Ông chủ trương trong xã hội của nghĩa tương lai, những nhà bác học và những người làmcông nghiệp (bao gồm chủ xưởng, thương nhân, nhà ngân hàng và cả công nhân) giữ vai trò lãnh đạo Ông cho rằng cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội sẽ là nền đại công nghiệp được tổ chức trên những nguyên tắc kế hoạch hóa, có khả năng bảo đảm sự thỏa mãn nhu cầu cho xã hội Ông đề ra nguyên tắc

"mọi người đều phải lao động" theo khả năng của mình để cung cấp của cải cho xã hội Chủ nghĩa xã hội của Xanh - Ximông là chủ nghĩa xã hội không tưởng vì ông cho rằng nhà tư tưởng đề ra ý hay sẽ được thiên hạ theo mà xây dựng nên một xã hội tốt đẹp Nhưng thực tế đã làm ông thất vọng Vào cuối đời mình, Xanh - Ximông nghèo túng, viết thư cho những người cầm quyền, những nhà tư sản, để thuyếtphục họ thực hiện học thuyết xã hội của ông Nhưng những người giàu có không ai ủng hộ học thuyết của nông, cũng không một ai giúp đỡ ông Tuy nhiên, tư tưởng về tính chất xã hội có kế hoạch, có tổ chức trong sản xuất của ông làm cơ sở cho chế độ xã hội tương lai là một cống hiến lớn lao cho lý thuyếtcủa chủ nghĩa xã hội sau này

Trang 24

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

Anh Ông đã đưa ra nhiều chủ trương về tự do mậu dịch, hủy bỏ luật ngũ cốc, nhằm thúc đẩy nền kinh tế

tư bản chủ nghĩa Anh

BANDĂC (1799 - 1850)

Ônôrê đơ Bandăc (Honoré de Balzac) - nhà văn hiện thực lớn của nước Pháp

Bandăc vốn không phải dòng dõi quý tộc, mà xuất thân trong một gia đình bình dân (cha là nông dân,

mẹ là con nhà buôn), nhưng vì có cảm hình với tầng lớp quý tộc, nên tự nhận mình là quý tộc (chữ "đờ"

để chỉ dòng dõi quý tộc) Bandăc sinh ra và lớn lên tại thành phố Tua, miền Tây nước Pháp Sau khi tốt nghiệp đại học luật khoa (1820), ông làm thông sự ở tòa án Sau thấy mình có thiên hướng viết văn, ông chuyển sang viết văn Vì muốn giàu nhanh chóng, ông viết vội vàng để in cho được nhiều cuốn truyện Nhưng thấy tiền kiếm chẳng được bao nhiêu, ông lại xoay sang nghề xuất bản Kết quả ông bị phá sản

và mắc nợ rất nhiều Ông trở lại nghề viết văn Ông làm việc hết sức cần cù, trung bình mỗi ngày từ 14 đến 16 tiếng đồng hồ Ông viết đi viết lại, sửa chữa nhiều lần những trang bản thảo của mình Ông cũng dành nhiều công sức nghiên cứu, quan sát cuộc sống và đọc sách tham khảo Trong hơn 20 năm cặm cụi (kể từ tác phẩm đầu ta ra đời năm 1829), ông đã viết tới 96 cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn, tập hợp thành một bộ mang tên là Tấn trò đời Tấn trò đời của Bandăc là một bức tranh miêu tả trung thực sinh động xã hội Pháp ở nửa đầu thế kỷ XIX Bandăc đã lột trần những thủ đoạn làm giàu của giai cấp tư sản.Đối lập với giai cấp tư sản giàu có, trong các tác phẩm của Bandăc cũng hiện lên hình ảnh đáng thương của những người bình dân chỉ mong muốn một cuộc sống yên ổn mà không được Những tác phẩm nổi tiếng của ông là: Tấm da sầu não, Ơgiêni Grăngđê, Lão Gôriô, Vỡ Mộng, Trời không có mắt (hay Cậu

em họ Pông) v.v

BANDĂC (1799 - 1850)

GUÊTHƠ (1749 - 1832)

Trang 25

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

Iôhan Vôngang phôn Guêthơ (Johann Wolfgang von Goeth) - nhà văn, nhà thơ lỗi lạc, chính khách và bác học Đức

Guêthơ sinh ra trong một gia đình giàu có ở thành phố Phranphuôc bên sông Mainơ Lúc nhỏ, Iôhan được bố và các gia sư dạy chữ và nhiều ngoại ngữ Năm 16 tuổi, Iôhan học khoa Luật tại trường Đại họcLaixich, sau chuyển sang trường Đại học Xtơraxbua ở đây, Guêthơ đã tham gia vào nhóm văn học Bão táp và Xung kích, một phong trào văn hóa chống lại chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa cổ điển Năm 1771, ông tốt nghiệp đại học Luật và làm luật sư ở Phranphuốc Ông bắt đầu sáng tác và trở thành nhà văn nổi tiếng

Khi đó "mốt" bảo hộ các tài năng và dùng những người nổi tiếng để tô điểm cho triều đình đang thịnh hành, ông được công tước trẻ tuổi xứ Dăcden - Vâyma là Calơ Aogutxơ mời sang Vâyma (1776) Ông được cử giữ chức cố vấn cơ mật, chủ tịch phòng tài chính và được phong tước quý tộc Tuy ông được hậu đãi và làm được một số điều hữu ích cho công quốc Vâyma, nhưng "trong chiếc lồng vàng Vâyma khó cất lời ca", cho nên ông đã bỏ sang Italia, tìm cảm hứng và sáng tác Đồng thời ông cũng tiến hành nghiên cứu khoa học, nghiên cứu về khoáng học và hình thái học Năm 1792 - 1793, ông tham gia cuộc hành quân trong các đội quân phong kiến châu Âu chống lại cách mạng Pháp Tuy có tư tưởng chống lạicách mạng bạo lực, nhưng ông cũng thấy sự cần thiết phải làm cách mạng để xóa bỏ chế độ phong kiến thối nát

Guêthơ đã viết nhiều cuốn tiểu thuyết, nhiều vở kịch, nhiều tập thơ, trong đó nổi tiếng nhất là vở kịch thơ Phaoxtơ (Faust - phần I xuất bản năm 1806, phần II hoàn thành trước khi tác giả mất năm 1832) Trong tác phẩm Phaoxtơ, Guêthơ đã gợi lên lòng khao khát hạnh phúc của con người, sự nỗ lực vươn lên không ngừng nhằm chinh phục thiên nhiên, ông cũng đề cao tự do, cuộc đấu tranh cho tự do và sự cao cả của lao động sáng tạo Guêthơ mất năm 83 tuổi

GUÊTHƠ (1749 - 1832)

BAIRƠN (1788 - 1824)

Bairơn (George Gordon, huân tước Byron) - nhà thơ lớn của nước Anh

Trang 26

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

Bairơn sinh tại Luân Đôn thủ đô nước Anh, trong một gia đình quý tộc Ông khỏe mạnh và đẹp trai, nhưng chân đi hơi thọt Ông có thái độ khinh thường dư luận, thường hay châm biếm, mỉa mai xã hội thượng lưu với khuôn sáo đạo đức giả của nó Ông đã dùng văn thơ trào phúng làm vũ khí chống bọn cầm quyền thống trị tàn bạo đàn áp nhân dân và vạch rõ những bất công trong xã hội Những bài thơ củaông tố giác cái xấu của cuộc đời (bài thơ trường thiên Cuộc du hành của Traidơ Harôn, xuất bản năm 1812); ca ngợi những người anh hùng khởi nghĩa (tập truyện thơ Manphơrết xuất bản năm 1817) Tập truyện thơ Đôn Giuan là một tác phẩm dí dỏm nói về bản thân tác giả, xuất bản năm 1824 Những tác phẩm của ông nổi tiếng ở khắp châu Âu

Chán ghét thói đạo đức giả của xã hội Anh, ông đã sang cư trú ở Italia, Thụy Sĩ, rồi Thổ Nhĩ Kỳ, Hi Lạp Ông đã tham gia vào cuộc chiến đấu vì tự do của nhân dân Hi Lạp, chống quân xâm kược Thổ Nhĩ

Kỳ và hi sinh lúc mới 36 tuổi Bairơn thuộc thế hệ các nhà thơ lãng mạn Anh đã đứng lên chống lại xã hội quý tộc thượng lưu và những bất công xã hội Những tác phẩm của ông đã có ảnh hưởng đến trào lưu văn học lãng mạn ở châu Âu

BAIRƠN (1788 - 1824)

BITÔVEN (1770 - 1827)

Lutvich phan Bitôven (Ludwig van Beetthoven) - nhạc sĩ, nhà soạn nhạc vĩ đại người Đức

Trang 27

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

Bitôven sinh ra ở Bon (Đức), trong một gia đình có truyền thống lâu đời về âm nhạc Cha ông là Iôhan Bitôven cũng là một nhạc công có tài, đã dẫn dắt ông những bước đầu tiên trên đường âm nhạc Năm 8 tuổi, Bitôven đã tham gia trình diễn trong dàn nhạc cung đình cùng với người cha thân yêu của mình Năm 12 tuổi, Bitôven bắt đầu sáng tác âm nhạc Năm 16 tuổi, Bitôven đã nổi tiếng, những tác phẩm của ông sánh được với những sáng tác của các nghệ sĩ Đức danh tiếng thời đó Năm 18 tuổi, Bitôven gặp Môda ở Viên, ông rất cảm phục nhạc sĩ thiên tài người áo này Lúc đầu ông chịu ảnh hưởng của Môda, sáng tác theo phong tác cổ điển, nhưng dần dần với ý thức tự do trong sáng tác, ông đã đi đến chủ nghĩa lãng mạn trong âm nhạc Khi cách mạng Pháp 1789 nổ ra, Bitôven hoan nghênh cuộc cách mạng đó và

đã sáng tác một bản hợp xướng nhan đề là Người tự do để ca ngợi Năm 1792, Bitôven sống ở Viên, cái nôi của nền âm nhạc thế giới ở đó, ông vừa bồi dưỡng thêm tài năng vừa dạy nhạc cho con em quý tộc

và những người giàu có để kiếm sống Ông cũng nhiều lần đi công diễn ở các thành phố lớn của châu

Âu (Paraha, Drexđen, Beclin )

Trong đời tư, Bitôven gặp nhiều khó khăn về tinh thần và vật chất Ông yêu Giulieta và đã viết Xônát ánh trăng để tặng nàng Nhưng khi bản nhạc hoàn thành, thì cũng là lúc nàng đã phụ tình ông Ông suốt đời sống trong cô đơn Năm 1800, Bitôven bị điếc Tuy nhiên, ông vẫn sáng tác đều đặn và có nhiều tác phẩm kiệt xuất Chỉ có điều là, ông không thể nghe biểu diễn được những tác phẩm mà mình đã sáng tác

BITÔVEN (1770 - 1827)

ĐƠLACROA (1798 - 1863)

Trang 28

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

Ơgien Đơlacroa (Eugène Delacroix) - họa sĩ nổi tiếng của Pháp đầu thế kỷ XIX, đồng thời là nhà văn Đơlacroa không phải có năng khiếu hội họa bẩm sinh, cũng không được học tại một xưởng trường về hội họa nổi tiếng nào, mà ông chỉ thông qua việc đọc sách và chiêm ngưỡng các tác phẩm hội họa của các họa sĩ xứ Phơlăngđrơ ở Viện bảo tàng Luvrơ (Pháp) Từ đó ông đã suy nghĩ và tìm tòi một phong cách nghệ thuật mang bản sắc riêng của mình Năm 23 tuổi, ông đã trưng bày bức tranh Đăngtơ và Viêcgilơ ở địa ngục (1822) tại phòng triển lãm tranh Pari Tác phẩm của ông được nhiều người chú ý, vìtính cách mới mẻ, giải pháp mạnh dạn, bố cục và màu sắc hài hòa, diễn đạt chân thật những nỗi đau khổ của con người, sức mạnh hình tượng đầy xúc cảm bi kịch, khác hẳn những bức tranh nặng tính ước lệ, khuôn sáo của các họa sĩ đương thời Hai năm sau, ông triển lãm bức tranh thứ hai Vụ thảm sát ở Siô (1824) trong đó ông ca ngợi ý chí quật cường, bất khuất của những chiến sĩ Hi Lạp đấu tranh chống lại bọn xâm lược Thổ Nhĩ Kỳ hung bạo Màu sắc của tranh được sử dụng mạnh dạn với một kỹ thuật phongphú, tươi tắn, tôn hẳn vẻ sinh động của chủ đề Qua chuyến tham quan Marôc, Angiêri và một số vùng khác ở châu Phi, ông đã quan sát và thu nhận những chất liệu sống vô cùng quý giá về thế giới Hồi giáo,những phong tục tập quán, y phục và sinh hoạt của người Ai Cập Ông đã sáng tác những bức tranh về chủ đề phương Đông như Những phụ nữ cấm cung ở Angiê (1834) và những bức tranh làm sống lại những trang sử huy hoàng của nước Pháp có liên quan với đế quốc Arập như: Trận chiến đấu gần Pozchiê, Quân Thập tự chiếm kinh thành Côngxtăngtinốp (1840) Phần lớn những bức tranh của ông hiện còn được lưu giữ ở Viện bảo tàng Luvrơ Ngoài ra, ông còn là tác giả của những bức tranh tường lớn ở thư viện Hạ nghị viện và Thượng nghị viện, trên trần hành lang Apônlông ở Luvrơ, trên tường giáo đường Xanh Angiơ, nhà thờ Xanh Xuynpixơ Đơlacroa còn nổi tiếng với tập Nhật ký Ngoài nhữngghi chép về sinh hoạt riêng tư của ông, sự tu dưỡng, tự rèn luyện, phấn đấu cho một lý tưởng cao quý, cuốn Nhật ký còn để lại nhiều nhận xét về nền nghệ thuật Pháp nửa đầu thế kỷ XIX Đơlacroa là người đứng đầu trường phái lãng mạn tích cực, một phong cách biểu hiện mới thời bấy giờ Ông đã phải kiên trì đấu tranh chống những lực lượng trì trệ, lạc hậu, phản động trong nền nghệ thuật đương thời, để cuối cùng buộc bọn họ phải chấp nhận giá trị nghệ thuật của ông Cuối đời, lúc đã gần 60 tuổi, ông mới được nhận vào Viện Mỹ thuật Pháp

ĐƠLACROA (1798 - 1863)

ĐAVIT (1748 - 1825)

Lui Đavit (Louis David) - họa sĩ lỗi lạc thời Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỷ XVIII

Trang 29

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

Ngay từ những tác phẩm đầu tay, Đavit đã bộc lộ khuynh hướng hiện thực và trở thành người đứng đầu trường phái Tân Cổ điển trong hội họa Bức tranh Lời thề của anh em Hôraxơ của ông được sáng tác trước cuộc Cách mạng Pháp 1789 đã có giá trị cổ động quần chúng đứng lên làm cách mạng (bức tranh này hiện nay được trưng bày ở Viện bảo tàng Luvrơ, Pari - Pháp)

Khi cuộc Cách mạng tư sản Pháp bùng nổ, ông đã hăng hái tham gia hoạt động cách mạng và đã thể hiện trên tranh vẽ của mình những hình ảnh cách mạng của nhân dân Đặc biệt trong bức tranh Cái chết của Mara, ông đã diễn tả hình ảnh người anh hùng bất tử, "người bạn của nhân dân", tuy bị kẻ thù hèn mạt ám hại, nhưng đã biểu hiện sáng chói chủ nghĩa anh hùng cách mạng

Thời kỳ Napôlêông Bônapac cầm quyền, Đavit được phong "họa sĩ số một" của nước Pháp Trong bức tranh Lễ đăng quang (vẽ buổi lễ Napôlêông đang đội vương miện cho vợ là Giôdêphin lên ngôi hoàng hậu), ông đã thể hiện đám đình thần như một bầy vô lại láo nháo và giáo hoàng tỏ ra ấm ức vì phải khuấtphục uy quyền của một tên vua lộng hành, mà phải nén lòng cam chịu Khi phái phản động lên cầm quyền, ông đã hai lần bị tù Lần thứ nhất, khi nền chuyên chính? Giacôbanh bị lật đổ, vì ông ủng hộ pháiGiacôbanh và thân với Rôbexpie, ông bị những người ghen ghét, thù địch tố giác và bị tù Lần thứ hai, khi nền quân chủ của dòng họ Buôcbông phục hồi, ông bị lưu đày vì tội đã biểu quyết giết vua Lui XVI Ông cư trú ở Brucxen kinh đô nước Bỉ Nhiều vua chúa các nước đến nhờ ông vẽ chân dung, nhưng ông đều từ chối

ĐAVIT (1748 - 1825)

Sôpanh (1810-1849)

Trang 30

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

Phơrêđêric Sôpanh (Frédéric Chopin) - nhạc sĩ pianô, nhà soạn nhạc nổi tiếng Ba Lan Cha ông là người Pháp, tên là Nicôla Sôpanh, quê ở Lôren (Pháp) làm gia sư ở gia đình nữ bá tước Xcabêc Mẹ ông là người họ hàng và là thị nữ của nữ bá tước trên Sôpanh học đàn pianô từ nhỏ và tỏ ra có năng khiếu âm nhạc Từ 1826-1829, ông học ở Học viện âm nhạc, đạt kết quả tốt và bước đầu sáng tác âm nhạc Khi cuộc cách mạng của nhân dân Ba Lan do tầng lớp quý tộc yêu nước lãnh đạo chống ách thống trị Nga hoàng (1830-1831), bị đàn áp, Sôpanh rời quê hương Ba Lan sang sống bên Pháp, và hòa nhập vào xã hội thượng lưu Pari Ông dạy nhạc cho những tiểu thư quý tộc Năm 1832-1835, ông thu nhập và cho xuất bản những bản nhạc được soạn thảo khi còn ở Vacsava (Ba Lan), và sáng tác nhiều tác phẩm nổi tiếng khác Năm 1836 ông bị ốm, có triệu chứng mắc bệnh lao phổi Năm 1837, ông gặp nữ văn sĩ Gioocgiơ Xăng Hai người rời xã hội Pari huyên náo, tìm đến những nơi yên tỉnh để bồi dưỡng sức khỏe Thời gian này, hoạt động sáng tạo nghệ thuật của ông phát triển đến đỉnh cao Năm 1848, sau chuyến du lịch sang Luân Đôn (Anh) và Xcốtlen, ông trở về Pari và mất ở đó ngày 17-10-1849

Những tác phẩm của Sôpanh có nhiều loại, có loại, có loại cho dàn nhạc, cho nhạc thính phòng, nhưng chủ yếu là cho đàn pianô Những bản nhạc của ông có tính chất lãng mạn dịu dàng, buồn man mác, ông

đã kết hợp truyền thống cổ điển với dân ca Ba Lan Một số bản nhạc của ông đã nói lên sự phẫn nộ căm uất cũng như sự thương nhớ tổ quốc Ba Lan bị nô dịch của ông Ông là người cách tân phương pháp biểu diễn pianô trong lãnh vực hòa âm và phối khí

Sôpanh (1810-1849)

Traicôpxki (1840-1893)

Piôt Ilitsơ Traicôpxki (Petr Ilitch Tchaikovski) - nhạc sĩ và nhà soạn nhạc nổi tiếng của nước Nga Traicôpxki sinh ngày 7/5/1840 tại thành phố Vôtkinxkơ, miền Uran, trong một gia đình trí thức Cha là

Trang 31

Trường THPT Đoàn Kết Những nhân vật lịch sử 10&11

kỹ sư mỏ, mẹ là một người am hiểu nghệ thuật, đã giúp đỡ ông nhiều trong việc học tập âm nhạc Năng khiếu âm nhạc của Traicôpxki được bộc lộ khá sớm, nhưng không được phát hiện bồi dưỡng đúng lúc vìthế thời trẻ, Traicôpxki vào học trường luật và trở thành viên chức ở Bộ Tư pháp Đến năm 21 tuổi Traicôpxki mới vào học tại nhạc viện Pêtecxbua và tốt nghiệp xuất sắc Từ 1866-1878, ông làm giáo sư dạy nhạc tại nhạc viện Matxcơva Thời gian này, ông sáng tác nhiều bản nhạc nổi tiếng, trong đó có? vở

ba lê Hồ Thiên Nga (1876), vở ca kịch Epghênhi Ônhêghin (1878) Năm 1877, ông kết duyên với cô

nữ sinh viên trường nhạc, nhưng hai người chung sống với nhau được 3 tháng thì đã phải li dị Ông lên sống ở Pêtecxbua trong hoàn cảnh túng bấn, vì phải nuôi hai đứa em sinh đôi ốm yếu May thay ông được một bà quả phụ quý tộc giàu có trợ cấp, nên mới tiếp tục sáng tác được

Traicôpxki sáng tác hầu hết các thể loại âm nhạc Ông là một trong những người đặt nền móng cho nhạcgiao hưởng cổ điển Nga Các vở Ôpêra (nhạc kịch) của ông lấy đề tài trong các tác phẩm văn học Nga (vở ca kịch Epghênhi Ônhêghin là lấy đề tài trong bản trường ca của Puskin ) và các tác giả cổ điển châu Âu khác, đã mở những con đường mới cho sân khấu ca nhạc Trong lịch sử âm nhạc thế giới, Traicôpxki được ghi nhận là người cách tân xuất sắc thể loại vũ kịch (balê) với các vở balê Hồ Thiên Nga, Người đẹp ngủ trong rừng Ông còn sáng tác nhiều thể loại âm nhạc cổ điển khác cho dàn nhạc thính phòng, cho hòa khúc, những bản dành riêng cho pianô, viôlông Giữa lúc thiên tài âm nhạc của Traicôpxki đang nở rộ thì ông mắc bệnh tả và mất ở Pêtecxbua ngày 6/11/1893, thọ 53 tuổi

CUÔCBÊ (1819 - 1877)

Guyxtavơ Cuôcbê (Gustave Courbet) - họa sĩ Pháp, đứng đầu trường phái hội họa thực Pháp thế kỷ XIX Cuôcbê sinh tại tỉnh lị Oocnăng (Ornans) Thời trẻ, ông học hội họa ở Pari, chịu ảnh hưởng các họa sĩ hiện thực Hà Lan ở thế kỷ XVII Ông thường vẽ tranh phong cảnh và cuộc sống người lao động Cuôcbê là một họa sĩ tiến bộ, có quan hệ bạn bè với nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa Pruđông và nhà tư tưởng này từng có mặt trong tranh của ông Những bức tranh miêu tả cuộc sống của nhân dân lao động như bức Đám tang ở Oocnăng, Người đập đá v.v khiến Cuôcbê trở thành lớp học sĩ hiện thực có khuynh hướng tiến bộ Thời bấy giờ, ông thường bị giai cấp thống trị Pháp bài xích, không cho tham dự các cuộc triển lãm quốc gia Ông phải tổ chức những cuộc triển lãm riêng hoặc mang tranh sang triển

Ngày đăng: 12/06/2013, 01:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

tư bản là hình thức tự nhiên và tồn tại vĩnh viễn, đó là mặt hạn chế mang tính chất tư sản trong học thuyết của ông - nhân vật lịch sử 10,11
t ư bản là hình thức tự nhiên và tồn tại vĩnh viễn, đó là mặt hạn chế mang tính chất tư sản trong học thuyết của ông (Trang 24)
• Đám mây hình nấm do quả bom nguyên tử ném xuống Nagasaki, Nhật Bản - nhân vật lịch sử 10,11
m mây hình nấm do quả bom nguyên tử ném xuống Nagasaki, Nhật Bản (Trang 50)
vào năm 1945 cao đến 18 km. - nhân vật lịch sử 10,11
v ào năm 1945 cao đến 18 km (Trang 50)
cảnh sinh hoạt gần gũi với cuộc sống buôn làng. Nổi bật trong trang trí nhà Rông là hình ảnh thần mặt trời chói sáng - nhân vật lịch sử 10,11
c ảnh sinh hoạt gần gũi với cuộc sống buôn làng. Nổi bật trong trang trí nhà Rông là hình ảnh thần mặt trời chói sáng (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w