• Thomson đưa ra mô hình nguyên tư: Đó là một hình cầu rất nhỏ, mang điện tích dương dàn đều, trong đó có các hạt điện tư, mang điện tích âm, phân bố để cân bằng điện tích.• Mô hình n
Trang 1NGUYÊN TỬ – PHÂN TỬ
VÀ CẤU TRÚC NANO
Trang 2CẤU TRÚC ĐỀ TÀI
Chương I: Nguyên tư
Chương II: Phân tư và máy nano
Chương III: Cấu trúc nanô
Trang 3CHƯƠNG I: NGUYÊN TỬ
Khái niệm nguyên tư được Democritus đưa ra
từ khoảng 450 TCN.
1.1 Nguyên tử và thuyết lượng tử về nguyên tử
Trang 4 Vào năm 1808, John Dalton đã đưa ra lý thuyết
nguyên tư của mình để giải thích định luật bảo toàn khối lượng và định luật tỉ lệ các chất:
Tất cả vật chất đều được tạo thành từ các nguyên tư.
Các nguyên tư của cùng một nguyên tố sẽ có cùng một cấu trúc và tính chất.
Các nguyên tư không thể bị phân chia, không thể được sinh ra hoặc mất đi.
các nguyên tư của các nguyên tố khác nhau kết hợp với nhau để tạo ra các hợp chất.
Trong các phản ứng hoá học, các nguyên tư có thể kết hợp, phân tách hoặc tái sắp xếp lại.
Trang 5 Năm 1897, nhà vật lý người Anh J.J Thomson nghiên cứu các tia âm cực:
Trang 6• Thomson đưa ra mô hình nguyên tư: Đó là một hình cầu rất nhỏ, mang điện tích dương dàn đều, trong đó có các hạt điện tư, mang điện tích âm, phân bố để cân bằng điện tích.
• Mô hình này không đúng
vì điện tích dương cũng mang bởi các hạt, như đã phát hiện ra hạt phóng xạ �
Trang 7 Vào khoảng 1910 E Rutherford, nhà vật lý Anh, chiếu
các tia phóng xạ vào các lá vàng và nghiên cứu sự tán
xạ của chúng
Trang 8Rutherford đưa ra mô hình nguyên tư gồm hạt nhân cực nhỏ mang điện tích dương, còn các điện tư mang điện tích âm chuyển động trên các quỹ đạo quanh hạt nhân như các hành tinh nên được gọi là mẫu hành tinh Mô hình cổ điển này không giải thích được sự bền vững của nguyên tư và quang phổ phát xạ của các nguyên tư khi chúng bị kích thích.
Trang 9Niels Bohr năm 1913 áp dụng thuyết lượng tư về sự gián đoạn các mức năng lượng vào mẫu nguyên tư có hạt nhân, đưa ra mô hình nguyên tư như sau: ở trung tâm là hạt nhân mang điện dương, xung quanh có các quỹ đạo điện tư (mang điện âm) ứng với các mức năng lượng xác định.
Mô hình nguyên tư Bohr đã khắc phục được
nhiều khó khăn của mô hình nguyên tư hành tinh, nhưng mới chỉ là bán lượng tư, chưa phản ánh được đầy đủ các đặc thù của các hạt vi mô
Trang 10Đến những năm 20 và 30 của thế kỷ XX,
thuyết lượng tư hiện đại được xây dựng:
•Nguyên tư được tạo thành từ một hạt nhân
mang điện tích dương nằm ở tâm nguyên tư và các điện tư mang điện tích âm chuyển động xung quanh sao cho nguyên tư trung hòa về điện.
•Hạt nhân được tạo thành từ các
hạt proton mang điện tích dương và các
hạt neutron không mang điện Năng lượng hạt
nhân là khổng lồ.
Trang 11• Vỏ điện tư của nguyên tư có nhiều lớp, lớp ngoài
cùng có đường kính cỡ 10ˉ¹ᴼm (cũng là đường kính của nguyên tư) Mỗi lớp vỏ có một số điện tư, nhưng tổng số điện tư của tất cả các lớp bằng tổng số proton của hạt
nhân để trung hòa về điện Trong mỗi lớp, các điện tư
chuyển động theo “ mây điện tư” ứng với một mức năng lượng xác định
Ngoài khối lượng, điện tích, các hạt vi mô nói chung đều có một tính chất đặc trưng diễn tả bằng một đại lượng gọi là spin.
Trang 121.2 Bảng tuần hoàn các nguyên tố
Mỗi nguyên tố hóa học ứng với một loại nguyên
tư, bởi vậy người ta thường dùng ký hiệu của nguyên
tư để chỉ một nguyên tố hóa học
Trong tự nhiên một
nguyên tố có thể có vài dạng
khác nhau chỉ về số khối, ta
gọi chúng là đồng vị của nhau.
Ngoài đồng vị tự nhiên,
khi bị bắn phá bằng hạt nơtron,
còn có thể xuất hiện đồng vị
phóng xạ.
Trang 14Khi phân rã và phát ra các tia phóng xạ, thường có ba loại hạt được phóng ra.
Các nguyên tư khi bị kích thích thì các điện tư lớp vỏ
có thể hấp thụ năng lượng kích thích để dời từ mức năng lượng thấp lên mức năng lượng cao Sau đó chúng lại tự phát dời ngược trở lại từ cao xuống thấp và phát xạ ra bức
xạ điện từ có bước sóng xác định �
Trang 151.3 Kích thước nguyên tử và lực tương tác giữa các nguyên tử.
Trang 16Trong một chu kỳ theo bảng tuần hoàn (theo chiều ngang) thì bán kính nguyên tư giảm từ đầu chu kỳ xuống cuối chu kỳ; trong một nhóm thì bán kính nguyên tư tăng
từ đầu nhóm xuống cuối nhóm (đi từ trên xuống)
Trang 17Nguyên tư có kích thước rất nhỏ , bởi vậy để “ chụp hình” các nguyên tư phải dùng các chùm bức xạ có bước sóng nhỏ hơn 0,01Å Nếu dùng kính hiển vi điện tư thì phải có điện thế gia tốc chùm hạt điện tư khoảng trên 100kV.
Trang 191.3.2 Lực tương tác giữa các nguyên tử
Kích thước nguyên tư có ảnh hưởng quan trọng đến tương tác các nguyên tư
Bài toán về lực tương tác giữa một nguyên tư với các nguyên tư xung quanh thuộc về bài toán N – vật là loại bài toán không thể giải được trong trường hợp chung mà chỉ có thể giải gần đúng trong một số trường hợp riêng
Trong trường hợp các chất rắn thì có thể xét gần đúng quá trình tương tác giữa các nguyên tư Tùy theo nhiệt độ của vật, tần số dao động ω của các nguyên tư có thể thay đổi và thuộc vào một dải tần số xác định Từ đây có thể
tính được lực kéo về vị trí cân bằng khi nguyên tư dời khỏi
nó nghĩa là đủ để sư dụng vào thao tác trên từng nguyên tư của công nghệ nanô
Trang 21Chương II: PHÂN TỬ VÀ MÁY NANÔ
2.1 Liên kết phân tử và tương tác giữa các phân tử
2.1.1 Liên kết phân tử
a)Liên kết cộng hóa trị
Liên kết cộng hóa trị xảy ra khi hai nguyên tư liên kết với nhau bằng cách hai nguyên tư trao đổi điện tư để tạo ra một mây điện tư chung làm vỏ chung cho cả hai hạt nhân
Trang 22b) Liên kết ion
Liên kết ion xảy ra giữa hai nguyên tư A và B khi nguyên tư A mất đi một điện tư lớp vỏ ngoài để chuyển sang cho lớp vỏ ngoài của B Như vậy A trở thành ion (+) còn B trở thành ion (-) Hai ion này
trái dấu điện ích nên liên kết bằng lực hút tĩnh điện.
Trang 23* Xét sự tạo thành phân tư NaCl :
tạo nên liên kết ion
=> hình thành phân tử NaCl
Trang 24một liên kết mới (mặc dầu yếu hơn) và gọi nó là liên kết
hydro
Hình: Các liên kết 1 được gọi là liên kết hydro
Trang 25d) Liên kết kim loại
Trong các tinh thể kim loại, những nguyên tư
của cả mạng liên kết với nhau bằng cách tập thể
hóa các điện tư lớp vỏ ngoài tạo thành các dải mức năng lượng chung thường gọi là các vùng năng
lượng của cả tinh thể Đó là liên kết kim loại, dạng liên kết điển hình của các nguyên tư kim loại.
Trong liên kết kim loại xuất hiện các điện tư tự
do có thể di chuyển khắp khối kim loại và tạo ra tính dẫn điện rất tốt của kim loại Trong công nghệ nanô liên kết kim loại thường dược dùng để tạo ra các kênh dẫn ở linh kiện nanô.
Trang 262.1.2 Sự tương tác giữa các phân tử
Giữa các phân tư trong thể khí, thể lỏng và thể rắn chủ yếu có lực tương tác Van der Waals Nếu xét hai phân tư nhỏ, coi như hai quả cầu, thì giữa chúng có lực tương tác van der Waals là lực hút
nhau khi còn xa nhau và đẩy nhau khi đến gần quá một khoảng cách gọi là khoảng cách cân bằng r0
Trang 28Tương tác Van der Waals giữa các phân tư có bản chất là tương tác điện từ giữa các momen điện xuất hiện trong các phân tư dưới nhiều dạng khác nhau.
Đây là dạng tương tác yếu, có năng lượng khoảng vài kilocalo/mol cho các loại phân tư nhỏ.
Tương tác giữa các phân tư, tuy yếu, có ảnh hưởng nhiều khi quyết định đến cấu trúc các chất và sự biến đổi các pha của chúng.
Trang 292.2 Cấu trúc các chất, pha và chuyển pha
2.2.1 Cấu trúc các chất
a)Thể rắn
Thể rắn gồm 2 loại: tinh thể và vô định hình
Trong các tinh thể nguyên tư, phân tư, ion dao động xung quanh các vị trí cố định, các vị trí này tạo thành
mạng lưới có tính tuần hoàn và đối xứng xác định
Cấu trúc tinh thể của Silic
Trang 30Trong các chất rắn vô định hình (như thủy tinh) các nguyên tư, phân tư, ion tuy cũng dao
động quanh các vị trí xác định, nhưng không có
tính tuần hoàn như tinh thể, tức là có trật tự gần
nhưng không có trật tự xa Các vật liệu kim loại vô định hình v.v…đều là các vật liệu dùng trong
những ngành công nghệ cao hiện đại, kể cả công nghệ nanô.
Trang 31quyết định công nghệ nanô ướt.
Trong điều kiện thông thường các chất ở dạng
lỏng thì rất nhiều, nhưng các nguyên tố ở dạng lỏng chỉ có thủy ngân và brom.
Trang 32c) Thể khí
Trong thể khí các phân tư có nhiều chuyển động hỗn loạn và càng mạnh nếu nhiệt độ càng cao Chuyển động nhiệt
của các phân tư gây nên áp suất tác động lên thành bình
Không khí là một hỗn hợp khí đảm bảo cho sự sống và phát triển công nghệ Khí đốt là nguồn năng lượng rất quan trọng hiện nay Pin nhiên liệu dùng khí H2 có triển vọng rất lớn để giải quyết vấn đề giao thông không gây ô nhiễm
Trang 33d) Thể Plasma
Thể plasma giống như thể khí, nhưng được tạo
thành không phải các phân tư trung hòa, mà là các ion và điện tư.
Tầng điện ly của khí quyển Trái đất, lớp nhật hoa của Mặt trời đều thuộc thể plasma Tương lai có thể giải quyết vấn đề năng lượng sạch và rẻ tiền bằng phản ứng nhiệt hạch trong plasma nóng của các ion
từ nguyên tư đơtơri (12H) và (13H).
Trang 34e) Bôzơ – Anhxtanh (BEC)
Đó là một tập hợp các nguyên tư (Na, Rb…) ở nhiệt độ gần với 0 độ tuyệt đối.
Chúng có nhiều tính chất kỳ lạ: cả hệ có hành vi như một nguyên tư, có tính năng như một hốc đen của vũ trụ Chất BEC đang hứa hẹn rất nhiều ứng dụng kỳ lạ mới.
Trang 352.2.2 Pha và chuyển pha
Các chất có thể tồn tại ở thể rắn, lỏng và hơi tùy theo
nhiệt độ Một chất xác định tồn tại ở thể rắn trong khoảng nhiệt độ thấp nhất, ở thể lỏng trong khoảng nhiệt độ cao hơn và ở thể khí trong khoảng nhiệt độ cao nhất mà quá khoảng đó chúng sẽ bị phá hủy
Sự chuyển từ thể này sang thể khác, tức thay đổi đột
ngột trạng thái cấu trúc, thường được gọi là chuyển pha
Các quá trình chuyển pha này thường kèm theo ẩm nhiệt và gọi là chuyển pha loại Ι, còn các loại chuyển pha không kèm theo ẩm nhiệt nhưng có sự thay đổi đột ngột một số tính chất thì gọi là quá trình chuyển pha loại II
Những quy luật chuyển pha liên quan với các dạng
tương tác giữa các phân tư và có ý nghĩa quan trọng trong việc chế tạo các hạt nanô, linh kiện nonô và cấu trúc nanô
Trang 37Những phân tư sinh học đều là các đại phân tư
mà phần lớn đều thuộc loại polime như protein, axit
nhân, polisaccarit, lipit; các chất dẻo dùng trong công nghiệp cũng là đại phân tư, các ống nanôcacbon cũng là đại phân tư…nhưng chúng không phải là đại phân tư sinh học
Đại phân tư có trọng lượng phân tư >100.000
Dalton
Trang 38Sự phân loại các cấp cấu trúc của phân tư protein để tạo ra các phân tư chức năng.
Trang 39Các đại phân tư sinh học thực sự là những
chiếc máy biết tự lắp ráp, theo thông tin từ bộ gen AND, và tự nhân bản Chúng được xem như những chiếc máy, máy nanô.
Máy nanô không phải chỉ có trong lĩnh vực
sinh học, trong công nghiệp người ta cũng có thể lắp ráp từ các phân tư polime thành các cấu trúc
nanô có thể thực hiện được nhiều chức năng kỳ
diệu.
Trang 40Chương III: CẤU TRÚC NANO
Cấu trúc nanô là các hệ thống có kích cỡ thuộc thang nanô (khoảng từ 1 đến 100
nanomet) gồm các nguyên tư, phân tư được sắp đặt vị trí sao cho cả hệ thống thực hiện
được các chức năng định trước.
Trang 413.1 Phân loại
Về phân loại hình học của các cấu trúc nanô ta có hạt nanô, sợi hoặc dây nanô hoặc ống nanô (một chiều thuộc thang nanô), lớp nanô hoặc màng mỏng nanô
(hai chiều thuộc thang nanô).
Về chức năng có thể phân các cấu trúc nanô
thành:
1.Vật liệu nanô, có thể là các hạt nanô như chấm
lượng tư hoặc vật liệu nền có nanôtinh thể hoặc
compodit có cốt sợi, ống nanôv.v…
2.Linh kiện nanô như các cảm biến nanô, các linh kiện đơn điện tư, các linh kiện của kỹ thuật spin v.v…
3.Các máy nanô như các MEMS, NEMS, các máy nanô phân tư như các phân tư protein…
Trang 433.2 Đặc điểm của cấu trúc nano
Vì số nguyên tư, phân tư ở trong cấu trúc thường
không quá lớn như trong các vật khối, nếu tính trong thang nanô (1 – 100nm) thì vào khoảng từ vài trăm đến hàng triệu nguyên tư
Trang 44 Trong các cấu trúc nanô, các tính chất điện tư và
từ bị khống chế bởi các quy luật lượng tư.
Các cấu trúc nanô, nhờ kích thước nhỏ, có tính
chất xếp chặt cao, do đó tạo ra tốc độ xư lý thông tin, vận chuyển thông tin lớn (có thể gấp hàng 106 lần hiện nay).
Trong hai thập kỷ qua hầu hết các ngành khoa học đều kết hợp nghiên cứu các cấu trúc nanô, từ đó hình thành khoa học nanô hướng tới các chân trời mà khoa học hiện nay còn chưa biết tới Những tri thức đạt
được khi nghiên cứu khoa học nanô không chỉ làm
phong phú thêm hiểu biết về tự nhiên mà còn trở thành
cơ sở cho một sự phát triển mạnh mẽ các công nghệ
mới có tính đột phá.
Trang 463.3 Ứng dụng của công nghệ nano
Máy nghe nhạc Ipod nano Điều trị ung thư và một số bệnh
trong y học
Trang 47Công nghệ nano trong thẩm mỹ Công nghệ nano để xư lý nước
Trang 48TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Vũ Đình Cự, Nguyễn Xuân Chánh Công nghệ nano
điều khiển đến từng phân tử, nguyên tử NXB – Khoa học
và kỹ thuật, 2004
[2] Nguyễn Ngọc Long Vật lý chất rắn – Cấu trúc và tính
chất của vật rắn NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2007.
[3]http://baigiang.violet.vn/present/show?entry_id=203097[4] http://timtailieu.vn/tai-lieu/bai-giang-nguyen-tu-9594/
Trang 49CÁM ƠN THẦY VÀ CÁC BẠN
ĐÃ QUAN TÂM THEO DÕI