1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Vài nhận thức về quan hệ quốc tế

10 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 233,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước hết, trong một cuốn sách xuất bản ở Anh, các tác giả cho rằng QHQT “là hệ thống các mối liên hệ và quan hệ qua lại về kinh tế, chính trị, ngoại giao, tư tưởng, quân sự… giữa các qu

Trang 1

VÀI NHẬN THỨC VỀ HỆ THỐNG

QUAN HỆ QUỐC TẾ

Vũ Dương Huân *

Hệ thống Quan hệ quốc tế (QHQT) là một trong những vấn đề

nghiên cứu quan trọng bậc nhất của Lý luận QHQT Chủ thể chính tham

gia QHQT, trước hết là các quốc gia, căn cứ vào lợi ích của bản thân để

xác định hành vi của mình trên vũ đài quốc tế Ngoài ra, các quốc gia

còn phải tính đến đặc điểm, cấu trúc của hệ thống QHQT để xây dựng

chính sách đối ngoại của mình Hệ thống quốc tế “ảnh hưởng trực tiếp

đến thái độ ứng xử và hành vi của mỗi quốc gia trước mỗi sự kiện quốc

tế”,1

hay nói ngắn gọn “hệ thống quốc tế xưa nay là tiền đề quan trọng để

nắm bắt thời cuộc”.2

Liên Xô tan rã, hệ thống QHQT hai cực do Liên Xô

và Mỹ đứng đầu sụp đổ, thế giới chuyển sang hệ thống quốc tế mới với

những trung tâm quyền lực mới, luật chơi mới và quy luật vận động mới

Đa số các nhà nghiên cứu quốc tế đều cho rằng ở giai đoạn đầu của thời

kỳ quá độ này, thế giới ở trong tình trạng nhất siêu đa cường và dần dần

chuyển sang trật tự đa cực

Để góp phần tìm hiểu hệ thống quốc tế hiện nay, bài viết này sẽ

làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến hệ thống QHQT, trước hết là

*

PGS TS., Tổng Lãnh sự Việt Na m tạ i Vladivostok, Liên bang Nga

1

Bộ Ngoại g iao, QHQT hiện đại: một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Đề tà i NCKH cấp

Bộ của Bộ Ngoại giao năm 2001 do TS Nguyễn Đình Luân làm chủ nhiệm, t r 40

2

“Hệ thống quốc tế thay đổi, rốt cuộc Trung Quốc ở vị t rí nào?”, Tạp chí Quan hệ quốc

tế hiện đại, số 11/2009, Bản dịch của Tuần Việt Nam (Vietnam.net), ngày 16/6/2010

khái niệm, đặc điểm cơ bản, cấu trúc, kiểu, loại hệ thống QHQT cũng như các quy luật vận động và chuyển đổi của hệ thống QHQT

Khái niệ m hệ thống QHQT

Tính hệ thống là một trong các đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất của hệ thống QHQT được các nhà nghiên cứu QHQT thừa nhận Lý luận

hệ thống đã được đề cập trong các công trình nghiên cứu của nhà tư

tưởng Anh Thomas Hobbes (1588-1679), C Mác- Ph Ăng-ghen và đặc

biệt trong các công trình của V Lênin… Tuy nhiên, ở phương Tây người

ta cho rằng nhà bác học người Mỹ gốc Áo Karl Ludwig von Bertalanfly (1901-1972) mới là người thực sự đặt nền móng cho lý luận hệ thống QHQT Ông đã xác định “hệ thống là tập hợp những nhân tố trong mối liên hệ qua lại với nhau” Còn nhà nghiên cứu người Pháp G Erơman cũng cho rằng “hệ thống từ góc độ hình thức, là sự hiện diện những thành

tố, thành phần của nó có những mối quan hệ đặc biệt giữa chúng với nhau, là cấu trúc và môi trường”.3

Trong lý luận hệ thống, có một số phạm trù, khái niệm cơ bản trước hết cần được làm rõ trước:

Nhân tố là bộ phận cấu thành đơn giản nhất của hệ thống

Cấu trúc thể hiện phương thức tổ chức, tương quan của các nhân tố

trong hệ thống và tổng thể những bắt buộc và hạn chế xuất phát từ sự tồn tại của hệ thống đối với những nhân tố của hệ thống

Môi trường là cái ảnh hưởng đến hệ thống và tạo ra tác động qua

lại giữa nó với hệ thống Có hai loại môi trường: môi trường bên trong và môi trường bên ngoài

3

Xe m P A Sưgancov, Lý luận Quan hệ quốc tế, Nxb Gardariki, Mát-xcơ-va 2005, tr

168 (t iếng Nga)

Trang 2

Ranh giới hệ thống là chỗ tiếp giáp của các nhân tố Bất cứ một

loại hệ thống quan hệ nào (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ) đều có

ranh giới khá năng động, rõ ràng, đo được, song nó không có bất kỳ hình

dạng hình học đặc biệt nào Tồn tại ranh giới đứt quãng, mờ ảo, song nội

dung được xác định rõ ràng Từ góc độ đó, quốc gia dân tộc được thể

hiện là sự kết hợp khái niệm ranh giới, khái niệm lãnh thổ cổ điển

Chức năng của hệ thống là phản ứng của nó đối với tác động của

môi trường nhằm bảo vệ một loại quan hệ giữa các yếu tố của hệ thống,

nghĩa là bảo vệ sự bền vững của hệ thống đó Khái niệm chức năng gắn

liền với khái niệm quá trình Theo quan điểm hệ thống, quá trình là tác

động qua lại giữa các nhân tố trong khuôn khổ hạn chế của cấu trúc , đặc

biệt là những mô hình quan hệ tương tác bền vững và lặp đi lặp lại định kỳ

Tiểu hệ thống có thể là một nhân tố bất kỳ của một hệ thống và đến

lượt nó là chỉ một tổng thể những nhân tố tác động qua lại lẫn nhau

(nghĩa là hệ thống, mà nó tồn tại trong một hệ thống chung hơn)

Các nhà nghiên cứu quốc tế đã vận dụng lý luận hệ thống trong

nghiên cứu QHQT Phạm trù hệ thống QHQT được sử dụng rộng rãi, linh

hoạt Đó là nhận thức đúng, chuẩn xác phản ánh được bản chất QHQT

Tuy nhiên, hầu hết các nhà nghiên cứu ở nước ta cũng như ở nước ngoài

đã đơn giản hóa khi chỉ viết “hệ thống quốc tế” (international system)

Bản chất khái niệm “hệ thống QHQT” và “hệ thống quốc tế” cũng chỉ là

một mà thôi Song khái niệm “hệ thống quốc tế” thường dễ lẫn với khái

niệm “hệ thống thế giới”, mà hai khái niệm này có sự khác biệt “Hệ

thống thế giới” không làm rõ được các mối quan hệ vốn là bản chất của

QHQT Vì vậy, khái niệm này hầu như được rất ít các nhà nghiên cứu sử

dụng Chính vì vậy, nên dùng khái niệm “hệ thống QHQT” hay gọi ngắn

gọn là “hệ thống quốc tế” Ngoài ra, có một số học giả lại dùng khái niệm

“hệ thống toàn cầu” Khái niệm này không được đông đảo các nhà khoa

học tán thành vì đứng trên quan điểm chủ nghĩa khu vực đã phủ nhận đặc điểm toàn cầu của QHQT

Một khái niệm rất thông dụng mà các nhà nghiên cứu hay sử dụng

là trật tự thế giới Trật tự thế giới có quan hệ như thế nào đối với hệ

thống quốc tế? Cũng như mọi hệ thống xã hội khác, hệ thống QHQT có

cấu trúc của mình mà trong khoa học chính trị gọi là trật tự thế giới Trật

tự thế giới là một “kiểu tương quan sắp xếp lực lượng giữa các chủ thể chính thống - thường là các cường quốc, trong một thời kỳ nhất định Từ

lịch sử QHQT có thể khái quát ba loại trật tự chính: trật tự đơn cực, trật

tự hai cực và trật tự đa cực Cực trong trật tự thế giới được hiểu là một trung tâm quyền lực có ảnh hưởng lớn tới QHQT ở khu vực hay trên phạm vi toàn cầu Theo nghĩa rộng thì trung tâm quyền lực không chỉ là cường quốc đơn lẻ mà còn có thể là một liên minh các quốc gia như EU hiện nay.4

Vậy, hệ thống QHQT là gì? Chúng ta hãy xem một số khái niệm

được các nhà khoa học đưa ra Trước hết, trong một cuốn sách xuất bản ở Anh, các tác giả cho rằng QHQT “là hệ thống các mối liên hệ và quan hệ qua lại về kinh tế, chính trị, ngoại giao, tư tưởng, quân sự… giữa các quốc gia và các nhóm quốc gia, giữa các giai cấp xã hội, các lực lượng chính trị, kinh tế, xã hội, các tổ chức và phong trào chính trị, xã hội đang hoạt động trên trường quốc tế”.5

Định nghĩa này đã mô tả QHQT như một hệ thống chỉnh thể của nhiều yếu tố cấu thành và nhiều mối quan hệ được hình thành giữa các chủ thể Tuy nhiên, định nghĩa lại thiên về góc

độ khái niệm QHQT chứ ít nhìn nhận nó dưới góc độ hệ thống QHQT

Một nhà nghiên cứu khác là K J Holsti đưa ra định nghĩa hệ thống quốc

4

Bộ Ngoại giao, Quan hệ quốc tế hiện đại: một số vấn đề lý luận và thực tiễn, tlđd, tr 63

5

The Ox ford Companion to the World, Oxford Un iversity Press, 1993, t r 455

Trang 3

tế là “tổng thể cộng đồng chính trị độc lập: các bộ lạc, thành bang, dân

tộc, đế quốc, có mối quan hệ qua lại lẫn nhau một cách thường xuyên và

theo một quá trình trật tự nhất định” Còn tác giả J Rosenau thì lý giải hệ

thống QHQT như hiện tượng vĩ mô của hành động và phản hành động

ngược lại của các cơ cấu xã hội quốc gia và trên cơ sở đó giải quyết các

xung đột và các quyết định của nhóm nhỏ, tổ chức lớn, khả năng và hạn

chế của các thiết chế xã hội.6

Cả hai định nghĩa nói trên đều khá phức tạp, ngoài việc đưa ra định nghĩa về hệ thống quốc tế đã đồng thời chỉ ra

các thành tố của nó và làm rõ bản chất mối quan hệ trong hệ thống Định

nghĩa của K J Holsti còn nhấn mạnh sự tồn tại của hệ thống qua mối

liên hệ thường xuyên và theo quá trình có trật tự, có nghĩa là có quy tắc

quan hệ

Một số tác giả định nghĩa đơn giản hơn R Aron cho rằng hệ thống

quốc tế là tổng thể, được hợp pháp hóa bằng các đơn vị chính trị, giữ mối

quan hệ thường xuyên với nhau Còn K Volts lại khẳng định hệ thống

quốc tế như là một cấu trúc, hình thành nên quan hệ tác động qua lại lẫn

nhau về chính trị giữa những người tham gia Ngoài ra, ông nhận xét

rằng, những đơn vị tạo thành cấu trúc hệ thống, cũng như các đặc điểm

cấu trúc của môi trường quốc tế cũng ảnh hưởng đến các đơn vị của hệ

thống, nghĩa là quốc gia.7

Những luận điểm nguyên tắc của những định nghĩa này là sự xác

nhận vai trò tích cực của “đơn vị” trong thành phần của hệ thống, tổ chức

các hành động của mình, xác định đặc điểm, cấu trúc và đặc trưng, song

kết quả các hành động tương tác là sự ra đời của hệ thống, có ảnh hưởng

đối với họ, xác định vị trí, vai trò của họ, ý nghĩa và khả năng tiềm tàng

6

Markian Malxki và Mikhailo Masiakh, Lý luận Quan hệ quốc tế, Nxb.Kobza, Kiev,

2003, t r.187-188 (t iếng Ucra ina)

5: Markian Ma lxki và M ikha ilo Masia kh, sđd, t r 189

Một nhà khoa học Pháp nêu một nhận thức khá cô đọng về hệ thống QHQT, khi ông viết “mỗi hệ thống QHQT không phải là cái gì khác mà chính là sự thể chế hóa không chính thức tương quan lực lượng giữa các quốc gia trong bối cảnh không gian và thời gian phù hợp”.8

Các tác giả một công trình nghiên cứu ở U-crai-na lại cho rằng “hệ thống QHQT là một tổng thể toàn vẹn cấu trúc theo ngôi thứ của những chủ thể tham gia QHQT, liên hệ với nhau qua các mối quan hệ qua lại thường xuyên”.9

Mặc dù, các định nghĩa hệ thống QHQT có khác nhau, song các nhà nghiên cứu đều xác định đặc điểm cơ bản nhất của hệ thống QHQT

là mối quan hệ tác động và lệ thuộc lẫn nhau của các nhân tố trong hệ thống Mô hình lý thuyết QHQT có thể được thể hiện như sơ đồ “nhân tố, mối liên hệ lẫn nhau - cấu trúc”, từng nhân tố cấu thành là đối tượng nghiên cứu riêng Không được quên rằng, hệ thống QHQT là trừu tượng khoa học được xác định bởi mô hình khái niệm, phạm trù QHQT tồn tại khách quan, được thiết kế ra để hiểu và giải thích QHQT Khái niệm hệ thống được hình thành đã khẳng định nó có tính chỉnh thể và vận động nhờ mối quan hệ hỗ tương, lệ thuộc lẫn nhau của các nhân tố của nó, là hiện thực vận động tồn tại khách quan

QHQT cũng như người tham gia không tồn tại bên ngoài hệ thống

mà chính họ tạo ra hệ thống, bằng sự tồn tại của mình, bằng hành động, mối liên hệ và ảnh hưởng Đồng thời, hệ thống QHQT ảnh hưởng không nhỏ đến người tham gia, xác định ranh giới hoạt động theo chức năng, vị trí trong hệ thống thang bậc… Chính vì thế, vấn đề cơ bản của nghiên cứu hệ thống QHQT là làm rõ đặc điểm cấu trúc và tính quy luật, các quá trình tiến hóa, các chu kỳ, các giai đoạn phát triển của hệ thống

8

P A Sưgancov, sđd, tr 78 (tiếng Nga)

9

Markian Malxki và Mikhailo Masiakh, sđd, tr 409

Trang 4

Như vậy, hệ thống QHQT là một chỉnh thể của các nhân tố có

quan hệ tương tác lẫn nhau và với môi trường Các hệ thống quốc tế tồn

tại khách quan, có tiềm năng phát triển, xuất phát từ hành vi của các diễn

viên, khả năng và vai trò của chúng Có nghĩa là hệ thống vĩ mô QHQT,

mà bộ phận cấu thành của nó là các hiện tượng cơ bản ở cơ sở của trật tự

đẳng cấp: người tham gia và quan hệ của chúng

Đặc thù của hệ thống QHQT

Nhìn chung, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng hệ thống

QHQT có những đặc trưng sau đây:

Trước hết, hệ thống QHQT có những nét riêng xuất phát từ đặc thù

của chính QHQT Một là, QHQT thuộc hệ thống quan hệ xã hội, xuất

phát từ bản thân QHQT là quan hệ xã hội Điều đó cho thấy hệ thống

QHQT là những hệ thống được phóng tác phức tạp cho nên việc phân

tích chúng không thể giống như phân tích các mô hình hệ thống cơ học

Đồng thời, do chúng là hệ thống xã hội nên theo lẽ thông thường thuộc

loại hệ thống đặc biệt có tính chất mở và kết cấu yếu Chính vì vậy,

không phải bao giờ cũng xác định được ranh giới rõ ràng giữa tổng thể

đối tượng đang nghiên cứu và môi trường bên ngoài của nó Ranh giới

giữa đối tượng và môi trường của hai đối tượng phân tách bằng không

gian.10 Khác với các hệ thống vật lý hay sinh học, ranh giới không gian

của các hệ thống QHQT thường chỉ mang tính ước lệ Hơn nữa, tính ước

lệ đó không được tuyệt đối hóa Chính vì vậy mà tác giả Ph Braillard

cho rằng QHQT là hệ thống không chính thức, nhưng là một chỉnh thể rõ

ràng, được thể hiện đặc biệt, song chỉ gián tiếp và được khám phá bằng

10

Po zdnhiakov E.A, Hoạt động chính trị đối ngoại và Quan hệ quốc tế, Mát-xcơ-va,

1986, t r 90 (tiếng Nga)

sự phân tích lý luận.11

Hai là, một đặc thù khác của QHQT là những

nhân tố cơ bản của QHQT - gồm các cộng đồng xã hội, nhóm người và những cá nhân - cho thấy hệ thống QHQT là hệ thống quan hệ qua lại giữa người và người, được chỉ đạo trong hành động ý chí của mình bởi nhận thức, định hướng giá trị… Đến lượt mình thì các nhân tố xác định

hệ thống QHQT lại liên quan chặt chẽ với các hiện tượng đặc biệt như sự

lựa chọn, động cơ và sự tiếp nhận Ba là, QHQT trước hết là quan hệ

chính trị và cốt lõi là quan hệ qua lại lẫn nhau giữa các quốc gia Vì vậy, hạt nhân của hệ thống QHQT toàn cầu phải là hệ thống quan hệ giữa các quốc gia

Đặc thù của QHQT là không có chính quyền tối cao đứng trên các quốc gia, các chủ thể mà là đa nguyên hóa của chủ thể, mức độ thấp của tập trung hóa đối ngoại và đối nội Nói cách khác, hệ thống quốc tế là hệ thống xã hội đặc biệt khác nhau bởi mức độ thấp của sự liên kết các thành tố trong sự toàn vẹn, cũng như tính độc lập đáng kể của các thành

tố Mức độ độc lập không được tuyệt đối hóa vì QHQT có đặc tính là vừa tồn tại sự xung đột lợi ích nhưng đồng thời có sự lệ thuộc lẫn nhau giữa các chủ thể Trong khi đó xã hội liên kết (những mối quan hệ xã hội bên trong) cũng không thể tránh khỏi các xung đột, mà trong một số điều kiện

có thể đưa đến những đặc điểm vô chính phủ, vốn là đặc trưng của QHQT, sự tan rã của Liên Xô là một ví dụ

Thứ hai, hệ thống QHQT là tổng thể của các mối quan hệ qua lại

giữa các nhân tố, mà các nhân tố đó luôn nằm trong những mối quan hệ nhân quả

Thứ ba, hệ thống QHQT là một hệ thống chỉnh thể theo chức năng

hoạt động

11

P A Sưgancov, sđd,, tr 70

Trang 5

Thứ tư, hệ thống QHQT là tổng thể các hành động, quan hệ của chủ

thể tham gia QHQT

Thứ năm, hệ thống QHQT là tổng thể, là một bộ phận thống nhất

hữu cơ với môi trường quốc tế

Thứ sáu, hệ thống QHQT là cấu trúc toàn vẹn theo ngôi thứ, mà

không phải là nhiều thứ hỗn loạn

Thứ bẩy, hệ thống QHQT không phải là hiện tượng tĩnh, mà là một

quá trình phát triển liên tục, luôn luôn biến đổi

Cách tiếp cận nghiên cứu hệ thống quốc tế

Việc nhận thức về đặc thù của QHQT khác nhau đã dẫn đến cách

tiếp cận không giống nhau trong nghiên cứu QHQT Về cơ bản, có cách

tiếp cận lịch sử - truyền thống hay lịch sử - xã hội học, cách tiếp cận tổng

hợp và cách tiếp cận kinh nghiệm Việc phân chia cũng chỉ là tương đối

Để chỉ quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia trong một thời kỳ lịch

sử hoặc một khu vực, trên quan điểm cách tiếp cận lịch sử - truyền thống,

người ta sử dụng khái niệm hệ thống QHQT Ví dụ hệ thống châu Âu thế

kỷ XVII (dựa trên các nguyên tắc của Hiệp ước Westphalia - hệ thống

cân bằng chính trị các nước châu Âu thế kỷ XIX; hệ thống hai cực toàn

cầu 1945-1990) Hạn chế cơ bản của của cách tiếp cận này là không coi

trọng tìm kiếm tính quy luật hoạt động của hệ thống quốc tế (đúng hơn là

quan hệ giữa các quốc gia), mà chỉ hạn chế trong việc mô tả quan hệ qua

lại giữa các chủ thể chủ yếu Trong khi đó, quan điểm hệ thống tin rằng

có sự tồn tại của các mối quan hệ có tính quy luật giữa các thành tố của

hệ thống quốc tế, hay giữa các chủ thể của QHQT

R Aron, một trong những người đi tiên phong trong việc sử dụng

phương pháp tiếp cận lịch sử - xã hội học trong nghiên cứu QHQT, đã

dùng kinh nghiệm lịch sử là điểm xuất phát trong nghiên cứu của mình, tránh việc xây dựng các mô hình trừu tượng So sánh quan hệ giữa các thành phố - nhà nước của Hy Lạp Cổ đại, quan hệ giữa các nhà nước quân chủ châu Âu thế kỷ XVII, các nhà nước châu Âu thế kỷ XIX và quan hệ qua lại giữa các hệ thống Đông - Tây hiện đại, ông tìm thấy sự lặp đi lặp lại, cho phép xác định tính quy luật chung Ông hiểu rằng phân tích hệ thống QHQT điển hình không tạo ra khả năng tiên đoán những sự kiện ngoại giao hoặc chỉ cho các nhà cầm quyền đường hướng ứng xử phù hợp với loại hình hệ thống Song ông cho rằng phương pháp tiếp cận

hệ thống cho phép làm rõ vai trò của thuyết quyết định xã hội trong QHQT và nhất thiết phải dùng cách tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu QHQT.12

Tác giả người Mỹ M Kaplan lại có ý kiến khác cho rằng tư liệu lịch sử không đủ để tổng hợp lý luận Xuất phát từ lý luận chung về hệ thống và phân tích hệ thống, ông đã thiết kế mô hình lý luận, có thể hiểu sâu sắc hơn hiện thực quốc tế Theo ông, phân tích các hệ thống quốc tế trừu tượng cho phép nghiên cứu bối cảnh và điều kiện, trong đó hệ thống này có thể tồn tại và chuyển hóa sang hệ thống loại khác Ông nêu vấn đề tại sao hệ thống này phát triển, vận hành như thế nào, nguyên nhân chúng suy yếu Kết quả là ông đã tách ra năm thay đổi và đặc trưng của từng

hệ thống, đó là: Luật lệ cơ bản của hệ thống; Luật lệ chuyển hóa của hệ thống; Luật lệ phân loại chủ thể; Khả năng của chúng; và Thông tin Lý luận chung của hệ thống đã nhấn mạnh sự thích nghi đối với sự thay đổi của môi trường và bằng cách đó đến sự tự bảo vệ Mỗi hệ thống có luật lệ riêng về sự thích nghi và chuyển hóa Luật lệ phân loại các chủ thể bao gồm những đặc điểm cấu trúc của chủ thể, trong đó có thứ bậc giữa

12

P A Sưgancov, sđd, , t r.175-1976

Trang 6

chúng với nhau tác động đến hành vi của từng chủ thể Ba đặc trưng đầu

là quan trọng nhất.13

Luật lệ cơ bản mô tả quan hệ giữa các chủ thể, hành vi phụ thuộc

vào không chỉ ý chí của cá nhân và mục tiêu đặc biệt mà còn phụ thuộc

vào đặc điểm của hệ thống, nhân tố cấu thành hệ thống Luật lệ chuyển

hóa thể hiện các quy luật thay đổi của hệ thống Lý luận chung của hệ

thống nhấn mạnh đến việc hệ thống thích nghi đối với sự thay đổi của

môi trường và qua đó tự bảo vệ hệ thống Mỗi một hệ thống đều có luật

lệ thích nghi và chuyển đổi Luật lệ phân loại chủ thể bao gồm những

đặc điểm cấu trúc của chủ thể, trong đó có sự tồn tại của đẳng cấp giữa

họ với nhau ảnh hưởng đến đến hành vi của từng chủ thể Mặc dù, có

không ít phê phán, song luận điểm của Kaplan có những giá trị nhất định

về mặt phương pháp luận

Nhà bác học Mỹ R Rosecrance cũng cố gắng kết hợp giữa cách

tiếp cận lịch sử - xã hội học và dự đoán Dựa vào nghiên cứu thực tế lịch

sử, ông chia ra làm bẩy hệ thống quốc tế kế tiếp nhau, phù hợp với từng

giai đoạn lịch sử: giai đoạn 1740-1789, 1789-1814, 1814-1822,

1822-1848, 1848-1871, 1871-1888, 1888-1918, 1918-1945, 1945-1960 Sau

đó, ông phân tích từng hệ thống QHQT với mục đích làm rõ các nhân tố

tạo sự ổn định và các nhân tố làm mất ổn định

Nhà khoa học người Anh E Loard phân chia thành bẩy hệ thống

QHQT trên thế giới, gồm Trung Quốc cổ đại (771-721 TCN), hệ thống

các quốc gia Hy Lạp cổ đại (510-338 TCN), thời đại các vương triều

châu Âu (130-1559), kỷ nguyên thống trị của tôn giáo (1559-1648), giai

đoạn xuất hiện và thịnh vượng của chủ quyền quốc gia (1648-1789), thời

đại chủ nghĩa dân tộc (1789-1914), thời đại ngự trị của hệ tư tưởng

13

Kaplan M., System and Process in International Politics, New York,1957

(1914-1974) Ông đã sử dụng các công cụ luận thuyết như là hệ tư tưởng, giới tinh hoa, động lực, phương tiện mà chủ thể sử dụng, phân tầng, cấu trúc, quy phạm, vai trò và chế định Tác giả đã theo dõi sát những tác động của từng công cụ đó đối với cấu trúc và vận động của các hệ thống quốc tế đối với sự thay đổi của chúng trong không gian và thời gian.14

Một học giả khác là B Korani thì cho rằng phương pháp tổng hợp

có ưu thế hơn tất cả vì nó cụ thể và rõ ràng hơn so với phương pháp của

M Kaplan, dựa trên những tư liệu, kinh nghiệm được các nhà sử học, chính trị học và xã hội học tích lũy và có đặc điểm là thuận lợi, đơn giản

để kiểm tra kết luận cũng như là một phương pháp độc lập nghiên cứu hệ thống quốc tế

Cuối cùng là phương pháp kinh nghiệm - nghiên cứu tác động qua lại, tồn tại thực trong thực tiễn QHQT tại các khu vực địa lý nhất định Khác với phương pháp truyền thống lịch sử, phương pháp này muốn làm

rõ đặc điểm hoàn cảnh chính trị ở mỗi khu vực, những mối quan hệ hệ thống, khám phá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố như là tương quan lực lượng chung ở khu vực, thực tế văn hóa xã hội, các tổ chức quốc tế ở khu vực… đối với hành vi của diễn viên Phương pháp tiếp cận này nhằm tìm tính quy luật, làm rõ hành vi của các diễn viên QHQT và các kết luận diễn dịch liên quan đến sự tồn tại và nội dung các quy luật đó

Trừ cách tiếp cận lịch sử - truyền thống, tất cả các phương pháp khác đều xuất phát từ sự tồn tại của quy luật vận động các hệ thống quốc

tế (mặc dù đặc điểm của hệ thống, của quy luật vận động nhận thức có khác nhau); thừa nhận hành vi của các quốc gia có tác động của quan hệ tương hỗ giữa các cường quốc mạnh nhất, có ảnh hưởng nhất Đặc điểm chung của tất cả các hệ thống quốc tế là sự thống trị về chính trị của

14

P A Sưgancov, sđd,, tr.176-177

Trang 7

những nước mạnh nhất chi phối và loại hình QHQT, có sự tồn tại các loại

hình hệ thống quốc tế, và tiêu chí phân loại khác nhau

Phân loại hệ thống QHQT

Có nhiều cách phân loại khác nhau đối với hệ thống quốc tế Các

quan điểm, các phương pháp tiếp cận hệ thống không giống nhau sinh ra

sự phân loại khác nhau đối với các hệ thống quốc tế

Căn cứ vào đặc điểm không gian địa lý, người ta chia thành hệ

thống quốc tế toàn cầu và các hệ thống khu vực - nhân tố cấu thành của

hệ thống chung Các thành tố của chúng lại trở thành các hệ thống con

của tiểu khu vực Việc hình thành hệ thống quốc tế toàn cầu được khởi

đầu từ thời kỳ có các phát kiến địa lý vĩ đại vào thế kỷ XVI, song nó chỉ

thực sự là hệ thống toàn cầu tính từ đầu thế kỷ XX tạo ra dấu ấn trên toàn

bộ sinh hoạt quốc tế Mặc dù có hệ thống quốc tế toàn cầu toàn vẹn, song

vẫn tồn tại sự gián đoạn tất yếu của hệ thống bởi một loạt hành động tác

động qua lại không phù hợp trong hệ thống (có tính tự trị) Đó là những

tác động qua lại đặc biệt, trên cơ sở mẫu số chung là khu vực địa lý Ph

Braillard, M R Djalili đã tìm cách làm rõ những nhân tố ảnh hưởng đến

quá trình hình thành những đặc điểm không phù hợp với hệ thống chung

toàn cầu, trong tác động qua lại với tiểu hệ thống châu Âu, liên Mỹ, châu

Phi, châu Á…, trong đó có tiểu khu vực Tây Âu… Những khía cạnh khu

vực (nhóm hay song phương) của quan hệ qua lại giữa các quốc gia được

xem như cấp độ cấu trúc của hệ thống quan hệ giữa các quốc gia mà

không được đưa vào hệ thống QHQT chung

Hạn chế cơ bản của cách tiếp cận khu vực là thiếu tiêu chí rõ ràng

để tách khu vực này với khu vực kia như là đối tượng nghiên cứu Hạn

chế đó có thể có hệ quả tiêu cực trong việc nhận thức những quá trình

chính trị quốc tế đang diễn ra ở khu vực

Một cách phân loại hệ thống quốc tế khác là xem xét loại quan hệ giữa các nhà nước như kinh tế, chính trị, quân sự chiến lược như những

hệ thống hoạt động độc lập Với cách phân loại như vậy, chúng ta có hệ thống quan hệ kinh tế quốc tế, hệ thống quan hệ chính trị, hệ thống quan

hệ quân sự v.v.…

Người ta cũng phân chia hệ thống quốc tế thành ổn định, không ổn định, xung đột, hợp tác, đóng kín hay mở Ví dụ hệ thống mở là một thực thể, giữ được biên giới của mình (khác môi trường) với sự hỗ trợ của cơ cấu thích nghi chống lại sự thay đổi Có nhà nghiên cứu cho rằng hệ thống mở là hệ thống mơ hồ, nghĩa là hệ thống không có biên giới như đường kẻ hay diện tích rõ ràng (như hệ thống phương tiện thông tin, tập hợp chính trị) Hệ thống đóng là một sự trừu tượng, bởi vì như vậy là không có sự tiếp xúc trong cái tổng thể của các nhân tố với môi trường xung quanh, không có ý nghĩa từ sự tồn tại hệ thống đóng bởi vì tác động qua lại thường xuyên với môi trường là điều kiện không thay đổi Rất gần gũi với khái niệm hệ thống đóng là hệ thống tự trị Đặc thù của hệ thống

tự trị là cấu trúc tổ chức của nó đòi hỏi giữ tính riêng trong khi vẫn không ngừng tiếp xúc và trao đổi với với môi trường xung quanh

Trường hợp đặc biệt là hệ thống hỗn loạn (vô chính phủ) Đây là hệ thống vô cùng nhạy cảm đối với sự thay đổi nhỏ nhất của các biến số Sự tiến hóa của nó có thể phụ thuộc vào sự thay đổi nhỏ bé nhất các điều kiện Kết quả mối liên hệ nhân quả chủ yếu mang tính chất ngẫu nhiên Nhà bác học Anh M Niconson còn đưa ra tiêu chí phân loại các loại hình hệ thống quốc tế là “tính ngẫu nhiên” và “tính quyết định” nhằm nhấn mạnh đặc thù của hệ thống xã hội Cơ sở phân loại của Niconson là thang bậc quyền lực và tác động qua lại lẫn nhau Theo ông

có năm loại hình thang bậc hệ thống quốc tế, đó là: hệ thống hoàn toàn theo thang bậc quyền lực; hệ thống hành động qua lại đầy đủ; hệ thống

Trang 8

thực tế đơn giản; hệ thống thực tế hỗn hợp và hệ thống tổng thể Hệ

thống toàn diện (tổng thể) xuất hiện khi các chính phủ mất khả năng gây

ảnh hưởng đến hoạt động qua lại của mình với các nhân tố - người tham

gia phi chính phủ nước ngoài, khi đó quan hệ giữa người tham gia nhà

nước được mở rộng và được củng cố.15

Dù có quá nhiều loại hệ thống quốc tế, song cũng không khó nhận

biết chúng Hầu hết các loại hệ thống quốc tế là dấu ấn của chủ nghĩa

hiện thực chính trị Cơ sở của quan điểm hiện thực chính trị là xác định

số lượng các cường quốc, phân phối quyền lực, xung đột giữa các quốc

gia… vốn là các khái niệm truyền thống Chủ nghĩa hiện thực chính trị

cũng đưa ra các khái niệm như hai cực, đa cực, cân bằng và hệ thống

quốc tế đế quốc Trong hệ thống hai cực thì hai cường quốc mạnh chi

phối, khi các cường quốc khác cũng đạt sức mạnh như vậy sẽ hình thành

đa cực Trong hệ thống cân bằng hay cân bằng sức mạnh, một vài cường

quốc đảm bảo ảnh hưởng như nhau đối với tiến trình sự kiện, loại trừ đòi

hỏi quá mức đối với nhau Cuối cùng, trong hệ thống quốc tế kiểu đế chế

(đơn cực), tồn tại một siêu cường vượt lên tất cả các cường quốc còn lại

về sức mạnh tổng hợp (lãnh thổ, lực lượng quân sự, tiềm năng kinh tế, dự

trữ tài nguyên )

Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa hiện thực chính trị, M Kaplan

đề xuất một kiểu phân loại hệ thống quốc tế nổi tiếng gồm sáu loại hệ

thống, hầu hết mang tính chất giả thuyết và tiên nghiệm,16

đó là:

1 Hệ thống cân bằng quyền lực, hay còn gọi là Hệ thống đa cực

Trong khuôn khổ của hệ thống này, tồn tại không ít hơn 5 cường quốc

Nếu ít hơn, hệ thống sẽ không tránh khỏi chuyển sang lưỡng cực

15

Niconson M., Ảnh hưởng của cá nhân đến hệ thống quốc tế Suy nghĩ về cấu trúc Cá

nhân trong chính trị quốc tế, Mát-xcơ-va, 1966, tr.130-133 (tiếng Nga)

16

P A Sưgancov, sđd,, tr 182-183

2 Loại hình thứ hai: hệ thống lưỡng cực mềm, trong đó cùng tồn tại diễn viên - quốc gia, cũng như loại diễn viên mới như liên minh, khối quốc gia, diễn viên toàn năng (toàn diện) là các tổ chức quốc tế Có thể

có vài phương án hệ thống lưỡng cực mềm phụ thuộc vào tổ chức bên trong của hai khối: đẳng cấp mạnh và tự trị (ý chí của nước đứng đầu khối buộc các đồng minh phải theo); không đẳng cấp nếu đường lối của khối được hình thành nhờ tham vấn lẫn nhau giữa các quốc gia thành viên có quyền độc lập, tự trị

3 Loại hình thứ ba: Hệ thống lưỡng cực nghiêm ngặt Đặc thù của loại này cũng như hệ thống lưỡng cực mềm, nhưng cả hai khối được tổ chức theo đẳng cấp chặt chẽ Trong hệ thống lưỡng cực nghiêm ngặt không có các quốc gia liên kết, trung lập như trong hệ thống lưỡng cực mềm Diễn viên toàn diện đóng vai trò loại hình hệ thống thứ ba rất hạn chế Nó không có khả năng gây sức ép đối với khối này hay khối kia Trên cả hai cực thực hiện việc dàn xếp hiệu quả các xung đột, hình thành những xu hướng ứng xử ngoại giao, vận dụng sức mạnh tổng lực

4 Hệ thống toàn diện hay loại hình thứ tư tồn tại trên thực tế phù hợp với liên minh có vai trò áp đảo của diễn viên toàn diện và mức độ lớn của môi trường chính trị thuần nhất dựa trên sự đoàn kết của các diễn viên dân tộc và diễn viên toàn diện Ví dụ hoàn cảnh phù hợp với hệ thống toàn diện khi mở rộng cơ bản vai trò Liên Hợp Quốc gây bất lợi cho chủ quyền quốc gia Trong điều kiện đó, Liên Hợp Quốc có quyền hạn lớn trong giải quyết xung đột và giữ gìn hòa bình và có khi xuất hiện những hệ thống liên kết phát triển mạnh trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, quản lý hành chính Quyền hạn của diễn viên toàn diện rất lớn, thậm chí

có cả quyền xác định quy chế quốc gia, phân bố cho quốc gia tiềm lực, QHQT vận hành trên cơ sở luật pháp, trách nhiệm giám sát cũng thuộc diễn viên toàn diện

Trang 9

5 Loại hình thứ năm hay còn gọi là Hệ thống đẳng cấp thực chất là

một nhà nước thế giới, trong đó quốc gia dân tộc chỉ là đơn vị lãnh thổ

đơn giản, bất cứ xu hướng ly tâm nào cũng bị ngăn cản ngay tức khắc

6 Loại hình thứ sáu là Hệ thống một veto duy nhất, trong đó mỗi

một diễn viên đều có khả năng bao vây, cô lập hệ thống khi dùng các

phương tiện đe dọa nhất định, với điều kiện là việc chống đối sự đe dọa

không mạnh Nói cách khác là bất cứ một quốc gia nào đều có khả năng

tự bảo vệ mình trước bất kỳ kẻ thù nào Tình trạng tương tự như vậy có

thể xảy ra, ví dụ khi có sự đe dọa của việc phổ biến vũ khí nguyên tử

Luận thuyết của M Kaplan bị phê phán mạnh vì thiếu thực tế Tuy

nhiên, đó là một trong những cố gắng nghiên cứu, đặc biệt về những vấn

đề hệ thống thế giới với mục đích làm rõ các quy luật vận động và thay

đổi của chúng Ngoài các kiểu hệ thống quốc tế đã nêu còn có các mô

hình hệ thống quốc tế khác do H Kissinger, J Modelski, Ph Rirson và

nhiều nhà nghiên cứu khác đề xuất vào những thời gian khác nhau Nhiều

cách phân loại không thể hiện sự khác nhau cơ bản giữa các hệ thống,

chủ yếu theo chủ quan, không có tiêu chí phân loại rõ ràng Đề xuất của

M Kaplan có vẻ mang tính khoa học hơn cả vì có tiêu chí rõ ràng, phân

hạng các quốc gia theo thang bậc hệ thống, làm rõ các đặc điểm quan

trọng nhất, quy chế quan hệ giữa các quốc gia… Các siêu cường đã thay

thế nhau bao giờ cũng xác định tình trạng quan hệ chính trị và các mối

quan hệ khác bằng những hành động của mình Từ thời cổ đại đến nay đã

có những siêu cường như Vương quốc Ba Tư, các quốc gia Hy Lạp

(Athens, Makedonia), La Mã, Đế quốc Phrancơ, Tây Ban Nha, Anh, Mỹ,

Liên Xô là nhân tố quyết định hình thành nên các trật tự QHQT, xác định

đặc điểm, cấu trúc, mối liên hệ giữa các cấp độ hệ thống thang bậc…

Nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử của các siêu cường, K X Gaggiev khẳng

định rằng “đạt được mục đích của quốc gia phụ thuộc vào đặc điểm của

hệ thống QHQT Đặc điểm hệ thống QHQT lại được xác định bởi kiểu và sức mạnh của những diễn viên chủ chốt”.17

Đồng thời, hệ thống QHQT thường xuyên thay đổi và trở nên phức tạp hơn là nhân tố khách quan tác động đến việc hình thành những cơ chế quan hệ tương hỗ phức tạp giữa các quốc gia Bởi vì số lượng chủ thể tham gia được bổ sung thường xuyên và không gian địa lý các hoạt động qua lại lẫn nhau được mở rộng đưa đến toàn cầu hóa về chính trị Phân tích đặc điểm toàn cầu của sự thống trị về chính trị của Mỹ, Zbignev Brezinski viết: “Bá quyền cũng cũ như thế giới, song sự thống trị thế giới của Mỹ có đặc trưng là hình thành nhanh và có quy mô toàn cầu về phương pháp thực hiện”.18

Trên cơ sở tính toàn cầu của hệ thống QHQT, cũng như đặc điểm cấu trúc thang bậc ngôi thứ của hệ thống, nhà nghiên cứu người Đức E Chempen đề xuất một cách phân loại hệ thống QHQT độc đáo Theo ông,

có bốn loại hệ thống khác nhau ở đặc thù quan hệ theo chiều dọc của siêu cường toàn cầu với các quốc gia có vị trí thấp nhất trong hệ thống thang bậc ngôi thứ, đó là các hệ thống: 1 Đế quốc; 2 Bá quyền; 3 Thứ bậc và

4 Quân bình Phân loại của ông khá hay vì đã sắp xếp các q uốc gia trên

cơ sở sự phụ thuộc theo chiều dọc từ các cực… Song bất cứ hệ thống QHQT nào cũng có các thang bậc ngôi thứ, không có nó thì nhìn chung

hệ thống không tồn tại, nên việc chia hệ thống ngôi thứ như một kiểu hệ thống QHQT là không có ý nghĩa Ngoài ra, có tình trạng khi tất cả các quốc gia trong hệ thống quốc tế ở ngôi thứ như nhau chính là dấu hiệu của sự hỗn loạn hơn là sự tồn tại của hệ thống Với hai lưu ý trên thì hệ thống thứ bậc của ông chỉ là giả thuyết, không tồn tại trong thực tế Ngoài ra, hệ thống bá quyền và đế quốc rất gần nhau, vì hạng 1 và 3 của ngôi thứ có thể không khác nhau mấy về sức mạnh quốc gia

17

Gaggiev K X., Địa chính trị, Mát-xcơ-va 1997, tr.172 (t iếng Nga)

18

Bre zinski Z., Bàn cờ lớn, Mát-xcơ-va, 1999, tr 13 (t iếng Nga)

Trang 10

Các tác giả công trình khoa học xuất bản ở U-crai-na tham khảo

phân loại của Chempen đã phân loại hệ thống QHQT trên cơ sở tính “tính

cực”, nghĩa là sự hiện diện của vài quốc gia hạng 1 đáp ứng tiêu chí cường

quốc toàn cầu “Các cực” tạo ra những thay đổi về chất to lớn trong hệ

thống quốc tế, bởi vì ảnh hưởng sức mạnh của “các cực” thâm nhập vào tất

cả các thang bậc ngôi thứ trong hệ thống cũng như động chạm đến tất cả

các quốc gia trên thế giới Rõ ràng rằng bất cứ những thay đổi ở hạng 1

của thang bậc ngôi thứ sẽ dẫn đến sự thay đổi của cả hệ thống, trong đó có

vấn đề kiểu, loại hệ thống Đồng thời, cũng không cần trừu tượng hóa hạng

2, 4 vì ở đó đã có sự sắp xếp lực lượng nhất định và có sự tác động qua lại

theo chiều dọc Các tác giả đề tài khoa học của Bộ Ngoại giao đã nói ở trên

cũng tán thành ý kiến của các nhà khoa học về phân loại hệ thống thế giới

trên cơ sở cực và cho rằng có ba loại trật tự chính: trật tự đơn cực, trật tự

hai cực và trật tự đa cực.19

Tham khảo nhận thức trên của các nhà khoa học, chúng tôi cho

rằng việc chia làm ba kiểu hệ thống quốc tế là có cơ sở Cụ thể như sau:

Hệ thống đơn cực: có đặc trưng là hiện diện một siêu cường, sức

mạnh và ảnh hưởng đối với hệ thống là quyết định, hình thành mối quan

hệ qua lại và quyết định đặc điểm hành động của các quốc gia ở thang

bậc thấp Hệ thống như thế này thường là phụ thuộc Hệ thống đơn cực

có thể chia ra các dạng khác nhau như đơn cực đơn giản, đơn cực cấu

trúc và đơn cực hỗn hợp

Đơn cực đơn giản có đặc điểm là quan hệ của siêu cường và quốc

gia lệ thuộc, nghĩa là hạng 1, 4 Sự khác nhau về sức mạnh quốc gia rất

lớn, làm cho hệ thống rất ổn định Trong hệ thống này có thể nảy sinh các

cuộc xung đột, thường là ở thang bậc thấp, song xung đột lớn không thể

19

Bộ Ngoại g iao, QHQT hiện đại: một số vấn đề lý luận và thực tiễn, tlđd, tr 54-69

xảy ra vì thiếu đối thủ có sức mạnh tương đương có thể đe dọa vị trí siêu cường duy nhất

Hệ thống đơn cực cấu trúc là có sự hiện diện của các trung tâm khu

vực mạnh ở hạng 2, (không nhất thiết phải ở tất cả các khu vực), gây ảnh hưởng trực tiếp đối với các quốc gia hạng 1 và hạng 4 ở khu vực, song chính họ cũng chịu ảnh hưởng lớn của siêu cường thế giới Biên giới hành động quan hệ thứ bậc trong các hệ thống như vậy được xác định bởi mối quan hệ “siêu cường - trung tâm khu vực - các quốc gia - quốc gia lệ thuộc” Hệ thống đơn cực cấu trúc khá ổn định, mặc dù trong đó đã bắt đầu nảy sinh các điều kiện xung đột trong hệ thống

Hệ thống đơn cực hỗn hợp là hệ thống đặc thù bởi có sự hết hợp

các kiểu hệ thống quốc tế phụ đã nêu ở trên Ở đây tồn tại hai kiểu quan

hệ ngôi thứ: “siêu cường - nước lệ thuộc” và “siêu cường - trung tâm khu vực - các quốc gia - quốc gia phụ thuộc” Kiểu hệ thống này khá phổ biến trong thực tiễn QHQT so với các kiểu đơn cực khác được lý giải bởi sự phát triển đa dạng của các khu vực Trong các khu vực phát triển có nhiều khả năng xuất hiện các trung tâm khu vực mạnh hơn là các vùng lạc hậu

Luật chơi trong hệ thống đơn cực gồm: luật chơi do siêu cường ban hành; siêu cường là trọng tài phân xử hay trung gian hòa giải tranh chấp quốc tế giữa các thành viên; siêu cường có quyền trừng phạt quốc gia khác vi phạm luật chơi, hạn chế quyền tự trị của các quốc gia lệ thuộc

Ví dụ ở Phương Đông trước đây, các quốc gia nhỏ phải được “Thiên triều” phong vương để có được tính chính danh, tính hợp pháp của triều đại đó với “Thiên triều” Ngoài ra, họ còn phải có nghĩa vụ cống nạp cho

“Thiên triều”, nghĩa là dâng biếu “Thiên triều” những vật phẩm quý của địa phương như vàng, bạc, châu báu, ngà voi, tê giác, thậm chí “Thiên triều” còn đòi cống nạp thợ giỏi, thày thuốc giỏi, có khi cả người

Ngày đăng: 01/08/2017, 20:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w