Chính vì vậy, luận văn mong muốn đưa ra một cái nhìn đầy đủ hơn về nội hàm cũng như thực tiễn của khái niệm NGKT, xem xét NGKT ở cả hai phương diện “kinh tế là đối tượng” và “kinh tế là
Trang 1Ngoại giao kinh tế trong thực tiễn quan hệ
quốc tế và Việt Nam Nguyễn Thị Huyền Trang
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Quốc tế học
Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế ; Mã số: 60 31 40 Người hướng dẫn khoa học: T.S Bùi Thành Nam
Năm bảo vệ: 2011
Abstract Làm sáng tỏ nội hàm khái niệm ngoại giao kinh tế (NGKT) Phân tích trọng tâm
của công tác ngoại giao kinh tế tại các quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển Tìm hiểu vai trò của hoạt động NGKT đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam và đưa ra một
số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của NGKT phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
Keywords Quan hệ quốc tế; Quan hệ ngoại giao; Việt Nam; Kinh tế
Content
1 Lý do chọn đề tài
Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI cùng với việc chiến tranh lạnh chấm dứt, quan hệ quốc tế đã chuyển dần từ đối đầu sang đối thoại, từ đó làm nảy sinh xu hướng đa dạng hoá,
đa phương hoá trong tiến trình hội nhập toàn cầu Hoà bình, ổn định, hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các quốc gia Cùng với đó, quá trình toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng phát triển sâu rộng với tốc độ chưa từng có, khoa học - công nghệ tiến bộ vượt bậc, làm thay đổi sâu sắc kinh tế thế giới nói riêng và đời sống quốc tế nói chung Kinh tế được ưu tiên phát triển và trở thành một trong những chủ
đề chính trong quan hệ quốc tế hiện nay
Trước bối cảnh đó, hầu hết các quốc gia đều sớm điều chỉnh lại chính sách đối ngoại của nước mình để thích ứng với tình hình mới, trên cơ sở đó thì ngoại giao kinh tế ngày càng khẳng định vai trò nổi bật của mình Ngoại giao kinh tế của các nước phát triển ngày càng mạnh mẽ và rộng rãi, với nhiều nội dung và hình thức mới Vai trò của nó cũng ngày càng được xác định rõ ràng hơn, cùng với đó các hoạt động ngoại giao kinh tế cũng được thực hiện một cách chuyên nghiệp hơn Nó không chỉ thể hiện ở chỗ tham gia kiến tạo chính sách kinh tế đối ngoại, xây dựng và duy trì mối quan hệ quốc tế ổn định, thuận lợi cả
về chính trị, kinh tế, an ninh, mà còn ở chỗ tìm kiếm được nhiều đối tác, tiếp thị và mở rộng thị trường, đầu tư, thu hút viện trợ nước ngoài và môi giới những hợp đồng kinh tế lớn…
Ở Việt Nam, NGKT không phải vấn đề mới Đặc biệt trong các năm gần đây, NGKT luôn được coi là một bộ phận quan trọng của ngoại giao nói chung và ngoại giao Việt Nam nói riêng Ngành ngoại giao đã xem trọng tâm phát triển kinh tế là công tác hàng đầu của hoạt động đối ngoại
Trang 2Với tầm quan trọng như vậy, NGKT đã và đang là vấn đề được rất nhiều cơ quan chức năng và học giả quan tâm Tuy nhiên, quan niệm, hình thức và phương thức thực hiện NGKT lại không giống nhau ở các quốc gia cũng như ở các thời kỳ khác nhau Chính vì vậy, luận văn mong muốn đưa ra một cái nhìn đầy đủ hơn về nội hàm cũng như thực tiễn của khái niệm NGKT, xem xét NGKT ở cả hai phương diện “kinh tế là đối tượng” và
“kinh tế là công cụ” của chính sách đối ngoại quốc gia trong quan hệ quốc tế, từ đó đánh giá công tác NGKT tại Việt Nam, đồng thời kiến nghị một số giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa hiệu quả các hoạt động NGKT trong thời gian tới
2 Mục tiêu của đề tài
Luận văn tập trung phân tích làm sáng tỏ nội hàm khái niệm Ngoại giao kinh tế Phân tích trọng tâm của công tác ngoại giao kinh tế tại các quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển
Làm rõ vai trò của hoạt động NGKT đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam và đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của NGKT phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
3 Đối tượng nghiên cứu
- Mối quan hệ giữa Ngoại giao kinh tế và các nhiệm vụ khác của Ngoại giao
- Chủ thể Ngoại giao kinh tế
- Các phương diện của Ngoại giao kinh tế
- Yêu cầu, thực tiễn triển khai công tác Ngoại giao kinh tế
4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung phân tích các đặc trưng công tác NGKT tại các quốc gia đang phát triển, phát triển và thực tiễn tại Việt Nam
Về mặt thời gian, tại Việt Nam luận văn đặt trọng tâm phân tích vai trò của NGKT chủ yếu giai đoạn sau khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó, luận văn cũng sử dụng các phương pháp so sánh, đối chiếu; phân tích định tính, định lượng; phân tích tổng hợp… để thể hiện các đánh giá, phân tích và luận điểm
6 Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Luận văn phân tích một cách hệ thống các phương diện của ngoại giao kinh tế, đặc biệt là tầm quan trọng của công tác ngoại giao kinh tế trong quan hệ quốc tế và Việt Nam Trên cơ sở lý luận, thực tiển triển khai trong quan hệ quốc tế và Việt Nam, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác ngoại giao kinh tế trong giai đoạn tới Với những nội dung trên, hy vọng rằng luận văn khi hoàn thành sẽ hữu ích cho công tác nghiên cứu về ngoại giao kinh tế
Do nguồn tài liệu liên quan đến đề tài luận văn có hạn, quỹ thời gian không nhiều và kiến thức, kinh nghiệm của người viết còn hạn chế nên luận văn chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến bổ sung, đóng góp của các thày cô và các bạn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được chia làm ba chương:
Trang 3Chương 1: Cơ sở lý luận về Ngoại giao kinh tế Nhằm đưa ra cái nhìn đầy đủ về
thuật ngữ Ngoại giao kinh tế, Chương 1 khái quát những quan niệm về Ngoại giao kinh tế trên thế giới và Việt Nam, phân tích mối quan hệ biện chứng giữa ngoại giao và kinh tế, cũng như mối quan hệ giữa ngoại giao kinh tế với các nhiệm vụ khác của ngoại giao
1.1 Khái niệm ngoại giao kinh tế
Ngoại giao kinh tế không phải là khái niệm mới Ngoại giao với những mục tiêu kinh
tế ra đời từ khá sớm Cùng với sự phát triển của quá trình toàn cầu hóa và phụ thuộc mạnh
mẽ về kinh tế giữa các quốc gia, thuật ngữ Ngoại giao kinh tế dần trở thành quen thuộc với nhiều người trên thế giới Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này Quả thật, không có một định nghĩa chính xác về ngoại giao kinh tế, nhưng nó có thể được mô tả là sự hình thành và thúc đẩy các chính sách liên quan đến sản xuất, di chuyển và trao đổi hàng hóa, dịch vụ, lao động và đầu tư với các nước / khu vực khác Ngoại giao kinh tế, cũng như ngoại giao nói chung, là một thành phần của chính sách đối ngoại, hoạt động quốc tế của đất nước, xác định các mục tiêu và mục đích của ngoại giao kinh tế đại diện cho toàn bộ các hoạt động, hình thức, phương tiện và phương pháp được
sử dụng để thực hiện chính sách đối ngoại
Ngoại giao kinh tế là phân tích, xây dựng liên minh, ra quyết định, giải quyết vấn đề, xây dựng chính sách và biện hộ cho lợi ích của các quốc gia, đàm phán và giải quyết tranh chấp Ngoại giao kinh tế yêu cầu phải có sự tinh thông kỹ thuật, biết phân tích các hệ quả tác động của tình hình kinh tế của một nước lên bầu không khí chính trị nước đó và các lợi ích kinh tế của quốc gia Các quốc gia, các lãnh đạo doanh nghiệp nước ngoài cũng như các nhà làm chính sách của Chính phủ cùng làm việc với nhau về một số trong những vấn
đề gai góc nhất của chính sách đối ngoại, chẳng hạn như công nghệ, môi trường cũng như trong các lĩnh vực truyền thống như thương mại và tài chính Tính tháo vát, linh hoạt, đánh giá đúng đắn và kỹ năng kinh doanh tốt là rất cần thiết để thực hiện ngoại giao kinh tế Phạm vi của ngoại giao kinh tế bao quát cả những vấn đề kinh tế đối nội và kinh tế quốc tế Nó bao gồm cả “nguyên tắc quan hệ kinh tế giữa các nhà nước” được theo đuổi từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai Quá trình phát triển của toàn cầu hóa và lệ thuộc lẫn nhau nhiều hơn giữa các nước trong những năm 1990 và 2000 buộc ngoại giao kinh tế phải
đi sâu hơn vào quá trình hoạch định chính sách đối nội Nó bao gồm cả “chính sách liên quan đến sản xuất, di chuyển và trao đổi hàng hóa, dịch vụ, các công cụ sản xuất, thông tin tiền tệ và các quy định quản lý chúng”
Tựu chung lại, mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau, có thể hiểu về Ngoại giao kinh
tế đơn giản là ngoại giao bảo vệ và thúc đẩy lợi ích kinh tế quốc gia, là phương tiện để cạnh tranh và hợp tác trong quan hệ quốc tế Theo đó, ngoại giao kinh tế bao hàm hai phương diện “kinh tế là đối tượng” và “kinh tế là công cụ” của chính sách đối ngoại quốc gia trong quan hệ quốc tế
Tại Việt Nam, từ chỗ nhận thức sơ khai ban đầu trước đổi mới, đến nay ngoại giao kinh tế đã trở thành một trong những nhiệm vụ chính của ngành ngoại giao Ngoại giao kinh tế đã và đang được quán triệt sâu sắc, triển khai một cách bài bản và nhận được sự ủng hộ lớn từ các cấp, các ngành, các địa phương cũng như các doanh nghiệp Có thể nói, ngoại giao kinh tế đã thực sự trở thành nhu cầu khách quan đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, là một trong ba trụ cột quan trọng của công tác ngoại giao Mục tiêu
Trang 4tổng quát của hoạt động ngoại giao kinh tế là tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế của đất nước, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế với nước ngoài, phục vụ thiết thực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập khu vực và quốc tế Theo
đó, công tác ngoại giao kinh tế ở Việt Nam được hiểu chính là ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế
1.2 Ngoại giao kinh tế và các nhiệm vụ khác của ngoại giao
Mối quan hệ giữa ngoại giao kinh tế và các nhiệm vụ khác của ngoại giao là mối quan hệ biện chứng, gắn bó chặt chẽ và tác động qua lại với nhau một cách sâu sắc Đối với nền ngoại giao các quốc gia, sức mạnh kinh tế vừa là cái đích phải đạt tới, vừa là phương tiện để họ thực hiện mục tiêu của mình Và ngược lại, bất kỳ quan hệ trên lĩnh vực nào cũng cần nền tảng là quan hệ ngoại giao, một cách chính thức hoặc trên nguyên tắc nhất định Với vai trò là một trong những trụ cột quan trong của ngoại giao các quốc gia, Ngoại giao kinh tế vừa là nền tảng cho sự phát triển, vừa là biện pháp và mục tiêu của chính sách đối ngoại; nó bổ trợ rất hữu hiệu cho các trụ cột khác, tạo thành một chỉnh thể chính sách đối ngoại phát huy tốt nhất sức mạnh dân tộc và kết hợp hiệu quả với sức mạnh thời đại Ngoại giao chính trị đóng vai trò định hướng Ngoại giao văn hóa tạo nền tảng tinh thần làm bền chặt quan hệ chính trị và kinh tế… Những trụ cột này tạo ra sức mạnh cộng hưởng cho ngoại giao các quốc gia, góp phần tạo dựng và phát triển các mối quan hệ đối ngoại theo hướng ổn định, bền vững và hiệu quả
1.3 Chủ thể thực hiện công tác Ngoại giao kinh tế
Kể từ khi thuật ngữ “ngoại giao kinh tế” xuất hiện, ngoại giao đã không còn là công việc duy nhất của Bộ ngoại giao, mà đã xuất hiện nhiều chủ thể khác nhau… Bên cạnh Bộ ngoại giao thì còn có sự tham gia rất tích cực từ các bộ ban, ngành và nhiều nhóm lợi ích khác vào công tác ngoại giao kinh tế Những chủ thể này không chỉ nhiều về số lượng mà còn rất đa dạng về chủng loại Và mỗi chủ thể lại có sự khác biệt về lịch sử, trình độ phát triển, văn hóa, lợi ích và trong quan hệ tương tác với các chủ thể khác nhau Tựu chung lại
có thể chia ra các nhóm chủ thể cơ bản:
Chủ thể chính của Ngoại giao kinh tế Phạm vi quốc gia Phạm vi ngoài quốc gia
Chủ thể nhà nước Chủ thể phi nhà nước
Cơ quan hành
pháp
Cơ quan lập
pháp
Chính quyền
địa phương
Các nhóm lợi ích kinh tế
Các chủ thể khác
Các nhóm lợi ích kinh tế
Các nhóm lợi ích kinh tế
Các nhóm lợi ích kinh tế
Trang 51.4 Các cấp độ của NGKT
Ngoại giao kinh tế có thể hoạt động theo hai cấp độ, song phương và đa phương Cấp
độ song phương Ngoại giao kinh tế song phương hình thành nên phần lớn các quan hệ kinh
tế Nó bao gồm các hiệp định thương mại song phương, các hiệp ước, hiệp định về đầu tư, việc làm, các hiệp định tránh đánh thuế hai lần và rất nhiều hoạt động chính thức và không chính thức khác giữa hai quốc gia Có thể kể đến như các hiệp định mậu dịch tự do của Asean với Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc… Ngoại giao kinh tế song phương đóng vai trò quan trọng trong quan hệ ngoại giao, kinh tế giữa các quốc gia Xây dựng hiệp định thương mại tự do song phương được rất nhiều quốc gia trên thế giới chú trọng
Cấp độ ngoại giao kinh tế đa phương, đây là một kiểu ngoại giao kinh tế giống như cấu trúc song phương, song bao gồm các giao thương không chính thức giữa từ 3 nước/ bên/ khu vực trở lên trên một loạt các vấn đề hoặc thông qua một hiệp định đa phương chính thức Các hiệp định kinh tế khu vực, đa phương cung cấp một cách mở cửa nền kinh
tế nhanh hơn Tự do hóa kinh tế có thể dễ được chấp nhận hơn đối với lợi ích quốc gia khi
nó diễn ra trong khuôn khổ một nhóm các nước trong khu vực
Trên thực tế, hai cấp độ của ngoại giao kinh tế có sự tương tác lẫn nhau Bản chất đa cấp của ngoại giao kinh tế đồng nghĩa với việc các nước tận dụng được lợi ích của các cấp
độ khác nhau đó Điều đó cũng bao hàm rằng các chính phủ có rất nhiều lựa chọn để theo đuổi
Chương 2: Các phương diện của Ngoại giao kinh tế trong quan hệ quốc tế 2.1 NGKT là việc sử dụng kinh tế như công cụ để cạnh tranh và hợp tác trong quan hệ quốc tế
Sức mạnh kinh tế có vai trò rất quan trọng trong quan hệ quốc tế, tùy vào cách mà mỗi quốc gia sử dụng để đạt được mục tiêu của mình, nó có thể tạo ra những tác động tích cực thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia, nhưng mặt khác nó cũng có thể là công cụ hữu hiệu để gia tăng sự cạnh tranh trong quan hệ quốc tế Đối với mỗi quốc gia, sức mạnh kinh
tế vừa là cái đích phải đạt tới, vừa là phương tiện để họ thực hiện mục tiêu của mình Nền kinh tế quốc gia có mạnh, đời sống vật chất của dân chúng trong nước có được cải thiện và nâng cao, thì quốc gia mới có điều kiện duy trì ổn định nội bộ và phát huy tốt vai trò quốc
tế Ổn định nội bộ là điều kiện quan trọng, tạo môi trường tốt để quốc gia phát triển kinh
tế
Tầm quan trọng của ngoại giao kinh tế là động lực cho sự phát triển chính trị, công
cụ thúc đẩy hợp tác quốc tế được thế giới biết đến và nhận thức rõ thông qua các hoạt động như viện trợ, các chương trình liên kết kinh tế quốc tế, phòng ngừa xung đột Không chỉ được coi như một công cụ dài hạn để ngăn ngừa xung đột, mà Ngoại giao kinh tế còn là một trong những giải pháp trung hòa, được kỳ vọng đem lại những cơ hội hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia Được thực hiện dưới rất nhiều hình thức khác nhau, Ngoại giao kinh tế
đã góp phần tạo ra những mối quan hệ gắn bó, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, những sự tác động qua lại hết sức nhanh nhạy giữa các nền kinh tế
Bên cạnh đó, ngoại giao kinh tế cũng được biết đến như một công cụ rất hiệu quả để tăng cường cạnh tranh trong quan hệ quốc tế thông qua các hình thức như trừng phạt kinh
tế và cấm vận kinh tế Các biện pháp này thường được sự dụng bởi các quốc gia phát triển
Trang 6có tiềm lực và ảnh hưởng lớn Trừng phạt kinh tế được định nghĩa là "các biện pháp kinh
tế được tiến hành nhằm chống lại một hay nhiều nước với mục đích đưa đến một sự thay đổi trong chính sách hay ít nhất là thể hiện ý kiến của một nước đối với chính sách của nước khác", nhằm thay đổi thái độ của nước mục tiêu, trả thù, đe dọa, hoặc tác động làm thay đổi những chính sách không có lợi của nước bị trừng phạt…Tuy nhiên, lịch sử đã cho thấy mục đích cơ bản của trừng phạt kinh tế là siết chặt chính sách thương mại để bảo vệ lợi ích kinh tế của một nước trước các nước thù địch nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược hoặc các chính sách đối ngoại Còn cấm vận là sự ngăn cấm quan hệ ngoại giao, buôn bán, thương mại, vũ khí, năng lượng, đi lại vận chuyển hàng hóa (bằng hàng không hay đường biển), khoa học kỹ thuật với một nước nào đó Mục tiêu của cấm vận là gây khó cho nước khác trên lĩnh vực bị cấm vận cũng như các lĩnh vực có liên quan Cấm vận kinh
tế thường do lý do chính trị, là đòn bẩy để ép buộc nước khác phải tuân theo điều nước cấm vận muốn Lệnh cấm vận thường được sử dụng như một sự trừng phạt chính trị do sự bất đồng về chính sách và hành động trái với một nhóm nước lớn mạnh về mọi mặt
2.2 NGKT là ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế
Ngày nay sức mạnh kinh tế được coi là một trong những nhân tố hàng đầu quyết định sức mạnh tổng hợp của mối quốc gia Nền ngoại giao lớn cần một trận tuyến ngoại giao mạnh Với vai trò đó, Ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế đã trở thành là một phần của chính sách ngoại giao kinh tế của các quốc gia trong mọi thời kỳ lịch sử Vai trò của ngoại giao phục vụ kinh tế ngày càng trở lên quan trọng trong giai đoạn hòa bình và phát triển, nhằm bảo vệ và mở rộng tối đa lợi ích quốc gia trong nước và trên trường quốc tế Đây là
xu hướng chung của hoạt động ngoại giao trên thế giới Nó không chỉ thể hiện ở chỗ tham gia kiến tạo chính sách kinh tế đối ngoại, xây dựng và duy trì mối quan hệ quốc tế ổn định, thuận lợi cả về chính trị, kinh tế, an ninh, mà còn ở chỗ tìm kiếm được nhiều đối tác, tiếp thị và mở rộng thị trường, đầu tư, thu hút viện trợ nước ngoài và môi giới những hợp đồng kinh tế lớn…Yêu cầu này càng trở nên cấp bách khi cuộc chạy đua về kinh tế, cuộc cạnh tranh về đối tác và thị trường đang diễn ra ngày càng quyết liệt Ngày nay, tất cả các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển đều đứng trước nguy cơ tụt hậu so với các nước bạn Bởi vậy, các quốc gia đề ưu tiên cho phát triển kinh tế và phục vụ phát triển kinh tế trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Trên cơ sở nhận thức được vai trò quan trọng đó, việc hoạch định đường lối, chính sách, chiến lược đối ngoại của mỗi quốc gia ngày nay gắn bó chặt chẽ với việc thực hiện các nhiệm vụ phục vụ phát triển kinh tế và ngành Ngoại giao của hầu hết các nước đều tập trung tổ chức bộ máy cũng như tăng cường thời gian và các nguồn lực phục vụ cho công tác này Do vậy, nội dung phục vụ của nó cũng rất đa dạng, phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế, trình độ phát triển, bộ máy tổ chức, nhân
sự và năng lực cán bộ từng nước Trong từng thời kỳ cụ thể, tùy mục tiêu, ưu tiên chiến lược trong chính sách đối ngoại, nội dung ngoại giao phục vụ kinh tế của các nước có những trọng tâm khác nhau
Đối với các nước phát triển, dựa vào lợi thế sức mạnh kinh tế của mình, hoạt động ngoại giao phục vụ kinh tế ở các nước này được thực hiện rất tốt những mục tiêu mở rộng thị rường, kiểm soát nguồn tài nguyên của nước khác, duy trì chế độ thương mại và thanh toán có lợi cho các công ty của mình đồng thời tạo những lợi thế cạnh tranh với các địch thủ
Trang 7Còn đối với các nước đang phát triển, nội dung ngoại giao phục vụ kinh tế cũng hết sức đa dạng Tuy nhiên, do thực lực kinh tế còn yếu nên đòn bẩy kinh tế đối ngoại của họ còn hạn chế
Chương 3: Thực tiễn công tác Ngoại giao kinh tế của Việt Nam Trong các thập
kỷ gần đây, ngoại giao kinh tế luôn được coi là một bộ phận quan trọng của ngoại giao Việt Nam nói chung Hiện nay, khi chúng ta đang tập trung toàn lực để xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, thì ngoại giao kinh tế lại càng có vai trò nổi bật, được xem là một trong ba trụ cột của ngoại giao Việt Nam: ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa, nhằm tranh thủ tối đa các nguồn lực quốc tế, "kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại" trong tình hình mới, phục vụ sự nghiệp phát triển chung của đất nước
Mục tiêu của ngoại giao kinh tế (NGKT) là chủ động tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Theo quan điểm chỉ đạo, công tác NGKT là một nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên trong hoạt động ngoại giao Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, gắn với đảm bảo an ninh, chính trị, trật
tự an toàn xã hội
3.1 Nhiệm vụ cơ bản của công tác NGKT
Đất nước ta đang đứng trước những thời cơ, vận hội chưa từng có Chúng ta đang hội nhập sâu rộng vào khu vực và quốc tế, từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế giới Việt Nam đang được bạn bè quốc tế khắp năm châu quan tâm và mong muốn phát triển quan hệ hợp tác Nhiệm vụ đặt ra cho Ngoại giao Việt Nam hết sức nặng nề, như Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ là “giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa - hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
Trên cơ sở nghiên cứu tình hình và xu hướng phát triển của thế giới, tình hình khu vực và nhu cầu trong nước, Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra những nhiệm vụ trọng tâm của ngành ngoại giao đối với quá trình phát triển đất nước, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập và toàn cầu hóa, mở đầu bằng chính sách Đổi mới năm 1986 Có thể khái quát những nhiệm
vụ chính của ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế bao gồm:
Một là, nhiệm vụ nghiên cứu kinh tế và cung cấp thông tin Ngoại giao cần đóng góp
vào việc xây dựng các đường lối, chủ trương, chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước, nhất là lĩnh vực kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực
Hai là, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự phát triển kinh tế đất nước, xây dựng
khuôn khổ chính trị, pháp lý cho quan hệ giữa ta và các nước, hình thành một hệ thống đồng bộ các hiệp định, thỏa thuận để làm nền tảng cho quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các đối tác quốc tế
Ba là, tham gia triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách kinh tế đặc biệt là về
kinh tế đối ngoại, hỗ trợ và làm chỗ dựa vững chắc cho các doanh nghiệp trong nước trong hợp tác, làm ăn với nước ngoài
Bốn là, nhiệm vụ giới thiệu, quảng bá kinh tế Việt Nam Trên thực tế, đây là công
việc thường xuyên mà ngành ngoại giao đã và đang làm hết sức tích cực, dưới nhiều hình thức, bằng nhiều công cụ, trong nhiều dịp khác nhau và đã có nhiều kinh nghiệm quý báu
Trang 8Năm là, tham gia xây dựng khung pháp lý, các văn bản pháp quy về kinh tế vĩ mô nói
chung và văn bản chuyên ngành, đặc biệt là việc cung cấp gợi ý kinh nghiệm của các nước
Sáu là, vận động người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp vào sự nghiệp phát triển
kinh tế xã hội đất nước
Bảy là, nhiệm vụ hỗ trợ giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quan hệ giữa đối
tác hai bên
3.2 Cơ sở pháp lý công tác NGKT
Pháp lệnh về cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài ban hành kèm theo Lệnh của Chủ tịch nước số 25-L/CTN ngày 15/12/1993
Nghị quyết số 07-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 27/11/2001 về hội nhập kinh tế quốc tế
Nghị định số 08/2003/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động của Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế
Nghị định số 21/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/03/2003 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Ngoại giao
Quyết định số 195/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 18/09/2003 về thành lập Quỹ hỗ trợ các hoạt động ngoại giao phục vụ kinh tế
Nghị định 15/2008/NĐ-CP của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu bộ máy
tổ chức của Bộ Ngoại giao Đây là văn bản thay thế cho Nghị định số 21/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/03/2003
Ngày 18/06/2009, Quốc hội khóa XII đã ban hành Luật cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài số 33/2009/QH12
Năm 2010, Lãnh đạo Bộ Ngoại giao đã ký ban hành Quyết định 588/QĐ-BNG-THKT về trọng tâm công tác NGKT năm 2010 kèm theo kế hoạch NGKT cụ thể cho từng đơn vị của Bộ và từng cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài
Ngày 15/4/2010, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 41-CT/TW của Ban bí thư về tăng cường công tác ngoại giao kinh tế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
3.3 Thực tiễn triển khai công tác NGKT
Đối với Việt Nam, cũng giống như các quốc gia khác, ngoại giao Việt Nam cũng hướng tới hai mục tiêu quan trọng là: chính trị (độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ) và kinh tế (tăng trưởng, phát triển) Tuy nhiên, trong một thời gian dài, sau khi giành độc lập thống nhất đất nước năm 1975, Việt Nam lại phải chịu sự cấm vận kinh tế của Mỹ và các nước đồng minh, hạn chế mối quan hệ kinh tế Việt Nam với các quốc gia khác trên thế giới Trong suốt thời gian đó, có thể nói ngoại giao Việt Nam chủ yếu tập trung vào mực tiêu chính trị và an ninh Còn mục tiêu thứ hai là phát triển kinh tế dường như kém chú trọng hơn Từ sau khi đổi mới đến nay, và đặc biệt sau khi bình thường hóa quan hệ với
Mỹ, công tác ngoại giao kinh tế của Việt Nam được đẩy mạnh và trở thành ưu tiên của công tác đối ngoại Tuy nhiên, với vị thế là một nước nhỏ, nền kinh tế đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và còn gặp nhiều khó khăn, nội dung ngoại giao kinh tế Việt Nam mới chỉ đạt được một số kết quả bước đầu ở khía cạnh ngoại giao phục vụ phát triển kinh tế
Trang 93.3.1 Những thành tựu
Gắn kết ngày càng chặt chẽ kinh tế đối ngoại với chính trị đối ngoại, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho phát triển kinh tế đối ngoại nói riêng và kinh tế Việt Nam nói chung Công tác nghiên cứu, thông tin mang tính dự báo, cảnh báo kinh tế đã được đẩy mạnh Trên cơ sở đó, có nhiều đóng góp thiết thực vào chính sách của chính phủ, bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp về các vấn đề phát triển kinh tế
Bộ ngoại giao và các cơ quan đại diện đã chủ động, tích cực đóng góp nhiều hoạt động hỗ trợ các tổ chức kinh tế và doanh nghiệp trong nước, giữ vai trò là “cầu nối” cho các hoạt động xúc tiến kinh tế đối ngoại, góp phần giữ vững, mở rộng thị trường truyền thống, khai thông thị trường mới, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài và hấp dẫn khách du lịch vào Việt Nam
Ngoại giao đã tích cực xây dựng khuôn khổ pháp lý cho quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta Ngoại giao đã tham gia đàm phán, ký kết một khối lượng lớn các hiệp định, thỏa thuận, biên bản ghi nhớ với nhiều nước trên thế giới, góp phần thể chế hóa, cụ thể hóa các nội dung hợp tác kinh tế giữa nước ta với các nước
Công tác hỗ trợ các địa phương được các cơ quan đại diện nhận thức và coi là một trong những nhiệm vụ ưu tiên, triển khai có trọng điểm, trong đó tập trung hỗ trợ đáp ứng yêu cầu “đặt hàng” của địa phương, nhất là những địa phương có nhiều khó khăn, lĩnh vực kinh tế đối ngoại chậm phát triển
Công tác về người Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục được triển khai mạnh mẽ, tạo không khí phấn khởi, tin tưởng trong cộng đồng và tăng thêm tình cảm cũng như sự gắn bó của bà con kiều bào với đất nước
Ðóng góp vào thành quả chung đó của công tác đối ngoại của Ðảng và Nhà nuớc, nhiều cơ quan Ngoại vụ địa phương đã làm tốt vai trò tiên phong và nòng cốt trong công tác đối ngoại tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; chủ động phối hợp với Bộ Ngoại giao và các bộ, ngành liên quan triển khai có hiệu quả đuờng lối đối ngoại của thời
kỳ Ðổi mới, đẩy mạnh công tác ngoại giao phục vụ kinh tế, góp phần đắc lực vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương Nhiều cơ quan Ngoại
vụ địa phương đang thực sự trở thành “cánh tay nối dài của ngành Ngoại giao”
3.3.2 Những hạn chế, thách thức
a Những hạn chế
Song song với những thành tựu trên, công tác Ngoại giao kinh tế của Việt Nam hiện nay vẫn còn tồn tại một số hạn chế:
Về khuôn khổ pháp lý, các quy định về quyền hạn, trách nhiệm, vai trò, chức năng của các đơn vị có liên quan trong công tác NGKT còn chưa được quy định rõ ràng, cụ thể Cách thức, cơ chế làm viêc giữa bộ Ngoại giao với địa phương và các doanh nghiệp chưa được xác định một cách rõ ràng
Về nhận thức, dù đã có những chuyển biến rõ rệt trong nhận thức về công tác Ngoại giao kinh tế hiện nay so với các giai đoạn trước, song về cơ bản nhận thức chưa được sâu rộng, chưa biến các nội dung NGKT thành mối quan tâm thường xuyên và bức bách hàng ngày, chưa biến thành nhiệt thành công tác
Liên quan đến từng hoạt động NGKT cụ thể, một số CQĐD vẫn theo cách làm cũ, tương đối thụ động, mang tính chất đối phó, chưa tích cực phát hiện ra các cơ hội kinh
Trang 10doanh, đầu tư để cung cấp cho các doanh nghiệp trong nước và chỉ đạo các hoạt động liên địa bàn Hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp còn có nhiều khó khăn lúng túng Sự phối hợp giữa CQĐD chưa chặt chẽ, thường xuyên, nhiều khi còn mang nặng tính hình thức Các doanh nghiệp trong nước chưa quan tâm nhiều đến công tác này, chưa có một tác phong kinh doanh thật sự để có thể tận dụng các ưu thế hỗ trợ kinh tế của ngoại giao mang lại Công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu cho lãnh đạo Đảng, nhà nước về đường hướng chính sách phát triển kinh tế của các nước cũng như xu thế biến động của nền kinh
tế toàn cầu đôi khi còn chưa được kịp thời, thường xuyên, đặc biệt trong tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động, đặt ra nhiều thách thức cần xử lý
Công tác quảng bá hình ảnh, môi trường đầu tư, chính sách pháp luật của Việt Nam tới các nhà đầu tư tại nước sở tại đôi khi còn chưa tốt, chưa thực sự là một mắt xích quan trọng để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đến gửi gắm, tìm hiểu thông tin, lựa chọn đối tác đầu tư tại Việt Nam
Công tác gắn kết Việt kiều, doanh nghiệp Việt kiều về Việt Nam đầu tư, tham gia là vai trò cầu nối – lôi kéo các nhà đầu tư nước ngoài đến gần với Việt Nam hơn nữa còn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế hiện nay
b Những khó khăn, thách thức
Trong những năm tới, tình hình thế giới tiếp tục có những biến chuyển khó lường, đan xen giữa thuận lợi và khó khăn đối với sự phát triển của Việt Nam Sau nhiều năm phát triển liên tục, kinh tế thế giới bắt đầu suy giảm Khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra từ khủng hoảng tài chính Mỹ Nhiều nền kinh tế lớn tuyên bố rơi vào suy thoái
Toàn cầu hóa kinh tế tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển
Khoa học công nghệ tiếp tục phát triển nhanh chóng, tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế thế giới và góp phần làm thay đổi phương thức phát triển kinh tế với xu hướng chuyển sang kinh tế tri thức Xu hướng này một mặt làm giảm lợi thế của các nền kinh tế đang phát triển (dựa vào tài nguyên và lao động rẻ), mặt khác cũng giúp cho các nước đi sau có thể đi tắt đón đầu, thẳng tiến vào các lĩnh vực hiện đại, có hàm lượng công nghệ cao, rút ngắn thời gian phát triển so với các nước đi trước nếu có chính sách phát triển phù hợp
Nguy cơ chiến tranh thế giới được đẩy lùi, nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột tôn giáo, khủng bố, tranh chấp biên giới, lãnh thổ…tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp
Bên cạnh những thách thức của bối cảnh quốc tế, Việt Nam còn phải đối phó với những vấn đề nội tại của nền kinh tế Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại Tình trạng quan liêu, tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế
độ chính trị của ta
Năng lực cạnh tranh thấp ở cả cấp độ quốc gia, địa phương, doanh nghiệp và hàng hóa, dịch vụ Các chỉ số năng lực cạnh tranh của Việt Nam chậm cải thiện và có xu hướng