1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận cao học ngoại giao về quan hệ quốc tế và sự vận dụng của đảng ta trong quan hệ đối ngoại hiện nay

30 1,4K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 140 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà ngoại giao kiệt xuất, người sáng lập nền ngoại giao hiện đại Việt Nam. Trên cương vị là Chủ tịch Đảng và Chủ tịch nước, Người luôn quan tâm chỉ đạo công tác đối ngoại nhằm phát huy sức mạnh của dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ của các nước và nhân dân thế giới trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Xuất phát từ thực tế Việt Nam, Người đề xuất và xây dựng nhiều nguyên tắc, quan điểm, lý luận về thời đại, về đường lối quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam. Nước ta thực hiện đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh thế giới đã có nhiều thay đổi, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu trong hệ thống xã hội chủ nghĩa cuối thế kỷ XX làm cho trật tự thế giới thay đổi từ lưỡng cực Xô Mỹ chuyển sang trật tự thế giới mới có lợi cho chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản cũng ra sức công kích những giá trị đích thực của học thuyết Mác – Lênin, tăng cường âm mưu lật đổ với các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó Việt Nam là một trọng điểm chiến lược “diễn biến hoà bình” của chúng. Mặt khác, trước xu thế hội nhập kinh tế để cùng nhau phát triển giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, nên xu hướng tất yếu, khách quan là nước ta phải hội nhập để phát triển kinh tế xã hội. Trước tình hình đó đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải có chính sách đối ngoại sáng suốt, nhạy bén, kết hợp nhuần nhuyễn các nguyên tắc, phương pháp, nghệ thuật ngoại giao, chiến lược và sách lược sao cho mềm dẻo, uyển chuyển, tạo môi trường hoà bình, thuận lợi cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (121986) đã thu được những thành tựu bước đầu rất quan trọng, đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, từng bước hội nhập với cộng đồng quốc tế. Nguyên nhân quan trong dẫn đến những thắng lợi đó là Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách đối nội và đối ngoại đúng đắn. Điểm quan trọng trong đối ngoại của Việt Nam thời đổi mới là vẫn tiếp tục thực hiện phương châm: “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (61991), nêu rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng”, các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX, X của Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm đó. Việc xác lập vị trí của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng, đáp ứng nhu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam. Định hướng đó càng quan trọng đối với việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế để góp phần vào việc định ra đường lối, chính sách đối ngoại thích hợp. Việt Nam sau hơn 20 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, trong đó phải kể đến những đóng góp của mặt trận ngoại giao. Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về các văn kiện đại hội X do Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh trình bày nêu rõ: “Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao, sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp”. Chính vì vậy, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế và sự vận dụng của Đảng ta trong quan hệ đối ngoại hiện nay là đề tài nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cấp bách.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà ngoại giao kiệt xuất, ngời sáng lập nền ngoạigiao hiện đại Việt Nam Trên cơng vị là Chủ tịch Đảng và Chủ tịch nớc, Ngời luônquan tâm chỉ đạo công tác đối ngoại nhằm phát huy sức mạnh của dân tộc, tranhthủ sự ủng hộ của các nớc và nhân dân thế giới trong cuộc đấu tranh giải phóng dântộc và xây dựng đất nớc Xuất phát từ thực tế Việt Nam, Ngời đề xuất và xây dựngnhiều nguyên tắc, quan điểm, lý luận về thời đại, về đờng lối quan hệ quốc tế vàchính sách đối ngoại của Việt Nam

Nớc ta thực hiện đổi mới đất nớc, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoátrong bối cảnh thế giới đã có nhiều thay đổi, sự sụp đổ của Liên Xô và các n ớc

Đông Âu trong hệ thống xã hội chủ nghĩa cuối thế kỷ XX làm cho trật tự thế giớithay đổi từ lỡng cực Xô - Mỹ chuyển sang trật tự thế giới mới có lợi cho chủ nghĩa

t bản Chủ nghĩa t bản cũng ra sức công kích những giá trị đích thực của học thuyếtMác – Lênin, tăng cờng âm mu lật đổ với các nớc xã hội chủ nghĩa, trong đó ViệtNam là một trọng điểm chiến lợc “diễn biến hoà bình” của chúng

Mặt khác, trớc xu thế hội nhập kinh tế để cùng nhau phát triển giữa cácquốc gia trong khu vực và trên thế giới, nên xu hớng tất yếu, khách quan là nớc taphải hội nhập để phát triển kinh tế - xã hội Trớc tình hình đó đòi hỏi Đảng và Nhànớc ta phải có chính sách đối ngoại sáng suốt, nhạy bén, kết hợp nhuần nhuyễn cácnguyên tắc, phơng pháp, nghệ thuật ngoại giao, chiến lợc và sách lợc sao cho mềmdẻo, uyển chuyển, tạo môi trờng hoà bình, thuận lợi cho công cuộc công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nớc

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nớc do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi ớng và lãnh đạo từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đã thu đợcnhững thành tựu bớc đầu rất quan trọng, đa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh

x-tế - xã hội, từng bớc hội nhập với cộng đồng quốc x-tế Nguyên nhân quan trong dẫn

đến những thắng lợi đó là Đảng và Nhà nớc ta đã có những chính sách đối nội và

đối ngoại đúng đắn Điểm quan trọng trong đối ngoại của Việt Nam thời đổi mới làvẫn tiếp tục thực hiện phơng châm: “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nớcdân chủ và không gây thù oán với một ai” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1991), nêu rõ: “Đảnglấy chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh làm nền tảng t tởng, kim chỉ namcho hành động của Đảng”, các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX, X của

Đảng tiếp tục khẳng định quan điểm đó Việc xác lập vị trí của t tởng Hồ Chí Minhtrong sự nghiệp cách mạng Việt Nam là bớc phát triển quan trọng trong nhận thức

và t duy lý luận của Đảng, đáp ứng nhu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam

Trang 2

Định hớng đó càng quan trọng đối với việc nghiên cứu t tởng Hồ Chí Minh về quan

hệ quốc tế để góp phần vào việc định ra đờng lối, chính sách đối ngoại thích hợp

Việt Nam sau hơn 20 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới dới sự lãnh đạo của

Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nớc đã đạt đợc nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch

sử, trong đó phải kể đến những đóng góp của mặt trận ngoại giao Báo cáo của BanChấp hành Trung ơng Đảng khoá IX về các văn kiện đại hội X do Tổng Bí th Nông

Đức Mạnh trình bày nêu rõ: “Vị thế nớc ta trên trờng quốc tế không ngừng đợcnâng cao, sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lựcmới cho đất nớc tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp”

Chính vì vậy, việc nghiên cứu t tởng Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế và sựvận dụng của Đảng ta trong quan hệ đối ngoại hiện nay là đề tài nghiên cứu mang ýnghĩa khoa học và thực tiễn cấp bách

Trang 3

đồng đều ở các nớc, nó phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, vào năng lực nội sinh vànhững yếu tố tác động bên ngoài Do vậy, có một thời kỳ chuyển tiếp, ở đó xuấthiện sự va chạm giữa những yếu tố của nền văn minh công nghiệp với những mầmmống của nền văn minh hậu công nghiệp – văn minh thông tin – văn minh trithức

Đó là tiền đề lý luận, nhận thức chung đặt ra cho Đảng ta, trên cơ sở đó,

Đảng phải nghiên cứu, hoạch định đờng lối lãnh đạo phù hợp nhằm phát triển đấtnớc Về tình hình thế giới có những thay đổi lớn sau đây

Một là: Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, không còn hệ thống XHCN thế giới.

Sau hơn bảy mơi năm tồn tại, CNXH đã sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu,

đánh dấu thời kỳ khủng hoảng tồi tệ nhất của hệ thống XHCN thế giới kể từ sauChiến tranh thế giới II (1945)

Hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới sụp đổ, đặt các nớc XHCN còn lại(TrungQuốc, Việt Nam, Cu Ba) đứng trớc những khó khăn, thử thách to lớn, đặt chủ nghĩaMác - Lênin, những lý tởng của CNXH, CNCS đứng trớc sự phê phán gay gắt và bịtấn công từ nhiều hớng Phong trào cộng sản và công nhân thế giới lâm vào thời kỳthoái trào, bị mất phơng hớng, từ chỗ là một lực lợng hùng hậu gồm 81 đảng và tổchức công nhân công đoàn theo xu hớng XHCN với Liên Xô làm trụ cột (năm1960), đến nay mặc dầu vẫn còn sự tồn tại của hàng chục Đảng Cộng sản ở hầukhắp thế giới, nhng không còn ngọn cờ tiên phong

Nguyên nhân sụp đổ có tính hệ thống của chủ nghĩa xã hội Ngời thì chorằng đó là sự khủng hoảng cơ cấu theo chu kỳ, (giống nh quy luật khủng hoảng củachủ nghĩa t bản) Có ngời lại đánh giá, đó là khủng khoảng về mô hình CNXH lỗithời, không phù hợp Cũng có không ít ngời khẳng định sự đổ vỡ của hệ thống xãhội chủ nghĩa bắt đầu từ sự phản bội của cá nhân cựu Tổng thống Liên Xô M.K.Goócbachốp Song dù có là nguyên nhân nào, thì đây cũng là một mất mát to lớncủa phong trào cách mạng và giai cấp công nhân thế giới

Tại sao có thể nói nh vậy? Bởi vì đó là một thực tế Cho dù hiện nay còn sựtồn tại của hàng chục Đảng Cộng sản và công nhân trên khắp thế giới, nhng phảikhách quan thừa nhận rằng, vai trò của các đảng cộng sản giờ đây rất mờ nhạt, mất

Trang 4

uy tín, thiếu tính cách mạng tiền phong và số đảng viên mỗi ngày lại teo dần lại Ví

dụ: Đảng Cộng sản Mỹ, Đảng Cộng sản Italia trớc đây có hàng chục ngàn đảng

viên, là một thế lực chính trị có tiếng nói trên diễn đàn trên thế giới, là chỗ dựa tincậy của giai cấp công nhân trong nớc, bây giờ mỗi đảng chỉ còn vài ngàn đảngviên, mất dần uy tín và trong tình trạng chia rẽ

Tình hình đó tác động mạnh mẽ vào nớc ta, trớc hết là vào t tởng, tình cảmcủa cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm cho một bộ phận không nhỏ hoang mang,

lo lắng, thậm chí dao động, mất lòng tin vào mục tiêu và con đờng đi lên CNXH

Hai là: Kết thúc chiến tranh lạnh, chấm dứt tình trạng hai cực đối lập.

Trong sự thất vọng và khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội, trên thế giới cónhững thay đổi lớn, toàn diện và mang tính toàn cầu Đó là sự kết thúc của thời kỳchiến tranh lạnh kéo dài giữa hai hệ thống, chấm dứt tình trạng đối lập, chạy đua vũtrang của một thế giới hai cực mà đại diện là Liên Xô và Mỹ

Ngời ta đặt câu hỏi hiện nay thế giới đang ở trong tình trạng nào? Thế giới đacực hay một cực? Câu trả lời vẫn còn đang tranh luận cha ngã ngũ, song dẫu thế nào,thì các nhà hoạch định chính sách ở tất cả các quốc gia đều phải điều chỉnh lại chiếnlợc, sách lợc của mình, nhất là các nớc lớn Tất nhiên, mọi tính toán đều phải xuấtphát trớc hết từ lợi ích của nớc mình Các cụm từ: “quyền lợi dân tộc”, “lợi ích dântộc” trớc đây thờng bị lấn át bởi khẩu hiệu: “Tinh thần quốc tế vô sản cao cả”, nay đã

“công khai trở về” đúng với suy nghĩ, bản chất và vị trí của nó

Có thể nói rằng, với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội, một trật tự thế giới mới

đã đợc thiết lập Một thế giới đa cực, nhiều chiều có vẻ đang thắng thế, và cũngchính vì thế mà các quan hệ quốc tế đang diễn biến hết sức phức tạp Xuất phát từtình hình khách quan nh vậy, đờng lối ngoại giao của Đảng về đa phơng hoá, đadạng hoá quan hệ, trên cơ sở giữ vững nguyên tắc: quyền lợi dân tộc là tối thợng;nguyên tắc bình đẳng, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; ủng hộ xuthế hội nhập, cùng có lợi, cùng phát triển, với mục tiêu phấn đấu cho một thế giớihoà bình, là hoàn toàn đúng đắn

Ba là: Chủ nghĩa T bản hiện đại vẫn phát triển, đã trở thành CNTB lũng

đoạn toàn cầu, vẫn đang chi phối các nớc trên thế giới.

Từ năm 1848, khi viết “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, Mác - Ăngghen

đã nói về những mặt thối nát của chủ nghĩa t bản “đợc xây dựng từ máu và bùnnhơ” Các ông nhận định rằng, cái ngày giai cấp công nhân thế giới đứng lên lật đổchế độ t bản để xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn sẽ không còn xa nữa, “Chủnghĩa t bản đang dãy chết” vv Kể từ đó đến nay, thời gian hơn 160 năm đã trôiqua Ngời ta đã chứng kiến những cơn khủng hoảng trầm trọng của chủ nghĩa t bản,

có lúc tởng chừng nó sẽ bị diệt vong theo đúng lời tiên liệu của Mác Nhất là sauchiến tranh thế giới thứ II (1945), với sự ra đời và phát triển của hệ thống XHCN

Trang 5

đứng đầu là Liên Xô, thì ngay cả nhiều nhà cách mạng không có thói quen suynghĩ lạc quan, cũng đã bắt đầu mơ đến một kết cục tất yếu của chủ nghĩa t bản Lýluận về “Ba dòng thác cách mạng thế giới”, đã có thời gian dài đợc biên soạn, đavào sách giáo khoa lịch sử giảng dạy trong nhà trờng phổ thông.

Thế nhng, thực tế sau 150 năm (tính từ khi “Tuyên ngôn ” ra đời), 60 năm(tính từ khi CNXH trở thành hệ thống thế giới), Chủ nghĩa t bản vẫn ngang nhiêntồn tại, trái lại CNXH đã tan dã Phân tích nguyên nhân xảy ra nghịch lý đó chúng

ta sẽ bàn trong một dịp khác Nhng rõ ràng chúng ta phải thừa nhận, Chủ nghĩa tbản đang tồn tại và phát triển là một thực tế Giờ đây thế lực của chủ nghĩa t bảntrải rộng, hệ thống các công ty, các tập đoàn t bản công nghiệp có các công ty con,các chi nhánh, đại diện trên khắp toàn cầu Ví dụ: Các tập đoàn công nghiệpToyota, Sony của Nhật, Microsoft, Telecom của Mỹ có số vốn lên tới hàng ngàn

tỷ USD, sản phẩm của họ có mặt trên khắp thế giới Các công ty t bản công nghiệp

và tài chính xuyên quốc gia, liên kết với nhau lũng đoạn, thống trị thế giới Điểnhình nhất là cơn khủng hoảng kinh tế (chủ yếu là khủng hoảng tài chính tiền tệ) củachâu á và Nam Mỹ mới đây Nguyên nhân cơ bản là do các tập đoàn tài chính lớnthế giới thao túng, gây ra khủng hoảng cục bộ để từ đó đầu cơ trục lợi Các chínhsách cho vay của IMF (Quỹ tiền tệ thế giới), hay của ADB (Ngân hàng phát triểnchâu á) bao giờ cũng mang tính áp đặt, thậm chí buộc các nớc muốn vay tiền,trong cơn khốn quẫn phải chấp nhận những điều kiện do họ đa ra, kể cả thay đổi đ-ờng lối chính trị của mình Nhìn vào thực tại, dờng nh chủ nghĩa t bản hiện đại cha

có vẻ gì “giãy chết”, nó vẫn còn đang trong giai đoạn phát triển và ch a muốn dừnglại

Có đợc kết quả đó là do chủ nghĩa t bản hiện đại đã biết thích nghi với tìnhhình mới: thay đổi cung cách quản lý, phơng thức bóc lột, chú trọng đầu t phát triểncông nghệ, khoa học, tăng cờng liên minh, liên kết với nhau, hoà hoãn và hợp tácvới nhau để điều hoà mâu thuẫn, cải tiến chế độ phân chia lợi nhuận, phân chia thịtrờng, khu vực ảnh hởng, chú trọng đến chính sách an sinh xã hội vv… Chính vì thế Chính vì thếkhông những nó không bị diệt vong sớm nh chúng ta tởng, mà còn phát triển thànhchủ nghĩa t bản lũng đoạn toàn cầu, chi phối mọi hoạt động của thế giới Nếu vậy,

dù có sự khác biệt về chế độ xã hội, chúng ta cũng phải thay đổi quan niệm, chuyển

từ đối đầu sang đối thoại, học hỏi những tiến bộ về khoa học quản lý,(quản lý Nhànớc, quản lý xã hội), áp dụng thành tựu khoa học công nghệ, học hỏi tất cả nhữnggì mang tính tiến bộ của Chủ nghĩa t bản để phát triển đất nớc Bởi nói cho cùng,những thành tựu văn hoá, khoa học, tiến bộ về công nghệ đạt đợc ở bất cứ chế

độ xã hội nào, cũng đều là sản phẩm lao động trí tuệ của loài ng ời Chúng ta phảiloại bỏ những t tởng ấu trĩ tả khuynh: “Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thuỵ Sĩ

Trang 6

Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nớc Mỹ” một thời làm kìm hãm sự sáng tạo

và trói buộc sự phát triển của con ngời

Nói nh vậy không có nghĩa chủ nghĩa t bản hiện đại là tốt đẹp, cần đề phòng

t tởng “xét lại” nh một số kẻ trớc đây đã từng làm Phải luôn luôn khẳng định rằng,

ý kiến của Mác - Ăngghen và các nhà cách mạng tiền bối là đúng, bởi nó xuất phát

từ cơ sở thực tế trong thời đại của các ông Vì thế, các nhà kinh điển hoàn toàn có

lý khi đa ra nhận định nh vậy Bản chất của chủ nghĩa t bản vẫn không và sẽ khôngbao giờ thay đổi (tính ăn bám, bóc lột, khủng hoảng có chu kỳ ) Tuy nhiên, ngày

nay, khi nghiên cứu về T bản, chúng ta thấy một số vấn đề, nhất là trong kinh tế,

không còn hoàn toàn đúng nữa, nhng điều này chính Ăngghen cũng đã thừa nhận

ngay từ khi viết lời tựa cho cuốn Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã đợc tái bản

ngay sau đó Điều đáng nói là, chính vì nhận ra những khiếm khuyết của mình, chủnghĩa t bản đã kịp thời thay đổi, thích nghi, để từ đó tồn tại và phát triển Nhữngngời cộng sản có thể và cần phải học tập chủ nghĩa t bản ở tính linh hoạt, đổi mới tduy nhanh nhạy theo thực tiễn, nhấn mạnh hơn nữa đến tính hiệu quả, khẳng địnhlại nguyên tắc: lý luận chỉ có thể đợc coi là đúng đắn, phù hợp, khi đã đợc kiểmnghiệm bằng thực tiễn

Bốn là: Tất cả các nớc đều đi vào kinh tế thị trờng và đang bị cuốn hút vào vòng toàn cầu hoá kinh tế do CNTB hiện đại chi phối.

Có thể nói rằng, ngày nay tất cả các quốc gia trên thế giới đều có liên quanmật thiết với nhau Bất cứ quốc gia nào, dù là quốc gia lớn mạnh nhất, cũng có sựliên quan phụ thuộc vào quốc gia khác, trên từng lĩnh vực cụ thể, mức độ phụ thuộc

nhiều hay ít mà thôi Sở dĩ nh vậy, bởi nền kinh tế thị trờng và toàn cầu hoá đã tác

động hết sức mạnh mẽ, làm thay đổi bộ mặt thế giới trên mọi lĩnh vực

Trong thời kỳ chuyển tiếp từ cơ chế quản lý kinh tế quan liêu bao cấp, sangcơ chế thị trờng (ở một loạt nớc vốn là những nớc XHCN), đồng thời do còn tồn tại

sự chênh lệch giữa tiến bộ của công nghệ và trình độ của các thể chế xã hội, nênnảy sinh nhiều mâu thuẫn xã hội trên phạm vi thế giới Biểu hiện rõ nhất là sự phâncực về kinh tế (phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc) giữa các nớc phát triển vàcác nớc đang phát triển và các nớc thuộc diện đói nghèo Đời sống của nhân dâncác nớc này đa phần còn dới mức nghèo khổ, thiếu thốn lơng thực, nớc uống, thựcphẩm thiết yếu, thì họ còn phải chịu sự chi phối, ảnh hởng của các nớc t bản giàu

có Thông qua các hình thức “viện trợ nhân đạo”, “viện trợ không hoàn lại”, “chovay u đãi”, “cung cấp nguồn vốn đầu t phát triển” vv, các tổ chức tài chính tha hồ

ra điều kiện và áp đặt chính sách có lợi cho họ, vắt kiệt sức lực và của cải của cácnớc nghèo Cái vòng luẩn quẩn đó vẫn đang thịnh hành không biết bao giờ mớichấm dứt Dòng đầu t của nớc ngoài tăng nhanh với sự có mặt của các công tyxuyên quốc gia, đặc biệt ở khu vực Đông á và Đông Nam á trong hai thập niên gần

Trang 7

đây đã tăng 16% năm đang đợc coi là khu vực năng động nhất thế giới Tuy nhiên,

sự gia tăng lợng vốn đầu t, gia tăng tốc độ phát triển của kinh tế thị trờng thờng gắnliền với sự lệ thuộc và rủi ro Các cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ gần đây ởchâu á là một trong những bằng chứng rõ nhất Một số nớc nghèo cũng đã bắt đầunhận ra mặt trái của cơ chế thị trờng và toàn cầu hoá Các cuộc đấu tranh chốngtoàn cầu hoá đang nổi lên ngày càng mạnh mẽ, trong đó có cả lực lợng lao động ởcác nớc t bản tham gia Bởi vì, dù tham gia kinh tế thị trờng, các nớc lớn luôn luôngây sức ép trong các cuộc cạnh tranh thị trờng, giá cả bằng các chính sách trợ giácho một số mặt hàng trong nớc, chính sách bảo hộ mậu dịch thông qua thuế xuấtnhập khẩu, mà điển hình nhất là hai vụ kiện bán phá giá cá da trơn (cá Ba sa) vàtôm vào thị trờng Hoa Kỳ, gây thiệt hại lớn cho Việt Nam và một số nớc châu ákhác

Xu thế toàn cầu hoá không chỉ thể hiện trên lĩnh vực kinh tế, mà đang ngàycàng mở rộng sang các lĩnh vực khác: quân sự, văn hoá, khoa học, y tế vv Khôngchỉ có mặt tích cực, kinh tế thị trờng và toàn cầu hoá đã và đang gây ra sự cạnhtranh khốc liệt về thị trờng, khu vực ảnh hởng, dẫn đến các cuộc xung đột mangmàu sắc tôn giáo và sắc tộc, (xung đột ở Trécnhia – Nga; ở Côxôvô - Nam T; ởTrung Đông ) Hậu quả của các cuộc chiến tranh xung đột đem biến tớng thànhnạn khủng bố mang tính thế giới, hoành hành khắp các châu lục - hình thành nênchủ nghĩa khủng bố (đứng đầu là tổ chức khủng bố của những ngời Hồi giáo có têngọi là Al-Qaeda) Đặc biệt, mới đây với chiêu bài “chống khủng bố”, Mỹ và một sốquốc gia lợi dụng làm nguyên cớ phát động các cuộc chiến tranh xâm lợc, thaotúng cả Liên hợp quốc, quốc tế hoá cuộc chiến tranh phục vụ cho mu đồ riêng của

họ, tạo ra một tiền lệ hết sức nguy hiểm Ngoài ra, những vấn đề có tính chất toàncầu nh lơng thực, tài nguyên, nguồn nớc, ô nhiễm môi trờng sinh thái, khí quyển,dân số - việc làm, dịch bệnh (HIV, SAT ), hoàn toàn không thể giải quyết trongkhuân khổ quốc gia, thậm chí không thể giải quyết đợc trong phạm vi vùng lãnhthổ

Mặc dầu vậy, sự hình thành nền kinh tế thị trờng mang tính toàn cầu và xuthế toàn cầu hoá không có nghĩa là bỏ qua các biên giới quốc gia, mà chính là đacác đặc tính quốc gia vào một hệ thống toàn cầu thống nhất Trong điều kiện đó,bất kể một quốc gia nào, nếu tiếp thu đợc những bài học của thị trờng, tạo lập đợc

những điều kiện cho phép cạnh tranh trong một thế giới không biên giới, thì mới có

cơ hội thành công Những điều kiện đó gồm: Dân c đợc giáo dục tốt, một nguồnnhân lực dựa trên trí tuệ và một quỹ tri thức dồi dào (hệ thống th viện, phòng thínghiệm, viện nghiên cứu); một hệ thống thông tin hiệu quả; một cơ cấu tài chínhlinh hoạt; một độ ngũ các nhà quản lý, kinh doanh có năng lực và kinh nghiệm vv

Trang 8

Tóm lại, đây là một xu thế chứa đựng các cơ hội, đồng thời cũng mang tínhthách thức đối với mỗi quốc gia Tuy nhiên, dù muốn hay không, xu thế toàn cầuhoá và hội nhập là khách quan không thể đảo ngợc Chỉ có thể huy động mọi tiềmnăng, thế mạnh để tăng cờng nội lực, vơn lên, chủ động hội nhập, nhằm thoát khỏicái vòng luẩn quẩn nghèo khó do hậu quả từ chính sách thực dân mới của chủnghĩa t bản lũng đoạn gây ra.

Năm là: Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra với những bớc tiến nh vũ bão đa nhân loại bớc vào nền văn minh tin học.

Trong những thay đổi lớn mang tính toàn cầu, sự phát triển của lực lợng sảnxuất là yếu tố căn bản làm thay đổi phơng thức sản xuất, kéo theo sự thay đổi vềmặt kinh tế – xã hội Nhờ những tiến bộ vợt bậc của công nghệ thông tin, mạngInternet toàn cầu; công nghệ sinh học; công nghệ chế tạo vật liệu mới; công nghệ

tự động hóa; công nghệ năng lợng mới vv, phơng thức sản xuất mới sẽ dựa trênnền công nghiệp quy mô nhỏ nhẹ, nhng năng động và có hiệu quả cao

Chúng ta phải nhìn thấy đợc đặc trng của xã hội thông tin: thông tin và tri thức trở thành yếu tố đầu vào của hệ thống sản xuất, quản lý, đó là công cụ để sáng

tạo của cải, là chìa khóa của quyền lực và an ninh kinh tế - xã hội Điều đáng lu ý

đối với các nhà lãnh đạo và các nhà họach định chiến lợc là: tốc độ phát triển trongxã hội thông tin rất nhanh, chắc chắn sẽ không kéo dài hàng trăm năm giống nh từxã hội nông nghiệp đến xã hội công nghiệp, mà chỉ trong vài chục năm, thậm chí

vài năm Mặt khác, trong xã hội nông nghiệp, sự định hớng thờng dựa vào kinh nghiệm, nhìn về quá khứ để học hỏi, còn trong xã hội thông tin, muốn có những

định hớng, những giải pháp đúng đắn, nhất thiết phải nhìn thấy đợc tơng lai Câu

hỏi đồng thời cũng là câu trả lời về tơng lai của thế giới mà chúng ta đang sống làmột thế giới phụ thuộc lẫn nhau, một thế giới cần phải thống nhất theo hớng pháttriển bền vững, nếu nhân loại muốn tồn tại và tiến bộ

Kinh tế thị trờng, toàn cầu hoá đợc hỗ trợ bởi Intenét, công nghệ chế tạo vậtliệu mới (nano – siêu nhỏ, siêu nhẹ, siêu bền), công nghệ sinh học một mặt giatăng tốc độ phát triển của nền kinh tế toàn cầu, mặt khác lại kéo theo sự phản ứngcủa các nền kinh tế quốc gia về tăng cờng cạnh tranh, liên kết khu vực (Khối thị tr-ờng chung châu Âu EU; Hiệp hội buôn bán tự do Bắc Mỹ NAFTA; Hiệp hội các n-

ớc Đông Nam á ASEAN ), nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, khu vực

Với sự biến đổi cơ cấu trong nền kinh tế theo hớng “mềm hoá”, “thông tin

hoá”, cùng với xu thế toàn cầu hoá nh đã phân tích ở trên, có thể thấy một nền kinh

tế thông tin mang tính toàn cầu đang dần dần hiện hữu và sẽ trở thành xu thế phát

triển cơ bản của thế kỷ XXI

Trang 9

2 Tình hình trong nớc

Sự thay đổi có tính bớc ngoặt về đờng lối phát triển đất nớc của Đảng, chuyển

đổi từ nền kinh tế kế hoạch, tập trung, bao cấp, sang nền kinh tế thị trờng định hớngXHCN, đã làm biến đổi toàn bộ cơ cấu kinh tế - xã hội nớc ta, tác động trực tiếp đếncấu trúc, thành phần xã hội, đổi mới t duy, chuyển hoá tình cảm

Kinh tế thị trờng huy động đợc tiềm năng thế mạnh của cải từ thiênnhiên, khai thác trí tuệ con ngời phục vụ cho sản xuất và sáng tạo Nói một cáchchính xác và khái quát hơn, công cuộc đổi mới đất nớc dới sự lãnh đạo của Đảng,

đã giải phóng lực lợng sản xuất, thúc đẩy phát triển toàn diện, trớc hết là kinh tế, đanớc ta thoát ra khỏi khủng hoảng, đi vào ổn định, phát triển

Từ thay đổi về cơ cấu kinh tế, dẫn đến sự thay đổi cấu trúc xã hội và tác

động đến sự nhận thức văn hoá, đạo đức, lối sống Mặc dầu vậy, quá trình chuyển

đổi cơ cấu quản lý kinh tế, xã hội vẫn đang trong giai đoạn mày mò, hớng tới hoànthiện một cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý thích hợp Dĩ nhiên trong thời kỳ quá độcủa sự chuyển đổi, kinh tế thị trờng đang ở giai đoạn hình thành, nên có nhiều vấn

đề mới, nhiều vấn đề bất cập, khó khăn đặt ra Những tiêu cực, thoái hoá đạo đức,lối sống cũng từ đó nảy sinh, nhất là trong đội ngũ cán bộ, đảng viên

Song song với quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế trong nớc là quá trình hộinhập, hợp tác với thế giới bên ngoài Đây là điều kiện cho phát triển, giao lu vănhoá Nhiều luồng t tởng mới, nhiều sắc thái văn hoá mới, hiện đại có cơ hội giao lu.Nhng cũng rất nguy hiểm cho đạo đức văn hoá truyền thống, bởi “văn hoá ngoàiluồng” mang theo lối sống thực dụng, Tây hoá, lối sống truỵ lạc, sa đoạ cũng lenlỏi vào đời sống xã hội, gây nên tệ nạn và những vấn đề bức xúc Đó là những nhân

tố tác động làm thay đổi phần nào thang giá trị, chuẩn mực đạo đức xã hội Tấtnhiên, trong thang giá trị mới, những giá trị truyền thống tiêu biểu cho bản sắc vàphẩm giá của dân tộc vẫn đợc giữ gìn, vẫn là những định hớng chủ đạo cho tâmthức, hành vi, ứng xử của con ngời Việt Nam Trong bối cẩnh đó, định hớng của

Đảng về giữ gìn, nâng cao văn hoá, đạo đức truyền thống, có ý nghĩa hết sức quantrọng cho sự phát triển bền vững, bản sắc dân tộc

Dới tác động của kinh tế thị trờng và mở cửa, hội nhập quốc tế yếu tố đạo

đức của cán bộ, đảng viên bắt đầu bị chao đảo Một số cán bộ đảng viên thoái hoá,loá mắt trớc sự cám dỗ của đồng tiền, làm giàu bất chính, kiếm tiền bằng mọi giá,

bị bọn xấu mua chuộc đi vào con đờng sa đoạ, làm ảnh hởng đến uy tín của Đảng,làm mất lòng tin của nhân dân

Kinh tế thị trờng đã và đang thúc đẩy quá trình đô thị hoá mạnh mẽ Từ chỗ

có hơn 90% dân số sống ở nông thôn, ngày nay con số đó đã hạ xuống chỉ cònkhoảng hơn 70% Kinh tế thị trờng làm nảy sinh các giá trị đạo đức mới hoặc chí ít

là cũng làm thay đổi thang giá trị và một số phẩm chất đạo đức vốn có theo hớng

Trang 10

tiến bộ, hiện đại Ví dụ: Dới thời bao cấp ngời ta thờng có quan niệm coi thờnghình thức, đề cao nội dung Câu châm ngôn: “Tốt gỗ hơn tốt nớc sơn”; hoặc: “Cáinết đánh chết cái đẹp”, rõ ràng là đề cao nội dung, coi thờng hình thức (kể cả khi

đánh giá con ngời tốt hay xấu) Nhng ngày nay, một hàng hoá chỉ đợc đánh giá caokhi có chất lợng tốt và mẫu mã đẹp Con ngời cũng vậy, một ngời đợc coi là đẹp,

đồng thời đợc xã hội kính trọng, chỉ khi ngời ấy có cả vẻ đẹp về trí tuệ, đạo đức; có

địa vị, danh vị nhng cũng phải có năng lực hoạt động thực tiễn, đem lại hiệu quảcho cá nhân và cho xã hội Cũng về vấn đề phẩm chất đạo đức, trớc đây ngời ta cangợi, đề cao những con ngời trọng nghĩa, khinh tài, đôi khi bất chấp cả pháp luật,hành động theo tình cảm chủ quan kiểu: “Thấy sự bất bằng không tha”; hoặc: “Một

bồ cái lý không bằng một tý cái tình” Ngày nay, giá trị chuẩn mực đạo đức có vẻ

đơn giản hơn: “Mọi công dân bình đẳng trớc pháp luật”, mọi hành vi dù “đẹp” đến

đâu cũng chỉ đợc coi là đúng, là tốt khi hành vi đó đợc thực hiện theo đúng luật

Nh vậy, kinh tế thị trờng căn bản đem đến những thay đổi tích cực trong đờisống kinh tế - xã hội, Mặt khác, phải thừa nhận rằng Đảng, Nhà nớc ta cha lờng hết

đợc mặt trái của kinh tế thị trờng, cha có những giải pháp kịp thời về t tởng và khảnăng ứng phó cho cán bộ, đảng viên Do đó, xã hội ta vẫn tồn tại một bộ phận đôikhi là một xu hớng, xuất hiện những cán bộ, đảng viên tôn thờ chủ nghĩa thựcdụng, đề cao giá trị của đồng tiền, coi thờng các phẩm chất đạo đức truyền thống,chạy theo lối sống gấp, sa đọa, trụy lạc, sống buông thả, ảnh hởng của lối sống

“Tây hoá” Tất cả những vấn đề đó có tác động không nhỏ đến quá trình đổi mới,cản trở tốc độ phát triển của nền kinh tế, làm mất uy tín quốc gia, đặc biệt là gây

ảnh hởng trực tiếp đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên Tác động của mặt trái cơ chếthị trờng đã và đang làm suy thoái đạo đức, lối sống, t tởng cơ hội, tiêu cực: quanliêu, tham ô, tham nhũng, buôn lậu, chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ đảng viên, làmmất lòng tin của nhân dân với Đảng Đây là mối hiểm hoạ rất đáng lo ngại, cầnphải có biện pháp ngăn chặn hiệu quả, nó có thể làm mất ổn định chính trị, nguy cơ

đe doạ đến sự tồn vong của Đảng và chế độ

Một số vụ án tham ô, tham nhũng lớn gần đây đợc phanh phui: Tân TrờngSanh, Tamexco Minh Phụng, Năm Cam, Lã Thị Kim Oanh đã khiến ngời ta khôngkhỏi bàng hoàng vì tính chất, phạm vi, mức độ thiệt hại to lớn mà nó gây ra Chính

từ quan liêu, tham ô, tham nhũng, hủ bại, là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự phainhạt niềm tin của dân với Đảng, là điểm yếu cho bọn phản động, bọn đội lốt tôngiáo lợi dụng, kích động gây bất ổn chính trị ở một số địa phơng thuộc Tây Nguyên(trong hai năm 2/2001 và 4/2004) Gần đây là các vụ PMU 18, Đồ Sơn,

Cơ chế thị trờng thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá là tích cực.Nhng đằng sau nó là gia tăng số ngời thất nghiệp ở nông thôn Sự phân hoá giàunghèo, khoảng cách thu nhập giữa những ngời giàu và những ngời nghèo ngày càng

Trang 11

xa Chính sách an sinh xã hội, chính sách đầu t cho giáo dục, nhất là giáo dục phổthông cho con em các gia đình có thu nhập thấp, chính sách u đãi đối với các gia

đình chính sách, ngời có công và nhiều vấn đề bất cập khác đặt ra Trong khi Đảng

và Nhà nớc còn cha kịp điều chỉnh và có những chủ trơng, chính sách mới cho hợp

lý, thì một số cán bộ, đảng viên tỏ ra bất mãn, nói xấu chế độ, nói xấu Đảng

Hiện tại một số vấn đề kinh tế xã hội lớn, cấp thiết, yêu cầu Đảng và Nhà

n-ớc ta phải giải quyết một cách kịp thời, triệt để đồng bộ, nhằm giải phóng lực l ợng

sản xuất, kích thích sản xuất phát triển ở tầm vĩ mô Ví dụ: vấn đề cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc Báo cáo gần đây cho biết, trong số gần 5000 doanh nghiệp

Nhà nớc đang hoạt động, có hơn 40% số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, đặc biệt có15% số doanh nghiệp lỗ rất nặng Điển hình nh nhà máy Dệt Long An mỗi tháng lỗtới hơn 1 tỷ đồng Khi có quyết định giải thể (1/7/2004), con số d nợ ngân sách lêntới hàng trăm tỷ đồng Có thể nói, việc thực hiện cha triệt để, nghiêm minh, chathật sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, giữa các công ty trong thành phầndoanh nghiệp Nhà nớc một cách sòng phẳng theo cơ chế hạch toán kinh doanh, đãlàm cho t tởng trốn thuế, buôn lậu, ỷ lại và nhiều vấn đề tiêu cực khác phát sinhtrong cán bộ đảng viên thuộc các ngành sản xuất kinh doanh

Một số vấn đề về chính sách thuế, chính sách khuyến khích đầu t, kể cả cácchính sách về phát triển giáo dục, y tế, chính sách u tiên phát triển đối với khu vựcmiền núi, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, đã làm nhng hiệu quả cha cao, còn bị

ăn chặn ở nhiều cấp trớc khi về đến cơ sở hoặc chủ đầu t Hiện tợng “chạy dự án”,

để rồi khi đợc sẽ “lại quả”không phải là hiếm, tỷ lệ thất thoát vốn trong đầu t xâydựng cơ bản mới đây đợc Ban thanh tra Nhà nớc công bố có nơi lên tới trên 40%.Hiện tợng “mua thầu, chỉ định thầu” đối với những công trình do Nhà nớc bỏ vốn

đầu t bị lợi dụng, móc ngoặc, thực hiện một cách bất bình đẳng với nhiều thủ đoạn,nhằm kiếm tiền hối lộ của không ít cán bộ công chức có chức có quyền

Tất nhiên cũng còn những vấn đề khó lờng trớc, hoặc có những thay đổi mà

Đảng ta cha kịp bổ sung, phát triển Đó là những vấn đề về lý luận và thực tiễn mớinảy sinh trong quá trình đổi mới, nhất là những vấn đề về xây dựng đờng lối đốingoại của Đảng

II Quỏn triệt và vận dụng những quan điểm cú ý nghĩa phương phỏp luận của Hồ Chớ Minh trong ngoại giao

1 Hồ Chớ Minh luụn luụn đặt tư duy của minh trong dũng chảy của thời

đại, kết hợp dõn tộc với quốc tế, găn cỏch mạng Việt Nam với cỏch mạng thế giới, coi đú như là một quy luật thắng lợi cảu cỏch mạng Việt Nam.

Trang 12

Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thế giới đày biến động, trật tự cũ

đã thay đổi, trật tự mới chưa hình thành Tình hình thế giới đnag diễn biến phứctạp, chứa đựng nhiều yếu tố bất trắc và thay đổi khôn lường Khu vực châu Á –Thái bình Dương và tiểu vùng Đông Nam Á là nơi có sự đan xen về lợi ích và mâuthuẫn giữa các cường quốc trong khu vực và thế giới, đặc biệt là về chủ quyền lãnhthổ và an ninh biển Đông

Để xác lập được một đường lối và chính sách đối ngoại khôn ngoan, mềmdẻo, có khả năng thích ứng với những diễn biến phức tạp của tình hình, chúng taphải nhận thức được thời đại mình đang sống một cách thaath sâu rộng, chỉ có nhưthế mới nắm bắt chính xác đặc điểm và xu thế phát triển của thời đại, dự đoánđược tương lai

Nói cách khác, công tác đối ngoại phải làm tốt chức năng thông tin, nghiêncứu và dự báo tình hình khu vực và thế giới để kịp thời làm tham mưu cho Đảng ta

về những chủ trương, chính sách mới khi tình hình thay đổi

2 Hồ Chí Minh luôn nêu cao nguyên tắc độc lập tự chủ, tự lực tự cường,

chủ trương tận lực phát huy sức mạnh nội lực – sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, sức mạnh của người làm chủ, của đại đoàn kết dân tộc… Chỉ có trên cơ sở sức mạnh bên trong chúng ta mới có thể tranh thủ và tận dụng được sự hợp tác, giúp

đỡ của các tổ chức, các lực lượng bên ngoài, nhằm thực hiên thắng lợi mục tiêu cách mạng mỗi thời kỳ.

Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.Chúng ta phải mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tranh thủ vốn công nghệ cao,từng bước gia nhập thị trường quốc tế Nhưng phải trên cơ sở độc lập tự chủ, pháthuy đầy đủ các yếu tố nội lực, bao gồm nguồn lực con người đát đai, tài nguyên,truyền thống ( lịch sử và văn hóa), trí tuệ Nếu không phát huy đầy đủ nội lực thìcũng không thể đi lên một cách vững chắc, không giữ được độc lập tự chủ và cũngkhông thể hội nhập quốc tế một cách bình đẳng

Theo số liệu của Hội nghị Trung Ương lần thứ IV ( khóa VIII) tháng 12năm 1997, “ hiện nay vốn nước ngoài đã chiếm tới 49% tổng vốn đầu tư xã hội cảuchúng ta, trong khi ở các nước đang phát triển trên thế giới cũng ít có nước nào

Trang 13

vượt quá 205 trong thời gian dài Nguồn vốn trong nước thấp đã trở thành nhân tốquan trọng hạn chế tiếp nhận vốn bên ngoài, hơn nữa tỷ lệ vốn nước ngoài trongtổng vốn đầu tư và tỷ lệ nợ nước ngoài trong GDP quá cao, chứng tỏ mức độ độclập tự chủ của nền kinh tế thấp, tính phụ thuộc vào bên ngoài nặng, đay là điềuchúng ta cần hết sức chú ý, không thể xem thường”

3 Hồ Chí Minh là người đặt nền móng cho đường lối ngoại giao rộng mở,

đa phương hóa, đa dạng hóa, hợp tác nhiều mặt với tất cả các nước, các tổ chức quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc của nhau, bình đẳng cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tranh chấp đang tồn tại bằng phương pháp hòa bình thương lượng.

Hiện nay cục diện thế giới và khu vực đang biến động nhanh chóng, đangtiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định:

- Việt Nam với vị trí địa lý – chính trị, với tài nguyên và dân số, với tiềmnăng về nhiều mặt…đang chiếm vị trí nhất định trong nhìn nhận chiến lược củacác nước lớn và sự tập hợp lực lượng trong khu vực Điều đó tạo khả năng và tiền

đề để Việt Nam tham gia giải quyết các vấn đề khu vực và thế giới; mặt khác cũngtạo ra nguy cơ Việt Nam có thể trở thành địa bàn tranh chấp, xung đột lợi ích giữacác nước lớn và giữa các tập hợp lực lượng với nhau

- Việt Nam tiến hành đổi mới mở cửa, hội nhập với thế giới vào lúc chủnghĩa xã hội đang lâm vào thoái trào, hệ thống giá trị xã hội chủ nghĩa tạm thời suyyếu, hệ thống giá trị tư bản chủ nghĩa có điều kiện lan tràn Lợi dụng tình hình đó,các lực lượng đế quốc đang đẩy mạnh “ diễn biến hòa bình” dưới nhiều hình thức,nhằm làm suy yếu, tiến tới lật đổ chế độ cac hội chủ nghĩa ở Việt Nam

- Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đang phát triển như vũ bão,thúc đẩy xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế găn liền với cạnh tranh gay gắt, mở rathời cơ cho các nước có thể phát triển nhanh, thực hiện con đường phát triển rútngắn; đồng thời cũng tạo ra nguy cơ tụt hậu nhanh chóng, biến một số nước thành

“ bãi thải công nghệ”

Trước bối cảnh đó, để đứng vững và phát triển, chúng ta phải kế thừa vàvận dụng tốt tư tưởng và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh, xử lý khéo léo, nhạy

Trang 14

bộn trước mỗi tỡnh hỡnh, trước mỗi quan hệ, theo tinh thần “ dĩ bất biến, ứng vạnbiến”, kiờn định về mục tiờu, linh hoạt, mềm dẻo về sỏch lược, giữ vững nguyờntắc độc lập tự chủ nhưng cũng biết đối thoại, nhõn nhượng khi cần thiết để chốo lỏicon thuyền cỏch mạng Việt Nam vượt qua những khỳc quanh hiểm trở, đưa nước

ta cơ bản trở thành nước cụng nghiệp vào cuối những năm 20 của thế kỷ mới

III Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng t tởng Hồ Chí Minh về ngoại giao trong giai đoạn hiện nay

1 Quá trình hình thành t duy đối ngoại đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam

Là sự tiếp tục của đờng lối đối nội đợc coi nh một mặt trận, hợp thành sứcmạnh của toàn dân, đối ngoại đợc Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quantâm

Đờng lối chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nớc nhằm khai thác tốt nhấtcác nhân tố quốc tế phục vụ cho nhu cầu phát triển của đất nớc, đồng thời mở rộng

và phát huy ảnh hởng của dân tộc ta, đóng góp với cộng đồng quốc tế trong cuộc

đấu tranh chung vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ trong cuộc đấu tranh chungvì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và phát triển Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ

rõ thực lực của đất nớc, là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng Thực lực đất nớc

mạnh, tức là chiêng lớn thì tiếng vang và ảnh hởng của nó càng lớn trên trờng quốctế

Từ nhận thức đúng đắn của quan hệ quốc tế trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta

đã từ thực tiễn dần hoàn thiện đờng lối đối ngoại đổi mới

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng - Đại hội mở đầu thời

kỳ đổi mới, Đảng ta chủ trơng cần phải thực hiện sách lợc thêm bạn bớt thù, phá thế bao vây cấm vận của Mỹ Chủ trơng về đối ngoại là mở cửa và hội nhập quốc

tế, quan hệ với tất cả các nớc có chế độ chính trị xã hội khác nhau trên nguyên tắcbình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Đây là bớc

đột phá trong t duy đối ngoại của Đảng và thực hiện di huấn của Chủ tịch Hồ ChíMinh là làm sao cho đất nớc ta càng ít kẻ thù nhất và có nhiều bạn đồng minh hơnhết

Năm năm thực hiện mở cửa và hội nhập quốc tế đã đợc Đảng tổng kết tại Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ VII năm 1991 Đờng lối đối ngoại của Đảng đợc xác

định với chủ trơng đa dạng hoá, đa phơng hoá trong quan hệ quốc tế Nếu trớc đổimới trong đờng lối ngoại giao với các nớc chúng ta chú trọng quan hệ chủ yếu vớicác nớc phe xã hội chủ nghĩa, với các nớc thế giới thứ ba đoàn kết trong cuộc đấu

Trang 15

tranh giành độc lập dân tộc, thì hiện tại Đảng nhấn mạnh chủ trơng đa dạng hoá và

đa phơng hoá trong quan hệ quốc tế, trên cơ sở giữ vững nguyên tắc bình đẳng, cùng

có lợi và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Tại Đại hội này, Đảng takhẳng định nền tảng t tởng, kim chỉ nam cho hành động của toàn đảng, toàn quân,toàn dân ta là chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh Về chủ trơng đối ngoại,

đây là sự trở lại t tởng ngoại giao Hồ Chí Minh “làm bạn với tất cả mọi nớc dân chủ

và không gây thù oán với một ai” T duy đối ngoại của Đảng đợc khẳng định ViệtNam “là bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình độclập dân tộc, phát triển” Trong giai đoạn mới, mục tiêu chung của các quốc gia là hoàbình, độc lập và phát triển Các nớc có chế độ chính trị khác nhau, có điểm xuất phát

từ kinh tế, chính trị, xã hội không giống nhau, thậm chí mục tiêu tiến lên khác nhauvẫn có thể tìm thấy những tiếng nói chung trên nhiều vấn đề mà mỗi nớc quan tâm.Quan hệ quốc tế rộng mở, đa phơng (bao gồm song phơng và đa phơng) và đa dạng

đợc Đảng khẳng định và theo chiều hớng cởi mở vì mục tiêu ổn định và phát triển.Hội nhập là một nhu cầu cần phấn đấu để đáp ứng yêu cầu của đờng lối đối nội đổimới

Trong bối cảnh quốc tế có sự thay đổi lớn về cục diện thế giới do sự sụp đổmô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, sự tan rã Đảng Cộng sản LiênXô, những điều kiện giúp đỡ của phe xã hội chủ nghĩa không còn nữa, Đại hội đạibiểu toàn quốc của Đảng đợc khẳng định với t duy chính trị mới Vấn đề phát huysức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, phát huy cao độ nội lực để tranh thủ hội nhậpquốc tế cho sự phát triển của đất nớc, nhiệm vụ đối ngoại đợc Đảng khẳng định làphục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc Văn kiện Đại hội lầnthứ VIII của Đảng khảng định: “Củng cố môi trờng hoà bình và tạo điều kiện quốc

tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, công nghiệp hoá, hiện

đại hoá đất nớc, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, góp phần tích cựcvào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dânchủ và tiến bộ xã hội”1 Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển

đất nớc trong tình hình mới, Đảng chỉ rõ phải tiếp tục thực hiện đờng lối đối ngoại

độc lập, tự chủ, mở rộng, đa dạng hoá, đa phơng hoá các quan hệ đối ngoại Trongquan hệ với các nớc, ra sức tăng cờng quan hệ với các nớc láng giềng và các nớctrong tổ chức ASEAN, không ngừng củng cố quan hệ với các bạn bè truyền thống,coi trọng quan hệ với các nớc đang phát triển và các trung tâm kinh tế chính trị trênthế giới, với phong trào không liên kết, mở rộng các hoạt động trong các tổ chức,các diễn đàn quốc tế Phát triển quan hệ với các Đảng Cộng sản, đảng công nhân,các lực lợng cách mạng, quan hệ với các đảng cầm quyền, mở rộng ngoại giaonhân dân, các đoàn thể, các hội, các doanh nghiệp với các đối tác

Ngày đăng: 25/08/2016, 13:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đình Bin (chủ biên). Ngoại giao Việt Nam 1945 2000 – . NXB Chính trị quốc gia, HN, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Việt Nam 1945 2000
Nhà XB: NXBChính trị quốc gia
2. Bộ Ngoại giao. Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. NXB Chính trị quốc gia, HN, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXBChính trị quốc gia
3. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI.NXB Sù thËt, HN, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: NXB Sù thËt
4. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. NXB Sù thËt, HN, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVII
Nhà XB: NXB Sù thËt
5. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. NXB Chính trị quốc gia, HN, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVIII
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
6. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX.NXB Chính trị quốc gia, HN, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
7. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.NXB Chính trị quốc gia, HN, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
8. Phạm Văn Đồng. Hồ Chí Minh, quá khứ, hiện tại và tơng lai. NXB Sự thật, HN, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh, quá khứ, hiện tại và tơng lai
Nhà XB: NXB Sự thật
9. Võ Nguyên Giáp (chủ biên). T tởng Hồ Chí Minh và con đờng cách mạng Việt Nam. NXB Chính trị quốc gia, HN, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tởng Hồ Chí Minh và con đờng cách mạngViệt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
10. Học viện Quan hệ quốc tế. Bác Hồ với ngoại giao, HN, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ với ngoại giao
11. Đỗ Đức Hinh. T tởng Hồ Chí Minh về đối ngoại Một số nội dung cơ – bản. NXB Chính trị quốc gia, HN, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T tởng Hồ Chí Minh về đối ngoại Một số nội dung cơ"–"bản
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
12. Đặng Xuân Kỳ. Phơng pháp và phong cách Hồ Chí Minh. NXB LLCT, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng pháp và phong cách Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB LLCT
13. Vũ Khoan. T tởng Hồ Chí Minh về đối ngoại vẫn còn nguyên giá trị. Tạp chÝ LS§, sè 6/1993, tr 9 – 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T tởng Hồ Chí Minh về đối ngoại vẫn còn nguyên giá trị
14. Hồ Chí Minh. Toàn tập. 12 tập, NXB Chính trị quốc gia, HN, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập. 12 tập
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
15. Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử. 10 tập, NXB Chính trị quốc gia, HN, 1993 – 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên niên tiểu sử. 10 tập
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
16. Nguyễn Dy Niên. T tởng ngoại giao Hồ Chí Minh. NXB Chính trị quốc gia, HN, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T tởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị quốcgia
17. Nguyễn Dy Niên. Quán triệt t tởng Hồ Chí Minh thực hiện đờng lối đối ngoại của Đảng trong giai đoạn mới. NXB Chính trị quốc gia, HN, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quán triệt t tởng Hồ Chí Minh thực hiện đờng lối đốingoại của Đảng trong giai đoạn mới
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
18. Vũ Dơng Ninh. Về quan điểm quốc tế trong t tởng chiến lợc đại đoàn kết Hồ Chí Minh. Tạp chí LSĐ, số 3/1993, tr 20 – 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quan điểm quốc tế trong t tởng chiến lợc đại đoànkết Hồ Chí Minh
19. Nguyễn Phúc Luân. Ngoại giao Hồ Chí Minh Lấy chí nhân thay c – - ờng bạo. NXB Công an nhân dân, HN, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Hồ Chí Minh Lấy chí nhân thay c"– "-ờng bạo
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
20. Đinh Xuân Lý. T tuởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự vận dụng củaĐảng ta trong thời kỳ đổi mới. NXB Chính trị quốc gia, HN, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T tuởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự vận dụng của"Đảng ta trong thời kỳ đổi mới
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w