Hãng Honda di dời ra khỏi nước Nhật Bản Tập đoàn xe mô tô Honda dự kiến sẽ chuyển một phần lớn hoạt động sản xuất sang Bắc Mỹ trong vòng hai năm tới, tăng công suất sản xuất trong khu vự
Trang 2Sự thành công trong hoạt động kinh doanh của công ty sẽ xác định khoản cổ tức có thể trả cho các cổ đông Bởi vì triển vọng của công ty được gắn liền với triển vọng của nền kinh tế.
Tuy nhiên, phân tích cơ bản cần được xem xét trong môi trường kinh doanh mà công ty đang hoạt động.
Đặc biệt, đối với một số doanh nghiệp, nền kinh tế vĩ mô và bối cảnh ngành có thể có ảnh hưởng đến lợi nhuận lớn hơn hiệu quả hoạt động của Công ty
Vì vậy, các nhà đầu tư, những doanh nghiệp đang hoạt động sxkd cần hiểu rõ
về bức tranh kinh tế to lớn này.
Trang 3Phân tích triển vọng của công ty sẽ hợp lý hơn nếu bắt đầu phân tích theo
phương pháp từ trên xuống dưới
Nền kinh tế quốc tế (toàn cầu)
Ngành Công ty đang hoạt động
Công ty
Trang 4Bảng 17.1 Kết quả hoạt động của nền kinh tế
Nguồn: The Economist, ngày 05 tháng 01 năm 2013
17.1 NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU
Trang 5Hình 17.1 Sự biến động của tỷ giá hối đoái thực của đồng đô la Mỹ so với các
đồng tiền khác, giai đoạn 2001-2011
Nguồn: Dữ liệu thu thập tại The economic report of the President, năm 2012
Trang 6Hãng Honda di dời ra khỏi nước Nhật Bản
Tập đoàn xe mô tô Honda dự kiến sẽ chuyển một phần lớn hoạt động sản xuất sang Bắc
Mỹ trong vòng hai năm tới, tăng công suất sản xuất trong khu vực lên đến 40% để chống lại một đồng yên tăng giá sẽ làm cho xe hơi Nhật Bản quá đắt để xuất khẩu trên toàn thế giới
Động lực chuyển hoạt động sản xuất sang Bắc Mỹ xuất phát từ sự tăng giá của đồng yên
so với đô la Mỹ, sự thay đổi làm cho Honda và các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản khác bị giảm doanh thu Đồng yên tăng giá làm giảm giá trị của lợi nhuận bằng đô la và làm cho xuất khẩu ít cạnh tranh hơn về giá
Honda, hãng mô tô sản xuất 1,29 triệu xe tại Bắc Mỹ vào năm 2010, dự định xây dựng một nhà máy mới tại Celaya, Mexico và mở rộng tất cả bảy nhà máy lắp ráp hiện có, nhằm mục đích xây dựng khoảng 2 triệu xe hơi và xe tải mỗi năm, Tetsuo Iwamura, Chủ tịch của American Honda tại Bắc Mỹ, cho biết trong một cuộc phỏng vấn với Tạp chí The Wall Street
Sự thay đổi chiến lược là “liên quan trực tiếp đến đồng yên” ông Iwamura nói: “Hầu như không thể kiếm tiền [từ xuất khẩu xe từ Nhật Bản] trong ngắn hạn và trung hạn.”
Sự thay đổi của Honda cho thấy tác động lớn của đồng yên đối với các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản khi đối mặt với đồng tiền tăng giá gần 40% trong bốn năm qua Đồng yên giao dịch ở mức 77,89 đô la và gần đây là năm 2007 ở mức 120 đô la
Sự tăng giá mạnh mẽ của đồng yên khiến cho việc kiếm tiền từ việc sản xuất xe ô tô gặp khó khăn bởi vì lợi nhuận đã ít đi Để giúp giảm số lượng xe Fits mà Honda xuất khẩu từ Nhật Bản, công ty gần đây đã bắt đầu vận chuyển xe Fit từ Trung Quốc đến các đại lý của Canada như là một biện pháp để phản ứng lại khó khăn mà Honda đang gặp phải
Nguồn: Mike Ramsey and Neal Boudette, “Honda Revs Up Plants in America,” The Wall
Street Journal, Dec 21, 2011 Reprinted with permission © 2011 Dow Jones & Company, Inc
All Rights Reserved Worldwide
17.1 NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU
Trang 817.2 NỀN KINH TẾ VĨ MÔ
Tác giả sẽ xem xét một số biến thống kê kinh tế quan trọng được sử dụng để
mô tả tình trạng nền kinh tế vĩ mô.
- Tổng sản phẩm trong nước (Tổng sản phẩm quốc nội, hay GDP) là thước
đo tổng sản lượng hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế GDP phát triển nhanh cho thấy một nền kinh tế mở rộng với nhiều cơ hội cho một công ty để tăng doanh số.
- Việc làm là tỷ lệ thất nghiệp đo lường mức độ mà nền kinh tế đang hoạt động
ở mức hữu dụng
- Lạm phát là tỉ lệ mà mức tăng giá chung Chính phủ hy vọng kích thích nền
kinh tế đủ để duy trì việc làm gần như toàn bộ, nhưng không nhiều để không mang lại áp lực lạm phát
- Lãi suất - Lãi suất cao làm giảm giá trị hiện tại của dòng tiền trong tương lai,
do đó giảm sự hấp dẫn của các cơ hội đầu tư
- Thâm hụt ngân sách - Thâm hụt ngân sách của chính phủ liên bang là sự
chênh lệch giữa chi tiêu của chính phủ và thu nhập Bất kỳ sự thiếu hụt ngân sách nào cũng phải được bù đắp bởi khoản vay của chính phủ
- Độ nhạy cảm của người tiêu dùng hoặc nhà sản xuất Ví dụ, nếu người tiêu
dùng có sự tự tin về mức thu nhập trong tương lai, họ sẽ sẵn sàng chi tiêu những mặt hàng lớn
Trang 9- Thường đặc trưng bởi sản lượng tổng hợp di chuyển theo cùng chiều với lãi suất và lạm phát Ví dụ, sự gia tăng lớn trong chi tiêu của chính phủ sẽ có xu hướng kích thích nền kinh tế và làm tăng GDP Nó cũng có thể làm tăng lãi suất bằng cách tăng nhu cầu vay vốn của chính phủ cũng như của các doanh nghiệp có thể muốn vay
nợ để tài trợ cho các dự án mới Cuối cùng, nó có thể làm tăng tỷ lệ lạm phát nếu nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ được nâng lên đến mức cao hơn hoặc vượt quá khả năng sản xuất của nền kinh tế.
Trang 1017.3 CÚ SỐC CUNG VÀ CẦU
- Là một sự kiện ảnh hưởng đến năng lực sản xuất và chi phí Ví
dụ cú sốc về cung là những thay đổi trong giá dầu nhập khẩu, hiện tượng đóng băng, lũ lụt hoặc hạn hán có thể phá hủy một số lượng lớn cây trồng nông nghiệp; thay đổi trình độ học vấn của lực lượng lao động của một nền kinh tế; hoặc thay đổi về mức lương mà lực lượng lao động sẵn sàng làm việc.
- Thường được đặc trưng bởi tổng sản lượng di chuyển theo hướng ngược lại so với lạm phát và lãi suất Ví dụ, sự gia tăng lớn về giá dầu nhập khẩu sẽ tạo ra lạm phát vì chi phí sản xuất sẽ tăng, dẫn đến sự gia tăng giá thành của hàng hoá Việc tăng tỷ lệ lạm phát trong thời gian ngắn có thể dẫn đến lãi suất danh nghĩa cao hơn Trong bối cảnh này, tổng sản lượng sẽ giảm Với nguyên vật liệu đắt hơn, khả năng sản xuất của nền kinh tế giảm, cũng như khả năng mua sắm của các cá nhân ở mức giá hiện tại sẽ cao hơn Do đó GDP có xu hướng giảm.
Trang 1117.3 CÚ SỐC CUNG VÀ CẦU
Tuy nhiên, tác giả thận trọng khi nhắc nhở chúng ta rằng những dự báo kinh tế vĩ mô là không đáng tin cậy Chúng ta phải biết rằng mọi khả năng dự báo của chúng
ta sẽ chỉ được thực hiện khi thông tin được sử dụng công khai Lợi thế đầu tư không chỉ dựa vào kết quả phân tích tốt mà thông tin cũng phải tốt.
Trang 1317.4 CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ LIÊN BANG
Chính sách tài khóa
Chính sách tài khóa liên quan đến chi tiêu của chính phủ và các hành động về thuế và là một phần của “quản lý về phía cầu”
Chính sách tài khóa là cách trực tiếp nhất để kích thích hoặc làm chậm nền kinh tế
Mặc dù tác động của chính sách tài khóa là tương đối ngay lập tức, nhưng việc xây dựng là khá rườm rà nên chính sách tài khóa không thể được sử dụng để điều chỉnh tốt nền kinh tế.
Một cách phổ biến để tóm tắt tác động ròng của chính sách tài khóa là xem xét thâm hụt hoặc thặng dư ngân sách của chính phủ.
Cuộc tranh luận về chính sách tài khóa như thế nào là thích hợp ngày càng trở nên gay gắt trong những năm trờ lại đây
Trang 1417.4 CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ LIÊN BANG
Chính sách tài khóa và Bờ vực tài chính
Vào tháng 8 năm 2011 từ khi Quốc hội không thể đồng ý tăng mức trần nợ liên bang, đã thông qua một thỏa hiệp tạm thời Mức trần nợ cho phép được tăng lên, nhưng với điều khoản rằng Quốc hội, vào cuối năm 2012, sẽ thông qua luật giảm thâm hụt ngân sách liên bang lên 1,2 nghìn tỷ USD trong vòng hơn
10 năm Nếu không đạt được thỏa thuận, mức thuế suất năm 2013 sẽ tự động trở lại mức cao hơn mức hiện hành trong nhiệm kỳ của Tổng thống Clinton, và Uy ban (across the board) cắt giảm chi tiêu hàng năm khoảng 110 tỷ đồng để phân chia bằng nhau giữa nội địa và các chương trình quốc phòng
Để đạt thỏa hiệp này chính sách tài khóa phải cắt giảm lượng lớn chi tiêu và tăng thuế đột biến, những điều mà được xem là chắc chắn dẫn đến một cuộc suy thoái Các Văn phòng Ngân sách Quốc hội ước tính rằng tăng thuế và giảm chi tiêu sẽ đe dọa làm giảm tăng trưởng GDP trong năm 2013 từ khoảng 1,7% tới - 0,5% và tăng tỷ lệ thất nghiệp lên hơn một phần trăm điểm Đây là bờ vực tài chính mà Quốc hội có thể sẽ phải bị đẩy vào
Để tránh không bị rơi vào bờ vực đó, Quốc hội đã ban hành một thỏa hiệp khác Không làm gì trong hai tháng, nhưng cho phép đàm phán ngân sách được tiếp tục, và trả chi phí cho sự chậm trễ bằng việc nâng cao một số mức thuế suất, bao gồm cả các lãi vốn (capital gains) và thu nhập hộ gia đình trên $ 450,000
Nhưng cuộc chiến tài chính vẫn còn kéo dài Việc tăng thuế đã được đồng ý vào cuối năm 2012 là đủ
xa để đạt được mục tiêu ban đầu là giảm 1,2 nghìn tỷ đô la để bù đắp cho sự giảm giá trong 10 năm thâm hụt Thảo luận cắt giảm Chi tiêu vẫn còn gây tranh cãi Và chính phủ sẽ chống lại mức trần nợ mới vào đầu năm 2013 Cuộc tranh luận về tài chính tiếp tục không ngừng được tranh luận
Trang 1517.4 CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ LIÊN BANG
Chính sách tiền tệ
Đề cập đến việc vận dụng nguồn cung tiền để ảnh hưởng đến nền kinh
tế vĩ mô và là công cụ chính khác của chính sách của phía cầu
Chính sách tiền tệ hoạt động phần lớn thông qua tác động của nó đối với lãi suất
Tăng cung tiền dẫn đến mức lãi suất ngắn hạn thấp hơn, cuối cùng khuyến khích nhu cầu đầu tư và tiêu dùng
Tuy nhiên, trong dài hạn, hầu hết các nhà kinh tế tin rằng nguồn cung tiền cao hơn sẽ dẫn đến mức giá cao hơn
Sự đánh đổi giữa kích thích và lạm phát là tiềm ẩn trong tất cả các cuộc tranh luận về chính sách tiền tệ hợp lý.
Chính sách tài khóa rất rườm rà để thực hiện nhưng có một tác động khá trực tiếp đến nền kinh tế
Trong khi chính sách tiền tệ có thể được xây dựng và thực hiện một cách dễ dàng nhưng lại ít tác động trực tiếp đến nền kinh tế
Chính sách tiền tệ do Hội đồng quản trị của Hệ thống Dự trữ Liên bang quyết định
Trang 1617.4 CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ LIÊN BANG
Những chính sách về phía cung
Chính sách kinh tế vĩ mô có thể đẩy nền kinh tế hướng tới mục tiêu này Ngược lại, các chính sách về cung là nghiên cứu năng lực sản xuất của nền kinh tế Mục tiêu là tạo ra một môi trường mà người lao động và chủ sở hữu có động lực và tối đa hóa khả năng sản xuất và phát triển hàng hoá.
Các nhà kinh tế phía cầu nhìn vào ảnh hưởng của thuế đối với nhu cầu tiêu dùng, thì các nhà kinh tế phía cung tập trung vào các ưu đãi và thuế suất cận biên
Các nhà kinh tế lập luận rằng tỷ lệ thuế suất thấp sẽ mở ra nhiều đầu tư hơn và nâng cao động lực làm việc, qua đó tăng cường sự phát triển nền kinh tế Việc giảm thuế suất có thể dẫn đến tăng thu nhập thuế vì tỷ lệ thuế suất thấp hơn sẽ làm cho nền kinh tế và doanh thu thuế tăng nhiều hơn khi thuế suất giảm
Trang 1717.5 CHU KỲ KINH DOANH
• Chu kỳ kinh doanh
• Chỉ số kinh tế
• Các chỉ số khác
Trang 1817.5 CHU KỲ KINH DOANH
Nguồn: Hội nghị HDQT, Các chỉ số chu kỳ kinh doanh, tháng 12 năm 2008
Sử dụng với sự cho phép
Trang 1917.5 CHU KỲ KINH DOANH
• Khi nền kinh tế đi qua các giai đoạn khác nhau của chu
kỳ kinh doanh, hiệu suất tương đối các nhóm ngành khác nhau sẽ thay đổi
• Các doanh nghiệp theo chu kỳ thường nhạy cảm với chu
kỳ kinh doanh, sẽ có xu hướng có beta cổ phiếu cao Các công ty theo chu kỳ sẽ hiển thị kết quả tốt nhất khi tin tức nền kinh tế là tích cực nhưng kết quả tồi tệ nhất khi tin tức xấu.
• Ngược lại các ngành phòng thủ rất ít nhạy cảm với chu kỳ kinh doanh, sẽ có beta thấp và hiệu suất tương đối không
bị ảnh hưởng bởi điều kiện của tổng thể thị trường
Trang 2017.5 CHU KỲ KINH DOANH
• Thật không may, không dễ dàng xác định thời điểm
nền kinh tế đi qua đỉnh hoặc đáy
• Thường không rõ ràng ở giai đoạn suy thoái hoặc mở
rộng, đã bắt đầu hoặc kết thúc cách đó vài tháng so với thực tế
• Với nhận thức muộn màng, sự chuyển đổi từ sự mở
rộng sang suy thoái kinh tế và trở lại có thể rõ ràng, nhưng nó thường khá khó nói nếu nền kinh tế đang nóng lên hay chậm lại bất cứ lúc nào.
Trang 2117.5 CHU KỲ KINH DOANH
Các chỉ số kinh tế:
Các chỉ số kinh tế dẫn dắt: là các chuỗi kinh tế có
xu hướng tăng hoặc giảm trước phần còn lại của nền kinh tế
Chỉ số tổng hợp: di chuyển song song với tình hình
hoạt động của nền kinh tế.
Chỉ số lạc hậu (trễ): như tên gọi của nó, di chuyển
theo sau tình hình hoạt động của nền kinh tế.
Trang 22Các chỉ số kinh tế
A Các chỉ số dẫn dắt:
1 Số giờ làm hàng tuần bình quân của công nhân sản xuất (công nghiệp)
2 Các khiếu nại ban đầu đối với bảo hiểm thất nghiệp
3 Đơn hàng mới của các nhà sản xuất (hàng tiêu dùng và các ngành nguyên liệu)
4 Tỷ lệ công ty báo cáo việc giao hàng chậm
5 Đơn hàng mới để bảo vệ vốn hàng hóa
6 Các đơn vị nhà ở tư nhân mới được cấp phép xây dựng địa phương
7 Độ dốc đường cong lãi suất: trái phiếu kho bạc 10 năm trừ đi lãi suất quỹ liên bang
8 Giá cổ phiếu, 500 cổ phiếu phổ thông
9 Tốc độ tăng trưởng cung tiền (M2)
10 Chỉ số kỳ vọng người tiêu dùng
B Chỉ số tổng hợp:
1 Số lao động trong bảng lương phi nông nghiệp
2 Thu nhập cá nhân trừ thanh toán chuyển khoản
3 Sản xuất công nghiệp
4 Doanh số sản xuất thương mại
C Các chỉ số lạc hậu (trễ):
1 Thời gian thất nghiệp trung bình
2 Tỷ lệ hàng tồn kho trên doanh thu
3 Biến động trong chỉ số của chi phí nhân công trên một đơn vị sản lượng
4 Lãi suất cơ bản trung bình của các ngân hàng
5 Cho vay thương mại và công nghiệp
6 Tỷ lệ dư nợ tín dụng trả góp của người tiêu dùng trên thu nhập cá nhân
7 Biến động chỉ số giá tiêu dùng đối với dịch vụ
Nguồn: Cuộc họp HĐQT, Các chỉ số chu kỳ kinh doanh, tháng 11 năm 2012
Trang 23Các chỉ số kinh tế
Hình 17.4 Chỉ số dẫn dắt, tổng hợp và lạc hậu
Lưu ý: Các khu vực bóng mờ thể hiện sự suy thoái
Nguồn: Cuộc họp HĐQT, Các chỉ số chu kỳ kinh doanh, tháng 12 năm 2008
Được cấp phép sử dụng
Trang 25Các chỉ số khác
CEO polls www.businessroundtable.org
Các cuộc họp của CEOs về kế hoạch chi tiêu vốn, một thước đo tốt về sự lạc quan của họ về nền kinh tế
Temp jobs (search for “Temporary
Help Services”) www.bls.gov
Chỉ số dẫn dắt thật sự hữu ích Các doanh nghiệp thường thuê lao động tạm thời khi nền kinh tế bắt đầu tăng trưởng, cho đến khi tăng trưởng ổn định Loạt bài này có tại trang web Cục Thống kê Lao động
Semiconductors www.semi.org
Tỷ lệ book-to-bill (tức doanh số bán hàng mới so với số lô hàng thực tế) cho biết nhu cầu trong lĩnh vực công nghệ đang tăng lên (tỷ lệ: 1) hay giảm Tỷ lệ này được công bố bởi Semiconductor Equipment and Materials International
Commercial structures
http://bea.doc.gov
Cấu trúc đầu tư là một chỉ số dự báo của các doanh nghiệp về nhu cầu về sản phẩm của họ trong tương lai gần Số liệu này được tổng hợp bởi Cục Phân tích kinh tế như là một phần của chuỗi GDP
Bảng 17.4 Useful economic indicators - Các chỉ số kinh tế hữu ích
Trang 27Hình 17.6 Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần của ngành năm 2012 Nguồn: Yahoo! Finance, finance.yahoo.com, ngày 12 tháng 9 năm 2012
Trang 29www.semi.org
Tỷ lệ book-to-bill (tức doanh số bán hàng mới so với
số lô hàng thực tế) cho biết nhu cầu trong lĩnh vực công nghệ đang tăng lên (tỷ lệ: 1) hay giảm Tỷ lệ này được công bố bởi Semiconductor Equipment and Materials International.
Table 17.4 Useful economic indicators - Các chỉ số kinh tế hữu ích
Trang 3017.6 PHÂN TÍCH NGÀNH
• Định nghĩa ngành: Một cách hữu ích để xác định các nhóm
ngành trong thực tế được đưa ra bởi Hệ thống Phân loại Ngành Bắc Mỹ (“NAICS code”) Đây là các mã được gán cho các
công ty để phân tích thống kê Hai chữ số đầu tiên của mã
NAICS thể hiện sự phân loại ngành nói chung
• Phân loại ngành công nghiệp theo NAICS thì không hoàn hảo
Ví dụ: cả JCPenney và Neiman Marcus đều có thể được phân loại là "Cửa hàng bách hóa" Tuy nhiên, JCPenney là cửa hàng bán số lượng lớn, trong khi Neiman Marcus là cửa hàng bán lẻ cao cấp
• Một số phân loại ngành khác được cung cấp bởi các nhà phân
tích khác