Khi nguyên nhân khác đã loại trừ mới bắt đầu xử trí cụ thể Điều trị ngộ độc gây tê cục bộ có thể bao gồm những điều sau đây [1]: Bảo đảm đường thở An thần benzodiazepines Xử trí các rối
Trang 1NGỘ ĐỘC THUỐC TÊ NGOẠI VI
Phạm Ngọc Minh 23/10/2016
Trong khi nhìn chung là an toàn, thuốc gây tê tại chỗ có thể gây độc nếu dùng không thích hợp, gây ra các phản ứng không lường trước, ngay cả khi dùng đúng cách Độc tính của thuốc tê tại chỗ xâm nhập tại chỗ hoặc độc tính toàn thân độc tính của thuốc gây tê thường liên quan đến hệ thống thần kinh trung ương (CNS) hoặc tim mạch
Các dấu hiệu và triệu chứng
Biểu hiện của nhiễm độc gây tê cục bộ thường xuất hiện 1-5 phút sau khi tiêm, nhưng bắt đầu có thể nằm trong khoảng từ 30 giây đến chừng 60 phút biểu hiện độc tính có thể được phân loại như sau:
Trang 2CNS
tim mạch
huyết học
dị ứng
mô tại chỗ
biểu hiện thần kinh trung ương CNS
Cổ điển: nhiễm độc toàn thân bắt đầu có triệu chứng kích thích thần kinh trung ương như sau:
Tê quanh miệng hoặc tê lưỡi
Miệng có vị kim loại
lâng lâng
chóng mặt
rối loạn thị giác và thính giác (khó tập trung và ù tai)
Mất định hướng
Buồn ngủ
Với liều cao hơn, ban đầu CNS kích thích tiếp theo là CNS ức chế nhanh chóng, với các triệu chứng sau:
Co giật cơ bắp
Trang 3Co giật
Bất tỉnh
Hôn mê
Suy hô hấp và ngừng thở
Trụy tuần hoàn
Biểu hiện tim mạch
Tức ngực
Khó thở
đánh trống ngực
lâng lâng
toát mồ hôi
Hạ huyết áp
bất tỉnh
biểu hiện huyết học
Methemoglobine huyết thanh thường gặp sau dùng benzocaine; Tuy nhiên, cũng gặp khi dùng lidocaine và prilocaine Ở nồng độ thấp (1-3%), methemoglobine huyết thanh có thể không có triệu chứng, nhưng nồng độ cao (10-40%) có thể kèm theo bất kỳ biểu hiện sau đây:
Da xanh
Trang 4đổi màu da (màu xám)
thở nhanh
Khó thở
mệt mỏi
Chóng mặt, ngất
Yếu đuối
biểu hiện dị ứng
phát ban
Mề đay
Sốc phản vệ (rất hiếm)
(Xem biểu hiện lâm sàng để biết thêm chi tiết)
Chẩn đoán
Đánh giá bệnh nhân ngộ độc thuốc tê bởi các biểu hiện lâm sàng Nồng độ thuốc tê trong máu có thể do nhưng không tương quan với độc tính hoặc đúng thời điểm về mặt lâm sàng
Chẩn đoán hình ảnh ví dụ, nếu bệnh nhân có cơn động kinh và nguyên nhân của các cơn động kinh không rõ ràng, nên chụp CT sọ
Trang 5Xử trí
Chú ý bảo đảm đường thở, nâng áp, rối loạn nhịp tim và co giật là những vấn đề cần ưu tiên Khi nguyên nhân khác đã loại trừ mới bắt đầu xử trí cụ thể
Điều trị ngộ độc gây tê cục bộ có thể bao gồm những điều sau đây [1]:
Bảo đảm đường thở
An thần (benzodiazepines)
Xử trí các rối loạn nhịp tim
Liệu pháp nhũ tương lipid
Nhìn chung thuốc tê cục bộ an toàn nhưng có thể gây độc nếu:
Vô ý tiêm nội mạch
Liều cao
Xử trí khi tiêm vào mạch
yếu tố bệnh nhân cũng có thể ảnh hưởng đến độc tính Ví dụ, vì lidocain được gan chuyển hóa, rối loạn chức năng gan làm tăng nguy cơ nhiễm độc do lidocain cũng gắn với protein, lượng protein thấp cũng có thể làm tăng nguy cơ nhiễm độc Nhiễm toan làm tăng nguy cơ vì nó thuận lợi cho sự phân ly của lidocaine từ protein huyết tương Tương tác với các thuốc khác (như cimetidine, beta-blockers) cũng có thể ảnh hưởng đến nồng độ thuốc lidocaine (Xem Bệnh nguyên)
ĐIỀU TRỊ
Trang 6Ở bệnh nhân nghi ngờ nhiễm độc gây tê cục bộ, nếu các dấu hiệu và triệu chứng xuất hiện ngay trong khí gây tê, cần ngừng tiêm ngay lập tức và chuẩn bị điều trị các phản ứng Đảm bảo đủ oxy, cho dù bằng mask hoặc đặt nội khí quản
Chú ý đến nguy cơ tắc nghẽn đường thở, tụt huyết áp, rối loạn nhịp tim, co giật Loại trừ nguyên nhân khác trước khi bắt đầu xử trí
Benzodiazepines là thuốc được lựa chọn để kiểm soát cơn động kinh Propofol có thể được sử dụng để kiểm soát co giật nhưng có nguy cơ gây độc tính tim mạch co giật kháng thuốc có thể dùng thuốc chẹn thần kinh cơ (ví dụ, succinylcholine)
Trong các trường hợp nặng, cần theo dõi tim mạch, bù dịch và dùng vận mạch khi cần Liều nhỏ epinephrine hay được dùng, vasopressin nên tránh
Giảm bão hòa oxy máu và toan chuyển hóa có thể làm tăng độc tính tim mạch của lidocaine và thuốc tê tại chỗ khác kiểm soát co giật và đường thở để tránh giảm oxy máu và toan hóa gây ngừng tim Sử dụng sodium bicarbonate để điều trị nhiễm toan nặng
Ngừng tim do độc tính thuốc gây tê cục bộ là một biến chứng hiếm gặp nhưng có thể xảy ra trong trường hợp quá liều, đặc biệt ở những bệnh nhân tiêm nhầm mạch máu
Nhiều bằng chứng cho thấy các truyền tĩnh mạch dung dịch nhũ tương lipid có thể đảo ngược độc tính lên tim mạch và thần kinh của thuốc gây tê cục bộ Mặc dù chưa có nghiên cứu mù được tiến hành trên người, nhưng các nghiên cứu trên động vật và nhiều trường hợp báo cáo ở bệnh nhân đã cho thấy kết quả thuận lợi Thật vậy, các báo cáo hỗ trợ việc sử dụng ngay lipid nhũ tương khi có dấu hiệu đầu tiên
Trang 7của chứng loạn nhịp tim, co giật kéo dài hoặc tiến triển nhanh chóng của triệu chứng ở bệnh nhân nghi ngờ nhiễm độc gây tê cục bộ
Ít gặp hơn, thuốc tê tại chỗ có thể gây ra phản ứng dị ứng hoặc huyết học Phản ứng dị ứng có thể được điều trị bằng diphenhydramine hoặc đối với các phản ứng nghiêm trọng hơn, epinephrine hoặc corticosteroid Methemoglobine máu ban đầu nên được điều trị theo triệu chứng xử lý tiếp theo được hướng dẫn theo nồng độ trong máu của methemoglobin; methylen blue và oxy tỉ trọng cao dùng điều trị trong trường hợp nặng
thiếu máu cục bộ tại chỗ hay độc tính thần kinh có thể xảy ra, đặc biệt là ở các chi sau gây tê kéo dài hoặc sử dụng thuốc chứa epinephrine Nghi ngờ tổn thương thần kinh nên hội chẩn ngay chuyên khoa phẫu thuật thần kinh Nếu tổn thương mạch máu, chẳng hạn như thiếu máu cục bộ chi nên mời hội chẩn bs phẫu thuật mạch máu
Những bệnh nhân có phản ứng kéo dài hoặc chưa được giải quyết phải theo dõi đánh giá thêm Những bệnh nhân ổn định và có những phản ứng bất lợi nhỏ hoặc
dễ dàng kiểm soát có thể cho về theo dõi ngoại trú
Điều trị độc tính lên hệ thống thần kinh trung ương (CNS) vẫn còn gây tranh
cãi Co giật được điều trị thành công với benzodiazepin hoặc thuốc an thần (như phenobarbital); các trường hợp báo cáo chỉ ra rằng 1 mg / kg tiêm tĩnh mạch
propofol (Diprivan) và 2 mg / kg thiopental tiêm tĩnh mạch (Pentothal) là đủ để chấm dứt cơn co giật và giật cơ trong ngộ độc thuốc tê tại chỗ
Hội gây mê và giảm đau Hoa Kỳ (ASRA) khuyến cáo các benzodiazepin như điều trị đầu tay cho co giật do ngộ độc thuốc tê tại chỗ vì giúp tránh suy tim Nếu cơn
co giật kéo dài mặc dù dùng benzodiazepin, ASRA khuyến cáo dùng liều nhỏ
Trang 8succinylcholine hoặc thuốc chẹn thần kinh cơ tương tự, để giảm thiểu nhiễm toan
và thiếu oxy Sử dụng thuốc chẹn thần kinh cơ đòi hỏi phải đặt nội khí quản
Nếu benzodiazepin không có sẵn, các ASRA coi propofol hoặc thiopental thay thế nhưng dùng liều thấp nhất có hiệu quả vì nguy cơ làm nặng thêm tụt huyết áp hoặc suy tim Đặc biệt, propofol nên tránh dùng ở bệnh nhân có rối loạn huyết động do gây nhịp chậm đáng kể
Điều trị độc tính trên tim mạch
Kéo dài khoảng PR, QRS và QT gây nhịp nhanh và dẫn truyền bất thường hồi sức tim của những bệnh nhân này khó khăn và kéo dài (30-45 phút) vì một số thuốc gây tê tan trong lipid cần thời gian dài để loại bỏ Tuy nhiên, một số bệnh nhân có thể điều trị thành công khi hồi sức tim phổi tiến hành đúng cách (CPR)
Nếu ngừng tim, ASRA khuyến cáo hồi sinh tim phổi nâng cao Cardiac Life
Support (ACLS) với những sửa đổi như sau:
Nếu dùng epinephrine, nên dùng liều khởi đầu nhỏ (10-100 mcg bolus ở người lớn) Vasopressin không được khuyến cáo
Tránh dùng các thuốc chẹn kênh canxi và beta-blockers
Nếu loạn nhịp tiến triển nên dùng amiodarone
Ở những bệnh nhân có độc tính tim mạch, tránh dùng lidocaine và các nhóm chống loạn nhịp IB (ví dụ, mexiletin, tocainide)vì nguy cơ nặng thêm độc tính Lidocaine
dù có tác dụng xử trí loạn nhịp do buvivacain gây ra, nhưng tác dụng phụ trên thần kinh trung ương của nó vẫn còn là một mối quan tâm lớn
Trang 9Ở những bệnh nhân không đáp ứng với các biện pháp hồi sức trên, việc sử dụng tim phổi nhân tạo có thể là 1 hướng xử trí tốt cho đếnkhi thuốc tê cục bộ hết tác dụng
Trong một nghiên cứu của Hàn Quốc, kết hợp liều bolus glucose, insulin và kali thành công trong việc đảo ngược trụy tim mạch do buvivacain gây ra [8] Tuy nhiên, 2 UI / kg insulin dùng trong giao thức này là 1 thách thức với các bác sĩ lâm sàng vì liều cao như vậy Ở Trung Quốc, Shenfu, một chiết xuất của các loại thuốc thảo dược truyền thống của Trung Quốc, đã được chứng minh làm giảm độc tố trên thần kinh trung ương và độc tính tim mạch của buvivacain trên chuột
truyền tĩnh mạch nhũ tương lipid 20% (ví dụ, Intralipid 20%) đã được chấp
nhận trong điều trị nhiễm độc toàn thân dothuốc tê tại chỗ, đặc biệt khi ngừng tim không đáp ứng với điều trị chuẩn hướng dẫn ASRA khuyên bạn nên xem xét việc
sử dụng các liệu pháp lipid nhũ tương tại các dấu hiệu đầu tiên của nhiễm độc toàn thân do thuốc tê tại chỗ, sau khi đảm bảo an toàn đường thở
Các cơ chế được đề xuất là truyền lipid tạo ra giai đoạn lipid kết hợp với các phân
tử hòa tan trong lipid của thuốc tê cục bộ
Nghiên cứu trên động vật, Weinberg và cộng sự chứng minh ứng dụng thành công truyền lipid nhũ tương trong hồi sức tim ngừng đập do buvivacain gây ra
Rosenblatt và cộng sự là những người đầu tiên báo cáo sử dụng truyền lipid 20%
để cứu sống một bệnh nhân do ngưng tim kéo dài do bupivacain và mepivacain
báo cáo trường hợp tiếp theo từ các nhà nghiên cứu khác sử dụng thành công lipid trong điều trị độc tính tim mạch và thần kinh, bao gồm vô tâm thu, trụy tim mạch,
và co giật thuốc gây mê cục bộ liên quan trong các trường hợp bao gồm
ropivacain, mepivacain và prilocaine, và levobupivacaine
Trang 10Marwick và các đồng nghiệp báo cáo một trường hợp cấp cứu thành công bằng truyền lipid sau khi độc tính diễn ra 40 phút Trường hợp này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc dự trù một cơ số nhũ tương lipid (1000 ml) khi gây tê ngoại vi
Weinberg và các đồng nghiệp, sử dụng mô hình động vật nghiên cứu khi dùng buvivacain quá liều, đã chỉ ra rằng liệu pháp lipid nhũ tương giúp phục hồi huyết động và trao đổi chất khi ngừng tim do buvivacain gây ra hơn là dùng epinephrine hoặc vasopressin Cả hai loại này đều có tác dụng phụ bất lợi
Một loạt các biến chứng khi truyền cấp cứu nhũ tương lipid như tổn thương thận cấp tinh,ngừng tim, thông gió-tưới máu không phù hợp, tổn thương phổi cấp tính, huyết khối tĩnh mạch, quá mẫn, thuyên tắc mỡ, hội chứng quá tải chất béo, viêm tụy, phản ứng dị ứng và làm tăng khả năng nhiễm trùng
Đề nghị liều dùng
điều trị lipid nhũ tương nên dùng dung dịch 20% Thứ nhất, bolus 1,5 ml / kg trong
1 phút Sau đó chuyển sang truyền với tốc độ 0,25 ml / kg / phút trong 20 phút,
30-60 phút hoặc cho đến khi ổn định huyết động
Nếu đáp ứng chưa tốt, liều bolus có thể được lặp đi lặp lại đến 2 lần, có thể trong khoảng thời gian 5 phút cho đến khi huyết động ổn định trở lại Ngoài ra, tốc độ truyền có thể tăng lên (ví dụ, đến 0,5 ml / kg / phút trong 10 phút ) Tối đa khoảng 10ml/kg trong 30 phút đầu tiên
Propofol là chống chỉ định khi có bất kỳ bằng chứng nào về độc tính tim mạch
Mặc dù các phản ứng dị ứng với thuốc tê tại chỗ rất hiếm, chúng được xử lý theo mức độ nghiêm trọng phản ứng nhẹ có thể được điều trị bằng diphenhydramine
Trang 11đường uống hoặc tiêm (Benadryl, 25-50 mg cho người lớn, 1 mg / kg cho bệnh nhi)
Đối với các phản ứng dị ứng nghiêm trọng hơn, tiêm epinephrine dưới da (0.3 mL 1: 1000 pha loãng) và theo dõi chặt chẽ Corticosteroid (125 mg ethylprednisolone
IV hoặc 60 mg prednisone uống) nên dùng cho bệnh nhân có phản ứng dị ứng nghiêm trọng (ví dụ, suy hô hấp, hạ huyết áp)
Những gợi ý sau có thể giúp tránh các biến chứng liên quan đến việc sử dụng thuốc gây tê cục bộ, đặc biệt là ở những bệnh nhân cấp cứu:
Chú ý tiền sử dị ứng thuốc
số lượng và loại thuốc gây mê được sử dụng trong các thủ thuật
kiểm tra nguy cơ dị ứng
Không sử dụng chống loạn nhịp nhóm IB (phenytoin) cho cơn co giật hoặc rối loạn nhịp tim được cho là do ngộ độc cocaine
Chú ý dấu hiệu hoặc triệu chứng thần kinh có thể là biểu hiện nhiễm độc thuốc gây
tê
Biết liều độc của thuốc gây tê cục bộ được sử dụng Sử dụng nồng độ thấp nhất mà vẫn cho kết quả tốt Thêm epinephrine theo tỷ lệ 1: 200.000 để làm chậm sự hấp thu vào mạch thông qua tác dụng co mạch
Mô tả các triệu chứng sớm của quá liều gây tê cục bộ cho bệnh nhân và hướng dẫn
họ thông báo cho bác sĩ nếu có bất cứ phản ứng gì Hãy chắc chắn rằng bệnh nhân hiểu được tác dụng của thuốc tê tại chỗ và họ nên nói cho bác sĩ nếu các triệu
chứng xảy ra
Trang 12phương pháp tiêm cẩn thận có thể giúp ngăn ngừa các phản ứng độc hại thể tích (>
5 ml) tiêm chậm, mỗi lần 3 mL Dừng lại để hút và quan sát xem có máu trong ống tiêm sau mỗi 3 ml tiêm Tiêm thuốc tê cục bộ theo cách này làm giảm nguy cơ tiêm vào nội mạch số lượng lớn
chú ý nói chuyện với bệnh nhân trong suốt quá trình gây tê Điều này giúp phát hiện các triệu chứng tinh tế, chẳng hạn như loạn ngôn, rối loạn tâm thần
Dùng kèm benzodiazepin thường nâng ngưỡng ngộ độc thần kinh trung ương nên nhièu khi sẽ có biểu hiện độc tính trên tim mạch mà không có dấu hiệu độc tính trên thần kinh trung ương
Pentobarbital (Nembutal)
Một barbiturat tác dụng ngắn với tính chất an thần, gây ngủ và chống co giật
Người lớn
Ban đầu: 100 mg IV hoặc 150-200 mg IM
Không quá 500 mg
10-15 mg / kg tĩnh mạch trong 30 phút; sau đó 5 mg / kg IV mỗi 1hr - 3 liều
Duy trì: 1 mg / kg / hr IV; có thể tăng tới 2-4 mg / kg / giờ
Suy thận, suy gan
Sử dụng liều thấp hơn
Trang 13Trẻ em
Gây ngủ
2-6 mg / kg, tiêm bắp một lần; không vượt quá 100 mg
An thần trước thủ thuật
2-6 mg / kg, tiêm bắp hoặc
1-3 mg / kg IV
Không quá 100 mg IM
Phenobarbital (Luminal)
Phenobarbital cản trở việc truyền các xung động từ đồi thị tới vỏ não
phenobarbital thường được sử dụng khi các benzodiazepin không cắt được cơn co giật
Người lớn
trạng thái co giật
Thường được sử dụng sau khi benzodiazepines và phenytoin không cắt được cơn
15-18 mg / kg IV tới 25-60 mg / phút; chuẩn bị để hỗ trợ thông khí; có thể lặp lại trong 20 phút, không vượt quá 30 mg / kg
Co giật
Tất cả các loại rối loạn co giật, tăng trương lực, giật cơ
Trang 141-3 mg / kg / ngày PO / IV, chia làm 1-2 liều;
An thần
30-120 mg / ngày uống chia 2 -3 lần; không vượt quá 400 mg / ngày
Gây ngủ
100-320 mg / ngày PO / IV / IM; không dùng > 2 tuần
Mất ngủ
100-200 mg chia 2 lần PO; không vượt quá 400 mg / ngày
Cân nhắc dùng thuốc
Chống động kinh, co giật: 10-40 mcg / L (43-172 micromol / L)
Liều hàng ngày duy nhất nên dùng trước ngủ vì gây ngủ
Trẻ em
trạng thái động kinh
Trẻ sơ sinh và trẻ em: 15-20 mg / kg IV truyền với tốc độ không quá 2 mg / kg / phút; không vượt quá 1000 mg / liều
<60 kg: IV <30 mg / phút
Trang 15Có thể lặp lại với liều bolus 5-10 mg / kg sau 15-30 phút; không vượt quá 40 mg /
kg
Động kinh
Trẻ sơ sinh (<28 ngày): 3-5 mg / kg / ngày IV / PO chia 1-2 liều
Trẻ sơ sinh: 5-6 mg / kg / ngày IV / PO chia 1-2 liều
1-5 tuổi: 6-8 mg / kg / ngày IV / PO chia 1-2 liều
6-12 tuổi: 4-6 mg / kg / ngày IV / PO chia 1-2 liều
> 12 tuổi: 1-3 mg / kg / ngày IV / PO chia 1-2 liều, hoặc 50-100 mg chia 2-3 lần
An thần
2 mg / kg PO chia 3 lần
Gây ngủ
3-5 mg / kg PO
An thần trước phẫu thuật
1-3 mg / kg / IV / IM 1-1,5 giờ trước khi làm thủ thuật