1.2.3 Tái chế Tái chế là một việc làm thực tế phục hồi nguồn tài nguyênđề cập đến việc thu thập và tái sử dụng các vật liệu phế thải như thùng chứa đồ uống rỗng, Các vật liệu mà từ đó đư
Trang 1ản lý sinh thái và Đề án Kiểm toán
Trang 2Mục lục
1.1 Lịch sử 1
1.1.1 ời kỳ hiện đại 1
1.2 Các phương pháp xử lý 1
1.2.1 Chôn lấp chất thải 1
1.2.2 Đốt chất thải 2
1.2.3 Tái chế 2
1.2.4 Đổ thải ra Đại dương 3
1.2.5 Phát triển bền vững 3
1.3 Lợi ích 4
1.4 Nguyên tắc trung tâm của quản lý chất thải 4
1.5 Chú thích 4
1.6 am khảo 5
2 ản lý sinh thái và Đề án Kiểm toán 6 2.1 EMAS Regulation: Structure 6
2.2 Triển khai thực hiện EMAS 6
2.2.1 Các thông số đặc trưng chính của EMAS 7
2.3 EMAS và ISO 14001 8
2.4 Lợi ích và kinh phí của EMAS 8
2.4.1 Những lợi ích chính 8
2.4.2 Chi phí 8
2.5 Giải thưởng EMAS 8
2.6 Sự phát triển của EMAS 9
2.7 am khảo 9
2.8 Liên kết ngoài 9
2.9 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 10
2.9.1 Văn bản 10
2.9.2 Hình ảnh 10
2.9.3 Giấy phép nội dung 10
i
Trang 3Chương 1
Quản lý chất thải
Thùng rác xanh tại Berkshire , Anh
ản lý ất thải (tiếng Anh: Waste management) là
việc thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế, loại bỏ hay
thẩm tra các vật liệu chất thải ản lý chất thải thường
liên quan đến những vật chất do hoạt động của con
người sản xuất ra, đồng thời đóng vai trò giảm bớt ảnh
hưởng của chúng đến sức khỏe con người,môi trường
hay tính mỹ quan ản lý chất thải cũng góp phần
phục hồi các nguồn tài nguyên lẫn trong chất thải
ản lý chất thải có thể bao gồmchất rắn,chất lỏng,
chất khíhoặcchất thải phóng xạ, mỗi loại được quản
lý bằng những phương pháp và lĩnh vực chuyên môn
khác nhau
Cách quản lý chất thải có phần khác nhau tại những
quốc gia phát triểnvàđang phát triển, tại khu vực đô
thị và nông thôn, và tùy vào loại hình sản xuất dân
dụng hay công nghiệp ản lý chất thải vô hại từ đối
tượng hành chính và dân dụng ở các vùng đô thị thường
là trách nhiệm của cơ quan chính quyền địa phương,
trong khi quản lý chất thải vô hại từ đối tượng thương
mại và công nghiệp thường là trách nhiệm của nhà sản
xuất
1.1 Lịch sử
Trải qua phần lớn lịch sử, lượng rác thải con người thải
ra là không đáng kể do mật độ dân số thấp và mức độ khai tháctài nguyên thiên nhiênthấp Chất thải phổ biến phát sinh trong thời kỳ tiền hiện đại là tro và chất thải có thể phân hủy sinh học từ con người, và những chất thải này được thải trở lại đất, với rất ít tác động đến môi trường Các công cụ làm bằng gỗ hoặc kim loại nhìn chung được tái sử dụng hoặc sử dụng qua nhiều thế hệ
Tuy nhiên, một vài nền văn minh có vẻ đã hoang phí hơn về rác thải đầu ra của họ so với các nền văn minh khác Đặc biệt,văn minh Mayaở Trung Mỹ đã có một nghi lễ cố định hàng tháng, theo đó dân làng thu gom
và đốt các đống rác lớn.[1]
1.1.1 Thời kỳ hiện đại
Sau sự khởi đầu của cuộccách mạng công nghiệpvà
sự phát triển đô thị bền vững của các trung tâm dân số lớn ởAnh, sự tích tụ rác thải trong các thành phố đã gây nên sự suy giảm nhanh chóng về mức độ vệ sinh môi trường và chất lượng cuộc sống chung của người dân đô thị Các đường phố trở nên nghẹt thởi với rác
do thiếu các quy định về dọn dẹp rác thải.[2] Việc kêu gọi thành lập cơ quan xử lý chất thải của thành phố đã được tranh luận vào đầu năm 1751 bởi Corbyn Morris ở London, ông đề xuất rằng "…bảo vệ sức khỏe của người dân là điều quan trọng nhất, đề xuất việc dọn dẹp sạch
sẽ thành phố này cần đặt dưới sự quản lý của một cơ quan công quyền thống nhất, và tất cả rác thải được vận chuyển bởiamesđến một khoảng cách xa nhất định trong nước”.[3]
1.2 Các phương pháp xử lý
1.2.1 Chôn lấp chất thải
Một bãi chôn lấp vệ sinh là một phương pháp vệ sinh
và tương đối rẻ tiền của việc xử lý chất thải Các bãi chôn lấp thiết kế kém hoặc quản lý kém có thể tạo ra 1
Trang 42 CHƯƠNG 1 QUẢN LÝ CHẤT THẢI
Báo cáo năm 1842 của Edwin Chadwick , The Sanitary
Condition of the Labouring Population đã có ảnh hưởng trong
việc đảm bảo thông qua dự luận đầu tiên về dọn dẹp chất thải
và đổ thải.
một số tác động xấu đến môi trường như gây bốc mùi,
thu hút sâu bọ, và tạo ra nước rỉ rác Một sản phẩm phổ
biến nữa của các bãi chôn lấp là khí (chủ yếu bao gồm
khímethanevàcarbon dioxide).Khí này có thể tạo ra
các vấn đề mùi, diệt thảm thực vật bề mặt và là một khí
gâyhiệu ứng nhà kính.[4]
Đặc điểm thiết kế của một bãi chôn lấp hợp vệ sinh và
hiện đại bao gồm các phương pháp để ngăn nước rỉ rác
(leachate)ngấm vào nước ngầm bằng cách tạo một lớp
đất sét hoặc vật liệu nhựa lót dưới đáy Chất thải được
đầm chặt thành từng lớp để tăng mật độ và sự ổn định
của nó tránh gây sụp lún và che chắn không để thu hút
sâu bọ, chuột Đồng thời bãi chôn lấp hợp vệ sinh cũng
cần có hệ thống khai thác khí được cài đặt để trích xuất
các khí bãi rác Khí được thu giữ bằng đường ống đục
lỗ được hút ra ngoài hoặc bị đốt cháy trong mộtđộng
cơxăng để tạo ra điện Sau khi bãi chôn lấp hợp vệ sinh
đầy, nó được niêm phong bằng một lớp dày đất, và bề
mặt nghiêng một độ dốc nhẹ để nước mặt không bị ứ
đọng, rò rỉ vào bên trong
1.2.2 Đốt chất thải
Đốt là một phương pháp xử lý trong đó chất thải rắn
hữu cơphải chịu đốt để chuyển đổi thành cặn và các
sản phẩm khí á trình này làm giảmthể tíchchất
thải rắn đến 20 đến 30 phần trăm thể tích ban đầu Lò đốt rác chuyển đổi chất thải thànhnhiệt,khí đốt,hơi nướcvàtro iêu hủy được thực hiện cả ở quy mô nhỏ của các cá nhân và trên quy mô lớn của ngànhcông nghiệp Nó được sử dụng để xử lý chất thảirắn,lỏng,
khí Nó được công nhận là một phương pháp thực tế để
xử lý một số chất thải nguy hại (như chất thải y tế) Đốt là phương pháp xử lý chất thải phổ biến ở cácquốc gia Châu Âu,Nhật Bản, nơi mà đất đai khan hiếm, vì các
cơ sở này thường không đòi hỏi nhiều diện tích như các bãi chôn lấp Xử lý chất thải thành năng lượng (WTE) hoặcnăng lượngtừ chất thải (EFW) là những thuật ngữ rộng cho các cơ sở đốt chất thải trong lò hoặc lò hơi để tạo ra nhiệt, hơi nước hoặcđiện
Tuy nhiên Đốt không phải là phương pháp hoàn hảo và
đã có những lo ngại về các chấtô nhiễmtrong khí thải
lò đốt, những khí này góp phần gây ô nhiễm không khí
Ở nhiệt độ vừa phải, đốt cũng có thể sản xuất một loạt các loại khí độc hại, tùy thuộc vào những gì được đốt cháy Ví dụ, nhựa khi bị đốt cháy có thể tạo ra khí clo và axit clohydric, cả hai đều là chất độc hại, ăn mòn, hoặc chết người, đốt cháy các chất hữu cơ lưu huỳnh tạo khí sulfur dioxide (SO2) Trong những năm gần đây công nghệ đốt đã được cải thiện, hiện đại, nhiệt độ trong lò đốt rất cao (lên đến 1700 ℃, hoặc 3000 ℉) phá vỡ các hợp chất độc hại
1.2.3 Tái chế
Tái chế là một việc làm thực tế phục hồi nguồn tài nguyênđề cập đến việc thu thập và tái sử dụng các vật liệu phế thải như thùng chứa đồ uống rỗng, Các vật liệu
mà từ đó được tái chế thành cácsản phẩmmới.Nguyên liệuđể tái chế có thể được thu thập một cách riêng biệt
từ chất thải chung, sử dụng các thùng chuyên dụng và
xe thu gom Ở một số nơi, chủ sở hữu của các chất thải được yêu cầu phân loại vật liệu vào thùng khác nhau (ví dụ nhưgiấy,nhựa,kim loại), một số nơi khác, tất cả các vật liệu tái chế được đặt trong một thùng duy nhất
và việc phân loại được xử lý sau tại cơ sở trung tâm.[5]
Các sản phẩm tiêu dùng phổ biến nhất được tái chế bao gồm:nhômtừ lon nước giải khát,đồngtừ dây,théptừ bình phun, chai lọ thủy tinh, hộp bìa, báo, tạp chí, nhựa PVC Các mặt hàng này thường được làm từ một vật liệu duy nhất, làm cho chúng tương đối dễ dàng để tái chế thành các sản phẩm mới Việc tái chế các sản phẩm phức tạp (như máy tính và thiết bị điện tử) là khó khăn hơn Các loại vật liệu được chấp nhận để tái chế khác nhau theothành phốvà quốc gia Mỗi thành phố và quốc gia có chương trình tái chế khác nhau, có thể xử
lý các loại vật liệu tái chế khác nhau Tuy nhiên, sự thay đổi trong một giới hạn nhất định được phản ánh trong giá trị bán lại của vật liệu khi nó được tái chế
Trang 51.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ 3
1.2.4 Đổ thải ra Đại dương
Một biến thể của đốt trên đất liền là đốt trên tàu trên
cácđại dương Sau đốt, vật liệu không cháy được chỉ
đơn giản là đổ xuống biển Phương pháp này đã được
áp dụng cho các kho dự trữ chất thảihóa họcđặc biệt
nguy hiểm Một báo cáo năm 1981 của Cơ quan Bảo
vệ Môi trường tuyên bố rằng “Nó có một tác động tối
thiểu đến môi trường vì đưa được các phần tử phá hủy
xa nơi dân cư để phát thải và được đại dương hấp thụ",
một lưu ý nữa là lò đốt ngoài khơi “Không phải chịu
các yêu cầu kiểm soát khí thải áp dụng cho các đơn vị
trênđất liền" việc này có thể rất hiệu quả chi phí Tuy
nhiên lượngcarbon dioxidesinh ta trong quá trình đốt
vẫn đi vàokhông khítrên đất, trên mặt nước, nó vẫn
góp phần làm tăng carbon dioxide trongkhí quyển Sự
thật, việc đổ thải phế liệu rắn ra biển chỉ làm chúng
khuất khỏi tầm nhìn của mọi người, nhưng những vật
liệu độc hại có mặt và những chất còn lại sau khi nung
sẽ đóng góp vào sự ô nhiễm của đại dương Cácnhà
khoa học thực sự vẫn chưa biết sản phẩm cuối cùng
của nhiều hóa chất liên quan đến ô nhiễm nguồn nước
eo thời gian, phương pháp này dần không được ưu
chuộng.[6]
Đổ thải ra Đại dương mà không cần đốt cũng đã được
sử dụng đối với chất thảihóa chất, rác thải thành phố,
và rác khác Khả năng ô nhiễm nguồn nước là rõ ràng
Trong một số trường hợp quá trình chuyển dòng đã
mang các chất thải trở lại bờ hơn là phân tán trong các
đại dương như dự định, điều này càng khẳng định sự
nguy hiểm của việc đổ thải ra đại dương các chất thải
chưa qua xử lý Trong cuối những năm 1980, phản đối
công khai qua sự cố chất thải (bao gồm cả kim tiêm, rác
thải y tế) trôi trên bãi biển, gây số lượngvi khuẩncao
khu vực gần bờ, và cái chết của động vật có vú biển
ốc hội đã Ban Đạo luật năm 1988 ra lệnh rằng Đổ
thải ra Đại dương của nước thải ởMỹvà chất thải công
nghiệp sẽ chấm dứt sau năm 1991 Số lượng các quốc
gia công nhận Đổ thải ra Đại dương là một vấn đềô
nhiễmvà cần kết thúc nó ngày càng nhiều.Anhđã kết
thúc đổ chất thải công nghiệp vào đại dương vào năm
1993 Tuy nhiên, việc đổ nước thải vào biển vẫn còn
đang tiếp tục ở một sốnước đang phát triển, nơi các
đạo luậtvềmôi trườngcòn hạn chế
1.2.5 Phát triển bền vững
ản lý chất thải là một thành phần quan trọng
trong một khả năng kinh doanh để duy trì tiêu chuẩn
ISO14001 Các công ty được khuyến khích để nâng cao
hiệu quả môi trường của họ mỗi năm bằng cách loại
bỏ chất thải thông qua thực hành phục hồi tài nguyên,
trong đó có các hoạt động liên quan đến phát triển bền
vững Có một cách để làm điều này là chuyển từ quản
lý chất thải tới thực hành phục hồi tài nguyên như tái
chế các vật liệu: thủy tinh, thức ăn thừa, giấy, chai nhựa
và kim loại
Tái chế sinh học
Vật liệu thu hồi đó là chất hữu cơ trong tự nhiên, như thực vật, thực phẩm, và các sản phẩm giấy, có thể được phục hồi thông quaủvà quy trình tiêu hóa để phân hủy các chất hữu cơ Sau đó các chất hữu cơ được tái chế như mùn hoặc phân hữu cơ cho mục đích nông nghiệp hoặc làm xốp đất Ngoài ra, khí thải từ quá trình (như methane) có thể được bắt và được sử dụng để tạo ra điện và nhiệt Mục đích của xử lý sinh học trong quản
lý chất thải là để kiểm soát và đẩy nhanh quá trình tự nhiên của phân hủy các chất hữu cơ
Phục hồi năng lượng
Phục hồi năng lượng từ chất thải là việc chuyển đổi các vật liệu phế thải không thể tái chế thànhnhiệtsử dụng được,điện, nhiên liệuhoặc thông qua một loạt các quá trình, bao gồm cả đốt, khí hóa, phân hủy yếm khí, và thu hồi khí bãi rác á trình này thường được gọi là chất thải thành năng lượng Phục hồi năng lượng
từ chất thải là một phần của hệ thống phân cấp quản
lý chất thải không nguy hại Sử dụng phục hồi năng lượng để chuyển đổi chất thải không thể tái chế thành điện và nhiệt, tạo ra một nguồn năng lượng tái tạo bù đắp nhu cầu năng lượng từ các nguồn hóa thạch, cũng như giảm khí mêtan từ các bãi rác Trên toàn cầu, hoạt động biến chất thải thành năng lượng chiếm 16% hoạt động quản lý chất thải
Năng lượng của các chất thải có thể được khai thác trực tiếp bằng cách sử dụng chúng như là một nhiên liệu đốt trực tiếp, hoặc gián tiếp bằng cách xử lý chúng thành một loại nhiên liệu khác Xử lý nhiệt như là một nguồn nhiên liệu để nấu ăn hoặc sưởi ấm, cung cấp cho lò hơi
để tạo ra hơi nước và quay tua bin tạo ra điện.Nhiệt phânvàkhí hóalà hai hình thức liên quan đến xử lý nhiệt nơi chất thải được đun nóng đến nhiệt độ cao với hạn chế oxy sẵn có á trình này thường xảy ra trong một thùng đựng nước kín dưới áp suất cao Nhiệt phân chất thải rắn chuyển thành các vật liệu sản phẩm ở các dạng rắn, lỏng và khí Chất lỏng và khí có thể được đốt cháy để tạo năng lượng hay tinh chế thành các sản phẩm hóa chất khác (nhà máy lọc hóa học) Dư lượng rắn có thể được tiếp tục tinh chế thành các sản phẩm như than hoạt tính Khí hóa và khí hóa Plasma tăng cường được sử dụng để chuyển đổi vật liệu hữu cơ trực tiếp thành một khí tổng hợp gồm cacbon monoxide và hydro Khí này sau đó được đốt để sản xuất điện và hơi nước
Giảm thiểu chất thải
Giảm thiểu chất thải là một quá trình có liên quan đến việc giảm lượng chất thải sản xuất trong xã hội và giúp loại bỏ các phát sinh chất thải nguy hại và dai dẳng,
hỗ trợ các nỗ lực thúc đẩy phát triển một xã hội bền vững hơn Một phương pháp quan trọng của quản lý
Trang 64 CHƯƠNG 1 QUẢN LÝ CHẤT THẢI
chất thải là công tác phòng chống chất thải được tạo
ra, còn được gọi là giảm chất thải Phương pháp này
bao gồm tái sử dụng các sản phẩm đã qua sử dụng, sửa
chữa những đồ bị hỏng thay vì mua mới, thiết kế sản
phẩm tái sử dụng, khuyến khích và thiết kế sản phẩm
sử dụng ít vật liệu để đạt được cùng một mục đích (ví
dụ, giảm trọng lượng của lon nước giải khát)
1.3 Lợi ích
Chất thải không phải là cái gì đó nên được loại bỏ hoặc
xử lý mà không liên quan đến việc sử dụng nó trong
tương lai Nó có thể là một nguồn tài nguyên có giá
trị nếu được giải quyết một cách chính xác, thông qua
chính sách và thực hành Với hoạt động quản lý chất
thải hợp lý và nhất quán sẽ cho những lợi ích nhất định
Những lợi ích này bao gồm:
1 Kinh tế - Nâng cao hiệu quả kinh tế thông qua sử
dụng tài nguyên, xử lý, tiêu hủy và tạo ra thị trường
cho tái chế có thể dẫn đến các hành hiệu quả trong sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm Các vật liệu sản phẩm có giá
trị được thu hồi để tái sử dụng tạo mới khả năng việc
làm và cơ hội kinh doanh
2 Xã hội - Bằng cách giảm tác động xấu đến sức khỏe
của hoạt động quản lý chất thải, dẫn đến các khu định
cư hấp dẫn hơn Lợi thế xã hội tốt hơn có thể dẫn đến
các nguồn việc làm mới và có khả năng nâng cộng đồng
thoát khỏi đói nghèo Đặc biệt là ở một số nước đang
phát triển
3 Môi trường - Giảm hoặc loại bỏ tác động xấu đến
môi trường thông qua việc giảm, việc tái sử dụng và tái
chế, giảm thiểu và khai thác tài nguyên Có thể cung
cấp được cải thiện không khí, chất lượng nước, giúp đỡ
trong việc giảm lượng khí thải nhà kính
4 ế hệ tương lai - thực hành quản lý chất thải hiệu
quả có thể cung cấp các thế hệ tiếp theo một nền kinh
tế mạnh mẽ hơn, một xã hội công bằng hơn, toàn diện
hơn và một môi trường sạch hơn
1.4 Nguyên tắc trung tâm của quản
lý chất thải
Có một số khái niệm về quản lý chất thải khác nhau
giữa các quốc gia hoặc khu vực Một cách chung nhất,
khái niệm sử dụng rộng rãi bao gồm:
1 Hệ thống phân cấp Xử lý chất thải - Các hệ thống
phân cấp chất thải dùng để chỉ giảm chất thải, tái sử
dụng và tái chế, chiến lược quản lý chất thải theo mong
muốn là giảm thiểu chất thải Hệ thống phân cấp chất
thải vẫn là nền tảng của hầu hết các chiến lược giảm
thiểu chất thải Mục đích của hệ thống phân cấp chất
thải là để trích xuất các lợi ích thiết thực nhất từ các
sản phẩm và để tạo ra số tối thiểu chất thải, phục hồi
tài nguyên Các hệ thống phân cấp chất thải được biểu diễn như là một kim tự tháp Tiền đề cơ bản là chính sách phải hành động đầu tiên là ngăn chặn tạo ra chất thải Bước tiếp theo là để giảm phát sinh chất thải tức là bằng cách tái sử dụng Tiếp theo là tái chế sẽ bao gồm
ủ Sau bước này là phục hồi nguyên liệu và chất thải thành năng lượng Năng lượng có thể được phục hồi
từ quá trình đốt bãi rác Hành động cuối cùng là xử lý, trong các bãi chôn lấp hoặc đốt mà không cần phục hồi năng lượng Các hệ thống phân cấp chất thải đại diện cho sự tiến triển của một sản phẩm hoặc các tài liệu thông qua các giai đoạn tuần tự của kim tự tháp của quản lý chất thải Từ trên đỉnh xuống dưới chân kim tự tháp theo thứ tự là những giải pháp tối ưu đến ít tối ưu
2 Vòng đời của một sản phẩm - Các chu kỳ sản phẩm bắt đầu với thiết kế, sau đó tiến hành quá trình sản xuất, phân phối, sử dụng và sau đó qua các giai đoạn sau hệ thống phân cấp chất thải của tái sử dụng, thu hồi, tái chế và xử lý Mỗi giai đoạn trên của chu kỳ sản phẩm tạo cơ hội cho chính sách can thiệp, phải suy nghĩ sự cần thiết cho các sản phẩm, thiết kế để giảm thiểu khả năng lãng phí, để mở rộng việc sử dụng nó Điều quan trọng sau vòng đời của một sản phẩm là tối ưu hóa việc
sử dụng lại nó và hạn chế chất thải không cần thiết
3 Sử dụng hiệu quả Tài nguyên - tăng trưởng, phát triển kinh tế toàn cầu hiện tại không thể được duy trì với các mô hình sản xuất và tiêu thụ hiện nay Trên toàn cầu, chúng tôi được chiết xuất thêm nguồn lực để sản xuất hàng hóa Hiệu quả là giảm tác động môi trường
từ sản xuất và tiêu thụ của các mặt hàng, từ khai thác nguyên liệu cuối cùng để sử dụng và xử lý
Nguyên tắc Gây ô nhiễm phải trả tiền - những người gây ô nhiễm phải trả tiền cho các hoạt động phục hồi môi trường, quản lý chất thải
1.5 Chú thích
[1] Barbalace, Roberta Crowell (tháng 8 năm 2003).“e History of Waste” EnvironmentalChemistry.com Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2013
[2] Florence Nightingale, Selected Writings of Florence Nightingale, ed Lucy Ridgely Seymer (New York: e Macmillan Co., 1954), pp 382 87
[3] Herbert, Lewis (2007).“Centenary History of Waste and Waste Managers in London and South East England”
Chartered Institution of Wastes Management [4] Montgomery 2013, tr 387
[5] Montgomery 2013, tr 381 [6] Montgomery 2013, tr 378
Trang 71.6 THAM KHẢO 5
1.6 Tham khảo
• Montgomery, Carla W (2013), Environmental
Geology (ấn bản 9), tr 576,ISBN 0073524115
• Waste = Food Documentary- A documentary on
the Cradle to Cradle design concept of Michael
Braungart and William McDonough
• Envirowise UK Portal
• Clean Pyrolysis an alternative approach from
Intervate
• Gasoline from Vinegar | MIT Technology Review
Trang 8Chương 2
Quản lý sinh thái và Đề án Kiểm toán
ản lý sinh thái và Đề án Kiểm toán (EMAS) là một
công cụ quản lý môi trường tự nguyện, được phát triển
vào năm 1993 bởi Ủy ban châu Âu Nó cho phép các
tổ chức để đánh giá, quản lý và liên tục cải thiện môi
trường của họ Các chương trình được áp dụng trên
toàn cầu và mở cửa cho tất cả các tổ chức tư nhân và
công cộng Để đăng ký EMAS, tổ chức phải đáp ứng
các yêu cầu của y chể Ủy ban châu Âu về EMAS[1]
Hiện nay, có hơn 4.600 tổ chức và hơn 7.900 trang web
đã đăng ký EMAS[2]
2.1 EMAS Regulation: Structure
y chế EMAS EU đòi hỏi 52 điều khoản và 8 phụ lục:
• Chương 1: Những quy định chung Chương II:
Đăng ký của các tổ chức
• Chương III: Nghĩa vụ của các tổ chức đăng ký
• Chương IV: y định áp dụng đối với cơ quan có
thẩm quyền
• Chương V: Bộ kiểm tra môi trường Chương VI:
Các cơ quan chứng nhận và cấp phép
• Chương VII: y định áp dụng đối với các nước
thành viên
• Chương VIII: y định áp dụng đối với các Ủy ban
• Chương IX: Điều khoản cuối cùng
• Phụ lục I: Tổng quan về môi trường
• Phụ lục II: Yêu cầu hệ thống quản lý môi trường
(dựa trên tiêu chuẩn EN ISO 14001: 2004) và các
vấn đề khác sẽ được giải quyết bằng cách tổ chức
thực hiện EMAS
• Phụ lục III: Kiểm toán môi trường nội bộ
• Phụ lục IV: Báo cáo môi trường
• Phụ lục V: Logo của EMAS
• Phụ lục VI: Yêu cầu ông tin đăng ký
• Phụ lục VII: Khai báo xác minh môi trường cho các
hoạt động kiểm tra và phê duyệt
• Phụ lục VIII: Bảng tương quan (EMAS II / EMAS
III)
Mặc dù EMAS là một quy chế chính thức của EU, nhưng
nó chỉ có giá trị ràng buộc đối với các tổ chức tự nguyện quyết định thực hiện Đề án y chế EMAS bao gồm các yêu cầu hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế về quản lý môi trường, ISO 14001, và yêu cầu bổ sung cho tổ chức đăng ký EMAS như cam kết của thành viên, đảm bảo tuân thủ pháp luật hoặc công bố một báo cáo về môi trường Do yêu cầu bổ sung của nó, EMAS được biết đến như là công cụ cao cấp cho quản lý môi trường[3]
2.2 Triển khai thực hiện EMAS
Để đăng ký với EMAS các tổ chức phải tuân thủ các bước thực hiện như sau (Điều 4 của y chế EMAS):
1 Đánh giá môi trường: phân tích toàn diện ban đầu của các hoạt động, các sản phẩm và dịch vụ của tổ chức và tác động môi trường của họ; lập danh mục pháp luật về môi trường,…v…v…
2 Chính sách môi trường: định nghĩa về mục tiêu môi trường tổng quan của tổ chức; cam kết cải tiến liên tục của hiện trạng môi trường
3 Chương trình môi trường: Mô tả các biện pháp, trách nhiệm và phương tiện để đạt được mục tiêu và môi trường
4 Hệ thống quản lý môi trường: một phần của quản
lý tổ chức kèm theo các cơ cấu, lập kế hoạch hoạt động, trách nhiệm, thực hành, thủ tục, quy trình và các nguồn lực cho phát triển, triển khai thực hiện, đạt được, xem xét và duy trì các chính sách môi trường và quản lý các khía cạnh môi trường
5 Kiểm toán môi trường: hệ thống, tài liệu, đánh giá định kỳ và khách quan về hiện trạng môi trường, hệ thống quản lý của tổ chức và quy trình được thiết kế
để bảo vệ môi trường, thực hiện bởi các kiểm toán viên nội bộ
6 Báo cáo môi trường: thường xuyên báo cáo cho 6
Trang 92.2 TRIỂN KHAI THỰC HIỆN EMAS 7
công chúng một cách đầy đủ về cơ cấu và hoạt động
của tổ chức; chính sách môi trường và hệ thống quản
lý; khía cạnh và tác động môi trường; Chương trình
môi trường, mục tiêu và các thông số; hiện trạng môi
trường và phù hợp với pháp luật về môi trường,….v v…
7 Đăng ký và xác minh: Các bước trên phải được xác
nhận bởi một cơ quan kiểm soát về môi trường có giấy
phép; báo cáo kết quả về môi trường xác nhận cần
phải được gửi cho cơ quan có thẩm quyền EMAS (tồn
tại trong mỗi quốc gia EU) để đăng ký và công bố công
khai trước khi tổ chức có thể sử dụng logo của EMAS
2.2.1 Các thông số đặc trưng chính của
EMAS
ản lý sinh thái và Đề án kiểm toán của EU cung cấp
chỉ số cốt lõi hoặc thông số chỉ thị (KPI) mà các tổ chức
đăng ký có thể đo lường hiện trạng môi trường của họ
và theo dõi cải thiện môi trường liên tục của họ dựa vào
các mục tiêu đề ra
Những lợi ích chủ yếu của các thông số
• Hiện trạng môi trường có thể được xem xét và theo
dõi thường xuyên, tạo tiền đề cho việc ra quyết
định quản lý để cải thiện hiệu trạng
• Hiện trạng cũng có thể được so sánh với đối thủ
cạnh tranh để đi đến một quy chuẩn nhất định
• Việc sử dụng các thông số để theo dõi và báo cáo
nhất quán trong suốt quá trình của một tổ chức
(có khả năng phân tán trên toàn cầu)
Các bên liên quan bên ngoài có thể nắm được cách hoạt
động bảo vệ môi trường của tổ chức và có thể bày tỏ ý
kiến và đề xuất cải tiến
Bộ thông số theo quy chuẩn EMAS
Có hiệu lực vào tháng 1 năm 2010, EMAS III đòi hỏi
các tổ chức đăng ký báo cáo về các chỉ số hoạt động
chủ yếu trong sáu lĩnh vực môi trường chính Các chỉ
số tập trung vào các khía cạnh môi trường và trực tiếp
áp dụng cho tất cả các tổ chức đăng ký EMAS
Hiệu suất năng lượng Tổ chức đăng ký EMAS phải
báo cáo về hai chỉ số hiệu quả năng lượng:
En1: Tổng tiêu thụ năng lượng hàng năm, thể hiện
bằng MWh hoặc GJ
ông số En1 là thước đo năng lượng tiêu thụ, ví dụ
như để sản xuất một sản phẩm nào đó Bằng cách áp
dụng các thông số, tổ chức có thể xác định năng lượng
tại điểm cao nhất, dùng đánh giá các biện pháp có thể
cải thiện và quy chuẩn các quy trình sản xuất của họ cạnh tranh các tổ chức tương tự
EN2: Tỷ lệ phần trăm của En1 từ các nguồn năng lượng tái tạo được sản xuất bởi tổ ức
ông qua việc ứng dụng EN2, tổ chức có thể xem làm thế nào để sử dụng năng lượng cho thân thiện với môi trường hơn Các nguồn năng lượng tái tạo bao gồm:
•Điện:ang điện,Năng lượng gió,ủy điện,Sinh khối
•Nhiệt năng:Năng lượng địa nhiệt,Năng lượng Mặt Trời
Hiệu quả sử dụng nguyên liệu Các thông số môi trường chính EMAS của hiệu quả sử dụng nguyên liệu là:
Ma: Tổng khối lượng hàng năm của các nguyên liệu khác nhau được sử dụng, thể hiện bằng tấn
ông số này rất hữu ích để xác định các nguyên liệu quan trọng nhất được sử dụng và giám sát hiệu quả của các biện pháp cải tiến
Nước Các thông số môi trường chính EMAS của nước là:
W: Tổng lượng nước tiêu thụ hàng năm, thể hiện bằng
m3 Các thông số cho phép các tổ chức nhằm đánh giá sự thành công của các biện pháp để giảm lượng nước tiêu thụ
Chất thải Các thông số môi trường chính EMAS của chất thải là:
WA1: Tổng lượng chất thải hàng năm được phân loại, thể hiện bằng tấn Wa2: Tổng lượng chất thải nguy hại hàng năm, được thể hiện bằng kg hoặc tấn
Chất thải nguy hại gây ra tác động môi trường độc hại Kết quả là các y chế EMAS cần phải minh bạch rõ ràng và chất thải nguy hại phải được báo cáo theo một chỉ số cụ thể
Đa dạng sinh học Các thông số môi trường chính EMAS của đa dạng sinh học là:
B: Diện tích sử dụng đất thể hiện trong m2 Bằng cách sử dụng các chỉ số, các tổ chức có thể bắt đầu theo dõi tác động đến các hệ sinh thái hoặc môi trường sống, thông qua việc sử dụng đất của họ
Khí thải Các thông số môi trường chính EMAS của khí thải là:
Em1: Tổng lượng phát thải hàng năm các loại khí hiệu ứng nhà kính tiêu biểu là CO , được thể hiện bằng tấn
Trang 108 CHƯƠNG 2 QUẢN LÝ SINH THÁI VÀ ĐỀ ÁN KIỂM TOÁN
Lượng phát thải khí hiệu ứng nhà kính (GHG) của một
tổ chức thể hiện sự tác động của tổ chức đó đến môi
trường Các chỉ số không chỉ tập trung vào lượng khí
thải CO2mà còn về khí nhà kính khác (xem danh sách
ở trên)
EM2: Tổng lượng khí thải hàng năm
ông số này yêu cầu tổ chức phải báo cáo về một số
khí thải (xem danh sách ở trên) Sử dụng thông số này
giúp cho các tổ chức hiểu rõ hơn về các tác động của
họ đến chất lượng không khí
2.3 EMAS và ISO 14001
Áp dụng ISO 14001
Hầu hết tất cả các tổ chức được liệt kê vào danh sách
của EMAS đều vận hành một hệ thống quản lý môi
trường theo như nhu cầu của EMAS Bởi vì ISO 14001
là một bộ phận không thể thiếu của EMAS, các tổ chức
này tự động tuân theo những thủ tục cũng như những
yêu cầu về tiêu chuẩn quốc tế Tuy nhiên, những tổ
chức đã được liệt kê vào danh sách EMAS đều hoàn
thành yêu cầu vượt trội hơn cả mục tiêu của ISO 14001
Các tổ chức được đăng ký vào EMAS đã chứng minh
điều đó.[4]
Sự tín nhiệm: việc thực hiện đầy đủ và thích hợp của
EMAS đã được đánh giá bởi chất lượng và không phụ
thuộc vào những thanh tra kiểm định môi trường
Tính rõ ràng, minh bạ: thông qua việc thực hiện về
môi trường của họ trong các báo cáo định kỳ Những
báo cáo này bao gồm những thông tin trong việc thực
hiện chính của người chỉ thị Những báo cáo này nên
được phê chuẩn thông qua thanh tra môi trường
á trình tiến hành việc cải thiện: được thông qua lời
cam kết của chính bản thân họ trong công việc ở môi
trường thực tế Hiệu suất làm việc cũng được đánh giá
bởi các chuyên gia môi trường ISO 14001 là những yêu
cầu duy nhất để cải thiện hệ thống quản lý môi trường
Sự ấp thuận: được thông qua việc thực hiện đầy đủ
trong việc áp dụng quyền lập pháp về môi trường
Lời cam kết của các đơn vị liên quan: bao gồm các công
nhân và các đơn vị liên quan khác để mang lợi nhuận
đến từ sự tận tụy của họ, những ý kiến, những kĩ năng
và những kinh nghiệm mà họ có được
2.4 Lợi ích và kinh phí của EMAS
EMAS là một nhãn sinh thái toàn diện và mà việc thực hiện đòi hỏi một số nguồn lực tài chính và nhân sự nhất định Đổi lại, EMAS giúp cho các tổ chức có nhiều lợi thế để vượt qua khó khăn về tài chính[5] Cũng như thay đổi để cải thiện hiệu suất riêng biệt của mỗi tổ chức và phải xem xét các yếu tố môi trường và kinh
tế khác nhau Do sự không đồng nhất trên của các tổ chức đăng ký nên việc tính toán lợi ích trung bình và chi phí của EMAS là gần như không khả thi Những lợi ích tài chính của một tổ chức đăng ký EMAS có thể khác nhau ở mỗi nước Ví dụ như một số nước cho cắt giảm đáng kể các chi phí không có lợi, giảm chi phí cấp phép và thủ tục cấp phép nhanh hơn Tuy nhiên, một
số nghiên cứu cung cấp các điểm tham chiếu về lợi ích
và chi phí[6][7] Năm 2009, EU công bố nghiên cứu về các chi phí và lợi ích EMAS để tổ chức có thể dự trù và đăng ký vào EMAS Các kết quả của nghiên cứu này được tóm tắt trong tập thông tin sau[8][9]
2.4.1 Những lợi ích chính
• Các hoạt động môi trường và tài chính thông qua một
hệ thống chuẩn: ví dụ: tăng nguồn lực và hiệu quả năng lượng, giảm chất thải
• ản lý rủi ro và cơ hội: ví dụ: tuân thủ pháp luật, cứu trợ pháp lý
• Sự tin cậy, minh bạch và uy tín: ví dụ: tuyên bố về môi trường, các chỉ số hoạt động quan trọng, kiểm tra
và phê chuẩn qua bộ thẩm tra môi trường độc lập
• Tạo động lực và quyền hạn cao hơn cho nhân viên:
VD cải thiện nhận thức và làm việc nhóm của đội ngũ nhân viên
2.4.2 Chi phí
• Chi phí cố định: lệ phí xác nhận và xác minh, lệ phí đăng ký, tích hợp logo EMAS vào thiết kế của công ty
• Chi phí phát sinh: tư vấn chuyên môn để hỗ trợ thực hiện và báo cáo, thường không bắt buộc nhưng gấp cần thiết
• Chi phí nội bộ: nhân lực và kỹ thuật cần thiết cho việc thực hiện, quản lý và báo cáo
2.5 Giải thưởng EMAS
Giải thưởng EMAS[10]khen ngợi nỗ lực về bảo vệ môi trường được thực hiện bởi EMAS EU đã đưa ra những