1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG Cơ sở trắc địa và bản đồ biển.

21 266 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 44,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: Bản đồ địa hình đáy biển có phải hải đồ không? Tại sao? Hải đồ là bản đồ địa hình đáy biển. Nhưng mục đích của bản đồ địa hình đáy biển không chỉ sử dụng với mục đích dẫn đường mà còn dùng cho nhiều ngành khác với nhiều mục đích khác. Có ba yêu cầu phân loại đáy biển, đó là: Hải đồ; Phục vụ thương mại hoặc môi trường; Phục vụ quân sự. Hải đồ: Đây là phương pháp phân loại tương đối đơn giản, sử dụng biểu đồ hàng hải chủ yếu là mục đích dẫn đường. Thủy thủ sử dụng biểu đồ hàng hải với múc đích: Tìm nơi neo đậu; Loại cầu tàu và nơi đó có bao nhiêu chỗ neo đậu Giúp đánh giá mức an toàn neo đậu Khả năng cung cấp một tư vấn dẫn đường. Thương mại Môi trường: Một phân loại chi tiết hơn, thường sử dụng phần mềm xử lý với mục đích: Xác định địa điểm các giàn khoan dầu, đèn biển hoặc đèn hiệu trên biển, các đê biển, thăm dò khoáng sản, đánh bắt thủy hải sản. Quân sự: Đây là sự kết hợp của bốn loại hình cơ bản về đáy biển với dữ liệu chi tiết và bổ sung các thuộc tính. Quân đội cần các thông tin này để: tiến hành hoạt động đổ bộ, có biện pháp đối phó chống đổ bộ, hoặc sử dụng địa hình để phòng thủ quốc phòng, tàu ngầm và chống tàu ngầm, thủy lôi và chống thủy lôi. Câu 2: Chức năng chính của máy quét sonar trong đo đạc thủy văn? Các chức năng chính của máy quét sonar trong đo đạc thủy văn: Phát hiện xác tàu và các vật cản dòng âm thanh của máy hồi âm. Mặc dù vị trí chính xác và độ sâu khôngthể xác định bằng SSS, nhưng một máy SSS được điều chỉnh đúng cách và biết vận hành sẽ phát hiện hầu hết những khiếm khuyết của hệ thống dò âm đa tia. SSS còn cung cấp một số lượng đáng kể các thông tin khác từ đáy biển. Các dữ liệu này, khi kết hợp với các mẫu thăm dò đáy biển tại những đường đẳng sâu, sẽ cung cấp thông tin để phân loại đáy biển. Đồng thời cung cấp thông tin đáng kể cho các hoạt động quân sự như: phạm vi hoạt động của tàu đổ bộ tấn công nhanh, phạm vi rải mìn hoặc thủy lôi, phạm vi hoạt động của tàu ngầm, ... Phát hiện các đặc trưng đáy biển. Nếu máy scan sonar được sử dụng đúng cách sẽ phát hiện các dấu hiệu rất nhỏ dưới đáy biển, trong khi lại ít gây nguy hiểm cho bản thân tàu. Hệ thống SSS có tầm quan trọng đáng kể trong hoạt động của tàu ngầm và hoạt động dò thủy lôi trên biển. Việc phân loại đáy biển phụ thuộc vào các dữ liệu thu thập được và kiến thức về cấu tạo đáy biển. Việc kết hợp chúng rất quan trọng đối với các hoạt động của tàu ngầm và dò thủy lôi, đối với hoạt động nuôi thủy sản và phát triển tài nguyên biển. Việc phát hiện các vùng biến động của đáy biển như cồn cát trong các tuyến vận tải biển là rất quan trọng. Trên các tuyến vận tải biển, phải định kỳ tái khảo sát để đảm bảo an toàn hàng hải.

Trang 1

Cơ sở trắc địa và bản đồ biển.

Câu 1: Bản đồ địa hình đáy biển có phải hải đồ không? Tại sao?

Hải đồ là bản đồ địa hình đáy biển Nhưng mục đích của bản đồ địa hình đáy biển khôngchỉ sử dụng với mục đích dẫn đường mà còn dùng cho nhiều ngành khác với nhiều mụcđích khác

Có ba yêu cầu phân loại đáy biển, đó là: Hải đồ; Phục vụ thương mại hoặc môi trường;Phục vụ quân sự

- Hải đồ: Đây là phương pháp phân loại tương đối đơn giản, sử dụng biểu đồ hànghải chủ yếu là mục đích dẫn đường Thủy thủ sử dụng biểu đồ hàng hải với múcđích: - Tìm nơi neo đậu; - Loại cầu tàu và nơi đó có bao nhiêu chỗ neo đậu - Giúpđánh giá mức an toàn neo đậu - Khả năng cung cấp một tư vấn dẫn đường

- Thương mại/ Môi trường: Một phân loại chi tiết hơn, thường sử dụng phần mềm

xử lý với mục đích: Xác định địa điểm các giàn khoan dầu, đèn biển hoặc đèn hiệutrên biển, các đê biển, thăm dò khoáng sản, đánh bắt thủy hải sản

- Quân sự: Đây là sự kết hợp của bốn loại hình cơ bản về đáy biển với dữ liệu chitiết và bổ sung các thuộc tính Quân đội cần các thông tin này để: tiến hành hoạtđộng đổ bộ, có biện pháp đối phó chống đổ bộ, hoặc sử dụng địa hình để phòngthủ quốc phòng, tàu ngầm và chống tàu ngầm, thủy lôi và chống thủy lôi

Câu 2: Chức năng chính của máy quét sonar trong đo đạc thủy văn?

Các chức năng chính của máy quét sonar trong đo đạc thủy văn:

- Phát hiện xác tàu và các vật cản dòng âm thanh của máy hồi âm Mặc dù vị tríchính xác và độ sâu khôngthể xác định bằng SSS, nhưng một máy SSS được điềuchỉnh đúng cách và biết vận hành sẽ phát hiện hầu hết những khiếm khuyết của hệthống dò âm đa tia

- SSS còn cung cấp một số lượng đáng kể các thông tin khác từ đáy biển Các dữliệu này, khi kết hợp với các mẫu thăm dò đáy biển tại những đường đẳng sâu, sẽcung cấp thông tin để phân loại đáy biển

- Đồng thời cung cấp thông tin đáng kể cho các hoạt động quân sự như: phạm vihoạt động của tàu đổ bộ tấn công nhanh, phạm vi rải mìn hoặc thủy lôi, phạm vihoạt động của tàu ngầm,

- Phát hiện các đặc trưng đáy biển Nếu máy scan sonar được sử dụng đúng cách sẽphát hiện các dấu hiệu rất nhỏ dưới đáy biển, trong khi lại ít gây nguy hiểm chobản thân tàu Hệ thống SSS có tầm quan trọng đáng kể trong hoạt động của tàungầm và hoạt động dò thủy lôi trên biển

Trang 2

- Việc phân loại đáy biển phụ thuộc vào các dữ liệu thu thập được và kiến thức vềcấu tạo đáy biển Việc kết hợp chúng rất quan trọng đối với các hoạt động của tàungầm và dò thủy lôi, đối với hoạt động nuôi thủy sản và phát triển tài nguyên biển.

- Việc phát hiện các vùng biến động của đáy biển như cồn cát trong các tuyến vậntải biển là rất quan trọng Trên các tuyến vận tải biển, phải định kỳ tái khảo sát đểđảm bảo an toàn hàng hải

Câu 3: Nguyên lý hoạt động của hệ thống quét sonar trong đo đạc thủy văn?

- Độ lớn của tín hiệu phản hồi bị chi phối bởi một phương trình sóng siêu âm, được

sử dụng để xác định xem điều gì sẽ bị phát hiện và điều gì thì không thể Phươngtrình này chỉ là điểm khởi đầu cho việc xem xét hiệu suất của SSS Nó bỏ qua sựmất mát tín hiệu và vài thông số âm thanh khác

- Vùng phủ sóng tại phạm vi gần máy sonar được xét theo hai mặt Trong mặt phẳngthẳng đứng, chùm tia siêu âmcó chiều rộng 50* và nghiêng so với hướng ngang10* xuống phía dưới Do đó, vùng gần máy sonar thuộc vùng không nhìn thấy Dovậy, máy sonar khi được kéo từ tàu, sẽ lơ lửng trong nước mà không chạm đáybiển nhưng cũng không gần mặt nước Sẽ có một vùng không thể quét được ngaygần phía dưới đáy của máy Trong mặt phẳng nằm ngang, gần “cá kéo” (máysonar) thì các xung âm thanh có dạng song song Khoảng cách giữa các xung âmthanh trong phạm vi gần này là một hàm của tốc độ tàu và tốc độ lặp xung Dovậy, khả năng dò sót các điểm dưới đáy biển thuộc phạm vi gần cá kéo chứ khôngphải phạm vi xa cá kéo

- Diện tích vùng tìm kiếm của sonar Có hai phương pháp lập kế hoạch tìm kiếmbằng sonar

• Phát hiện điểm gần cá kéo Việc tìm kiếm được lên kế hoạch trước để nhằmphát hiện những điểm gần cá kéo với năm xung sonar

• Phát hiện điểm ở xa cá kéo Các điểm có tiết diện nhỏ khi ở xa đầu phát củasonar có thể không nhận diện được Cần điều chỉnh khoảng cách giữa cácvệt quét để đảm bảo không bỏ sót các điểm dưới đáy biển Thông thường,phạm vi quét của sonar khoảng 150m bề ngang Nếu vậy, cần thiết kế cácvệt quét rộng 125m, tức là có 25m chồng lấn giữa hai vệt quét cách nhau

- Phương pháp thứ hai trên đây thường được sử dụng nhiều Phương pháp này cóthể bỏ sót phạm vi gần cá kéo, nhưng nếu thiết kế phương án chạy tàu với tốc độdưới 3,6 hải lý/giờ thì phạm vi 1m gần cá kéo sẽ không bị bỏ sót

- Hiệu suất của hệ thống SSS Về mặt lý thuyết, hiệu suất của hệ thống được khẳngđịnh từ nhà sản xuất Tuy nhiên, để đáp ứng tối đa lợi ích, nên sử dụng sonar haikênh, lắp vào đuôi tàu và kéo nó theo sau

- Vị trí của máy quét sonar Kéo máy quét sonar phía sau tàu có một số lợi ích: Loại

bỏ ảnh hưởng của các cảm biến có trên tàu; hoạt động tại một cột nước độc lập ởphía sau tàu cho phép không bị ảnh hưởng bởi các âm thanh, tiếng động của tàu.Tuy nhiên, vị trí của cá kéo khó xác định chính xác do:

Trang 3

• Thành phần trục tọa độ theo hướng tiến của tàu: Do tàu kéo máy sonar bằngdây cáp, dưới áp lực của dòng nước và sức đẩy của cột nước, cá kéo có thểthay đổi vị trí rất nhiều, tức là vận tốc của cá kéo và vận tốc tàu luôn saikhác nhau

• Thành phần trục tọa độ vuông góc với hướng tàu: do dòng thủy triều hoặc

do tàu cơ động vòng quay đầu Cá kéo bị lệch hướng

• Sai số do xác định vị trí tàu sẽ truyền cho cá kéo

- Vị trí cá kéo có thể xác định bằng sử dụng hệ thống định vị cạnh đáy siêu ngắn,trong đó đầu phát và đầu thu tín hiệu được lắp đặt trên thân tàu và trên cá kéo Tuynhiên, độ chính xác của hệ thống suy giảm nhanh chóng tùy thuộc vào độ dài dâykéo

- Trạng thái của tàu kéo do ảnh hưởng bởi hiện tượng nhồi sóng, nghiêng lắc, xoaychệch hướng cũng làm thay đổi hướng chuyển động của cá kéo Điều này được giatăng khi vận tốc của tàu không ổn định Do vậy, nhất thiết phải thiết kế các vệt tìmkiếm chồng lấn nhau

- Gắn máy quét sonar vào mạn tàu Để giải quyết các lỗi trên, người ta gắn các máyquét sonar vào hai bên mạn tàu Do đó, vị trí và định hướng của sonar được xácđịnh khá chính xác Tuy nhiên, một số bất lợi lại ảnh hưởng đến chất lượng sóngsiêu âm của sonar Bản thân các cảm ứng lắp đặt trên tàu có thể gây nhiễu đến cácsóng siêu âm của sonar Hơn nữa, các sonar lúc này ở cách xa đáy nước là bất lợi

để dò tìm địa vật đáy nước Lắp máy sonar vào mạn tàu chỉ tốt khi hoạt động ởvùng nước nông, hoặc nơi mà đáy biển rất nguy hiểm

Câu 4 Những hạn chế của hệ thống sonar

1/ Sự ổn định về thủy động lực học của cá kéo:

Phần lớn trường hợp là cá kéo hoạt động tách rời chuyển động củatàu Bản thân cá kéo cũng bị ảnh hưởng bởi các hiện tượng như roll,pitch, heading giống như tàu Vì thế, giải pháp sonar kênh đôi nhằmcung cấp sự so sánh giữa kênh này với kênh kia để nhận dạng địa hìnhđúng là điều cần thiết Trường hợp một kêch sonar không thể cho hìnhảnh nhận diện đáy biển, thì buộc phải dùng kênh còn lại Lúc này phảihiệu chỉnh hiện tượng nhồi sóng và xoay chệch hướng, Như vậy, với độrộng chùm tia hẹp đi trong mặt phẳng ngang, những biến động này cóthể làm giảm khả năng phát hiện những chi tiết nhỏ của đáy biển

2/ Vấn đề vị trí của sonar:

Vấn đề ổn định của cá kéo ít quan trọng hơn vấn đề vị trí của nó.Trong điều kiện biển động, có thể nhìn thấy rõ những dao động trong

Trang 4

vết quét của cá kéo Người ta chú ý đến khả năng quét dò tìm đáy biểncủa sonar nhiều hơn khả năng hồi âm đa tia trên tàu Do vậy, vấn đề vịtrí của sonar là yếu điểm của nó

3/ Chiều cao của cá kéo:

Đối với hầu hết các độ sâu đáy biển cần khảo sát, độ sâu của cákéo là 10% cách đáy biển là hợp lý Ví dụ, độ sâu đáy biển là 150m thì

độ sâu cá kéo là 15m tính từ đáy biển Khi đầu cá kéo hơi hướng xuốngdưới, sóng siêu âm phản hồi bị suy giảm rất nhiều Khi đầu cá kéohướng lên, sóng siêu âm không hình thành được phía sau chướng ngạivật, làm cho nó khó phát hiện hơn

4/ Trong vùng nước nông:

Cần giảm phạm vi quét và khoảng cách giữa các vệt quét Bởi vìkhi cá kéo quá gần đáy biển, các hình ảnh mà nó cung cấp sẽ có rấtnhiều thiếu sót Trong vùng nước nông, các đầu dò hồi âm rất gần cápkéo máy sonar, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng siêu

âm của máy

5/ Điều chỉnh độ sâu của máy:

Người điều khiển cáp kéo máy sonar phải tùy theo địa hình đáybiển để duy trì độ sâu của máy, dây cáp lúc ngắn lúc dài cho phù hợpvới tốc độ tàu và điều kiện địa hình, tránh gây tai nạn cho máy do bị vachạm hoặc vướng vào chướng ngại vật

6/ Đuôi cá kéo:

Một số cá kéo SSS trang bị vây đuôi cá nhằm tăng giảm độ sâutheo ý muốn Lúc này, ảnh hưởng lực kéo đối với cáp trên tàu sẽ thayđổi, làm cho việc điều khiển cáp bằng tay là khó thực hiện Khoảngcách từ cá kéo đến tàu sẽ bị thay đổi do độ sâu cá kéo thay đổi Tốc độcủa tàu cũng có thể thay đổi do độ sâu cá kéo thay đổi Do vậy, chỉthực hiện điều này khi buộc phải vượt qua những nguy hiểm bất ngờ

mà thôi

Trong khi hoạt động gần đáy biển, cá kéo được trang bị một thiết bịngắt hoặc nhả cáp, nhằm đảm bảo rằng khi nó gặp tai nạn, nó sẽkhông làm tàu bị hư hại Sau đó, người ta sẽ thu hồi nó

7/ Hướng kéo:

Trang 5

Khi có ảnh hưởng của thủy triều, hướng kéo nên theo dòng thủytriều mà đi, nhằm giảm tác động của dòng chảy đến khả năng kéo củatàu Nếu không tính đến ảnh hưởng thủy triều, hướng kéo nên theohướng các đường viền độ sâu Điều này có lợi là không phải điều chỉnhphạm vi kéo khi tàu đi qua những địa hình nước nông - sâu khác nhau.Máy quét sonar Trường hợp đụn cát

Trường hợp ngoại lệ Khi khu vực thăm dò có các đụn cát Hướngkéo phải thỏa mãn sao cho vẫn mô tả được các góc khuất của đụn cát

đó Hình 5.10

8/ Phạm vi quét hiệu quả:

Các tín hiệu siêu âm không nhất thiết phản hồi trở lại tất cả Tổnthất truyền tải và nhiễu từ các nguồn khác hạn chế phạm vi quét củasonar Một sonar truyền sóng siêu âm tối đa 270m Với các vật thể nhỏkhoảng 1m, sonar khó phát hiện được sau khoảng cách 150m Kết quảtốt nhất đạt được khi phạm vi khoảng cách 150m và tận dụng lợi thếtần số xung cao để xác định rõ vật thể Trước khi thưc hiện khảo sát,một bài kiểm tra ngắn là cần thiết để kiểm tra sự phù hợp về các điềukiện hoạt động của sonar

Câu 5 Hệ thống hồi âm đa tia

1/ Hệ thống hồi âm đa tia đã chứng minh khả năng đo sâu của nó làvượt trội so với các phương pháp khác Khi một đầu dò được gắn vàothân tàu, có nghĩa là vị trí của nó đã được xác định Với khả năng tạothành từ những tia đơn, hệ thống hồi âm đa tia là công cụ được lựachọn để khảo sát địa hình đáy biển

2/ Khả năng định vị của hệ thống MBES phụ thuộc vào hệ thống định vịtrên tàu, phụ thuộc vào cách xác định vị trí đầu dò so với vị trí đặtantenna máy thu GPS Khả năng xác định đặc trưng đáy biển có thểkhông bằng sonar, nhưng nếu cần người ta có thể nhận dạng tại chỗbằng thợ lặn hoặc tàu lặn không người lái Mục tiêu của MBES là nhậndạng sự biến đổi địa hình dưới đáy biển, chứ không phải là nhận dạngcác vật đặc trưng dưới đáy biển

3/ Phương pháp khảo sát Các yêu cầu đối với hệ thống MBES cho mộtkhảo sát khi được kéo theo hệ thống SSS, thì cũng tương tự như yêucầu đối với hệ thống SBES truyền thống Nghĩa là sử dụng những dòng,tuyến song song nhau vẫn là cách hiệu quả nhất Hướng của tuyến phụthuộc vào yêu cầu của SSS và gần với hướng của thủy triều Bản đồ

Trang 6

đáy biển được biểu diễn giống như một ma trận, bao gồm các điểm đosâu dày đặc, theo hình vuông, phủ kín diện tích cần khảo sát

4/ Khoảng cách các tuyến do sonar yêu cầu, đương nhiên phải đảm bảo

độ chồng lấn Ở vùng biển nông, độ sâu dưới 30m, khả năng nhậndạng đặc trưng đáy biển của hệ thống MBES tốt hơn SSS Do vậy,người kỹ sư trắc địa phải quyết định xem có nên dùng hệ thống SSS tại

đó hay không, có thể chỉ cần MBES độc lập quét đáy biển trong lầnkhảo sát đầu tiên

5/ Hệ thống hồi âm đa tia xác định khoảng cách các tuyến phụ thuộc

độ sâu trung bình trong khu vực khảo sát Nếu có một nơi có độ sâuđáng kể hơn phần còn lại của khu vực khảo sát, thì phải lập ra một khuvực phụ, và chạy tàu theo tuyến cho phù hợp với khu vực phụ đó.Khuyến nghị sử dụng sự chống lấn các tuyến là 25%., hoặc tối thiểu là10%

6/ Khi chỉ có hệ thống MBES khảo sát, việc xác định hướng tuyến hiệuquả nhất là song song với triền dốc hoặc bờ đường cong Tránh hướngvuông góc với bờ dốc Bằng cách này, sự chồng lấn giữa các tuyến sẽ

Câu 6 Cân nhắc khi sử dụng hồi âm đa tia

1/ Mặc dù hồi âm đa tia được sử dụng rộng rãi, việc phát hiện các mốinguy hiểm có kích thước nhỏ lại không phải là lợi thế của hồi âm đa tia

Ví dụ cột buồm của xác tàu đắm Khi hồi âm đa tia quét qua đặc trưngnày, các thuật toán khử nhiễu sẽ loại bỏ 185 tín hiệu xác định đặctrưng ấy Nếu không áp dụng bộ lọc tín hiệu, thì khả năng sử dụng dữliệu là rất khó khăn

2/ Một yếu tố cơ bản khác của cấu hình MBES, là do các thiết kế khácnhau dẫn tới các mô hình chùm tia khác nhau Điều này có thể để lạicác khoảng trống tương đối lớn giữa các chùm tia giao thoa Vì thế mà

để lọt những vùng không có tia hồi âm Đây là yếu tố vật lý của hệthống

3/ Một cuộc khảo sát cần phải xác minh hiệu suất của hệ thống MBEStrước khi triển khai nó Bao gồm xác định một diện tích đáy biển đãbiết trước, tốc độ ping, tốc độ chạy tàu có ổn định hay không, Nhiều

tổ chức hàng hải vẫn yêu cầu sử dụng hệ thống SSS để nhận diện đặctrưng đáy biển Hệ thống MBES chỉ đo sâu và kiểm tra hệ thống SSS

Trang 7

Câu 7: Trình bày việc lấy mẫu đáy biển trong đo đạc thủy văn?

- Việc lấy mẫu đáy biển thường được thực hiện ở độ sâu chưa tới200m Khi độ sâu lớn hơn 200m, nếu không có nguy hiểm gì vàphương pháp lấy mẫu đã có sẵn, cần phải thu thập mẫu, và việclấy mẫu cần phải tiến hành một cách đều đặn và toàn bộ vùnggần bờ

- Trong quá trình lấy mẫu , con tàu sử dụng cần phải dừng và đảmbảo định vị nơi dừng Thực hiện lấy mẫu bằng đầu ngoạm của tàukhảo sát, chỉ lấy phần lõi của mẫu sau khi lấy lên khỏi mặt biển

- Bản chất việc lấy mẫu đáy biển là tiến hành đều đặn và toàn bộvùng gần bờ Tần số lấy mẫu sẽ khác nhau tùy thuộc vào độ sâu

và mức độ mà nó đồng nhất Sau khi lấy mẫu đáy biển, các mẫu

sẽ được đưa vào mô hình phân loại

- Mục đích của việc lấy mẫu đáy biển:

+ Hỗ trợ việc giải thích bất kỳ hồ sơ quét sonar nào cần;

+ Cung cấp sự thật bề mặt đáy biển và xác nhận mô hình phânloại đáy biển;

+ Cung cấp tư vấn khả năng neo đậu tàu;

+ Cần lấy mẫu đối với tất cả các vùng bờ, bãi cát ngầm, núidưới biển Đặc biệt vùng biển không ổn định;

+ Cần lấy mẫu trên đỉnh và chân núi dưới biển

Mẫu lấy được phải thỏa mãn ba điều kiện:

• Mẫu lấy được là một mẫu hoàn chỉnh

• Vị trí lẫy mẫu chính xác, điều này sẽ cung cấp thông tin điều tra

• Chỉ cần mô tả bằng một từ như : thô, nhỏ …

• Mẫu cần mô tả một cách chung như : đá, bùn…

Hầu hết các mẫu lấy trong tự nhiên thường là hỗn hợp, hiếm khi chỉbao gồm một loại trầm tích Trường hợp khó phân loại, có thể để mẫu

Trang 8

vào giữa hai ngón tay và miết Nếu cảm thấy có sạn , chứng tỏ mẫuđáy biển là cát phù xa, nếu cảm thấy trơn và mềm tức là đất sét.

Câu 8: Các thủ tục liên quan đến lập kế hoạch khảo sát biển?

- Lập kế hoạch khảo sát biển là một thuật ngữ bao gồm toàn bộ quátrình phát triển của một dự án thủy văn, từ khi ra đời cho đến khi chỉđịnh đơn vị khảo sát và lưu trữ dữ liệu khảo sát thủy văn tại văn phòng

cơ quan

- Việc lập kế hoạch khảo sát liên quan tới các thủ tục:

+ Yêu cầu về khảo sát

+ Đặc điểm kĩ thuật của cuộc khảo sát

+ Chỉ định đơn vị thiết kế phương án

+ Lập kế hoạch khảo sát với đơn vị thiết kế

+ Đánh giá các nhiệm vụ đã giao cho đơn vị đó, sau khi căn cứ hồ sơnăng lực

+ Trinh sát thăm dò dự án

+ Phân bố nguồn lực

+ Lập kế hoạch khảo sát chi tiết

+ Ước tình thời gian cần thiết

+ Lập kế hoạch chương trình khảo sát phê duyệt

+ Liên lạc với các cơ quan bên ngoài, nhằm tăng cường sự giám sát và

hỗ trợ khi cần

+ Lập kế hoạch quản lí dự án

+ Lập kế hoạch thu nhận và kiểm tra dữ liệu dự án

- Việc lập yêu cầu khảo sát đối cới mỗi quốc gia là rất khác nhau ỞViệt Nam, đơn vị chủ đầu tư được gọi là A, các nhà thầu được gọi là Bbao gồm: Tư vấn thiết kế, Tư ván giám sát và đơn vị thi công

Trang 9

Câu 9: Nhiệm vụ chính của một cuộc khảo sát gồm những tiêu chí nào?

Các tiêu chí của một cuộc khảo sát bao gồm:

1 Thành lập đơn vị khảo sát

2 Phương pháp giám sát và hiệu chỉnh vị trí tọa độ

3 Tiêu chí của phương pháp đo sâu hồi âm

4 Loại sonar dò tìm

5 Quan trắc và mốc thủy triều

6 Xác tàu đắm và các vật cản

7 Lấy mẫu đáy biển

8 Quan trắc hải dương học

9 Quan trắc dòng thủy triều

10 Quan trắc địa vật lý

11 Địa hình bờ biển và đáy đại dương

12 Đèn biển và phao

13 Hướng chạy tàu và tuyến khảo sát trên biển

14 Tín hiệu vô tuyến

15 Các quan trắc phụ trợ: Bản đồ ảnh theo chiều dọc, chiều đứng,khoảng cách, dòng đầu tiên, đo từ trường, các hiện tượng tự nhiên,

16 Quan trắc kênh dẫn tàu ra vào cảng

Câu 10: Hệ thống thủy âm định vị mặt bằng đáy biển gồm những kỹ thuật nào, kể tên, mô tả và nêu ưu nhược điểm.

Hệ thống định vị bằng âm thanh được phát triển tại Hoa kỳ từ năm

1960 để nghiên cứu và khảo sát biển Hệ thống này có vai trò quantrọng trong định vị trên biển cho các dàn khoan dầu khí và tàu ngầm

Trang 10

Đinh vị thủy âm cho phép cung cấp vị trí điểm với độ chính xác rất caongay cả với khoảng cách lớn từ bờ biển

Đối với ngành dầu khí, việc định vị các giếng dầu cho dù các giànkhoan đã được neo tự động, định vị thủy âm đóng một vai trò đặc biệtquan trọng Hơn nữa, hệ thống GPS có thể bị ảnh hưởng khi các vếtđen trên mặt trời hoạt động Định vị thủy âm cung cấp một lựa chọnhữu ích so với hệ thống GPS

Độ chính xác vị trí điểm trong định vị thủy âm phụ thuộc vào kỹthuật sử dụng, phạm vi và điều kiện môi trường, giá trị trong khoảng từvài mét đến centimet

Các thiết bị định vị thủy âm hoạt động ở một vài băng tần chuẩnsau:

Các kỹ thuật: cạnh đáy dài, cạnh đáy ngắn, cạnh đáy cực ngắn,

và một số kỹ thuật tích hợp ba kỹ thuật trên.

Cạnh đáy dài: Hệ thống LBL cung cấp khả năng định vị điểm chính

xác trên một khu vực rộng lớn, thông qua các bộ máy thu phát đặt dướiđáy biển hoặc trên tàu biển Bộ phát bị kiểm soát bởi một đầu dò lắptrên tàu biển Các kết nối giữa các trạm thu phát dưới đáy biển đượcgọi là các cạnh đáy (Baseline) Các cạnh đáy có thể từ 50m đến6000m, tùy thuộc vào độ sâu đáy biển, tần số âm thanh được sử dụng

và môi trường biển Kỹ thuật cung cấp khả năng định vị điểm độ chínhxác cao Nếu có nhiều hơn ba trạm LBL dưới đáy biển, phương phápbình phương nhỏ nhất được sử dụng để tìm ra vị trí tối ưu

Ngày đăng: 21/07/2017, 08:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w