BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI VŨ ĐỨC QUANG MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC MÔN ĐO LƯỜNG ĐIỆN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ ĐIỆN Chuyên ngành : LÝ L
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VŨ ĐỨC QUANG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC MÔN
ĐO LƯỜNG ĐIỆN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ ĐIỆN
Chuyên ngành : LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM KỸ THUẬT
Chuyên sâu: SƯ PHẠM KỸ THUẬT ĐIỆN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRẦN VĂN THỊNH
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan……… 5
Lời cảm ơn……… 6
Danh mục các các cụm từ viết tắt 7
Danh mục các bảng biểu 8
Danh mục các hình vẽ, đồ thị 9
Phần mở đầu 11
1 Lý do chọn đề tài 11
2 Mục đích nghiên cứu 12
3 Đối tượng nghiên cứu……… 12
4 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 13
5 Giới hạn của đề tài……… 13
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn……… 13
7 Phương pháp nghiên cứu……… 13
8 Bố cục của luận văn 13
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỘI DUNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC 1.1 Khái niệm về nội dung dạy học 15
1.1.1 Khái niệm 15
1.1.2 Các yếu tố của NDDH 15
1.1.3 Các thành phần của NDDH 16
1.2 Các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo việc xây dựng nội dung dạy học và các phương hướng hoàn thiện nội dung dạy học 18
1.2.1 Các nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng nội dung dạy học 18
1.2.2 Các phương hướng hoàn hiện nội dung dạy học 19
1.3 Đổi mới nội dung dạy học 24
1.3.1 Về kế hoạch dạy học 24
1.3.2 Đổi mới chương trình giáo dục dạy nghề
Trang 31.3.3 Đổi mới sách giáo khoa, giáo trình giảng dạy 27
1.4 Các khái niệm cơ bản về chất lượng, chất lượng dạy và học 29
1.4.1 Quan niệm về chất lượng 29
1.4.2 Chất lượng dạy và học(chất lượng đào tạo) 30
1.4.3 Chất lượng được đánh giá bằng "Đầu vào" 30
1.4.4 Chất lượng được đánh giá bằng "đầu ra" 31
1.4.5 Chất lượng được đánh giá bằng " Giá trị gia tăng" 31
1.4.6 Chất lượng được đánh giá bằng " Giá trị học thuật" 32
1.4.7 Chất lượng được đánh giá bằng "Văn hoá tổ chức riêng" 32
1.4.8 Chất lượng được đánh giá bằng " Kiểm toán" 32
Kết luận chương I……… 35
CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ VIỆC ĐÀO TẠO MÔN ĐO LƯỜNG ĐIỆN HIỆN NAY TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ ĐIỆN 2.1 Giới thiệu vài nét về trường Cao đẳng nghề điện Sóc Sơn 36
2.1.1 Lịch sử phát triển 36
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và nhân sự của nhà trường 36
2.1.3 Các nghề đào tạo và quy mô đào tạo của trường 38 2.1.4 Cơ sở vật chất, thư viện, tài chính 39
2.2 Thực trạng giảng dạy môn học Đo lường điện tại trường Cao đẳng nghề điện Sóc Sơn……… 39
2.2.1 Phân tích chương trình, nội dung môn học……… 39
2.2.2 Đặc điểm của môn học và những phương pháp giảng dạy đặc trưng 45 2.3 Đánh gia chất lượng đào tạo trường cao đẳng nghề điện 50
2.3.1 Những thuận lợi và khó khăn của Nhà trường 50
2.3.2 Đánh giá điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo 52
Kết luận chương II 59
Trang 43.1.1 Mục tiêu của dạy nghề 61
3.1.2 Mục tiêu dạy học đo lường điện tại trường cao đẳng nghề điện 61
3.1.3 Nhiệm vụ cơ bản của dạy học môn đo lường điện 62
3.2 Các nguyên tắc lựa chọn cho việc xây dựng các giải pháp 62
3.3 Các giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học 63
3.3.1 Triển khai dạy học theo mô-đun 63
3.3.2 Tăng cường công tác quản lý hoạt động dạy học của giáo viên 63
3.3.3 Phát triển đội ngũ giáo viên 64
3.3.4 Tăng cường cơ sở vật chất và phương tiện 64
3.3.5 Nâng cao chất lượng tuyển sinh đầu vào 64
3.3.6 Ứng dụng tin học trong dạy học 64
3.4 Phần mềm MS Power Point trong dạy học môn đo lường điện 65 3.4.1 Mở Microsoft Power Point……… 65
3.4.2 Tạo slide tựa đề (Title slide)……… 66
3.4.3 Lưu bài thuyết trình……… 66
3.4.4 Chèn slide mới……… 67
3.4.5 Chèn hình vào slide 67
3.4.6 Tạo các hiệu ứng cho slide 67
3.5 Trang bị phần mềm mô phỏng môn ĐLĐ trong dạy học 67
3.5.1 Ưu điểm của PMMP……… 67
3.5.2 Phần mềm PSIM 68
3.6 Giới thiệu 69
3.6.1 Giới thiệu tổng quan phần mềm 69
3.6.2 Hướng dẫn cơ bản sử dụng phần mềm 70 3.7 Các ví dụ minh họa bài giảng ứng dụng phần mềm PowerPoint và PSIM 76
Trang 53.7.1 Bài giảng số 1: Thí nghiệm sứ cách điện bằng thiết bị AИД-70 76
3.7.2 Bài giảng số 2: Mô phỏng mạch đo dòng điện, điện áp xoay chiều 80
3.7.3 Bài giảng số 3: Lắp mạch đo dòng điện, điện áp, điện năng tác dụng tủ điện hạ thế 86
Kết luận chương III 93
KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 1 Kêt luận 94
2 Một số kiến nghị 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC Phụ lục 1: Đo dòng điện và điện áp 1 chiều 97
Phụ lục 2: Đo dòng điện và điện áp xoay chiều 101
Phụ lục 3: Đo công suất 1 pha 105
Phụ lục 4: Đo công suất xoay chiều 3 pha 108
Phụ lục 5: Đo điện năng phản kháng 1 pha 111
Phụ lục 6: Đo điện năng tác dụng xoay chiều 3 pha 113
Phụ lục 7: Đo điện năng phản kháng xoay chiều 3 pha 116
Phụ lục 8: Đo hệ số công suất trong mạch xoay chiều 1 pha 119
Phụ lục 9: Đo hệ số công suất xoay chiều 3 pha 122
Phu lục 10: Sử dụng các dụng cụ đo dòng điện và điện áp 125
Phu lục 11: Sử dụng thiết bị thử cao áp 129
Phụ lục 12: Phiếu điều tra sinh viên tại trường Cao Đẳng nghề điện 135
Phụ lục 13: Phiếu điều tra giáo viên tại trường Cao Đẳng nghề điện 137
Phụ lục 14: Phiếu điều tra cán bộ tại cơ sở sản xuất 139 TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM KỸ THUẬT
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, những gì mà tôi viết trong luận văn này là do sự tìm hiểu
và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác
giả khác nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể
Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo vệ luận văn thạc sỹ nào và chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin
nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan ở trên
đây
Hà nội, tháng 3 năm 2014 Học viên
Vũ Đức Quang
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Khoa sư phạm kỹ thuật, Viện đào tạo sau đại học - Trường Đại hoc Bách khoa Hà Nội đã tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, với lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành cảm ơn Thầy TS Trần Văn Thịnh, người trực tiếp hướng dẫn tác giả làm luận văn này
Xin cảm ơn Ban giám hiệu và các đồng nghiệp trường Cao đẳng nghề điện - Tân Dân - Sóc Sơn - Hà Nội đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ, cộng tác, động viên, chia sẻ để tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Do trình độ bản thân còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp và bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn
Tác giả xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Vũ Đức Quang
Trang 9Bảng 2.5: Mức độ phù hợp của môn học với thực tiễn
Bảng 2.6: Mức độ sử dụng phương pháp dạy học
Bảng 2.7: Mức độ sử dụng phương tiện dạy học
Bảng 2.8: Mức độ hứng thú với môn học của sinh viên
Bảng 2.9: Thái độ tham gia vào việc xây dựng bài giảng với môn học của
sinh viên
Bảng 2.10: Đánh giá phương pháp giảng dạy của giáo viên
Bảng 2.11: Đánh giá kết quả học tập của học sinh
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức của nhà trường
Hình 2.2: Nội dung kiến thức môn học qua sự trình bày của giáo viên Hình 2.3: Tầm quan trọng của môn học Đo lường điện
Hình 2.4: Khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn sản xuất
Hình 2.5: Mức độ sử dụng phương pháp dạy học
Hình 2.6: Mức độ sử dụng phương tiện dạy học
Hình 2.7: Mức độ hứng thú với môn học của sinh viên
Hình 3.1: Các chương trình PSIM
Hình 3.2: Cấu trúc các khối chương trình PSIM
Hình 3.3: Giao diện thiết kế của chương trình PSIM
Hình 3.4 Chọn linh kiện điện trở trong thực đơn Element
Hình 3.5 Hộp thoại cài đặt linh kiện
Hình 3.6: Sơ đồ nguyên lý thí nghiệm sứ cách điện bằng điện áp
xoay chiều tăng cao tần số công nghiệp
Hình 3.7: Khối điều khiển
Hình 3.8: Khoá để đóng nguồn
Hình 3.9: Vị trí mở khóa đèn sáng
Hình 3.10: Xoay chiết áp theo chiều kim đồng hồ
Hinh 3.11: Bấm nút cấp nguồn
Hình 3.12: Các cực đấu dây của khối điều khiển
Hình 3.13: Sơ đồ nguyên lý mạch điện
Hình 3.14: Tạo một trang soạn thảo mới
Hình 3.15: Cửa sổ soạn thảo
Hình 3.16: Lấy nguồn xoay chiều
Hình 3.17: Đồng hồ đo dòng điện xoay chiều
Hình 3.18: Đồng hồ đo điện áp xoay chiều
Trang 11Hình 3.27: Chọn hiển thị sóng điện áp tải và dòng điện tải
Hình 3.28: a) sóng dòng điện tải, b) sóng điện áp nguồn, c) sóng điện áp tải Hình 3.29: Sơ đồ nguyên lý
Hình 3.30: Trình tự lắp mạch điên
Hình 3.31: Kiểm tra mạch dòng điện
Hình 3.32: Kiểm tra mạch điện áp
Hình 3.33: Sơ đồ nguyên lý mô phỏng
Hình 3.34: Lấy nguồn xoay chiều
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, hàng ngày, hàng giờ đã làm thay đổi bộ mặt sản xuất, kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Học tập, cập nhật những tri thức mới đã trở thành nhu cầu cần thiết cho mọi người và cho sự phát triển của xã hội Thực hiện
“học để làm việc”, “học để cống hiến”, “học để hành nghề”, và học để nâng cao trình độ đáp ứng nhu cầu luôn luôn biến đổi và đòi hỏi khắt khe của thị trường lao động trong và ngoài nước là đòi hỏi, là yêu cầu cấp thiết hiện nay Quá trình đào tạo theo viêm chế với kế hoạch cứng nhắc đã trở nên lỗi thời và kém hiệu quả Để thực hiện được vấn đề này cần phải quan tâm, đổi mới phương pháp sư phạm dạy nghề, đổi mới nội dung dạy và học phù hợp với yêu cầu thực tế sản xuất, phù hợp với sự phát triển của khoa học kỹ thuật Cụ thể là phải chọn lọc những nội dung môn học, bài học sát với mục tiêu đào tạo theo ngành nghề đã chọn, đó là đổi mới nội dung môn học, đó là luôn cập nhập mới những tri thức của nhân loại vào dạy học Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho người học tiếp thu được tri thức phục vụ cho công việc, không ngừng nâng cao phát triển tư duy mới, năng lực nghề nghiệp mà không tụt hậu so với sự phát triển của xã hội
Trong những năm gần đây, nhà nước ta cũng đã nỗ lực thực hiện thay đổi, bổ sung, chỉnh sửa chương trình khung, giáo trình, đề cương môn học Nghị quyết Trung Ương 2 khoá VIII đã xác định phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ IX đã xác định rõ nhiệm vụ của ngành giáo dục là: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp dạy học tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học
Trang 13nước Tuy nhiên, đề cương, giáo trình, nội dung môn học cần trang bị cho học sinh, sinh viên là vấn đề khó khăn, là thách thức đối với các trường dạy nghề của Việt Nam trong đó có trường Cao Đẳng nghề điện Tân Dân – Sóc Sơn – Hà Nội trực thuộc tập đoàn Điện lực Việt Nam
Trường Cao Đẳng nghề điện Tân Dân – Sóc Sơn – Hà Nội trực thuộc tập đoàn Điện lực Việt Nam đã có 46 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành Trong những năm qua nhà trường đã cung cấp cho xã hội, cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam hàng chục nghìn công nhân, kỹ thuật viên có trình độ, có kỹ năng, chuyên môn
và đáp ứng được một phần nhu cầu đòi hỏi của xã hội, của sự phát triển lớn mạnh của ngành điện Tuy nhiên, để đáp ứng được những yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế, chiến lược đào tạo của nhà trường vẫn còn tồn tại không ít những khó khăn cần được giải quyết Một trong những vấn đề đó là thay đổi nội dung chương trình môn học, luôn cập nhật, ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật, nội dung mới vào đào tạo (theo chương trình của Bộ LĐTB & XH ban hành) Đây cũng là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng cho học sinh khi ra trường, đáp ứng được yêu cầu của xã hội
Là một giáo viên hiện đang công tác tại nhà trường, tôi nhận thấy chất lượng đào tạo có ý nghĩa vô cùng quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của nhà trường
trong thời gian tới Được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của thầy giáo TS Trần
Văn Thịnh, tác giả đã chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và
học môn đo lường điện tại trường cao đẳng nghề điện” làm đề tài nghiên cứu luận
văn tốt nghiệp thạc sỹ khoa học chuyên ngành “Sư phạm kỹ thuật” với mong muốn
đóng góp một phần sức lực nhỏ bé của mình vào sự phát triển chung của nhà trường
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nội dung, phương pháp và yêu cầu cần thiết đào tạo Đo lường
Trang 14Môn học Đo lường điện tại trường Cao Đẳng nghề điện Tân Dân – Sóc Sơn – Hà Nội trực thuộc tập đoàn Điện lực Việt Nam
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan về việc đào tạo hiện nay tại trường Cao Đẳng nghề Điện
- Nội dung cần thay đổi chương trình
- Nội dung Đo lường điện cần trang bị cho học sinh – sinh viên trường Cao đẳng, Trung cấp nghề
5 Giới hạn của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy học Đo lường điện và sử dụng phần mềm mô phỏng Đo lường điện trong dạy học tại trường Cao Đẳng nghề điện Tân Dân – Sóc Sơn – Hà Nội trực thuộc tập đoàn Điện lực Việt Nam
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Vận dụng lý luận về dạy học đổi mới phương pháp, thiết kế nội dung cần trang bị cho môn học Đo lường điện tại trường Cao Đẳng nghề điện Tân Dân – Sóc Sơn – Hà Nội trực thuộc tập đoàn Điện lực Việt Nam
Nâng cao chất lượng dạy học nghề hệ thống điện cho học sinh – sinh viên trường Cao đẳng nghề điện Tân Dân – Sóc Sơn – Hà Nội trực thuộc tập đoàn Điện lực Việt Nam
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và tổng hợp các tài liệu có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Tổ chức trao đổi lấy ý kiến của những người có kinh nghiệm trong giảng dạy, khảo sát lấy ý kiến của những chuyên gia về xây dựng, thiết kế bài giảng, bài thí nghiệm
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và các danh mục tài liệu tham khảo,
Trang 15- Chương 1: Cơ sở lý luận về nội dung và nâng cao chất lượng dạy học
- Chương 2: Tổng quan về việc đào tạo môn Đo lường điện hiện nay tại trường Cao Đẳng nghề Điện
- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn Đo lường
điện tại trường Cao Đẳng nghề Điện
Trang 16NDDH tạo nên nội dung hoạt động dạy và hoạt động học trong sự thống nhất với nhau Nó quy định những hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà học sinh (HS) cần lắm vững, đảm bảo hình thành được ở họ thế giới khoa học và những phẩm chất đạo đức cách mạng của con người mới, chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống, vào hoạt động lao động
1.1.2 Các yếu tố của nội dung dạy học
Mỗi môn học đều có những tính chất, đặc điểm khác nhau (về đối tượng nội dung và mức độ phản ánh …) nhưng tổng thể chúng đều cấu trúc bởi các yếu tố cơ bản sau:
- Hệ thống tri thức về khoa học kỹ thuật, cách thức hoạt động, giao tiếp và định hướng giá trị trong xã hội
- Hệ thống kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp
- Hệ thống kinh nghiệm hoạt động sáng tạo
- Hệ thống thái độ đối với công việc, với xã hội, với người khác và chính bản thân mình
NDDH được thể hiện qua từng môn học chuyên ngành NDDH được trình bày dưới nhiều hình thức thể hiện:
Trang 17- Các khái niệm kỹ thuật
- Các công cụ dụng cụ kỹ thuật
- Các dạng nguyên liệu, năng lượng
- Các quá trình công nghệ – kỹ thuật và các phương pháp gia công vật liệu Mỗi thành phần kiến thức nói trên có những đặc điểm khác nhau về hình thức và nội dung phản ánh:
- Các khái niệm kỹ thuật thường thể hiện bằng ngôn ngữ kỹ thuật chuyên ngành với các mệnh đề có cấu trúc chặt chẽ về ngữ pháp
- Các phương tiện, thiết bị kỹ thuật thường được thể hiện dưới dạng sơ đồ, bản vẽ kỹ thuật
- Các nguyên lý kỹ thuật thường được thể hiện dưới dạng công thức toán hoặc các quan hệ lôgic
Do đó mỗi bài học cần được sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau cho phù hợp với hình thức vận động bên trong của NDDH
1.1.3 Các thành phần của nội dung dạy học
a Hệ thống những tri thức về tự nhiên, về xã hội, về tư duy, về kỹ thuật và về các các thức hoạt động
Hệ thống những tri thức được đưa vào NDDH phải bao gồm nhiều dạng khác nhau đặc trưng cho các khoa học cơ bản Có như vậy, những tri thức mới có thể hoàn thành được các chức năng: xây dựng bức tranh chung về thế giới, là công cụ của hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn; là cơ sở của thế giới quan khoa học
toàn vẹn
Những tri thức bao gồm nhiều dạng khác nhau Đó là :
- Các sự kiện thông thường và những sự kiện khoa học
- Các khái niệm cơ bản và các thuật ngữ khoa học
- Các quy luật, các định luật, các học thuyết
Trang 18Các dạng tri thức này liên quan mật thiết với nhau, mặc dù chúng có vai trò khác nhau về việc thực hiện các chức năng của tri thức Do đó, trong quá trình dạy học, chúng ta cần bồi dưỡng cho HS các dạng tri thức đó một cách đồng bộ
b Hệ thống những kỹ năng, kỹ xảo hoạt động trí óc và lao động chân tay
Trong NDDH, hệ thống tri thức nói chung và hệ thống tri thức về cách thức hoạt động là rất quan trọng Nếu không có chúng thì không thể nói tới việc thực hiện các cách thức hoạt động một cách tự giác Tuy nhiên chỉ có tri thức thì chưa
đủ, người học phải vận dụng được tri thức đó vào thực tiễn thông qua hoạt động và qua kinh nghiệm Kinh nghiệm vận dụng này được loài người tích lũy trong quá trình lao động Nó chỉ được coi là của người học khi họ đã nắm vững, đã biến thành vốn liếng riêng của mình, khi người học xuất hiện những kỹ năng, kỹ xảo nhất định
Do đó, trong chương trình và giáo trình, chúng ta phải quy định hệ thống những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết mà người học bắt buộc phải nắm vững Đây có thể
là những kỹ năng, kỹ xảo hoạt động thực tiễn và hoạt động trí óc có liên quan đến từng môn học hoặc liên quan chung đến mọi môn học; thí dụ, các môn vật lý, hóa học, toán… có những kỹ năng, kỹ xảo đặc thù về tiến hành thí nghiệm, về giải bài tập… Xong, những kỹ năng xây dựng dàn ý, tách những cái chủ yếu trong nội dung học tập, sử dụng hợp lý các phương tiện hoạt động học tập… lại là những kỹ năng chung cho nhiều môn
c Hệ thống kinh nghiệm hoạt động sáng tạo
Hệ thống kinh nghiệm này được loài người tích lũy trong quá trình phát triển các hoạt động thực tiễn đảm bảo cho người học có năng lực tiếp tục phát triển nền văn hóa xã hội Nói cách khác, nó có tác dụng chuẩn bị cho người học tìm kiếm cách giải quyết những vấn đề mới cũng như chuẩn bị tham gia cải tạo một cách sáng tạo hiện thực khách quan Nhờ vậy, nhười học sẽ phát triển được tính tích cực sáng tạo; mặt khác, sẽ đề phòng và khắc phục được tính thụ động, tính máy móc, tính hình thức trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
Ở đây có điều đáng chú ý là, không một khối lượng tri thức nào được tiếp thụ dưới dạng chuẩn bị sẵn, không một kỹ năng nào được nắm theo mẫu sẵn lại có thể
Trang 19đảm bảo cho con người phát triển được năng lực sáng tạo Vì thế, vấn đề được đặt
ra là cần phải bồi dưỡng cho thế hệ trẻ năng lực sáng tạo đó
Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng, hoạt động sáng tạo có những đặc điểm quan trọng của nó:
- Trước hết, nó giúp người học độc lập di chuyển được tri thức, kỹ năng và tình huống mới, có nghĩa là khi giải quyết một vấn đề mới nào đó, người học
có năng lực vận dụng những tri thức và những kỹ năng mà họ đã thu lượm từ trước
- Bên cạnh đó, nó còn giúp cho người học có năng lực nhìn thấy vấn đề mới trong tình huống quen thuộc (như thấy được chức năng mới của đối tượng; độc lập phối hợp các cách thức hoạt động đã biết vào tình huống mới; nhìn thấy cấu trúc của đối tượng; nhìn thấy cách thức giải quyết tối ưu trong hàng loạt cách thức giải quyết )
d Kinh nghiệm về thái độ đối với thế giới, đối với con người:
Kinh nghiệm này, cùng với tri thức, kỹ năng, sẽ tạo nên điều kiện để hình thành niềm tin và lý tưởng, hình thành hệ thống giá trị đúng đắn ở người học Do
đó, về thực chất, nó là kinh nghiệm về thái độ đánh giá có xúc cảm đối với tri thức khoa học, đối với các chuẩn mực đạo đức, đối với sự thể hiện về mặt thẩm mỹ của hiện thực, đối với lý tưởng xã hội – chính trị… Và chừng nào người học chưa hình thành được thái độ này thì chừng ấy họ chưa có trình độ đạo đức cần thiết, mặc dù
có nắm tri thức và kỹ năng
Trên đây là bốn thành phần không thể thiếu được của NDDH nhằm góp phần đào tạo (ĐT), giáo dục (GD) thế hệ trẻ một cách toàn diện, hài hòa Bốn thành phần
đó liên quan mật thiết với nhau và dựa vào nhau
1.2 Các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo việc xây dựng nội dung dạy học và các phương hướng hoàn thiện nội dung dạy học
Trang 20kiến thức quản lý kinh tế, tăng cường GD chủ nghĩa Mac – Lênin, đường lối, chính sách của Đảng và đạo đức cách mạng, bồi dưỡng kỹ năng lao động sản xuất và năng lực nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, coi trọng đúng mức GD thẩm mỹ, thể dục thể thao và luyện tập quân sự”
Với phương hướng chung đó, NDDH cần xây dựng trên những nguyên tắc sau đây:
- Phải phù hợp với mục tiêu ĐT nói chung, với mục tiêu từng môn học nói riêng
- Phải đảm bảo tính toàn diện, cân đối của giáo dục, trong đó phải đặt việc
GD tư tưởng, chính trị, đạo đức lên hàng đầu
- Phải kết hợp chặt chẽ GD phổ thông, ĐT kỹ thuật tổng hợp, công tác hướng nghiệp và dạy nghề
- Phải đảm bảo học đi đôi với hành; học tập kết hợp với lao động sản xuất, và thực nghiệm khoa học, với hoạt động chính trị; hoạt động nội khóa kết hợp với hoạt động ngoại khóa
- Phải đảm bảo tính thống nhất chung cho cả nước, đồng thời phải tính đến đặc điểm từng vùng, từng địa phương; phải phù hợp với đặc điểm lứa tổi và giới tính người học; phải thích hợp với điều kiện giảng dạy và học tập của nhà trường
Các nguyên tắc trên đây liên quan mật thiết với nhau, thậm chí thâm nhập vào nhau Do đó, trong quá trình thực hiện, chúng ta phải vận dụng chúng với quan điểm phức hợp
1.2.2 Các phương hướng hoàn hiện nội dung dạy học
Căn cứ vào phương hướng chung và các nguyên tắc chỉ đạo nói trên, đặc biệt
là dưới ánh sáng của phương hướng và nội dung cải cách GD, trong điều kiện tiến
bộ xã hội và điều kiện tiến bộ khoa học – kỹ thuật, chúng ta nêu lên những phương hướng nhằm hoàn thiện NDDH [5]:
- Làm cho NDDH thật sự cơ bản, hiện đại, Việt Nam
- Tăng cường hơn nữa mối liên hệ giữa dạy học với đời sống, với lao động sản xuất, với thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc
Trang 21- Tăng cường GD lao động, kỹ thuật tổng hợp, chuẩn bị tốt cho người học đi vào những nghề thích hợp
- Tăng cường thế giới quan Mác – Lênin, GD tư tưởng, đạo đức cách mạng cho người học
- Tăng cường mối liên hệ giữa các môn học
- Đảm bảo cho NDDH phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, hoàn cảnh sống và điều kiện học tập của người học Sau đây sẽ đi sâu vào một số vấn đề trong các phương hướng đó:
a Hiện đại hóa nội dung dạy học:
Trong các chương trình dạy học cũ, mối liên hệ giữa nội dung các môn học với những thành tựu hiện đại của khoa học kỹ thuật được thực hiện thông thường bằng cách thêm vào giáo trình truyền thống những cái mới Xong, những tri thức được bổ sung đó không làm thay đổi một cách đầy đủ cơ cấu, tính chất của giáo trình truyền thống Hơn nữa, chúng lại gây ra mâu thuẫn trong cách giải thích những
sự kiện và khái niệm cơ bản ở các cấp học khác nhau Ngoài ra, trong chương trình
và giáo trình cũ vẫn còn những tài liệu lỗi thời hoặc mất hết ý nghĩa của chúng
Vì vậy, cần nhấn mạnh rằng, việc bổ sung những phần tri thức mới vào giáo trình truyền thống của nhà trường không thể được coi là cách thức thiết lập mối tương quan giữa dạy với trình độ phát triển hiện nay của khoa học, kỹ thuật, văn hoá Ở đây, cũng cần nói thêm rằng, mối tương quan đó không thể được thiết lập bằng cách chuyển máy móc những phần của chương trình dạy học của hệ trên xuống hệ dưới
Vậy làm thế nào để hiện đại hoá NDDH?
Như chúng ta đã biết, hiện đại hoá NDDH là làm cho nó phù hợp với trình
độ phát triển hiện nay của khoa học, kỹ thuật, văn hoá, trên cơ sở tính đến mục tiêu
ĐT, yêu cầu và tình hình thực tế của đất nước, cũng như khả năng nhận thức của
Trang 22Muốn làm cho NDDH được hiện đại, chúng ta cần giải quyết một số vấn đề sau đây:
- Thứ nhất, quan điểm giữa những luận điểm cơ bản của các khoa học cổ điển mà dưới ảnh hưởng của chúng đã hình thành NDDH truyền thống, và những quan điểm khoa học hiện đại Chúng ta biết rằng, những tri thức khoa học hiện đại được nghiên cứu trên cơ sở phát triển những quan niệm cũ trước đây, bổ sung và tu chỉnh cho những kiến thức cũ đó Nếu như không có những quan điểm này thì tri thức khoa học hiện đại không thể nào hiểu được Vì vậy, những cơ sở khoa học được học trong nhà trường cần bao gồm những luận điểm cơ bản của các khoa học
cổ điển cũng như các khoa học hiện đại, và toàn bộ tài liệu dạy học phải được soi sáng bằng các quan điểm khoa học hiện đại
- Thứ hai, quan hệ giữa mỗi NDDH và những thành tựu của khoa học, kỹ thuật và văn hoá được nó phản ánh Hiện nay do khoa học, kỹ thuật văn hoá phát triển với tốc độ chưa từng thấy, lượng thông tin tăng rất nhanh và tăng gấp bội NDDH phải phản ánh được những thành tựu hiện đại này theo hướng xác định trong mỗi môn học những tư tưởng chủ đạo phản ánh những khuynh hướng phát triển cơ bản của các khoa học hiện đại tương ứng và phù hợp với khả năng nhận thức của HS Trên cơ sở đó, loại trừ khỏi NDDH những cái lạc hậu, lỗi thời Có như vậy mới làm thay đổi được cơ cấu của môn học, nâng cao được trình độ lý thuyết khoa học của NDDH phù hợp với các quan điểm khoa học hiện đại
b Tăng cường mối liên hệ giữa dạy học với đời sống, với lao động sản xuất, với thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc
Thực hiện GD lao động và kỹ thuật tổng hợp trên cơ sở tính đến nhu cầu của
xã hội, năng lực và nguyện vọng của người học Hiện nay, ở nước ta, nhu cầu về cán bộ có trình độ học vấn phổ thông cao hơn trước Số HS học hết phổ thông trung học ngày một nhiều, nhưng sẽ thỏa mãn hoàn toàn yêu cầu vào học các trường đại
học trong điều kiện hiện nay Vì vậy, nhà trường phải giải quyết hai nhiệm vụ: một
là, chuẩn bị cho HS tham gia hoạt động thực tế sau khi tốt nghiệp và hai là, chuẩn
bị cho các em tiếp tục học sau khi ra trường Điều đó thể hiện tính dân chủ của xã
Trang 23hoàn toàn đáp ứng sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật hiện đại và nhiệm vụ chuẩn bị cho thanh niên tham gia lao động trí óc cũng như lao động chân tay
Việc giải quyết hai nhiệm vụ này là rất khó khăn Nó đòi hỏi phải tìm ra con đường nhằm kết hợp một cách hữu cơ hai nhiệm vụ đó để mỗi nhiệm vụ đều dựa trên cơ sở tự giác và nắm vững chắc những tri thức khoa học, bao gồm việc hình thành những kỹ năng vận dụng tri thức vào cuộc sống
Nói cách khác, việc nâng cao chất lượng tri thức các khoa học mà người học nắm được và việc vận dụng những tri thức đó vào cuộc sống Việc kết hợp chặt chẽ những học vấn phổ thông, học vấn kỹ thuật tổng hợp và học vấn nghề nghiệp không những đảm bảo kết hợp chặt chẽ việc chuẩn bị cho các em tham gia lao động mà còn đảm bảo nâng cao trình độ GD phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
Để thực hiện được yêu cầu đó, nhà trường cần phải hoàn thiện GD lao động
và kỹ thuật tổng hợp theo phương hướng cơ bản là làm cho nó phù hợp với trình độ phát triển lớn mạnh của khoa học, kỹ thuật, trong đó, tính đến nhu cầu của xã hội, năng lực và nguyện vọng của người học
Con đường thứ nhất nhằm hoàn thiện GD lao động và kỹ thuật tổng hợp là khắc phục chủ nghĩa hình thức trong việc nắm tri thức của nhười học, nâng cao tính vững chắc và tính tự giác của việc nắm tri thức về tự nhiên và xã hội cũng như tăng cường kỹ năng vận dụng chúng vào thực tiễn, vào cuộc sống
Con đường thứ hai nhằm hoàn thiện GD lao động và kỹ thuật tổng hợp là thực hiện nguyên tắc kỹ thuật tổng hợp của việc học các cơ cở khoa học, đặc biệt là các môn tự nhiên Đồng thời cần nghiên cứu các hình thức tích hợp để hình thành việc dạy nghề sơ bộ cho người học
c Tăng cường giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức cách mạng:
Nhà trường trong giai đoạn hiện nay phải bồi dưỡng, GD thế hệ trẻ thành
Trang 24lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, đường lối chính sách của Đảng, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và đạo đức của người lao động làm chủ tập thể Đi đôi với việc bồi dưỡng lý luận cách mạng, xây dựng nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa, cần bồi dưỡng cho thế hệ trẻ tình cảm cách mạng và nếp sống văn minh trong các mối quan
hệ gia đình, xã hội, người với người, cá nhân với tập thể, công dân với Tổ quốc
Nhiệm vụ GD này được thực hiện bằng nhiều con đường Trong đó, con đường dạy học là con đường cơ bản Chính vì vậy, trong quá trình dạy học, chúng ta phải đảm bảo tính GD theo hướng quán triệt nó vào nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Xong ở đây, điều đáng quan tâm là mặc dù trong giáo trình các môn học tự nhiên hay xã hội đều chứa đựng những lượng thông tin về tư tưởng, chính trị, đạo đức, người thầy vẫn phải làm thế nào để các lượng thông tin đó xâm nhập vào tâm hồn thế hệ trẻ với tư cách là những quan niệm có kết cấu chặt chẽ và
dễ gây xúc cảm về thế giới quan macxit, chứ không phải dưới dạng một bảng thống
kê những sự kiện và những công thức khô khan Điều rất quan trọng, là phải làm cho các lượng thông tin đó trở thành niềm tin vững chắc và hành động thực tế ở các
em
d Tăng cường mối liên hệ giữa các môn học:
Trong trường, người học được học nhiều môn khác nhau Các môn học này được xây dựng từ các khoa học tương ứng Vấn đề được đặt ra là phải đảm bảo tốt mối liên hệ giữa các môn học Cơ sở, phương pháp luận của mối liên hệ này là lý luận nhận thức macxit – lêninnit, là học thuyết macxit về mối liên hệ và tính ước định qua lại giữa các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan
Như vậy, chúng ta thấy rằng, thế giới khách quan là một thể hoàn chỉnh thống nhất Mỗi khoa học chỉ nghiên cứu một hình thức vận động hoặc hàng loạt hình thức vận động trong mối liên hệ qua lại và chuyển hóa lẫn nhau Mỗi môn học chỉ có khả năng phản ánh những kết quả nhận thức của con người về một hoặc một
số lĩnh vực nhất định của thế giới khách quan Chính vì thế, trong quá trình dạy học, người học cần được học nhiều môn tương ứng với các khoa học nhất định Các môn học này có mối liên hệ qua lại với nhau rất mật thiết Nhờ đó, người học có điều
Trang 25kiện thuận lợi để hình thành bức tranh hoàn chỉnh về thế giới, phát triển các mặt trí
tệ, đạo đức, thể chất … một cách hài hòa
Hiện nay, mối liên hệ của các môn học được thực hiện về mặt nội dung và về mặt thời gian Mối liên hệ về mặt thời gian đã các nhà nghiên cứu giải quyết bằng thực nghiệm và đã thu được nhiều kết quả làm cơ sở cho việc thiết kế và thực hiện
GD nói lên vị trí của từng môn học trong nội dung GD cấp học đó và trong việc môn học đó tham gia thực hiện các nhiệm vụ GD Kế hoạch GD phải được thực hiện một cách nghiêm túc, số giờ dành cho từng môn phải được bảo đảm đầy đủ, không quá nhấn mạnh môn này, coi nhẹ môn kia, đảm bảo cho nhân cách của người học được phát triển cân đối hài hòa Kế hoạch GD là tài liệu quan trọng nhất nhằm xác định nội dung, mức độ học vấn và tổ chức hoạt động GD để góp phần thực hiện mục tiêu ĐT của cấp học, bậc học
1.3.2 Đổi mới chương trình giáo dục dạy nghề
Chương trình GD là văn bản cụ thể hóa mục tiêu giáo dục; qui định phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung giáo dục; phương pháp; hình thức hoạt động giáo dục, chuẩn mực và cách thức đánh giá kết quả GD đối với các môn học ở mỗi lớp, ở toàn
bộ một bậc học, cấp học cũng như trình độ ĐT… Chương trình định hướng cho việc chỉ đạo và kiểm soát toàn bộ quá trình dạy học, do đó chương trình phải được Nhà nước thiết kế, quản lý, chỉ đạo thực hiện và phải được áp dụng thống nhất trong cả
Trang 26* Xuất phát từ mục tiêu ĐT của ngành nghề ĐT:
Mục tiêu GD học dạy nghề đã định rõ các phẩm chất và năng lực cần phát triển cho HS – sinh viên (SV) nhằm trước hết đáp ứng được yêu cầu ĐT nguồn nhân lực trong giai đoạn phát triển kinh tế xã hội mới của đất nước, giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa để đến năm 2020 đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa, mở rộng giao lưu hội nhập quốc tế với sự hình thành và phát triển của nền kinh tế tri thức; đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển đa dạng của mỗi cá nhân
* Đảm bảo tính hệ thống, chỉnh thể và yêu cầu kế thừa trong việc hoàn thiện, phát triển nội dung học nghề:
Chương trình các môn học của cấp trung học, cao đẳng (CĐ) nghề phải góp phần củng cố nội dung GD của các cấp học, bậc học trước, đồng thời bổ sung, phát triển nâng cao hơn nhằm hoàn thiện học vấn phổ thông Hệ thống kiến thức cần bao gồm các kiến thức nhằm chuẩn bị cho cuộc sống hiện tại của người học, các kiến thức cần thiết cho nghề nghiệp trong tương lai, tăng cường loại kiến thức về phương pháp hoặc có tính phương pháp, loại kiến thức giàu khả năng ứng dụng
* Tiếp tục đảm bảo yêu cầu cơ bản, hiện đại, sát với thực tiễn Việt Nam:
NDDH các môn học phải phản ánh được những thành tựu khoa học mới (tự nhiên – kinh tế – xã hội và nhân văn – kỹ thuật – công nghệ) của thế giới cũng như của nước ta; cùng với những vấn đề đang được cả loài người quan tâm (môi trường, dân số và những vấn đề khác); đồng thời lưu ý tiếp thu có chọn lọc các kinh nghiệm tiên tiến của nước ngoài
Ngoài việc đưa môn tin học vào nhà trường như một môn học mới và bắt buộc đối với mỗi HS, cần đưa thêm một số lĩnh vực tri thức cần thiết cho người lao động trong xã hội tương lai như : kinh tế học, xã hội học… qua hình thức tích hợp các nội dung này vào một số môn học có khả năng lồng ghép chúng hoặc qua một
số giáo trình tự chọn Tiếp tục quán triệt nguyên tắc tích hợp mà trước hết là đảm bảo mối quan hệ liên môn một cách chặt chẽ để bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau, tránh trùng lặp trong chương trình các bộ môn và các hoạt động
Trang 27Để đảm bảo năng lực thực hiện nghề của HS – SV trước hết cần xây dựng một chương trình phù hợp, vừa sức với đa số HS – SV và được xem là “mặt bằng” với những mức độ yêu cầu mà họ phải đạt Từ “mặt bằng” trên tùy theo mục tiêu của từng ngành nghề hoặc từng lọai trường mà định hướng chuyên sâu hoặc mở rộng kiến thức và kỹ năng của một số môn hoặc lĩnh vực qua các môn phân hóa và chủ đề tự chọn
* Góp phần đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học:
Đây là một trong những yêu cầu hàng đầu của việc đổi mới chương trình GD nói chung và GD dạy nghề nói riêng Do đặc điểm và trình độ của HS – SV trường nghề nên cần chú ý nhiều đến việc phát triển năng lực tự học, đa dạng hóa các hình thức học tập, tạo điều kiện để HS – SV được tự nghiên cứu, chủ động trong việc phát hiện và giải quyết vấn đề Chương trình của từng môn học đều cần chỉ ra định hướng và các yêu cầu cụ thể và đổi mới phương pháp dạy học bộ môn
* Tiếp tục coi trọng vai trò của phương tiện dạy học:
Phương tiện dạy học phải trở thành công cụ nhận thức, là một bộ phận hữu
cơ của cả phương pháp và NDDH Do yêu cầu tăng hoạt động thực hành, luyện tập, thí nghiệm cũng như yêu cầu ứng dụng công nghệ nên khi xây dựng chương trình cần đặt đúng vị trí của thiết bị dạy học trong quá trình dạy học bộ môn Khi nêu lên yêu cầu về mặt này cần lưu ý đến sự kết hợp giữa các thiết bị thông thường đã được
và sẽ phải trang bị cho các nhà trường với các thiệt bị hiện đại; giữa các thiết bị phải mua sắm với các thiết bị tự tạo Cần lưu ý tới vai trò của công nghệ thông tin và việc ứng dụng nó vào quá trình dạy học bộ môn
* Đổi mới đánh giá kết quả quá trình học tập:
Chương trình từng bộ môn cần nêu rõ những yêu cầu đổi mới đánh giá kết quả môn học Việc đảm bảo đánh giá khách quan, đủ độ tin cậy sẽ làm cho hoạt
Trang 28* Chú ý tới các vấn đề của doanh nghiệp, người sử dụng lao động:
Trong chương trình của một số môn học cần có phần dành cho doanh nghiệp, người sử dụng lao động nhằm trực tiếp góp phần hướng việc học tập của HS gắn với nghề nghiệp, với thực tiễn phát triển nghề nghiệp vốn hết sức đa dạng trên các vùng miền của đất nước ta Cần nêu rõ mức độ yêu cầu và đưa ra gợi ý cụ thể khi xác định vấn đề, mức độ cần đạt được và cách thức thực hiện
Nhìn chung chương trình các môn học đều bám sát vào các yêu cầu của xây dựng chương trình trong quá trình xác định mục tiêu, nhiệm vụ môn học; trong lựa chọn và sắp xếp các nội dung trong văn bản chương trình
- Điểm thể hiện nổi bật là các chương trình đều tăng thời lượng dành cho các hoạt động thực hành, hoạt động học tập tích cực của HS – SV
- Các nội dung lý thuyết được cân nhắc lựa chọn và đề ra các yêu cầu thực hiện phù hợp với mức độ nhận thức của HS – SV
- Sắp xếp lại các nội dung trong chương trình để tăng cường ứng dụng hoặc
hỗ trợ giữa các môn
- Đối với các môn văn hóa, chuyên ngành, nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn được thực hiện qua việc tăng cường tích hợp, liên hệ nội dung môn học với thực tiễn cuộc sống, thực tiễn yêu cầu của nghề nghiệp tương lai Qua đó giúp HS – SV hiểu biết thực tế cuộc sống, hiểu biết các hoạt động sản xuất của quê hương đất nước, góp phần chuẩn bị tâm thế sẵn sàng tham gia lao động sản xuất Tính thực tiễn còn được thể hiện rất rõ qua các môn chuyên ngành có nội dung ứng dụng thực tiễn, nội dung thực hành, thực tập sản xuất
- Các nội dung tự chọn với loại chuyên đề đáp ứng sẽ cung cấp cho HS -
SV những kiến thức kỹ năng theo nhu cầu, nguyện vọng của họ, phần nào giúp họ
có thêm hiểu biết cần thiết để tham gia lao động xã hội
1.3.3 Đổi mới sách giáo khoa, giáo trình giảng dạy
Giáo trình (GT) là tài liệu thể hiện một cách cụ thể nội dung, phương pháp
GD của từng môn học trong chương trình giáo dục Đối với hầu hết các giáo viên
Trang 29hiện chương trình Cho tới nay GT vẫn là tài liệu chủ yếu để dạy học ở các trường Đại học, Cao đẳng, Dạy nghề Do đó các yêu cầu đổi mới GD dạy nghề phải được thể hiện trong nội dung và phương pháp biên soạn GT
Những yêu cầu đặt ra đối với việc biên soạn GT mới là:
* Bám sát chương trình môn học: Việc biên soạn GT trước hết phải căn cứ
vào mục tiêu GD của bộ môn, cụ thể là các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ;
về nội dung, thời lượng, quán triệt các định hướng phương pháp dạy học và cách thức kiểm tra, đánh giá mà chương trình đã quy định
* Đảm bảo tính kế thừa trong quá trình biên soạn, phát huy các ưu điểm của giáo trình: Khi biên soạn cần nghiên cứu kỹ các GT cùng môn của các chuyên môn,
ngành học để đảm bảo sự phát triển liên tục các mảng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, vận dụng sáng tạo trong lao động sản suất
* Dựa trên cơ sở lý luận về GT có lưu ý tới xu thế tiên tiến trên thế giới trong
lĩnh vực này; đảm bảo đầy đủ, cụ thể và cân đối các chức năng lý luận dạy học từ tiếp nhận kiến thức mới, luyện tập, thực hành ứng dụng, củng cố, ôn tập, kiểm tra - đánh giá
* Đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản, tinh giản, hiện đại, sát thực tiễn Kiến
thức đưa vào GT cần được lựa chọn theo các tiêu chuẩn: cơ bản, tinh giản, hiện đại, sát thực tiễn Việt Nam, luôn cập nhật những kiến thức mới của nhân loại vận dụng vào giảng dạy, áp dụng vào thực tiễn sản xuất Kiến thức đưa vào GT phải chuẩn xác, đã được thừa nhận, không còn là vấn đề đang tranh luận Cần đặc biệt chú ý tới các kiến thức có khả năng ứng dụng cao, coi trọng thực hành, thực nghiệm
* Đảm bảo tính liên môn, sao cho các môn học hỗ trợ lẫn nhau, tránh trùng
lặp, mâu thuẫn
* Tạo điều kiện trực tiếp giúp SV tiếp tục nâng cao năng lực tự học và đổi
mới phương pháp dạy học Cần chọn lựa các cách trình bày nội dung thích hợp với
Trang 30* Đảm bảo những yêu cầu về văn phong đặc trưng của GT mỗi môn học
Ngôn ngữ sử dụng trong GT phải trong sáng, dễ hiểu (cho SV ở mọi vùng, miền) Các câu, chữ được viết ở dạng chuẩn mực, đơn trị, tránh hiện tượng có thể hiểu theo các nghĩa khác nhau Coi trọng cả kênh chữ và kênh hình Kênh hình trước hết phải góp phần tích cực vào việc nhận thức và phát triển tư duy của HS, không chỉ có ý nghĩa minh họa
1.4 Các khái niệm cơ bản về chất lượng, chất lượng dạy và học
1.4.1 Quan niệm về chất lượng
Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng, là một phạm trù phức tạp mà con người thường hay gặp trong các lĩnh vực hoạt động của mình Việc phấn đấu nâng cao chất lượng được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ một cơ sở hoạt động nào Vậy chất lượng là gì? Thuật ngữ “chất lượng “ có nhiều quan điểm khác nhau trong cách tiếp cận và đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau:
Theo Từ điển tiếng Việt thì chất lường là: “cái làm nên phẩm chất, giá trị
của sự vật” hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia” (Từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB Giáo dục, 1998); Chất lượng là “tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc) làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” (Từ điển tiếng Việt phổ thông, NXB
Chất lượng là “tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu
cầu người sử dụng” (Tiêu chuẩn Pháp – NFX 50- 109)
Theo ISO 8402 (1994): “Chất lượng là một tập hợp các đặc tính của một
thực thể tạo cho thực thể đó khả năng làm thoả mãn nhu cầu đã xác định hoặc tiềm ẩn”
Trang 31Theo Kaoru Ishikawa (Nhật): “Chất lượng là sự thoả mãn nhu cầu với chi
phí thấp nhất” Chất lượng phải dựa trên căn bản là đào tạo, huấn luyện và giáo
dục thường xuyên Chính vậy trách nhiệm về chất lượng phụ thuộc 80-85% vào ban lãnh đạo
Theo W Edwards Deming (Mỹ): “Chất lượng là mức độ dự báo được về độ đồng đều và độ tin cậy với chi phí thấp và phù hợp với thị trường” Chất lượng đạt được cần thiết phải có sự tham gia của toàn thể nhân viên Nhưng lãnh đạo chịu trách nhiệm về 90% các vấn đề về chất lượng
Trên đây là một số định nghĩa tiêu biểu về chất lượng Mỗi định nghĩa được nêu ra dựa trên những cách tiếp cận khác nhau về vấn đề chất lượng và do đó mỗi một quan niệm đều có mặt mạnh và mặt yếu riêng Mặc dù vậy tổ chức quốc tế về
tiêu chuẩn hoá ISO đưa ra định nghĩa trong ISO 8402:1984: “Chất lượng là một tập
hợp các tính chất và đặc trưng của một thực thể, tạo cho nó có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã được nêu rõ hoặc còn tiềm ẩn.” là một định nghĩa khá hợp lý,
hoàn chỉnh và thông dụng nhất hiện nay Nó phát huy được những mặt tích cực và khắc phục được những hạn chế của các khái niệm trước đó, ở đây chất lượng được xem xét một cách toàn diện và rộng rãi hơn
1.4.2 Chất lượng dạy và học (chất lượng đào tạo)
Chất lượng đào tạo luôn là vấn đề quan trọng nhất của tất cả các nhà trường Việc phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất của tất cả các cơ sở đào tạo nói chung và các cơ sở có đào tạo trung cấp chuyên nghiệp nói riêng Trong giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo trung cấp chuyên nghiệp nói riêng, chất lượng là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường Dưới đây là một số quan điểm khác nhau về chất lượng đào tạo
1.4.3 Chất lượng được đánh giá bằng "Đầu vào"
Một số nước phương tây có quan điểm cho rằng " Chất lượng một trường
Trang 32Theo quam điểm này, một trường tuyển được sinh viên giỏi, có đội ngũ cán
bộ giảng dạy uy tín, có nguồn tài chính cần thiết để trang bị các phòng thí nghiệm, giảng đường, các thiết bị tốt nhất được xem là trường có chất lượng cao
Quan điểm này đã bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo diễn ra rất đa dạng và liên tục trong một thời gian dài trong trường Sẽ khó giải thích trường hợp một trường đã có nguồn lực "đầu vào" dồi dào nhưng lại có những hoạt động đào tạo hạn chế; hoặc ngược lại, một trường có những nguồn lực khiêm tốn, nhưng đã cung cấp cho sinh viên một chương trình hiệu quả
1.4.4 Chất lượng được đánh giá bằng "đầu ra"
Một quan điểm khác về chất lượng trong đào tạo cho rằng "đầu ra" của quá trình đào tạo có tầm quan trọng hơn nhiều so với "đầu vào" "Đầu ra" chính là sản phẩm của đào tạo được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của sinh viên tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của trường đó
Có hai vấn đề quan trọng liên quan đến cách tiếp cận này Một là, mối liên hệ giữa "Đầu ra" và "đầu vào" không được xem xét đúng mức Trong thực tế mối liên
hệ này là có thực, cho dù đó không hoàn toàn là quan hệ nhân quả Một trường có khả năng tiếp nhận các sinh viên xuất sắc, không có nghĩa là sinh viên của họ sẽ tốt nghiệp loại xuất sắc Hai là, cách đánh giá "Đầu ra" của các trường rất khác nhau
1.4.5 Chất lượng được đánh giá bằng " Giá trị gia tăng"
Quan điểm này cho rằng một trường có tác động tích cực tới sinh viên khi trường đó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát triển về trí tuệ và cá nhân của sinh viên " Giá trị gia tăng" được xác định bằng giá trị của "Đầu ra" trừ đi giá trị của
"đầu vào" kết quả thu được là " Giá trị gia tăng" mà trường đã đem lại cho sinh viên
và được cho là chất lượng đào tạo của trường
Nếu theo quan điểm này về chất lượng trong đào tạo, hàng loạt vấn đề về phương pháp luận nan giải sẽ nẩy sinh: Khó có thể thiết kế một thước đo thống nhất
để đánh giá chất lượng "Đầu vào" và "đầu ra" để tìm ra được hiệu số của chúng và đánh giá chất lượng của trường đó Hơn nữa, các trường trong hệ thống các trường TCCN lại rất đa dạng, không thể dùng một bộ công cụ đo duy nhất cho tất cả các
Trang 331.4.6 Chất lượng được đánh giá bằng " Giá trị học thuật"
Đây là quân điểm truyền thống của nhiều trường học phương tây, chủ yếu dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ giảng viên trong từng trường trong quá trình thẩm định, công nhận chất lượng đào tạo của trường Điều này có nghĩa là trường nào có đội ngũ giảng viên có học vị, học hàm cao, có uy tín khoa học lớn thì được xem là trường có chất lượng cao
Hạn chế của quan điểm này là ở chỗ, cho dù năng lực học thuật có thể được đánh giá một cách khách quan, thì cũng khó có thể đánh giá những cuộc cạnh tranh của các trường để nhận tài trợ cho các công trình nghiên cứu trong môi trường không thuần học thuật Ngoài ra, liệu có thể đánh giá được năng lực chất xám của đội ngũ giảng dạy và nghiên cứu khi có xu hướng chuyên ngành hoá ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng
1.4.7 Chất lượng được đánh giá bằng "Văn hoá tổ chức riêng"
Quan điểm này dựa trên nguyên tắc các trường phải tạo ra được " Văn hoá
tổ chức riêng" hỗ trợ cho quá trình liên tục cải tiến chất lượng Vì vậy, một trường được đánh giá là có chất lượng khi nó có được " Văn hoá tổ chức riêng" với nét đặc trưng quan trọng là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo Quan điểm này bao hàm cả các giả thiết về bản chất của chất lượng và bản chát của tổ chức Quan điểm này được mượn từ công nghiệp và thương mại nên khó có thể áp dụng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo
1.4.8 Chất lượng được đánh giá bằng " Kiểm toán"
Quan điểm này về chất lượng trong đào tạo được xem trong quá trình bên trong của một trường và nguồn thông tin cung cấp cho việc ra quyết định Nếu kiểm toán tài chính xem xét các tổ chức có duy trì chế độ sổ sách tài chính hợp lý hay không, thì kiểm toán chất lượng quan tâm xem các trường có thu thập đủ thông tin cần thiết hay không, quá trình thực hiện các quyết định về chất lượng có hợp lý và
Trang 34Tóm lại, ngày nay vẫn còn những cách hiểu khác nhau về khái niệm chất
lượng đào tạo, do từ “chất lượng” được dùng chung cho cả hai quan niệm: chất lượng tuyệt đối và chất lượng tương đối
Với quan niệm chất lượng tuyệt đối thì từ “chất lượng” được dùng cho những sản phẩm, những đồ vật hàm chứa trong nó những phẩm chất, những tiêu chuẩn cao nhất khó có thể vượt qua được Nó được dùng với nghĩa chất lượng cao, hoặc chất lượng hàng đầu
Với quan niệm chất lượng tương đối thì từ “chất lượng” dùng để chỉ một số thuộc tính mà người ta “gán cho” sản phẩm, đồ vật Theo quan niệm này thì một vật, một sản phẩm, hoặc một dịch vụ được xem là có chất lượng khi nó đáp ứng được các mong muốn mà người sản xuất định ra, và các yêu cầu người tiêu thụ đòi hỏi Từ đó nhận ra rằng chất lượng tương đối có hai khía cạnh:
Thứ nhất: Đạt được mục tiêu (phù hợp với tiêu chuẩn) do người sản xuất đề
ra Khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên trong”
Thứ hai: Chất lượng được xem là sự thoả mãn tốt nhất những đòi hỏi của
người dùng, ở khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên ngoài”
Tại mỗi nhà trường đào tạo, hàng năm trên cơ sở nhiệm vụ được cơ quan chủ quản quy định, nhà trường xác định các mục tiêu và chiến lược đào tạo của mình sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội để đạt được “chất lượng bên ngoài”; đồng thời các hoạt động của nhà trường sẽ được hướng vào nhằm mục đích đạt mục tiêu đó, đạt “chất lượng bên trong”
Trang 35
Dưới đây là sơ đồ quan niệm về chất lượng đào tạo
Hình 1.1: Sơ đồ quan niệm về chất lượng đào tạo
Hình 1.2: Sơ đồ mối quan hệ giữa mục tiêu đào tạo và chất lượng đào tạo
Nhu cầu xã hội
Nhu cầu xã hội
Kết quả đào tạo
Kết quả đào tạo phù hợp nhu cầu sử dụng > Đạt chất lượng ngoài
Kết quả đào tạo khớp với mục tiêu đào tạo > Đạt chất lượng trong
Mục tiêu
đào tạo
Chất lượng đào tạo Quá trình đào tạo
- Đặc trưng, giá trị nhân cách, xã hội, nghề nghiệp;
- Giá trị sức lao động;
- Năng lực hành nghề;
- Trình độ chuyên môn nghề nghiệp (kiến thức, kỹ năng, );
- Năng lực thích ứng với thị trường lao động;
- Năng lực phát triển nghề nghiệp
Kiế thức
Thái độ
Kĩ năng
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Yêu cầu đối với các trường CĐ, Dạy nghề là phải nâng cao chất lượng đào tạo nghề nhằm cung cấp nguồn nhân lực có trình độ, năng lực và chất lượng tốt cho thị trường lao động hiện nay Thực tiễn cho thấy HS, SV của các cơ sở ĐT trong cả nước còn yếu về tư duy kỹ thuật và tay nghề Để giải quyết vấn đề này đòi hỏi phải
có giải pháp đồng bộ như đổi mới về chương trình mục tiêu dạy học, đổi mới về trang thiết bị thực hành, đổi mới về cách quản lý GD và đặc biệt là đổi mới về phương pháp dạy học (gồm thực hành và cả lý thuyết) Các giải pháp trên được chính phủ đặt vào vị trí đầu tiên trong “Đổi mới theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới”
Từ thực trạng và với đề tài đã chọn, tác giả luận văn đã nghiên cứu:
- Bản chất và các khái niệm có liên quan đến chất lượng dạy và học
- Các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy học so với phương pháp truyền thống
Để thấy được cơ sở lý luận của việc đổi mới phương pháp dạy học và áp dụng vào môn học Đo lường điện giảng dạy tại trường CĐ nghề điện – Tân Dân – Sóc Sơn – Hà Nội thì phải có các phương pháp giảng dạy phù hợp với nội dung dạy học
Trang 37CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ VIỆC ĐÀO TẠO MÔN ĐO LƯỜNG ĐIỆN
HIỆN NAY TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ ĐIỆN
2.1 Giới thiệu vài nét về trường Cao Đẳng nghề điện Sóc Sơn
2.1.1 Lịch sử phát triển
- Ngày 18 tháng 9 năm 1967, trường Công nhân kỹ thuật điện được thành lập theo quyết định số 110/BCNNg-KB1 của Bộ Công nghiệp nặng, trực thuộc Cục Điện lực Giai đoạn từ 1970 đến 1979 trường trực thuộc Bộ Điện và Than Năm
1987, trường sát nhập với trường Công nhân kỹ thuật Chí Linh thành trường Công nhân kỹ thuật điện Sóc Sơn, trực thuộc Công ty Điện lực 1
- Ngày 16 tháng 7 năm 1997, trường đổi tên thành Trường ĐT nghề điện theo quyết định số 1052/QĐ-TCCB của Bộ Công nghiệp, trực thuộc Công ty Điện lực 1
- Ngày 06 tháng 4 năm 2000, Bộ Công nghiệp có quyết định số BCN sát nhập Trường ĐT nghề điện thuộc Công ty Điện lực 1 và Trường ĐT nghề
27/2000/QĐ-Cơ điện Điện lực thuộc Công ty Sản xuất thiết bị điện thành Trường ĐT nghề điện trực thuộc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam
- Ngày 15 tháng 02 năm 2007, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có quyết định số 257/QĐ-BLĐTBXH thành lập Trường CĐ nghề điện trên cơ sở nâng cấp Trường ĐT nghề điện
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và nhân sự của nhà trường
a Cơ cấu tổ chức:
Trang 38- Bồi dưỡng, nâng bậc
BAN GIÁM HIỆU Các Hội đồng tư vấn
Phòng
Đào
tạo
Phòng Tổng hợp
Phòng Tài chính
kế toán
Phòng Quản
lý HSSV
Khoa Điện
Khoa KHCB
Xưởng thực hành
vụ
Tổ QL HSSV
Tổ QT
Các tổ môn
Các tổ môn
Các tổ môn
Tổ VP
ĐT
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức của nhà trường
Trang 39b Tổng số cán bộ, giáo viên, công nhân viên nhà trường: 168
d Tuổi trung bình của cán bộ giảng dạy:
Độ tuổi trung bình: 38,06 tuổi
e Tỷ lệ cán bộ giảng dạy có học vị và chức danh: (biên chế và hợp đồng)
TSKH/TS: 0 Cử nhân/kỹ sư: 80 Thạc sỹ: 30 Trình độ khác: 14
2.1.3 Các nghề đào tạo và quy mô đào tạo của trường
a Danh sách các nghề đào tạo theo từng trình độ:
Trang 40- Thí nghiệm điện
b Các loại hình đào tạo của nhà trường:
- Chính qui : x
- Không chính qui:
c Tổng số các Khoa đào tạo: 02
d Tổng số chuyên ngành đào tạo: 10
e Tỷ lệ học sinh quy đổi trên một giáo viên quy đổi: 24,75/1
g Tỷ lệ học sinh SV có chỗ ở trong ký túc xá 100%
2.1.4 Cơ sở vật chất, thư viện, tài chính
- Nơi làm việc : 1.452,6
- Nơi học: 20.271,7
- Nơi vui chơi giải trí: 3.760
2.2 Thực trạng giảng dạy môn Đo lường điện tại trường Cao Đẳng nghề điện Sóc Sơn
2.2.1 Phân tích chương trình, nội dung môn học
a Vị trí môn học: ĐLĐ là môn học lý thuyết chuyên ngành bắt buộc Trước khi học
môn học này sinh viên cần hoàn thành các môn học, module cơ sở, đặc biệt là các môn học, module: Kỹ thuật điện, Khí cụ điện, Vật liệu điện ĐLĐ là môn học quan trọng của ngành Điện nói chung và chuyên ngành hệ thống điện nói riêng Môn học này giúp cho SV ngành Điện có khả năng xác định và đánh giá được các thông số
của hệ thống điện
b Đối tượng nghiên cứu của môn học:
- ĐLĐ là môn học chuyên ngành và cần thiết vì nó góp phần hình hành kỹ năng tổng hợp, phân tích Trong phạm vi giảng dạy cho trình độ CĐ nghề Hệ thống điện, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các thiết bị đo lường, các thiết bị thí nghiệm điện trong hệ thống điên: