1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Lịch sử mỹ phâm22222

21 293 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 559,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1L'Oréal L'Oréal S.A.là một công tymỹ phẩmcủaPhápcó trụ sở tạiClichy, Hauts-de-Seine[3]với văn phòng đăng kýtạiParis.[4]Đây là công ty mỹ phẩm lớn nhất thế giới và đã phát triển h

Trang 1

Lịch sử mỹ phâm22222

Trang 2

Mục lục

1.1 am khảo 1

2 Estée Lauder 2 2.1 am khảo 2

2.2 Liên kết ngoài 2

3 MAC Cosmetics 3 3.1 Bối cảnh 3

3.2 ỹ tài trợ MAC AIDS 4

3.3 Chú thích 4

3.4 Liên kết ngoài 4

4 Mary Kay 5 4.1 Chú thích 5

5 Max Factor 6 5.1 Lịch sử 6

5.2 am khảo 7

6 Oriflame 8 6.1 Lịch sử 8

6.2 am khảo 8

6.3 Liên kết ngoài 8

7 Son môi 9 7.1 Lịch sử 9

7.1.1 Sumer 9

7.1.2 Hy Lạp 10

7.1.3 Ai Cập 10

7.1.4 Vương quốc Anh 10

7.1.5 Hoa Kỳ 10

7.1.6 Vài nơi khác 12

7.2 Xu hướng son môi 12

7.3 Ý nghĩa lạ 13

i

Trang 3

ii MỤC LỤC

7.4 ành phần 13

7.5 Dấu vết chì 14

7.6 Sử dụng trong tiếng địa phương 14

7.7 Trong khoa học pháp lý 14

7.8 Trong văn học 14

7.9 am khảo 14

7.10 Xem thêm 15

7.11 Liên kết ngoài 16

7.12 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 17

7.12.1 Văn bản 17

7.12.2 Hình ảnh 17

7.12.3 Giấy phép nội dung 18

Trang 4

Chương 1

L'Oréal

L'Oréal S.A.là một công tymỹ phẩmcủaPhápcó trụ

sở tạiClichy, Hauts-de-Seine[3]với văn phòng đăng kýtạiParis.[4]Đây là công ty mỹ phẩm lớn nhất thế giới

và đã phát triển hoạt động trong lĩnh vực mỹ phẩm, tậptrung vàothuốc nhuộm tóc, chăm sócda,kem chốngnắng, đồ trang điểm,nước hoavà chăm sóctóc; công

ty hoạt động trong lĩnh vựcda liễu học,độc chất học,

công nghệ môvà nghiên cứuthuốc sinh họcvà là chủ

sở hữu bằng sáng chế vềcông nghệ nanohàng đầu ởHoa Kỳ.[5] Công ty là một thành phần củachỉ số thịtrường chứng khoán Euro Stoxx 50.[6]

1.1 Tham khảo

[1] “Annual Results 2015”(PDF) L'Oréal

[2] “Annual Report 2014”(PDF) L'Oréal

[3] Jones, David (ngày 26 tháng 1 năm 2010).“Nestlé waitsfor market pressures to soen Hershey”.Reuters Truycập ngày 31 tháng 1 năm 2010

[4] "Statuts.” L'Oréal ngày 16 tháng 4 năm 2009 Truy cậpngày 3 tháng 5 năm 2010

[5] L'Oreal builds on skin testing capabilities.Cosmeticsdesign-europe.com

[6] Frankfurt Stock Exchange

1

Trang 5

Chương 2

Estée Lauder

Estée Lauder (1/7/1908- 24/4/2004) là người đồng sánglập những công ty của Estée Lauder (Estée LauderCompanies), một công ty đi tiên phong trong lĩnh vực

mỹ phẩm trang điểm Bà được sinh ra tại Corona,

eens,New York, là con gái của dân nhập cưDo áiHungary Bà là người phụ nữ duy nhất lọt vào danhsách 20 nhà thiên tài kinh doanh có tầm ảnh hưởngnhất thế kỷ 20 củatạp chí Time năm 1998 Bà cũng

là người được nhận huân chương Tự do Tổng thống

(Presidential Medal of Freedom).

Bà cưới Joseph Lauder năm 1930 Họ có hai con Estée

li dị Joseph năm 1939, và tái hôn với ông năm 1942 Cặpđôi này sau đó đã duy trì hôn nhân cho đến khi Josephqua đời năm 1982 Gia đình nhà Lauder đổi họ sang họ

“Lauder” vào cuối những năm thập niên 1930 Con lớncủa bà Estée,Leonard Lauder, là giám đốc điều hànhcủa Estée Lauder và hiện giờ là chủ tịch của công ty.Con thứ của bà Estée,Ronald Lauder, là một nhà bác áinổi tiếng, một doanh nhân, thành viên đảng cộng hòadưới thời của tổng thống Reagan, cùng nhiều nhữnghoạt động khác

Lauder chết ở tuổi 97 tại nhà riêng ở Manhaan saumột cơn đau tim

2.1 Tham khảo

2.2 Liên kết ngoài

Time Magazine profile

CNN report of passing

Biography channel profile

Biography resources dedicated to Estée Lauder

2

Trang 6

Chương 3

MAC Cosmetics

MAC Cosmetics, cách điệu hóa thành M·A·C, là hãng

sản xuất mỹ phẩm được Frank Toskan và Frank Angelo

thành lập năm 1984 tạiToronto Công ty có trụ sở tại

thành phố New Yorkvà trở thành một phần củaEstée

Lauder Companiesvào năm 1998 MAC là viết tắt của

Make-up Art Cosmetics.

3.1 Bối cảnh

Trong thời gian làm nhiếp ảnh gia và nghệ sĩ trang

điểm, đồng sáng lập Frank Toskan nhận ra sự thiếu

màu sắc phù hợp và kết cấu cần thiết để tối đa hóa

hiệu suất và kết quả trang điểm cho ngành công nghiệp

này Hơn nữa, ông nhận ra những sản phẩm thông

thường giới hạn trong ngành công nghiệp mỹ phẩm

đáp ứng nhu cầu của phụ nữ hiện đại Lần đầu tiên

tính sắc tộc trong trang điểm được giải quyết Toskan

bắt đầu làm thủ công thị trường chuyên dành cho thế

giới trang điểm Gia đình gia nhập lực lượng bao gồm

anh rể kiêm nhà hoá học Victor Casale MAC rất nhanh

chóng trau dồi cả về thời trang và thị trường bán lẻ

Ban đầu được bán độc quyền tại BAY ở Canada, nhanh

chóng mở rộng cho Henry Bandel ở New York Các cửa

hàng bách hóaNordstromchào đón thương hiệu ngay

sau khi đánh dấu sự đột nhập đầu tiên của MAC vào

thị trường bán lẻ Bắc Mỹ.Sachs,Macy’s,Dillard’svà

Bloomingdalesnhanh chóng theo sát cũng như hàng

tá cửa hàng độc lập do MAC làm chủ Sự ủng hộ tự

nguyện của người nổi tiếng là chìa khóa thành công của

MAC khiMadonna,Mariah Carey,Lady Diana,Linda

Evangelista, Naomi Campbell, Chervà Janet Jackson

nắm bắt thế giới nghệ thuật trang điểm mới MAC tiếp

tục là nhà tiên phong trong sáng tạo mỹ phẩm cách tân

trên toàn thế giới

Sản phẩm của công ty ban đầu được dành cho các

chuyên gia trang điểm, nhưng được bán trực tiếp cho

người tiêu dùng trên toàn thế giới Frank Toskan nói

rằng ông “sản xuất đồ trang điểm đầu tiên cho người

mẫu, nhưng sau đó người mẫu muốn trang điểm cho chị

em, bạn bè của họ, và như vậy…”.[1]Ngày nay, thương

hiệu vẫn tiếp tục làm việc với các chuyên gia thời trang:

“Từ một thương hiệu chuyên dụng [chủ yếu cho ảnh

hoặc phim], MAC đã trở thành một thương hiệu toàn

cầu.”[2]

Vào những năm 1990, thương hiệu này đã có hơn mộttrăm cửa hàng trên toàn thế giới, thu được 200 triệu

franc Pháp.[1] Sự phát triển của thương hiệu quốc tế,

mở ra những điểm bán hàng mới và sự thích ứng củacác dòng sản phẩm phù hợp với từng châu lục, đã đểlại thời gian ít ỏi cho người sáng lập ra sản phẩm mới.Năm 1994, công ty Estée Lauder nắm quyền kiểm soát51% cổ phần của MAC Cosmetics và bắt đầu quản lýkết thúc kinh doanh[3]trong khi hai người sáng lập giữlại quyền quản chế sáng tạo Năm 1997, đồng sáng lậpFrank Angelo chết vìngừng timtrong suốt cuộc phẫuthuật ở tuổi 49.[3]Vào thời điểm đó, MAC códoanh thu

250 triệu USD, tăng gấp đôi 10 năm sau Estée LauderInc hoàn thành mua lại vào năm 1998 và Frank Toskan

đã quyết định bán cổ phần còn lại của mình ngay sau

đó trước khi rời công ty cuối năm đó

Mỹ phẩm MAC được đặt tên một trong ba nhãn hiệutrang điểm hàng đầu thế giới, với doanh thu hàng nămtrên 1 tỷ USD và 500 cửa hàng độc lập, với hơn 30 cửahàng ở Pháp Tất cả các cửa hàng được nghệ sĩ trangđiểm chuyên nghiệp điều hành.[4]

áng 9 năm 2016, MAC Cosmetics tung ra bộ sưu tập

“MAC Selena” cộng tác với bất động sản củaSelena

intanilla Perez Một kiến nghị về Change.org đề xuất

ý tưởng cộng tác này với MAC Cosmetics.[5] Chị gáiSelena, Suzee intanilla, đã làm việc với MAC đểtạo nên bộ sưu tập hoàn hảo mà thực sự đại diện choSelena.[6]Bộ sưu tập được bán hết trong vòng hàng giờđồng hồ không chỉ tại các cửa hàng MAC mà còn tạicác nhà bán lẻ khác mang bộ sưu tập như Nordstrom,Bloomingdales và Macy’s Người hâm mộ đã đứng hànggiờ để chạm tay vào bộ sưu tập nhưng một số đã bỏ đitay không.[7]Do nhu cầu cao cho bộ sưu tập này, MAC

đã bổ sung bộ sưu tập vào tháng 12 năm 2016.[8]

áng 5 năm 2017, MAC cosmetics trở nên có hiệu lực

để mua trực tuyến tạiUlta Beauty.[9] Sản phẩm sẽ cómặt tại các cửa hàng trong tháng 6 năm 2017.[10]

3

Trang 7

4 CHƯƠNG 3 MAC COSMETICS

3.2 Quỹ tài trợ MAC AIDS

ỹ tài trợ M·A·C AIDS đã được thành lập vào năm

1994 để hỗ trợ nam giới, nữ giới và trẻ em bị ảnh

hưởng bởiHIV/AIDStrên toàn cầu bằng cách giải quyết

mối liên hệ giữa nghèo đói và HIV/AIDS ỹ đã thu

được hơn 400 triệu đô la thông qua bán Vina Glam

Lipsticks và Lipglosses của M·A·C, tặng 100% giá bán

để chống HIV/AIDS Dòng sản phẩm Viva Glam vẫn

là một thương hiệu tiêu biểu, bán chạy nhất cho nhãn

hiệu MAC Cosmetics.[11]

3.3 Chú thích

[1] “MAC, cosmétiquement correctLa marque canadienne

aux grandes causes va s’implanter en France.”

Libération.fr Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2016.

[2] “Résultats recherche lesechos.fr” Les Echos.fr (bằng

tiếng fr-FR) Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2016

[3] Schiro, Anne-marie (ngày 17 tháng 1 năm 1997).“Frank

Angelo, 49, Cosmetics Innovator, Dies” e New York

Times.ISSN 0362-4331 Truy cập ngày 20 tháng 2 năm

2016

[4] Chapuis, Dominique “MAC Cosmetics s’offre une

vitrine sur les Champs-Elysées” lesechos.fr (bằng tiếng

fr-FR) Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2016

[5] “Why MAC’s Selena Collection Is SO Important For

Latinas” Truy cập 20 tháng 8 năm 2017

[6] “MAC releases Selena makeup collection this week”

San Antonio Express-News Truy cập 20 tháng 8 năm

2017

[7] “Latinas behind growth in cosmetic sales, sold out

Selena makeup line Cronkite News” Cronkite News

-Arizona PBS Truy cập 20 tháng 8 năm 2017

[8] Sciarreo, Amy.“Is e MAC x Selena Restock Sold

Out? e Collection Is Back & As Popular As Ever”

Bustle Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2017.

[9] Low, Elaine (ngày 3 tháng 5 năm 2017).“Ulta Beauty

Shares Break Out As Estee Lauder Pops On Earnings”

Investor’s Business Daily Truy cập ngày 8 tháng 5 năm

2017

[10] Shapouri, Beth.“MAC Cosmetics Is Coming to Ulta, and

Now Our Wallets Are in Trouble” Glamour (bằng tiếng

Anh) Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2017

[11] President’s Emergency Plan for AIDS Relief(ngày 14

tháng 11 năm 2014).Press release: “PEPFAR and MAC

AIDS Fund Partnership Will Strengthen HIV/AIDS

Services for Youth” Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2015

3.4 Liên kết ngoài

Trang 8

Chương 4

Mary Kay

Mary Kay Inc là một công ty bán hàng trực tiếp tư

nhân của Hoa Kỳ bán sản phẩm mỹ phẩm eo tin tứcbán hàng trực tiếp, Mary Kay là công ty bán hàng trựctiếp lớn thứ sáu trên thế giới vào năm 2015, với khốilượng bán buôn 3,7 tỷ USD.[1]

Mary Kay có trụ sở tại Addison, Texas, bên ngoàiDallas Công ty đượcMary Kay Ashthành lập vào năm

1963 Richard Rogers, con trai của Mary Kay, là chủ tịchhội đồng quản trị và David Holl là chủ tịch và được bổnhiệm làm Giám đốc điều hành vào năm 2006.[2][3][4]

4.1 Chú thích

[1] Direct Selling News, ngày 31 tháng 5 năm 2016: DSN

Global 100: e Top Direct Selling Companies in the World

Trang 9

Chương 5

Max Factor

Max Factor là một thương hiệumỹ phẩmphổ biến từ

công ty mỹ phẩmCoty, Inc Được thành lập vào năm

1909 dưới tên Max Factor & Company củaMaksymilian

Faktorowicz, một chuyên gia thẩm mỹ đến từBa Lan.[1]

Trong những ngày đầu, nó chuyên về trang điểm màn

ảnh Cho đến khi nhượng quyền 500 triệu USD năm

1973, Max Factor & Company đã thuộc nhiều thế hệ

dòng họ và trở thành một công ty quốc tế trong thời

gian đó.Procter & Gambleđã mua lại vào năm 1991 và

nó vẫn là thương hiệu phổ biến

5.1 Lịch sử

Sau khi nhập cư từ thị trấnZduńska Wola[2] (Vương

quốc Lập hiến Ba Lan) sang Hoa Kỳ vào năm 1904, Max

Factor chuyển gia đình và doanh nghiệp của ông đến

Los Angeles,California, nhận ra cơ hội cung cấp tóc giả

được làm theo yêu cầu và trang điểm sân khấu dành

cho ngành công nghiệp điện ảnh đang phát triển Bên

cạnh bán sản phẩm trang điểm của riêng mình, ông

nhanh chóng trở thành nhà phân phối của cả Leichner

và Minor, hai nhà sản xuất sân khấu hàng đầu

Trong những năm đầu làm phim, phấn mỡ hóa trang

ở dạng thỏi que, mặc dù trang điểm được chấp nhận

để sử dụng trên sân khấu, không thể thoa mỏng, cũng

không phải có được nơi sắc màu làm việc hài lòng trên

màn hình Factor bắt đầu thử nghiệm với hợp chất khác

nhau khi nỗ lực phát triển phấn trang điểm thích hợp

cho môi trường phim mới Đến năm 1914 ông đã hoàn

thiện sản phẩm mỹ phẩm đầu tiên của mình Với thành

tích chính yếu này, Max Factor trở thành chuyên gia

mỹ phẩm trong ngành làm phim Chẳng bao lâu các

ngôi sao điện ảnh nóng lòng muốn thử “phấn mỡ hóa

trang linh hoạt” của ông

Trong những năm đầu, doanh nghiệp Factor áp dụng

cá nhân sản phẩm của ông cho giới diễn viên Ông

đã phát triển danh tiếng có thể tùy chỉnh trang điểm

gương mặt cho diễn viên dưới ánh sáng tốt nhất có thể

trên màn hình Trong số những khách hàng đáng chú

ý nhất của ông, cóBen Turpin,Gloria Swanson,Mary

Pickford, Pola Negri,Jean Harlow, Claudee Colbert,

Bee Davis, Norma Shearer, Joan Crawford và Judy

Garland Kết quả là hầu như tất cả nữ diễn viên điện

ảnh chính là khách hàng thường xuyên củathẩm mỹviệnMax Factor, nằm gần đại lộHollywood Boulevard.Vào năm 1918, Max Factor đã hoàn thành phát triểnloại phấn phủ “Color Harmony” của ông, nhờ có nhiềumàu sắc, cho phép ông tùy chỉnh và tạo ra lớp trangđiểm phù hợp hơn cho từng diễn viên Ông đã tạo rarất nhiều diện mạo cho các nữ diễn viên này, như đôimôi diễn kịch câm, hình trái tim củaClara Bow Nhiềunăm sau, ông cường điệu đôi môi đầy tự nhiên củaJoanCrawfordđể phân biệt cô với những ngôi sao tương laisao chép lại vẻ Clara Bow mà ông tạo ra Ông cũng tạo

ra các sắc thái đặc biệt: bạch kim (choJean Harlow),trung tính (đối với Joan Crawford), sẫm tối (đối với

Claudee Colbert) và ánh sáng Ai Cập (đối vớiLenaHorne) Đối vớiRudolph Valentino, ông tạo ra trangđiểm bổ sung cho da và che giấu mảng tối trên da.Năm 1920, Max Factor đưa ra đề xuất của con trai Frank

và chính thức bắt đầu đề cập đến sản phẩm của ôngnhư là “make-up” dựa trên cụm từ “trang điểm” Chođến thời điểm đó thuật ngữ “cosmetics” (mỹ phẩm) đãđược sử dụng; thuật ngữ “make-up” bị xem là thô tục,chỉ được những người trong rạp hát hoặc danh tiếngkhông rõ ràng sử dụng và không phải cái gì đó để sửdụng trong xã hội lịch sự

Năm 1922 khi đi nghỉ ở Châu Âu với vợ, Factor đã đếnthăm trụ sở của Leichner ở Đức Lúc đó ông là nhà bán

lẻ lớn nhất phấn mỡ hóa trang ở sân khấu, tuy nhiênông đã ngủ gật và chờ đón tiếp tại lễ tân.[3] Khó chịucách thoa phấn quá lâu, ông bỏ đi và ngay lập tức chophép con trai ông bắt đầu bán nhãn hiệu phấn mỡ hóatrang do ông sở hữu Cho đến lúc Factor đã tự tạo raphấn mỡ hóa trang của riêng ông để sử dụng cho kháchhàng của ông, nhưng đã không cố gắng tiếp thị nó trongkhi ông đại diện cho nhãn hiệu khác Bây giờ ông tậptrung vào các sản phẩm của mình, mà ông chào bánloại ống gấp lại, thay thế thỏi que mà nhà sản xuất khácdùng Phấn mỡ hóa trang dạng ống gấp không chỉ vệsinh hơn mà còn có thể thoa mỏng hơn và đều đặn.Sớm sau đó, phiên bản của Max Factor là nhãn hiệuhàng đầu

Vào những năm 1920, các con trai ông, Davis và Frank

đã tham gia rất nhiều kinh doanh, với Davis là tổnggiám đốc và Frank trợ giúp cha trong việc phát triển

6

Trang 10

5.2 THAM KHẢO 7

sản phẩm mới

Năm 1925, công ty nhận được yêu cầu lớn nhất cho đến

nay khi phải hoàn thành đơn hàng gấp để cung cấp 600

gallon trang điểm ô liu sáng cho bộ phimBen-Hurđể

đảm bảo rằng màu da các diễn viên vai phụ sử dụng

trong quá trình quay phim được thực hiện ở Mỹ sẽ phù

hợp với diễn viên vai phụ có da sẫm màu ở những cảnh

được quay ở Ý

Năm 1926 cho bộ phimMare Nostrum, Max và Frank

Factor đã phát triển cách đồ trang điểm sân khấu không

thấm nước đầu tiên

Vào thập niên 2020, Max Factor trở nên nổi tiếng bên

ngoài cộng đồng điện ảnh, dẫn đến công ty vào đầu

những năm 1930 phát triển bộ phận quan hệ công

chúng

5.2 Tham khảo

[1] “Two Great Polish enterpreneures - Max Factor &

Helena Rubenstein Your Roots in Poland” Ngày 17

tháng 7 năm 2016 Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2017

[2] “Słynny Max Factor urodził się w Zduńskiej Woli”

Ngày 6 tháng 8 năm 2012 Truy cập ngày 17 tháng 6

năm 2017

[3] Basten, page 46

Ngày đăng: 27/08/2017, 11:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w