Vương triều Nguyễn, triều đại quân chủ phong kiến cuối cùng của Việt Nam với suốt chiều dài lịch sử kể từ Chúa Nguyễn đến vương triều Nguyễn đã tồn tại trên 400 năm. Một thiên lịch sử với những sự kiện bi hùng gắn với một triều đại đầy biến động. Trải qua bao cuộc bể dâu, kinh đô Huế đã trở thành cố đô nhưng những gì còn lại vẫn toát lên sự oai hùng của một vương triều vang bóng một thời. Trải qua thời gian cùng với thiên tai bão lũ và bom đạn chiến tranh, các văn bản hành chính của vương triều này còn lại khá nhiều, đặc biệt là các sắc phong. Tuy mất mát hư hỏng nhưng vẫn đang được các làng quê và dòng họ Việt Nam nâng niu và gìn giữ như một báu vật. Phần lớn các đình làng của người Việt đều được các triều đại quân chủ nối tiếp nhau ban sắc phong. Để có một góc nhìn chi tiết hơn về sắc phong thời Nguyễn, hôm nay nhóm xin giới thiệu về một sắc phong cụ thể của thời Nguyễn đó là sắc phong của vua Thiệu Trị phong thần cho Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn năm 1845.
Trang 1Mục Lục
Dẫn Luận
I Đôi nét về văn hóa triều Nguyễn và văn hóa sắc phong của triều Nguyễn
1 Đôi nét về văn hóa triều Nguyễn (1882 – 1945)
2 Văn hóa sắc phong của triều Nguyễn
II Giới thiệu sắc phong thần Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn của vua Thiệu Trị
1 Giới thiệu khát quát về sắc phong
2 Mô tả chi tiết về sắc phong
2.1 Hình dáng, kích thước và hiện trạng
2.2 Chất liệu giấy
2.3 Kiểu chữ viết và mực
2.4 Họa tiết trên sắc phong
3 Nội dung của sắc phong
3.1 Nội dung – dịch nghĩa
3.2 Đôi nét về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
4 Nghi lễ trao và nhận sắc phong
5 Ý nghĩa và các giá trị của sắc phong
III Nhận định và công tác bảo tồn.
1 Nhận định
2 Công tác bảo tồn
Kết Luận
Trang 2Phụ Lục
Tài Liệu Tham Khảo
Trang 3DẪN LUẬN
Vương triều Nguyễn, triều đại quân chủ phong kiến cuối cùng của Việt Nam với suốt chiều dài lịch sử kể từ Chúa Nguyễn đến vương triều Nguyễn đã tồn tại trên 400 năm Một thiên lịch sử với những sự kiện bi hùng gắn với một triều đại đầy biến động Trải qua bao cuộc bể dâu, kinh đô Huế đã trở thành cố đô nhưng những gì còn lại vẫn toát lên sự oai hùng của một vương triều vang bóng một thời Trải qua thời gian cùng với thiên tai bão lũ và bom đạn chiến tranh, các văn bản hành chính của vương triều này còn lại khá nhiều, đặc biệt là các sắc phong Tuy mất mát hư hỏng nhưng vẫn đang được các làng quê và dòng họ Việt Nam nâng niu và gìn giữ như một báu vật Phần lớn các đình làng của người Việt đều được các triều đại quân chủ nối tiếp nhau ban sắc phong
Để có một góc nhìn chi tiết hơn về sắc phong thời Nguyễn, hôm nay nhóm xin giới thiệu về một sắc phong cụ thể của thời Nguyễn đó là sắc phong của vua Thiệu Trị phong thần cho Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn năm 1845
Trang 4I Đôi nét về văn hóa triều Nguyễn và văn hóa sắc phong của triều Nguyễn
1 Đôi nét về văn hóa triều Nguyễn (1802 – 1945)
Xóa bỏ triều Tây Sơn, thống nhất một lãnh thổ rộng lớn từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau gồm Đàng Trong và Đàng Ngoài cũ, Nguyễn Ánh lên ngôi vua lập ra triều Nguyễn, triều đại quân chủ phong kiến cuối cùng ở Việt Nam
Triều nhà Nguyễn có thể được chia ra hai giai đoạn riêng biệt: Giai đoạn Độc lập và Giai đoạn bị đế quốc Pháp xâm lăng và đô hộ Giai đoạn độc lập (1802-1858) là giai đoạn mà các vua nhà Nguyễn đang nắm toàn quyền quản lý đất nước, kéo dài 56 năm và trải qua 4 đời vua: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức Gia Long và con trai Minh Mạng (1820-1841) đã cố gắng xây dựng Việt Nam theo khái niệm kiểu Nho giáo Từ thập niên 1830, giới trí thức Việt Nam (đại diện tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ)
đã đặt ra yêu cầu học hỏi phương Tây để phát triển công nghiệp - thương mại, nhưng họ chỉ là thiểu số Đáp lại, vua Minh Mạng và những người kế tục Thiệu Trị (1841-1847) và Tự Đức (1847-1883) chọn chính sách đã lỗi thời là coi trọng phát triển nông nghiệp (dĩ nông vi bản) và ngăn cản Thiên chúa giáo, tôn giáo từ phương Tây
Xét về khía cạnh văn hóa, trong giai đoạn từ khi vua Gia Long lên ngôi vào năm 1802, Văn hóa thời Nguyễn nở rộ với hàng loạt tác phẩm sử học, văn học, y học, địa chí… trong đó truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) bằng chữ Nôm của Nguyễn Du đạt tới mức hoàn thiện và trở thành tuyệt tác văn chương Việt Nam Giáo dục vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của Nho giáo nhưng có một điểm mới là vào năm 1836, Minh Mạng cho thành lập “Tứ dịch quán” chuyên dạy tiếng nước ngoài như tiếng Pháp, tiếng Xiêm La cho một số giám sinh…
Giai đoạn bị Pháp xâm lăng và đô hộ (1858-1945) là giai đoạn kể từ việc quân Pháp đánh Đà Nẵng và kết thúc sau khi hoàng đế Bảo Đại thoái vị Tháng 8 năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng và sau
đó rút vào xâm chiếm Sài Gòn Tháng 6 năm 1862, vua Tự Đức ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây kế tiếp để biến Nam Kỳ thành thuộc địa Sau khi củng cố vị trí
Trang 5vững chắc ở Nam Kỳ, từ năm 1873 đến năm 1886, Pháp xâm chiếm nốt những phần còn lại của Việt Nam qua những cuộc chiến phức tạp ở Bắc Kỳ Giai đoạn này kết thúc khi Bảo Đại tuyên bố thoái vị năm 1945 Trong thời
kì này, những nét văn hóa đặc sắc của triều Nguyễn cũng như của Việt Nam không còn phát triển mạnh mẽ như thời kì trước mà thay vào đó là sự xâm lấn của văn hóa phương Tây, đặc biệt là của Pháp
Tuy vậy, từ khi thành lập đến khi vị vua cuối cùng là vua Bảo Đại thoái vị, trải qua nhiều biến cố, thăng trầm lịch sử, những giá trị văn hóa mà triều Nguyễn để lại cho đến ngày nay là một kho tàng quý báu cho lịch sử dân tộc Đó là những thành tựu về văn học với một khối lượng khổng lồ về văn học cả của Triều đình lẫn của dân gian nhất là dưới thời Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức sau khi đã thành lập Quốc sử quán, với sự phát triển mạnh mẽ của cả chữ Hán và chữ Nôm Về kiến trúc, nhà Nguyễn đã để lại một kho tàng kiến trúc đồ sộ, mà tiêu biểu là quần thể kinh thành Huế, thành Gia Định, và nhiều công trình quân sự khác Về di sản, nhà Nguyễn đã để lại nhiều di sản cho dân tộc Việt Nam, một số di sản đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới như nhã nhạc cung đình Huế, quần thể di tích cố đô Huế, mộc bản Giáo sư sử học Việt Nam Phan Huy Lê nhận xét rằng: “Chưa
có một thời kỳ lịch sử nào để lại cho dân tộc ba di sản văn hoá được thế giới công nhận và tôn vinh với những giá trị mang ý nghĩa toàn cầu như vậy.” Bên cạnh đó, Nhà Nguyễn cũng để lại hệ thống thư tịch khổng lồ; hệ thống giáo dục, kho lưu trữ châu bản; trang phục của các bậc đế thời Nguyễn đều
là phục trang cao cấp, hàm chứa nhiều vấn đề lịch sử, văn hóa và mỹ thuật, cùng với hàng ngàn đình, chùa, miếu, nhà thờ trải dài từ Nam chí Bắc… Nhiều di sản trong số này có thời kỳ dài bị lãng quên và bị coi như một thứ
"tàn dư của phong kiến thối nát” Cho đến ngày nay, những di sản dưới triều Nguyễn đều được lưu giữ một cách cẩn thận, như một cách để ghi lại một thời kì lịch sử của dân tộc, cũng như làm giàu cho kho tàng văn hóa của dân tộc
2 Văn hóa sắc phong của triều Nguyễn
Sắc phong (chữ Nho: 敕封) hay sách phong (册封) là văn bản truyền mệnh lệnh của vua phong chức tước cho quý tộc, quan chức, khen thưởng những người có công hoặc phong thần và xếp hạng cho các vị thần được thờ
Trang 6trong các đình đền trong tín ngưỡng làng xã của người Việt Văn kiện sắc phong thường làm bằng loại vải hay giấy đặc biệt Sắc phong gồm có hai loại, một là sắc phong thần dùng để xác nhận phong thần, do nhà vua các triều đại quân chủ phong tặng và xếp hạng cho các vị thần được thờ cúng trong các đình làng (Thành hoàng làng ) Các vị thần được phong tặng có thể là nhân vật lịch sử có công với nước, thường gọi là nhân thần và các thần linh trong tín ngưỡng dân gian như nhân vật huyền thoại, vật linh, các hiện tượng thiên nhiên
Nhân vật trên sắc phong thần cũng có thể là những người dân bình thường nhưng có công khai hoang lập làng, truyền dạy nghề thủ công hoặc
có công đức với cộng đồng… gắn liền với lịch sử làng xã cổ truyền Thậm chí có nhiều làng, người được sắc phong thần làm thành hoàng chỉ là một người rất bình thường, có khi còn là ăn mày, trộm cướp Một loại sắc phong khác đó là sắc phong chức tước Đây là loại sắc phong do nhà vua dùng để phong chức tước cho các quan lại, quý tộc, người có công Loại này không còn nhiều và thường do các gia đình dòng họ lưu giữ nên không mấy khi được phổ biến ra trước công chúng
Thời nhà Nguyễn cũng là một triều đại trong lịch sử phong kiến của nước ta với chế độ quân chủ chuyên chế, vì thế, cũng như các triều đại trước
đó, văn hóa sắc phong vẫn còn được các vua triều Nguyễn tiếp tục lưu giữ
và sử dụng như một cách để thể hiện quyền uy tối cao của nhà vua Với các sắc phong chức tước, viêc truy phong không chỉ thể hiện quan hệ vua tôi, mà quan hệ gia đình cũng được các vị vua nhà Nguyễn đặc biệt quan tâm Coi hiếu là nguồn gốc của mọi đức hạnh, là phẩm chất vĩnh hằng của con người,
là cơ sở của mọi đường lối chính trị tốt đẹp
Đối với các vua nhà Nguyễn, việc ban sắc phong thần là để tỏ rõ quyền uy tuyệt đối của vua đối với mọi nơi, mọi cõi trên đất nước của chế độ trị vì Đồng thời cũng thể hiện quyền lực của nhà vua với thần linh, yêu cầu thần linh che chở cho con dân với mong muốn thâu tóm mọi sức mạnh, để bình ổn xã hội, giúp duy trì địa vị thống trị của mình
Sắc phong triều Nguyễn là sự hội tụ của yếu tố hài hòa khi biểu đạt một nội dung nhất quán tôn vương quyền, thể hiện một thể chế thịnh trị với sự tập
Trang 7trung quyền lực trung ương cao nhất Cùng với các loại văn bản và thư tịch cổ như chiếu, chỉ, hịch, văn bia, gia phả, sắc phong được xem như một loại văn bản pháp quy mang tính chính thống của nhà nước Sắc phong này là những di vật quý giá của dân tộc, vì giá trị của nó cũng như tính độc nhất của nó Mỗi sắc phong chỉ có một bản duy nhất, do vua ban và có con dấu của vua Những sử liệu này, ngoài niềm tự hào của gia tộc họ Nguyễn còn có giá trị lịch sử
II Giới thiệu sắc phong thần Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn của vua Thiệu Trị
1 Giới thiệu khát quát về sắc phong
Sau khi nghiên cứu nội dung sắc phong thì đây là dạng sắc phong thần: Sắc phong cho các thần linh hoặc những bậc hiển thánh (thành hoàng làng), là tài sản chung của cả cộng đồng làng xã cho nên thường được cất giữ tại các đình, đền, miếu mạo Đây được coi là một trong những sắc phong thần cổ quý hiếm mà hiện nay chúng ta đã tìm được và lưu giữ do vua Thiệu Trị triều Nguyễn truy phong vào 1845
Đạo sắc phong này được ông Bùi Văn Quang ( huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định), một hội viên trong CLB UNESCO nghiên cứu siêu tầm cổ vật Việt Nam siêu tầm và lưu giữ cận thận Hiện vật đã được ông Quang trao tặng cho đền Bảo Lộc vào tháng 4 năm 2013, hiện đang được lưu giữ và bảo quản ở bảo tàng tỉnh Nam Định Đền Bảo Lộc được các nhà khảo cứu cho
là nơi phát tích của “sắc phong” này Sau khi tìm hiểu, cán bộ phòng nghiên
cứu – Sưu tầm thuộc tỉnh Nam định cho biết rằng trong các hiện vật có tại di tích di tích đền Bảo Lộc thì sắc phong trên có niên đại sớm nhất ban cho Hưng Đạo Đại vương
2 Mô tả chi tiết về sắc phong
2.1 Hình dáng, kích thước và hiện trạng
Đạo sắc phong thần Hưng Đạo Đại vương của vua Thiệu Trị có hình chữ nhật với chiều dài là 121cm và chiều rộng là 50 cm Ở riềm đã bị mối, mọt và rách
2.2 Chất liệu giấy
Trang 8Được làm bằng chất liệu giấy dó mịn màu vàng đậm, một loại giấy quý thời bấy giờ Sắc phong là loại văn bản quý của triều đình phong kiến,
để có thể lưu giữ được lâu dài thì sắc phong cần có viết trên chất liệu giấy hay vải tốt Giấy dó có đặc tính xốp nhẹ, bền dai, bắt màu, không nhoè khi viết vẽ, ít bị mối mọt, hoặc dòn gãy, ẩm nát Giấy có khả năng hút ẩm, thoát
ẩm nhanh, có trọng lượng riêng bằng khoảng một nửa các loại giấy sản xuất công nghiệp Với đặc tính chống ẩm rất cao, giấy dó giúp cho các sắc phong không bị ẩm mốc Chính vì những đặc tính này mà giấy dó là lựa chọn của nhiều triều đại dùng để làm sắc phong
2.3 Chữ viết và chất liệu mực
Văn bản sử dụng chữ Hán – Nôm và được viết bằng loại mực tàu loại I
Các kiểu chữ viết bao gồm: chữ chân, chữ triện
2.4 Họa tiết trên sắc phong
Mặt trước gồm 2 phần: riềm sắc phong rộng 4 cm trang trí văn triện, mặt săc phong vẽ hình rồng ẩn trong mây, kết hợp hoa văn sóng nước Thân
rồng uốn lượn, đầu ngẩng chầu về chữ “Thọ” ở giữa sắc phong, đuôi cuộn
trong hướng lên trên Hình rồng trên sắc phong triều Nguyễn khác với hình rồng trên sắc phong triều Lê trước đấy
Thời Lê, rồng là một con vật mình dài uốn lượn đều đặn ở trong nhiều
tư thế khác nhau Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là một chiếc mũi to Mép trên của miệng rồng vẫn kéo dài nhưng được vuốt gần như thẳng ra, bao quanh có một hàng vải răng cưa kết lại như hình chiếc lá Răng nanh cũng được kéo dài lên phía trên và ướn xoăn thừng
ở gốc Trên lông mày và chiếc sừng hai chạc, đầu sừng cuộn tròn lại Rồng
có râu ngắn và một chân trước thường đưa lên đỡ râu, tư thé thường thấy ở các con rồng đời sau.Cổ rồng thường nhỏ hơn thân, một hiện tượng ít thấy ở những con rồng trước đó
Như trong sắc phong đề năm Vĩnh Khánh nhị niên 1730, thời Lê Đế Duy Phường, hình tượng con rồng thật uy nghiêm nhả ngọc, xen lẫn vào trong đám mây, đuôi dài nhọn, móng vuốt sắc, sừng dày, bờm cao mình uốn nhiều khúc bao bọc toàn bộ sắc phong
Trang 9Thời Nguyễn con rồng trở lại vẻ uy nghi tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc ngậm chữ thọ, hai rồng chầu mặt trời, chầu hoa cúc, chầu chữ thọ… Phần lớn mình rồng không dài ngoằn mà uốn lượn vài lần với độ cong lớn Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu chĩa ngược ra xuôi Mắt rồng lộ to, mũi
sư tử, miệng há lộ răng nanh Vậy trên lưng rồng có tia, phân bố dài ngắn đều đặn Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên
Trong tờ sắc phong thời Tự Đức, chúng ta thấy con rồng nằm trải dài khắp cả tờ sắc, mình có nhiều vảy như cá sấu, kết hợp các đốm hoa đầu ngoái lại đằng sau, mình uốn khúc ít hơn rồng thời Lê
Nhìn chung, hình tượng con rồng là một biểu tượng không thể thiếu trong các văn bản sắc phong của triều đình phong kiến Rồng biểu thị cho hoàng đế, biểu thị cho uy quyền tối thượng, vừa uy nghiêm trang trọng lại vừa mang đến một ân huệ cho dân chúng Rồng theo quan niệm có thể phun mưa cứu tai ương cho nơi hạn hán, vì thế mà ngoài sắc phong ra, hình tượng con rồng còn được nhân dân khắc, vẽ trong nhiều mô típ nghệ thuật ở các kiến trúc văn hóa dân gian
Bốn góc sắc phong là bốn ô hình học, mỗi ô vẽ 5 chữ Thọ (kiểu chữ Triện) Ở giữa ô là hình chim phượng, xung quanh là các hoa văn hình học
Sắc phong có chín dòng chữ Hán ( kiểu chữ Chân) Dấu triện “sắc mệnh chi bảo” màu đỏ được đè lên thời gian của niên hiệu
Trên mặt sắc còn có 4 dòng chữ Hán bằng mực hồng do người đời sau viết thêm vào Mặt sau của đạo sắc phong cũng gồm 2 phần: riềm in hoa văn
kỳ hà và mặt thân vẽ đề tài tứ linh Phía trên mặt thân là hình rồng vờn mây, bên phải là chim phượng, bên trái là hình kì lân, phía dưới là hình rùa, dưới cùng là hoa văn sóng nước Tứ linh chầu vào 2 chữ Thọ( kiểu chữ Triện)
3 Nội dung của sắc phong
3.1 Nội dung – dịch nghĩa
Cùng với các loại văn bản và thư tịch cổ như chiếu, chỉ, hịch, văn bia, gia phả… sắc phong được xem như một loại văn bản pháp quy chính thống của nhà nước phong kiến Việt Nam Vì vậy nó có những quy phạm nhất định về thể thức
Về nội dung, đây là sắc phong cho Hưng Đạo thượng đẳng thần thêm
2 mỹ tự là "Vĩ liệt" Tạm dịch nghĩa là:
"Sắc phong cho Chí Trung Đại nghĩa Hồng Huân Hưng Đạo thượng đẳng thần thàn cứu nước giúp, nhiều lần linh ứng, đã nhiều lần được ban
Trang 10tặng sắc phong, cho được phụng thờ Năm Minh Mệnh 21 (1841), Thánh tổ nhân Hoàng đế ta (vua Minh Mệnh) mừng thọ ngũ tuần, đã ban tặng nhiều sắc quý để tỏ rõ ơn vua, lầm lễ phong phẩm trật ban cho (thần) Nay, trẫm thừa kế mệnh lớn, cũng kính nghĩ đến công lao to lớn của thần, bèn gia tặng thêm phẩm trật: Chí Trung Đại nghĩa Hồng Huân Vĩ liệt thượng đẳng thần" (hết mực trung thành, nêu cao đại nghĩa, công lao to lớn, rực rỡ oanh liệt,
là bậc Thượng đẳng thần) chuẩn cho xã Bảo Lộc, huyện Mỹ lộc được thờ phụng như cũ Ơn thần ngõ hầu cứu giúp , bảo vệ muôn dân cho trẫm Kính thay Ngày 20 tháng 5 năm Thiệu Trị 4 ( 1845)."
3.2 Đôi nét về Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn tên thật là Trần Quốc Tuấn,
con trai thứ 3 của Trần Liễu, gọi Trần Thái Tông bằng chú ruột, mẹ ông là Thiện Đạo quốc mẫu Một người trong tôn thất họ Trần Ông có người mẹ nuôi đồng thời là cô ruột, Thụy bà công chúa Ông sinh ra ở kinh đô Thăng Long, quê quán ở thôn Tức Mặc, phường Lộc Vượng, TP Nam Định ngày nay Năm 1237 , khi lên năm tuổi ông vì biến loạn của gia đình ki cha ông Trần Liễu chống lại Triều đình ông được Thụy Bà công chúa nhận làm con nuôi
Ông là người có dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, nhờ được nhiều người tài giỏi đến giảng dạy mà ông sớm đọc thông hiểu rộng, có tài văn võ 1
Là một người có đức đô cao, thương dân và kính vua, bỏ qua hiềm
kích gia đình và lời hứa với cha là Trần Liễu là “nuôi nghiệp lớn dựng thiên
hạ”, ông hết lòng phụng sự vua và hết lòng đem sức ra giúp dân giúp nước
đánh đuổi quân xâm lược Mông - Nguyên ra khỏi bờ cõi Đại Việt, tạo ra chiến hách vang dội cho Đại Việt ở thế kỉ 13 Sự trung trinh của ông được
sử sách ghi chép và công nhận Đức độ của Ngài cần được con cháu đời sau cần được biết đến và nhớ rõ hơn nữa Để tượng niệm và ghi nhớ công ơn về công trạng cũng như tiết hạnh của Hưng Đao Đại vương thì các vua quan nhà Nguyễn đã ban sắc thần để ghi nhớ, nhắc nhở người đời sau không chỉ ghi nhớ công đức của Ngài mà còn phải lấy gương ấy mà học theo