1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG

19 146 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 42,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm Văn hóa là 1 hệ thống các giá trị chân lý ,chuẩn mực ,mục tiêu mà con người cùng thống nhất với nhau trong quá trình tương tác và hoạt động sáng tạo .Nó được bảo tồn và chuyển hóa cho những thế hệ nối tiếp theo sau. Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Vai trò : 1.Là cơ sở XH hóa các cá nhân: văn hóa được thể hiện là những nhận thức của mỗi người để đảm bảo sự hòa đồng của các cá nhân vào XH chung và năng lực lao động của các cá nhân để đảm bảo đời sống của chính họ. Con người không thể tồn tại nếu tách rời tự nhiên cũng như con người không thực sự là người nếu tách rời môi trường văn hóa R.E.Park: “ con người không sinh ra là người ngay mà trở thành người trong quá trình giáo dục ”.Các cá nhân tiếp nhận nền văn hóa và trở thành con người XH. Con người ngày càng hiểu biết được đầy đủ quy luật vận động của tự nhiên ,XH và bản thân .Từ đó họ luôn làm chủ mình trong mọi tình huống. 2.Văn hóa là cơ sở phát triển kinh tế: Toàn bộ các yếu tố văn hóa (tài sản hữu hình và tài sản vô hình) được biểu hiện trong lĩnh vực kinh tế là các cơ sở vật chất dùng cho sản xuất kinh doanh và năng lực lao động của con người, là cơ sở cho quá trình phát triển kinh tế ,XH. Nền văn hóa phát triển cao đồng nghĩa với người lao động có năng lực cao .Do vậy xây dựng, phát triển nền văn hóa là nhiệm vụ của mỗi quốc gia. 3.Văn hóa là nền tảng tinh thần của XH: Vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế ,XH .Các giá trị văn hóa tạo nên nền tảng vững chắc của XH đó là nền tảng tinh thần .Cái nền tảng đó tạo nên giá trị làm người ,tạo nên sức mạnh ghê gớm của dân tộc, giúp dân tộc vượt qua thách thúc bạo tàn của thiên nhiên và giặc ngoại xâm .Cho thấy tinh thần đoàn kết mạnh mẽ trong chiến tranh và xây dựng đất nước. Văn hóa điều tiết, cải biến sự phát triển của xã hội

Trang 1

VAN HOA CONG DONG

Khái niệm

*Văn hóa là 1 hệ thống các giá trị chân lý ,chuẩn mực ,mục tiêu mà con

người cùng thống nhất với nhau trong quá trình tương tác và hoạt động sáng tạo Nó được bảo tồn và chuyển hóa cho những thế hệ nối tiếp theo sau

*Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển

trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa

Vai trò :

1.Là cơ sở XH hóa các cá nhân: văn hóa được thể hiện là những nhận

thức của mỗi người để đảm bảo sự hòa đồng của các cá nhân vào XH chung và năng lực lao động của các cá nhân để đảm bảo đời sống của chính họ Con người không thể tồn tại nếu tách rời tự nhiên cũng như con người không thực sự là người nếu tách rời môi trường văn hóa R.E.Park: “ con người không sinh ra là người ngay mà trở thành người trong quá trình giáo dục ”.Các cá nhân tiếp nhận nền văn hóa và trở thành con người XH Con người ngày càng hiểu biết được đầy đủ quy luật vận động của tự nhiên ,XH và bản thân Từ đó họ luôn làm chủ mình trong mọi tình huống

2.Văn hóa là cơ sở phát triển kinh tế: Toàn bộ các yếu tố văn hóa (tài

sản hữu hình và tài sản vô hình) được biểu hiện trong lĩnh vực kinh tế là các cơ sở vật chất dùng cho sản xuất kinh doanh và năng lực lao động của con người, là cơ sở cho quá trình phát triển kinh tế ,XH Nền văn hóa phát triển cao đồng nghĩa với người lao động có năng lực cao Do vậy xây dựng, phát triển nền văn hóa là nhiệm vụ của mỗi quốc gia

3.Văn hóa là nền tảng tinh thần của XH: Vừa là mục tiêu, vừa là động

lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế ,XH Các giá trị văn hóa tạo nên nền

Trang 2

tảng vững chắc của XH đó là nền tảng tinh thần Cái nền tảng đó tạo nên giá trị làm người ,tạo nên sức mạnh ghê gớm của dân tộc, giúp dân tộc vượt qua thách thúc bạo tàn của thiên nhiên và giặc ngoại xâm Cho thấy tinh thần đoàn kết mạnh mẽ trong chiến tranh và xây dựng đất nước -Văn hóa điều tiết, cải biến sự phát triển của xã hội

Văn hóa góp phần giữ ổn định xã hội trong giai đoạn phát triển bền vững hiện nay

-Văn hóa là nguồn lực mạnh mẽ cho sự phát triển xã hội

-Giá trị văn hóa tốt đẹp của văn hóa tác động mạnh đến quá trình phát

triển xã hội trong giai đoạn phát triển bền vững

4 Vai trò của văn hóa đối với bảo bệ môi trường

a)Văn hóa xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên là vấn đề chính cần quan tâm để đảm bảo tốt nhất môi trường sống của con người

Văn hóa Việt Nam gắn với văn minh nông nghiệp, từ trước đến nay, người Việt Nam đã có mối liên hệ đặc biệt , phụ thuộc vào tự nhiên Vì vậy, con người có mối quan hệ gắn bó vô cùng mật thiết với tự nhiên

Tự nhiên chính là môi trường sống của con người Môi trường sống không chỉ cung cấp những điều kiện cơ bản cho con người sinh hoạt như: ăn, mặc, ở… Như vậy, có thể nhìn nhận thấy tầm quan trọng của môi trường tự nhiên đối với con người Trong quá trình phát triển bền vững, vô tình sự phát triển kinh tế xã hội đã làm tổn hại đến môi trường

tự nhiên Điều này sẽ đe dọa đến sự sống của con người Con người luôn nhận thức rõ mối quan hệ hài hòa của mình với tự nhiên Cần phải giữ gìn và bảo vệ tài nguyên là vấn đề cấp bách để có thể phát triển bền vững

b)Xây dựng con người tự ý thức, tự giác đối với việc bảo vệ môi trường là vai trò quan trọng của văn hóa.

Ở Việt Nam, vấn đề môi trường và ảnh hưởng của nó đến phát triển con người đang trở thành thách thức Ô nhiễm trên quy mô rộng, suy thoái cục bộ, có dấu hiệu khủng hoảng môi trường do quá trình phát

Trang 3

triển ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế, coi nhẹ bảo vệ môi trường đang trở thành những rào cản lớn đối với sự phát triển của chính con người Việt Nam – được hiểu như quá trình không ngừng mở rộng cơ hội và nâng cao năng lực lựa chọn cho con người Thứ nhất, sức khỏe, tính mạng người dân bị đe dọa trực tiếp do tình trạng nhiễm khuẩn không khí, đất, nước, thực phẩm, bùng phát dịch bệnh Thứ hai, suy thoái môi trường làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên tái sinh nuôi sống con người như biển, sông, hồ, đất màu, rừng, v.v

c)Bất bình đẳng xã hội gia tăng do những doanh nghiệp gây ô

nhiễm tạo ra chi phí kéo theo về bệnh tật, giảm thu nhập lên những người khác, đặc biệt là nhóm yếu thế như người nghèo, dân cư các vùng sâu, vùng xa, người dân tộc thiểu số…

d) Khủng hoảng môi trường, thiên tai bùng phát, biến đổi khí hậu

đe dọa an ninh, tính mạng và tài sản của con người Chính vì vậy xây

dựng ý thức tự giác của con người đối với việc bảo vệ môi trường chiếm

vị trí quan trọng hàng đầu đến sự sống còn của con người Văn hóa xây dựng ý thức tự giác của con người, trước hết bởi chức năng nhận thức của nó Con người là trung tâm của văn hóa, tất cả hành vi, hoạt động của con người đều liên quan đến văn hóa Văn hóa tạo dựng cho con cách ứng xử thân thiện với môi trường trên cơ sở đổi mới tư duy, cách làm, hành vi ứng xử, ý thức trách nhiệm với thiên nhiên, môi trường trong xã hội và của mỗi người dân Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao hiểu biết, xây dựng các chuẩn mực, hình thành ý thức, lối nghĩ, cách làm, hành vi ứng xử thân thiện với thiên nhiên, môi trường

Ảnh hưởng của văn hóa luật tục đến quản lý tài nguyên

I- Luật tục

1.Khái niệm về luật tục

Theo Từ điển Luật học, luật tục là tập tục, phong tục tập quán của một cộng đồng, được hình thành tự phát và được các thành viên trong cộng đồng chấp nhận, tuân theo trong quan hệ với nhau

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, luật tục là toàn bộ những nguyên tắc ứng xử không thành văn được hình thành trong xã hội, sau một thời gian dài áp dụng đã trở thành truyền thống và được mọi người tuân thủ

Như vậy luật tục hình thành từ phong tục, tập quán nhưng nó không còn thuần tuý là phong tục, tập quán Không phải tất cả phong tục, tập quán

Trang 4

đều là luật tục, mà chỉ có một số phong tục, tập quán liên quan trực tiếp tới các mối quan hệ xã hội quan trọng mới trở thành luật tục

2.Đặc điểm tính chất của luật tục

Luật tục tồn tại dưới dạng lời nói có vần, điệu, giàu hình ảnh, cụ thể, sinh động, đa phần là truyền miệng, làm cho người ta có thể hình dung

và nhận thức bằng trực giác

Về phạm vi điều chỉnh, luật tục điều chỉnh quan hệ xã hội trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quan hệ cộng đồng, quan hệ gia đình, quan hệ nam nữ, đến nghi lễ, tín ngưỡng trong phạm vi từng cộng đồng buôn, làng, ấp, bản,

3.Ảnh hưởng của luật tục đến Tài nguyên thiên nhiên

a) Bảo vệ tài nguyên nước

Tài nguyên nước cũng là một thành phần cơ bản của môi trường, có vai trò rất quan trọng trong đời sống của con người Ở nước ta, Luật Tài nguyên nước năm 2012 mới được ban hành và đang dần dần đi vào cuộc sống, nhưng ở các dân tộc thiểu số nước ta, từ lâu đã có những phong tục, tập quán, luật lệ bảo vệ và giữ gìn nguồn nước rất cụ thể Họ đều cho rằng, có nước sẽ có tất cả Người Thái có khẩu ngữ quen thuộc là:

“có nước mới có ruộng, có ruộng mới có lúa”, có nơi còn quy định “ăn cắp nước lã phải phạt 80 lạng bạc, kèm theo rượu, trâu, phải cúng cho chủ hồn nước 03 đồng bạc và trả lại số nước đã lấy”[10] Để bảo vệ tốt nguồn nước, dân tộc Thái có những quy định rất chặt chẽ về các vùng nước, các khúc sông suối, họ thường quy những vùng nước, khúc sông suối cần bảo vệ thành những vùng linh thiêng như “vũng cấm” (văng hảm) hay “vũng mường” (văng mương) Đây là những chỗ sông, suối sâu thẳm, xanh biếc và được mở rộng ra hai bên bờ nơi có khu rừng già, nước chảy lững lờ nên có cảnh quan bề ngoài như một cái ao trời phú Theo tôn giáo tín ngưỡng Thái thì đây là những chỗ để các siêu linh dưới nước trú ngụ và là những nơi để tế chủ nước cũng như tổ chức hội đánh cá

Để giữ gìn, bảo vệ nguồn nước thường xuyên cho các con sông, suối và các mạch nước ngầm, người Thái đã sớm biết tạo ra và bảo vệ các khu rừng đầu nguồn Trên mỗi một nguồn nước là những khu rừng có nhiều cây cối um tùm Tín ngưỡng dân gian coi mỗi khu rừng đó là nhà của các loại ma liên quan đến sức mạnh tạo ra nguồn nước Cây cối càng rậm rạp chúng càng thích trú ngụ Bởi vậy, nếu phá rừng đầu nguồn

Trang 5

cũng có nghĩa là phá nhà và những người đụng chạm đến chúng sẽ bị

ma bắt mất hồn mà sinh ra ốm hay chết Theo một số nhà nghiên cứu, tín ngưỡng dân gian quan niệm nguồn nước nào cũng có “thần chủ” gọi bằng thuật ngữ tôn giáo tín ngưỡng Thái là “ma đầu nguồn” (phi hua bó) hay “ma huỷ” (phi khuông) chuyên gây cho người bệnh đau khớp xương không thể chữa chạy được và đến khi khuất núi thì linh hồn không thể biến thành ma về cõi trời mà phải “trực gác” nơi đầu nguồn để chuyên hại người khác

Về bảo vệ nguồn nước: Ở người Êđê, Gia Rai bến nước hoặc nguồn nước được coi là hình ảnh tiêu biểu của buôn làng Việc làm ô nhiễm nguồn nước gây nên những hậu quả nghiêm trọng sẽ bị đưa ra xét xử và phải chịu những hình phạt rất nặng Quan niệm của đồng bào là tại mỗi bến nước chung của làng đều có một vị thần linh trú ngụ Bến nước bị

uế tạp làm thần linh nổi giận gây ra dịch bệnh để trừng phạt dân làng Bởi thế, hàng năm, dân làng phải làm lễ cúng bến nước Trong lễ cúng

đó, nghi thức quan trọng nhất là tất cả mọi người trong buôn làng phải tham gia quét dọn bến nước, làm cho bến nước trở nên sạch sẽ Họ tin rằng làm như vậy các vị thần sẽ hài lòng, giúp cho dân làng được khoẻ mạnh

Trong luật tục của người M'nông lại có những điều khoản liên quan đến việc bảo vệ nguồn nước ở một khía cạnh khác Nguồn nước sinh hoạt cho con người mà còn cung cấp cá, tôm, cua, ốc làm thức ăn cho buôn làng: "Bắt con ếch phải chừa con mẹ Bắt con cá phải chừa con mẹ Chặt cây tre phải chừa cây con Đốt tổ ong phải chừa ong chúa"; "… làm ô nhiễm nguồn nước ăn thì luật tục quy định chủ nhà phải tát nước cho hết phèn Đồng thời phải cúng xoá cho thần linh một lợn, một bầu gạo, một

dê, một bầu cháo và một trâu hay một bò cho buôn làng"

b) Bảo vệ động thực vật

Cũng như việc quản lý, bảo vệ các nguồn tài nguyên môi trường khác, động thực vật cũng được các dân tộc thiểu số miền núi nước ta quản lý, bảo vệ và khai thác rất hiệu quả bằng các phong tục tập quán, luật tục truyền thống từ rất lâu

Trong Luật tục M’nông có đến hàng trăm điều luật khác nhau, trong đó

có khá nhiều điều luật liên quan đến các loại động thực vật, như trong quan hệ sở hữu, tài sản, các điều luật đã đề cập đến việc bảo vệ, gìn giữ động thực vật quý hiếm Loại động vật được nói đến nhiều nhất là con

Trang 6

voi, đã có những điều luật quy định xử phạt những ai vi phạm như ăn thịt voi, coi khinh voi, chửi mắng voi, nhất là tội hành hạ voi đến mức làm cho chúng bị thương và bị chết Người nào sử dụng voi nhưng không chăm sóc chu đáo hoặc cục cằn, đối xử tàn nhẫn với voi sẽ bị phạt rất nặng Nếu người nào săn bắn làm chết các loài thú hiếm, Luật tục M’nông buộc người đó phải nộp phạt rất nặng để tạ tội với thần linh Ngoài ra, việc bắt cá bằng cách đánh thuốc, chập điện như hiện nay cũng bị coi là một trọng tội, phải nghiêm cấm vì nó huỷ hoại môi trường sống của các sinh vật khác Vấn đề này được Luật tục M’nông quy định trong điều Tội thuốc cá: “Thuốc cá làm suối nghèo; muốn ăn ếch phải dùng ná bắn; muốn ăn cá dùng rổ mà vớt…” tức là làm gì cũng phải bảo

vệ nòi giống, không được giết hàng loạt “Làm chết sạch cả tép, cả cua;

ai thuốc cá có tội với làng; tội thuốc cá không ai đền nổi”

Việc thuốc cá (dùng các loại vỏ cây, rễ cây có chất làm say cá, giã ra hoà xuống suối, để cá say nổi lên mà bắt) đã huỷ hoại môi trường sinh thái của dòng suối nên bị cộng đồng nghiêm cấm: "Muốn ăn ếch dùng ná mà bắn Muốn ăn cá dùng rớ và vớt Không thuốc bằng kuau rle Làm chết sạch cả tép aar cua Bon, làng có quyền khiếu nại Ai thuốc cá có tội với làng Tội thuốc cá không ai đếm nổi"

Luật tục về bảo vệ nguồn lợi thủy sản dưới sông: Nguồn thực phẩm của người Mường xưa có ba nguồn chính là súc vật nuôi trong nhà, nguồn thịt rừng và nguồn thuỷ sản dưới các sông suối

Ở vùng đất của người Mường, việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản dưới sông, suối đã được các lang, đạo, chức sắc và người dân Mường nâng lên thành tục lệ Trên các con sông, suối được chọn ngăn từng khúc, từng khoang Những khúc, khoang sông, suối đã được ngăn đó trong các ngày thường không ai được phép đánh bắt cá Còn ngoài những nơi bị cấm, dân Mường được tự do đánh cá về ăn Việc cấm đánh cá, bảo vệ những khúc, khoang sông đó còn được thần thánh hoá, tâm linh hoá nên ngoài việc sợ lang, đạo phạt, dân Mường còn sợ làm kinh động đến nơi

ở của các loại thần thuỷ tộc như: rồng, khú, thuồng luồng… vì thế các quy định cấm này được chấp hành nghiêm chỉnh Thời gian cấm gần như là quanh năm, chỉ 1-2 lần, trong năm vào các dịp giỗ chạp nhà lang, dân Mường mở hội mới được đánh bắt cá ở các khúc sông cấm

Trang 7

Tiếp cận cộng đồng trong quản lý tài nguyên rừng

1. Khái niệm về cộng đồng tham gia quản lý rừng

Cộng đồng tham gia quản lý rừng cũng có thể thay thế bằng một từ

chung nhất là lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ)

Theo FAO, LNCĐ là thuật ngữ bao trùm diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn người dân với rừng và việc phân chia lợi ích các sản phẩm này

Có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của FAO như sau:

- thứ nhất là quản lý rừng cộng đồng: cộng đồng dân cư thôn bản quản

lý rừng thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng, được hình thành chủ yếu qua các chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn bản

- thứ hai là quả lý rừng dựa vào cộng đồng: cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quyền sử dụng, sở hữu chung của họ mà

thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của các tổ chức nhà nước hoặc các thành phần kinh tế khác nhưng có quan hệ trực tiếp đến đời sống, đến việc làm, thu nhập hay các lợi ích khác của cộng đồng

2 Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của các bên liên quan được

áp dụng trong tiến trình quản lý rừng cộng đồng.

a) Các bên tham gia cấp trung ương như bộ tài nguyên môi trường, sở nông nghiệp và phát triển nông thôn:

- Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006- 2020 đã xác định một trong những chương trình trọng điểm của ngành là đẩy mạnh Quản lý rừng bền vững và hướng tới mục tiêu 30% diện tích rừng sản xuất phải có chứng chỉ Cụ thể hóa Chiến lược, trong những năm gần đây, Chính phủ và các cơ quan trực thuộc Chính phủ đặc biệt là Bộ NN&PTNT đã ban hành các chính sách và hướng dẫn phù hợp nhằm tăng cường hoạt động quản lý rừng theo xu thế bền vững, thúc đẩy quá trình Chứng chỉ rừng ở Việt Nam, kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc gỗ và sản phẩm từ gỗ bất hợp pháp Đây cũng chính là những điều kiện thuận lợi thúc đẩy quá trình Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng ở nước ta

- Đưa ra những vấn đề về kỹ thuật trong quản lý rừng cộng đồng và trong chu trình quản lý rừng cộng đồng, lập kế hoạch quản lý rừng hàng năm là bước tiếp theo sau giao đất, giao rừng Đây là bước hết sức quan trọng, được xem là phương án kinh doanh rừng, thậm chí cần phải được

Trang 8

thừa nhận như phương án điều chế rừng cộng đồng đối với những khu rừng tự nhiên giao cho cộng đồng thường áp dụng trên quy mô nhỏ ở trong phạm vi cộng đồng Các dự án ETSP và RDDL đã tổ chức thử nghiệm và áp dụng giải pháp lâm sinh đơn giản trong thực hiện kế hoạch quản lý rừng cộng đồng ở các tỉnh Hòa Bình, Thừa Thiên Huế, Đắk Nông, Dak Lak

b) Các bên tham gia cấp địa phương ( tỉnh , huyện)

- Kiểm tra, thẩm định, thông qua các đề xuất xin khai thác gỗ và trình các kế hoạch QLRCĐ lên chính quyền cấp trên

- Đảm bảo các hoạt động QLRCĐ được thực hiện theo các điều luật quy định của Nhà nước

c) Các bên tham gia cấp cơ sơ như hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các xã, cộng đồng địa phương

- Tổ chức cuộc họp xã để thành lập BQLR cấp xã với các thành viên tham gia như: đại diện UBND xã, cán bộ Địa chính - Lâm nghiệp xã, cán bộ Hạt kiểm lâm sở tại hay cán bộ kiểm lâm địa bàn và đại diện các thôn bản liên quan

- Trách nhiệm của cán bộ lâm nghiệp xã và cán bộ kiểm lâm địa bàn là

hỗ trợ kỹ thuật và giám sát việc xây dựng cũng như thực hiện các kế hoạch QLRCĐ Các trưởng thôn và trưởng nhóm sử dụng rừng có trách nhiệm trực tiếp hướng dẫn xây dựng và thực hiện kế hoạch QLRCĐ, kể

cả việc tổ chức các cuộc họp liên quan và báo cáo kịp thời cho cán bộ xã

và cán bộ kiểm lâm Ngoài ra, trưởng nhóm sử dụng rừng và trưởng thôn cũng cần đảm bảo các kế hoạch QLRCĐ được trình lên UBND xã, sau khi các kế hoạch QLRCĐ được cấp huyện phê duyệt thì mới được phép tiến hành triển khai các kế hoạch QLRCĐ cũng như kế hoạch khai thác gỗ

- Hỗ trợ chủ rừng và cộng đồng dân cư thực thi Quản lý rừng bền vững

và Chứng chỉ rừng thông qua các mô hình thử nghiệm tại các chủ thể chủ rừng là lâm trường quốc doanh, Công ty lâm nghiệp, hộ gia đình trồng rừng, liên doanh liên kết v.v

d) Khối doanh nghiệp

Gồm các nhóm xã hội dân sự , các cơ quan truyền thông, báo chí ,các tổ chức phi chính phủ, nghiên cứu khoa học và phát triển cộng đồng

- Các công ty lâm nghiệp cần phải xây dựng và thực hiện phương án quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn của FSC (Hội đồng quản trị rừng

Trang 9

quốc tế - một tổ chức độc lập phi chính phủ thực hiện việc quản lý và cấp chứng chỉ rừng trên thế giới, có trụ sở tại CHLB Đức) với những tiêu chuẩn, quy định nghiêm ngặt, khắt khe về quản lý, bảo vệ rừng của

tổ chức này từ việc xây dựng phương án, quy hoạch trồng rừng đến việc xây dựng hệ thống đường vận chuyển, vận xuất, cách khai thác gỗ, vệ sinh rừng, mở đường và bảo dưỡng đường khai thác, vận chuyển đảm bảo an toàn cho người lao động thi công đường và vận chuyển gỗ, giảm thiểu tác động tới môi trường, phương án đồng quản lý chia sẻ lợi ích rõ ràng cho cộng đồng; vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cho công tác phát triển rừng bền vững

e) Sự tham gia của các hộ dân

- Thành lập nhóm hộ Trong trường hợp tài nguyên rừng được giao cho cộng đồng dân cư thôn bản thì việc thành lập Nhóm hộ quản lý không cần thiết mà chúng ta tiến hành lập kế hoạch QLR cho cả thôn trên cơ sở việc khoanh vẽ lô trạng thái rừng Trường hợp rừng đã được giao cho từng hộ cá thể thì cần phải tổ chức họp thôn để nêu rõ những khó khăn

và thuận lợi của công tác quản lý rừng theo nhóm hộ cho người dân hiểu

rõ Sau khi người dân hiểu được khái niệm quản lý rừng có sự tham gia, cán bộ hướng dẫn hỗ trợ thành lập các nhóm hộ trên cơ sở nhu cầu của người dân

3 Thu hút sự tham gia của người dân và nâng cao năng lực của cộng đồng

a) Thu hút sự tham gia của người dân trong việc quản lý tài nguyên rừng

- lập dự án hỗ trợ xây dựng kế hoạch tuần tra bảo vệ rừng, quy ước quản

lý rừng, quy chế sử dụng nguồn quỹ sinh kế và đặc biệt đã hỗ trợ kinh phí cho cộng đồng phát triển các mô hình sinh kế

b) nâng cao năng lực cộng đồng trong quản lý tài nguyên rừng

Để nâng cao năng lực cộng đồng thì ban quản lý dự án cũng như các thúc đẩy viên cần khuyến khích người dân tham gia vào mạng lưới cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng trên địa bàn thực hiện dự án về các

kỹ năng:

- tuần tra, quản lý bảo vệ rừng;

- kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt để phát triển sinh kế;

- hướng dẫn xây dựng sơ đồ tài nguyên rừng và các hoạt động quản

lý giám sát, hỗ trợ mô hình nhằm giúp cho việc thực hiện hoạt động của

mô hình hiệu quả và bền vững hơn

Trang 10

Mở khóa huấn luyện “Quản lý bảo vệ rừng” nhằm hướng tới mục tiêu:

- cung cấp cho cộng đồng những hiểu biết cơ bản nhất về công tác tuần tra bảo vệ rừng, những quy định của pháp luật đối với các hành vi

vi phạm khi sử dụng, khai thác rừng bất hợp pháp; những loài động thực vật quý hiếm cấm săn bắt và hướng dẫn sử dụng các dụng cụ hỗ trợ tuần tra bảo vệ rừng như la bàn, bản đồ, rựa, bạt, võng,… Đặc biệt cộng đồng được hướng dẫn về cách thức sử dụng và cập nhật thông tin qua sổ theo dõi tuần tra bảo vệ rừng và cách lập biên bản tuần tra rừng

- cá nhân trong cộng đồng đoàn kết hơn, rèn luyện được các kỹ năng liên quan như thảo luận nhóm, trình bày và trao đổi ý với các bên

- giúp cộng đồng hiểu được những quyền hạn và trách nhiệm của mình đối với rừng cộng đồng được nhà nước và chính quyền giao để quản lý bảo vệ Ngoài những kiến thức về tuần tra được học, các cộng đồng tham gia có thể chia sẻ những kinh nghiệm và kiến thức bản địa của mình trong công tác tuần tra bảo vệ rừng, đây là một trong những yếu tố có thể lồng ghép, kết hợp, hỗ trợ tích cực và hiệu quả trong công tác quản lý bảo vệ rừng

Bên cạnh đó, khóa tập huấn có thể tổ chức thực hành hướng dẫn cho cộng đồng cách thức sử dụng và bảo quản một số vật dụng phục vụ cho công tác tuần tra bảo vệ rừng như la bàn, bản đồ, võng, bạt, rựa, balo, đèn pin và cách thức xây dựng lán trại ở lại qua đêm trong rừng

4 Vai trò của thúc đẩy viên trong quản lý tài nguyên rừng

- Họ vừa là người quản lý vừa là người hướng dẫn cùng người dân thực hiên việc quản lý rừng

- Sự tham gia của họ là yếu tố cơ bản cho sự phát triển cân bằng, bền vững trong các dự án tiếp cận cộng đồng

- Họ là những người vận động quần chúng tham gia, thành lập mạng lưới hoạt động, cung cấp tri thức khoa học, công nghệ hiện đại và vốn cho người dân thực hiện việc quản lý rừng có hiệu quả

- Thúc đẩy viên tạo nên sự gắn kết, cùng chia sẻ kinh nghiệm giữa những người dân trong cộng đồng

- Họ là những người đại diện cho dự án, luôn đấu tranh vì quyền lợi của cộng đồng

5 Vai trò của các thành viên trong cộng đồng

Ngày đăng: 03/07/2017, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w