1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giới thiệu về bảo tàng chăm đà nẵng

46 513 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 2,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo tàng Chăm Đà Nẵng thực sự là một địa điểm vô cùng hấp dẫn mà hơn hết chính là các tác phẩm điêu khắc được lưu giữ trong đó. Đó là những sản phẩm thật độc đáo biểu hiện các giá trị vật chất cũng như tinh thần bao gồm cả đời sống tâm linh của cư dân Champa cổ.Có đến thăm quan , tìm hiểu bảo tàng điêu khắc này chúng ta mới thấy được phần nào khả năng sáng tạo đạt đến độ tuyệt mĩ của những người Chăm nói riêng và của cả những thế hệ người trong lịch sử nói chung.

Trang 1

đa dạng mà luôn thống nhất hài hòa với nhau.

Ông cha ta đã có câu : “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” Có đi mới biếtthế giới quanh mình bao la đến nhường nào và luôn ẩn dấu trong đó biết bao điều bí

ẩn Có đi tìm hiểu, tham quan, khám phá mới thấy hết được vẻ đẹp tiềm tàng trongnhững, phát minh , sáng tạo, những công trình nghệ thuật của con người sáng tạo đãđược hình thành trong quá khứ và đang còn tồn tại trong thế giới này một cách toàndiện nhất.Điều đó thật không đơn giản.Nhưng với những nhà nghiên cứu lịch sử nóichung và những sinh viên nghiên cứu, học tập lịch sử nói riêng thì việc đi tham quan

và học tập thực tế là một hoạt động cực kì quan trọng Bởi đặc trưng của bộ môn lịch

sử là đi sâu tìm hiểu về quá khứ của loài người, chứng nhận, khôi phục và truyền tảiđến các thế hệ hiện tại cũng như tương lai những gì đã tồn tại, diễn ra trong quá khứ,

Trang 2

về những con người đã làm nên nghệ thuật , những thứ đã góp phần làm nên diện mạothế giới ngày nay Vì vậy đoàn sinh viên khóa 59, khoa Lịch sử - trường Đại học sưphạm Hà Nội, đã được Ban chủ nhiệm khoa Lịch sử dưới sự chỉ đạo của Ban giámhiệu trường Đại học sư phạm Hà Nội tạo điều kiện cho đi thực tế học tập chuyên môntại mảnh đất miền Trung (Việt Nam) với lịch trình từ Hà Nội vào Đà Nẵng, QuảngNam kéo dài trong sáu ngày, từ ngày 19/9/2011 đến ngày 24/9/2011.Trong chuyến điđoàn đã được ghé thăm và tìm hiểu lịch sử tại nhiều địa danh, nhiều di tích lịch sử tiêubiểu Và mỗi nơi đoàn được đặt chân đến đều ghi dấu ấn của một sự kiện hiện tượnglịch sử khác nhau mà ở đó chúng tôi đã khám phá ra những nét đặc trưng riêng khônglẫn vào đâu được của chúng

Với tôi Bảo tàng Chăm Đà Nẵng thực sự là một địa điểm vô cùng hấp dẫn màhơn hết chính là các tác phẩm điêu khắc được lưu giữ trong đó Đó là những sản phẩmthật độc đáo biểu hiện các giá trị vật chất cũng như tinh thần bao gồm cả đời sống tâmlinh của cư dân Champa cổ.Có đến thăm quan , tìm hiểu bảo tàng điêu khắc này chúng

ta mới thấy được phần nào khả năng sáng tạo đạt đến độ tuyệt mĩ của những ngườiChăm nói riêng và của cả những thế hệ người trong lịch sử nói chung Đi sâu tìm hiểuchi tiết chúng ta sẽ cảm thấy rất hào hứng bởi mỗi tác phẩm ở đây đều là sự thể hiệnkhác nhau của văn hóa Champa, và khi ghép chúng lại với nhau chúng ta sẽ có đượcdiện mạo của cả một nền văn hóa đó – nền văn hóa rực rỡ đã từng tồn tại trong lịch sửViệt Nam Tất cả các hiện vật được trưng bày ở đây thực sự rất độc đáo và có tínhthẩm mĩ cao Và cũng bởi sức cuốn hút kì lạ đó mà chúng tôi đã đi sâu nghiên cứu vềbảo tàng cũng như một số hiện vật mà chúng tôi thấy là khá đặc sắc tại đây

Trang 3

Chương I: Giới thiệu về Bảo

tàng Chăm Đà Nẵng

Bảo tàng điêu khắc Chăm là nơi lưu giữ những tác phẩm điêu khắc chứa đựngtrong đó cả nền văn hóa, văn minh rực rỡ của dân tộc Bảo tàng này nằm ở số 2,đường 2-9, TP Đà Nẵng

Đến thăm Bảo tàng ở bất kì thời điểm nào , du khách vẫn luôn cảm nhận đượcmột không khí rất riêng của nó, đó là sự trầm lắng của những hoài niệm Đến bảo tàng

ta như thấy lại quá khứ vàng son của một dân tộc mà lòng say mê và khả năng sángtạo nghệ thuật đều ở một trình độ rất cao Thế giới thần linh kì bí , những câu chuyện

Trang 4

bằng hình ảnh, các biểu tượng tôn giáo, đường cong thân thể các vũ nữ, nụ cười phảngphất nét thời gian…tất cả đều sống động, chi tiết và gợi cảm vô cùng.

1 Lịch sử hình thành và quá trình mở rộng.

Việc thu thập những tác phẩm điêu khắc Chăm bắt đầu từ những năm cuối thế

kỉ XIX được thực hiện bởi những người Pháp yêu ngành khảo cổ học , đặc biệt là củanhững người làm việc cho trường Viễn Đông Bác Cổ của Pháp và những người đồngnghiệp Việt Nam Từ đầu thế kỉ XX, một số hiện vật điêu khắc Chăm đã được chuyển

đi Pháp, một số khác được chuyển ra Bảo tàng tại Hà Nội và Bảo tàng tại Sài Gòn,nhưng phần lớn những tác phẩm tiêu biểu vẫn còn để lại Đà Nẵng Ban đầu các hiệnvật được tập trung tại một gò đất có nhiều cây lớn ; các mảng đài thờ, tượng đá đều đểngoài trời Sau này khi số lượng hiện vật tìm thấy ngày càng nhiều đòi hỏi phải có mộttòa nhà để lưu giữ, bảo tồn những di sản văn hóa độc đáo này Từ đó Bảo tàng điêukhắc Chăm đã được xây dựng

Bảo tàng bắt đầu được xây dựng vào tháng 7-1915 với sự giúp đỡ của việnViễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội Công trình được hoàn thành vào năm 1919, trở thànhtrung tâm lưu trữ và nghiên cứu nghệ thuật điêu khắc Chăm ở dải đất miền Trung Bảotàng được thiết kế theo phong cách cổ điển châu Âu pha trộn với những đường nét củakiến trúc Chăm theo gợi ý của nhà khảo cổ Henri Parmentier, tạo nên một khung cảnh

tự nhiên thích hợp với những tác phẩm điêu khắc trưng bày ở trong Nó được xâydựng theo thiết kế của ông Delaval và tiếp theo là ông Aclair Tuy đơn giản nhưng độcđáo.Ngày nay nó được đánh giá là một trong những bảo tàng có kiến trúc đẹp nhất ởĐông Nam Á Thời kì đầu, bảo tàng mang tên nhà khảo cổ học Henry Parmentier, làngười đã thiết kế và trưng bày nội dung cho bảo tàng Ông cũng là nhà khoa học đãcống hiến nhiều công trình nghiên cứu giá trị về nghệ thuật Champa, xuất bản vàonhững thập niên đầu của thế kỉ XX

Trang 5

Công trình đã qua hai lần cải tạo, song những đường nét cơ bản và phong cáchkiến trúc vẫn được tôn trọng và giữ nguyên vẹn Lần mở rộng thứ nhất được tiến hànhvào giữa thập niên 30 của thế kỉ XX, được khánh thành vào ngày 11-3-1936 Tronglần cải tạo này , 2 khối nhà được xây dựng hai bên, về phía trước công trình cũ để tạonên hai phòng trưng bày mới, dành cho những hiện vật thu thập được trong giai đoạn1920-1930 Lần mở rộng thứ hai là vào năm 2002.Khối nhà mới hai tầng được xâydựng phía sau nhà cũ , có diện tích 2000 m² trưng bày; 500 m² dành cho kho, xưởngphục chế và các phòng làm việc – nghiên cứu Tại tầng một của khu nhà mới này hiệnđang trưng bày những hiện vật trước đó còn để trong kho và một số hiện vật sưu tầmđược sạu năm 1975 Tầng 2 trưng bày về văn hóa Chăm đương đại bao gồm sưu tập

về trang phục, nhạc cụ và hình ảnh lễ hội của đồng bào dân tộc Chăm Trước năm

2007, Bảo tàng Điêu khắc Chăm là một bộ phận của cơ quan Bảo tàng Đà Nẵng Ngày2-7-2007, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng có Quyết định số 5070/QĐ-UBND vềviệc thành lập Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng là một đơn vị độc lập với Bảo tàng

Đà Nẵng, trực thuộc Sở Văn hóa – Thông tin, nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

TP Đà Nẵng

2 Cấu trúc của Bảo tàng

Theo ý tưởng trưng bày của nhà khảo cổ H.Parmantier từ khi thành lập bảotàng, các không gian trưng bày được phân chia và đặt tên theo nguồn gốc – địa điểmphát hiện , khai quật hiện vật Ban đầu, Bảo tàng chỉ trưng bày những tác phẩm tậptrung tại “Vườn hoa thành phố Tourane” (Le Jardin de Tourane) được sưu tầm bởi một

số người Pháp như Charle Lemire và Camille de Paris từ Trà Kiệu, Khương Mỹ,Phong Lệ…, cùng với những tác phẩm được khai quật bởi trường Viễn Đông Bác Cổ(EFEO) tại Mỹ Sơn, Đồng Dương, Chánh Lộ…

Hiện nay ,Bảo tàng điêu khắc Chăm có các không gian trưng bày gồm :

• Phòng Quảng Trị

Trang 6

• Hành lang Quảng Ngãi

• Phòng Trà Kiệu

• Phòng Mỹ Sơn

• Phòng Tháp Mẫm – Bình Định

• Khu trưng bày mở rộng

Với gần 2000 hiện vật lớn nhỏ, trong đó có 288 hiện vật đang trưng bày bêntrong nhà bảo tàng, 187 hiện vật trưng bày ngoài sân vườn và hơn 1200 hiện vật hiệnđang lưu giữ trong kho Hầu hết các tác phẩm điêu khắc hiện có tại bảo tàng là nhữngtác phẩm nguyên bản trên 3 chất liệu chính là sa thạch, đất nung và đồng nung, phầnlớn là sa thạch, có niên đại từ thế kỉ VII đến thế kỉ XV thuộc nhiều phong cách nghệthuật khác nhau Một số nhà nghiên cứu về nghệ thuật đã khảo sát nhận thấy sự giốngnhau về phong cách nghệ thuật trên các hiện vật ( thể hiện ở hoa văn trang trí, ở kiểudáng búi tóc, y phục…) và đã quy những hiện vật ấy vào các phong cách nghệ thuậtkhác nhau ; đồng thời phối hợp yếu tố niên đại và so sánh, đối chiếu với các tác phẩmđiêu khắc ở các quốc gia lân cận để xác định trình tự thời gian cho các phong cách.Người ta thường lấy địa danh nơi tìm thấy một tác phẩm được cho là tiêu biểu chomột phong cách ào đó để goi tên phong cách nghệ thuật cho cả nhóm tác phẩm tươngđồng Ví dụ : “phong cách Đồng Dương” để chỉ phong cách nghệ thuật có nhiều néttương đồng với phong cách của các tác phẩm tìm thấy ở Đồng Dương ; “phong cáchTrà Kiệu” để chỉ phong cách nghệ thuật có nhiều nét tương đồng với phong cách nghệthuật của tác phẩm tìm thấy ở Trà Kiệu…

Ngoài cách phân chia hiện vật theo nguồn gốc (không gian trưng bày) còn cónhiều cách khác để phân loại, sắp xếp các hiện vật – các tác phẩm điêu khắc Chămnhư: theo chất liệu, niên đại, loại hình tác phẩm điêu khắc (phù điêu, tượng tròn, chitiết kiến trúc), nội dung tác phẩm…Các tác phẩm ở Bảo tàng Điêu khắc Chăm cònđược phân thành các bộ sưu tập như :

• Theo chất liệu : đá – đá sa thạch, đất nung, đồng, chất liệu khác

Trang 7

• Theo nội dung, hình thức : đài thờ, tượng thần, vật linh, chi tiết kiến trúcHiện nay, ở mỗi hiện vật trưng bày tại đây đều có gắn một bảng ký hiệu cung cấpthông tin cơ bản về hiện vật :

1. Tên gọi theo nội dung tác phẩm, như : Thần Shiva, Bồ Tát, Phù điêu Visnu…

2. Niên đại của tác phẩm, như : Thế kỉ X, Thế kỉ VII-VIII…

3. Kí hiệu phân loại theo nhóm chủ đề gồm 2 đến 5 chữ số, ngăn cách bởi một dấuchấm Ví dụ : 9.3 ; 41.29 ; 15.3…Trong đó chữ số trước dấu chấm là mã số chủ đề,chữ số sau dấu chấm là số thứ tự các hiện vật trong nhóm chủ đề đó

Các thông tin này chủ yếu dựa theo hệ thống phân loại của H Parmentiertroiêung lần đầu tiên các hiện vật được khảo sát và trưng bày vào những thập niên đầucủa thế kỉ trước H Parmentier đã phân loại các tác phẩm điêu khắc Chăm theo 45 chủ

đề và ghi mã số cho từng chủ đề Cách đánh số như trên của ông đã trở thành một kíhiệu đánh dấu quan trọng và hữu ích, được các nhà nghiên cứu sau này sử dụng để chúdẫn trong các tài liệu nghiên cứu, giới thiệu về các tác phẩm của Bảo tàng điêu khắcChăm Đà Nẵng Ngoài các tác phẩm đã được phân loại, ghi mã số từ thời H.Parmentier, các tác phẩm khác đã được Bảo tàng Đà Nẵng đánh số trong ba lần thống

kê, các mã số này bắt đầu bằng chữ BTĐN hoặc ĐN ; ví dụ : tượng đầu khỉ ĐN 1118;tượng thần phương hướng BTĐN 13…

Cách xác định niên đại hiện nay đối với các hiện vật điêu khắc Chăm chủ yếudựa vào mối liên hệ giữa hiện vật với một công trình kiến trúc nào đó mà nhờ qua vănbia người ta có thể xác định thời gian xây dựng Tuy nhiên có khá nhiều hiện vậtđược phát hiện rải rác và việc xá định niên đại cũng chỉ là sự đoán định tương đối củanhững nhà khảo cổ và chưa thể kiểm chứng

Bản thân Bảo tàng này đã có giá trị kiến trúc đặc sắc , những tác phẩm điêu khắctrưng bày ở nơi đây lại phản ánh rõ nét đời sống văn hóa , tâm linh, tín ngưỡng củangười Chăm xưa; cũng phản ánh những quan niệm và tư duy tạo hình trong điêukhắc , kiến trúc Chịu ảnh hưởng sâu sắc nghệ thuật kiến trúc , điêu khắc của văn minh

Trang 8

Ấn Độ nhưng người Champa xưa đã biết nhìn đời sống và tôn giáo theo những cảmquan riêng của mình Sự khúc xạ đó đã tạo ra cho thế giới nghệ thuật của họ một vẻđẹp rất riêng, gần gũi nhưng lại rất thiêng liêng , quen thuộc nhưng lại độc đáo, tinh

tế, không lẫn lộn Các tác phẩm nghệ thuật được trưng bày tại bảo tàng hầu hết đều cómột cuộc đời chìm nổi như chính số phận của nền văn hóa rực rỡ đã sản sinh ra nó.Trải qua biết bao giai đoạn thăng trầm của lịch sử, bị chiến tranh tàn phá , sự phainhòa của thời gian và cả sự quên lãng của con người, những tác phẩm độc đáo củanghệ thuật điêu khắc Champa đã được rất nhiều thế hệ tìm kiếm và mang về tập trungtại “Vườn hoa của thành phố Tourane” , tên gọi cũ của thành phố Đà Nẵng

3 Các phòng trưng bày.

Không gian văn hóa Chăm thể hiện qua các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu củamình đã được lưu giữ một phần tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Và tại đây chúng đãđược giới thiệu tới đông đảo mọi người qua các phòng trưng bày với những phongcách nghệ thuật riêng hay chính là những địa điểm điển hình mà các nhà khảo cổ đãkhai quật được các hiện vật đó Dưới đây là một số hiện vật tiêu biểu trong các phòngtrưng bày

3.1 Phòng Quảng Trị

Phòng Quảng Trị hiện trưng bày 14 tác phẩm, hầu hết có niên đại thế kỉ VII –VIII, được khai quật từ các địa danh ở tỉnh Quảng Trị như Nam Giáp, Hà Trung,Thạch An, Đa Nghi và đưa về bảo tàng từ những năm 1918 và 1935

Một số tác phẩm tiêu biểu là : Cưỡi ngựa đánh cầu (thế kỉ VII-VIII ,đá sa thạch ,Thạch An), phần đài thờ (thế kỉ VII-VIII , đá sa thạch , Hà Trung) , trụ cửa…

Trang 9

Cưỡi ngựa đánh cầu.

Niên đại : thế kỉ VII-VIII.

Chất liệu : đá sa thạch.

Kí hiệu : 24.4

Xuất xứ : Thạch An.

Phần đài thờ

Xuất xứ: Hà Trung

3.2 Hành lang Quảng Nam.

Hành lang Quảng Nam hiện trưng

bày 32 hiện vật , niên đại thế kỉ

VII-VIII và IX-X, được khai quật từ nhiều

địa phương ở tỉnh Quảng Nam Hầu hết là các bức tượng, phù điêu các thần, được làm

từ đá sa thạch

Một số hiện vật tiêu biểu như : Shiva múa ( thế kỉ X , đá sa thạch ,Phong Lệ),thần Hộ Pháp (thế kỉ VII-VIII , đá sa thạch, Khương Mỹ), phù điêu Krishna (thế kỉVII-VIII, đá sa thạch, Khương Mỹ)…

Trang 10

Thần hộ pháp

Niên đại : thế kỉ VII - VIII

Chất liệu : đá sa thạch

3.3 Phòng Trà Kiệu.

Trà Kiệu là một địa danh ở tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng 50km

về hướng tây nam Trà Kiệu được xác định là kinh đô của vương quốc Champa ở thời

sơ kì Năm 1927-1928, J.Y.Claeys đã tiến hành khai quật khu di tích này Hiện có 43tác phẩm, phần lớn có niên đại thế kỉ VII-VIII và XI-XII đang được trưng bày tạiphòng này

Một số tác phẩm tiêu biểu :đài thờ Linga-Yoni (thế kỉ VII-VIII, đá sa thạch),đài thờ Trà Kiệu (thế kỉ VII-VIII, đá sa thạch), phù điêu Vishnu (thế kỉ XI-XII, đá sa

Trang 11

thạch), đài thờ vũ nữ Trà Kiệu (thế kỉ

VII-VIII,đá sa thạch)…

Đài thờ Linga-Yoni Đài thờ Trà Kiệu(phần đế)

Niên đại : Thế kỉ VII - VIII Niên đại : thế kỉ VII-VIII

Chất liệu : Đá sa thạch Chất liệu : Đá sa thạch

Kí hiệu : 2.2 Kí hiệu : 22.2

Xuất xứ : Trà Kiệu Xuất xứ : Trà Kiệu

3.4 Phòng Mỹ Sơn.

Mỹ Sơn từng là một trung tâm tín ngưỡng quan trọng của vương quốcChampa, thuộc địa phận tỉnh Quảng Nam ngày nay, cách di tích Trà Kiệu khoảng30km về phía tây Tại đây có hơn 70 ngôi tháp, phần lớn được xây dựng để thờ thầnShiva Các đền tháp tại khu di tích này được xây dựng lần lượt trong một thời gian dàigần 10 thế kỉ Các kiến trúc còn lại đến ngày nay và các hiện vật điêu khắc sưu tầm

Trang 12

được từ di tích này phản ánh các phong cách kiến trúc và điêu khắc khác nhau trongquá trình phát triển nghệ thuật của vương quốc Champa.

Tại phòng Mỹ Sơn của Bảo tàng hiện đang trưng bày 18 hiện vật, gồm 3 nhómhiện vật : nhóm hiện vật trong các tháp chính, nhóm hiện vật ở các tháp phụ và nhómcác hiện vật trang trí trên trán cửa hoặc trên tường tháp nói chung Ngoài ra tại đâycũng trưng bày một tấm bia chữ Sanskrit và chữ Chăm cổ

Tấm bia chữ Sanskrit Đài thờ Mỹ Sơn E1

3.5 Phòng Đồng Dương

Đồng Dương cũng là một di tích Chăm ở tỉnh Quảng Nam, cách trung tâm ĐàNẵng khoảng 60 km về phía tây nam Khu đền tháp Đồng Dương không chỉ đánh dấu

sự ra đời một triều đại mới hay một tên gọi mới cho đất nước Champa mà còn dánhdấu sự thay đổi trong tín ngưỡng, từ việc tôn thờ thần Shiva là thần bảo hộ chính sangthờ các vị Phật và Bồ tát Điều đó lý giải vì sao các hiện vật được trưng bày tại gian

Trang 13

phòng Đồng Dương của Bảo tàng Điêu khắc Chăm hầu hết là các tượng Phật ,Bồ tát.Các tác phẩm này có niên đại khoảng cuối thế kỉ IX đến đầu thế kỉ X.

Một số bức điêu khắc đặc sắc là:

Tượng thần Tượng Dvarapala

Niên đại: thế kỉ IX-X Niên đại : thế kỉ IX Chất liệu :đá sa thạch Chất liệu :đá sa thạch Kí hiệu : 3.5 Kí hiệu : 9.11

Xuất xứ : Đồng Dương Xuất xứ : Đồng Dương

3.6 Phòng Tháp Mẫm – Bình Định

Nằm cách Đà Nẵng 300km về hướng Nam, Bình Định ngày nay còn khá nhiều

di tích Chăm, tiêu biểu là hệ thống đền tháp đồ sộ được xây dựng liên tục trong thờigian từ thế kỉ XI đến XV khi trung tâm chính trị của Champa đặt tại đây Trong đợtkhai quật năm 1934 và 1935 tại gò đồi Tháp Mẫm - Bình Định, J.Y Clayes đã pháthiện được rất nhiều hiện vật đẹp như rồng, voi-sư tử, chim thần Garuda, tượng và phù

Trang 14

điêu các nam thần, nữ thần, vũ nữ tiêu biểu cho Phong cách Tháp Mẫm Hiện tạiphòng Tháp Mẫm – Bình Định trưng bày 67 hiện vật, niên đại từ thế kỉ XII – XV.

3.7 Trưng bày mở rộng

Phòng trưng bày mở rộng được chính thức khai trương từ ngày 28-4-2004, trưngbày gần 150 tác phẩm thuộc nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau, chủ yếu đượcsưu tầm sau năm 1975 và được chia thành các bộ sưu tập : Quảng Trị, Trà Kiệu,Quảng Nam, An Mỹ, Chiên Đàn, Bình Định – Tháp Mẫm, Quá Giáng – Khuê Trung

và Phú Hưng

Trang 15

4 Giới thiệu bộ sưu tập.

Như đề cập đến ở trên, hiện vật của Bảo tàng Điêu khắc Chăm bao gồm các bộsưu tập hiện vật chất liệu đá sa thạch, đất nung, đồng và một số chất liệu khác Ngoài

ra còn có các bộ sưu tập phim, ảnh, tư liệu trên giấy và đĩa CD, DVD

Hiện vật điêu khắc chất liệu đá chiếm số lượng lớn nhất và quan trọng nhấttrong các bộ sưu tập của bảo tàng Các hiện vật này bao gồm các đài thờ, các bộ phậnkiến trúc hoặc chi tiết trang trí của các tháp Chăm, các tượng thần, vật linh của ngườiChăm cổ Tên gọi các hiện vật căn cứ theo hình dáng, chức năng (đài thờ, phù điêu ,tượng thần…), tiếp theo là một chi tiết về địa danh tìm thấy hiện vật hoặc tên vị thần(đài thờ Trà Kiệu, tượng Shiva…) Việc xác định tên vị thần dựa vào các đặc trưngcủa vị thần miêu tả trong thần thoại Ấn Độ như hình dáng , vật cưỡi của thần hay cácvật dụng thần cầm trên tay, đeo trên người

Vậy là chúng ta đã tìm hiểu một cách khái quát nhất về Bảo tàng Điêu khắcChăm ở Đà Nẵng Một thế kỉ đầy biến động đã trôi qua , nhà bảo tàng đã làm mộtnhiệm vụ hết sức vẻ vang : giữ gìn và giới thiệu vẻ đẹp của nghệ thuật điêu khắcChăm đến với đông đảo công chúng Tòa nhà này là một kiến trúc khá đơn giản nhưngthanh thoát, diện tích tuy nhỏ nhưng lại được đặt ở một vị trí đẹp, trên một gò đất caobên cạnh sông Hàn thoáng đãng, nhìn ra bán đảo Sơn Trà và cửa Hàn lộng gió Đếnthăm bảo tàng, chúng ta như được hòa mình vào một quá trình tiến hóa dài hơn támthế kỉ của nền điêu khắc Champa từ thuở vàng son đến thời kì suy thoái Lộ trình củanền nghệ thuật ấy cũng là lộ trình của vận mệnh một dân tộc Đứng trước những tácphẩm của những nghệ sĩ Champa đầy tài năng, chúng ta sẽ cảm nhận được quyềnnăng cao nhất của nghệ thuật là muốn vươn đến cái vô hạn từ một cái hữu hạn

Trang 16

Chương II: Phân tích một số hiện vật đặc sắc của nền văn

hóa Chămpa.

1, Khái quát lịch sử nhà nước Chămpa

Người Chăm là một trong những tộc người đã có mặt từ rất sớm trên dỉa đấtmiền Trung Việt Nam Lịch sử vương quốc Chăm trải qua những bước thăng trầm vớibiết bao biến thiên lịch sử, lúc thịnh lúc suy, lúc phân liệt , lúc thống nhất và cùng vớinhững biến thiên lịch sử ấy nền văn hóa Chămpa cũng xen lẫn sự hưng thịnh , suyvong

Trong quá trình tụ cư sinh sống người Chăm đã tiến hành từng bước đến việclập nên 2 tiểu quốc ban đầu: Tiểu quốc Panran ( tên Chăm cổ) hay Panđuranga ( tênchữ Phạn – Sanskit ) của bộ lạc Cau ( Kramukavams’ a) ở phía Nam và tiểu quốc LâmẤp của bộ lạc Dừa ( Navikela vams’a) Hiện chúng ta chưa có nhiều số liệu về tiểuquốc Panran chỉ biết vị vua đầu tiên của tiểu quốc này là Crimara, nhưng với tiểu quốcLâm Ấp thì số liệu Trung Quốc cho biết vào đầu thế kỉ thứ 2 trước Công Nguyên, saukhi thay thế nhà Triệu xâm lược và thống trị Âu lạc ngoài hai quận Giao Chỉ, CửuChân, nhà Hán còn lập thêm quận Nhật Nam bao gồm vùng đất từ Đèo Ngang đếnBình Định hiện nay Tong đó huyện Tượng Lam là vừng đất xa nhất của Nhật Nam.Đến cuố thế kỉ thứ II, nhân nhà Hán sụp đổ, nhân dân Tượng Lâm do Khu Liên lãnhđọa nổi dậy giết huyện lệnh người Hán giành quyền tự chủ, lập nên tiểu quốc mà sửsách Trung Quốc gọi là Lâm Ấp

Trang 17

Đầu thế kỉ thứ IV diễn ra quá trình thống nhất giữa bộ lạc Cau ( Bắc Chăm) và

bộ lạc Dừa ( nam Chăm) thành vương quốc chung với tên gọi chính thức của nó đượcđọc được trên văn bia của Sambhuvarman vào giữa thế kỉ thứ VI gọi làChămpa( Campa) Trong cách thư tịch cổ của Trung Quốc thì vương quốc này đượcgọi với những tên khác nhau Từ năm 192 đến 756, người Trung Quốc vẫn gọi là LâmẤp, từ năm 757 đến nửa cuối thế kỉ IX gọi là Hoàn Vương Nửa sau thế kỉ thứ IX mớigọi là Chiêm Thành ( đô thị của Chămpa, chữ Chăm cổ là Campapura) Cũng theo các

dữ liệu Trung Quốc vương quốc Chămpa trong thời kì này được chia làm 38 châu lớnnhỏ bao gồm 100 thôn, lạc với dân số ước độ 20 vạn người

Từ thế kỉ thứ II đến giữa thế kỉ thứ VIII vị trí chủ tọa trong lịch sử Chămpa làLâm Ấp phía Bắc, với kinh đô mang tên Sinhapura ( Trà Kiệu, Duy Xuyên, QuảngNam) Từ giữa thế kỉ thứ VIII đến giữa thế kỉ thứ IX ưu thế của vương quốc chuyểnvào phía Nam, kinh đô đặt tại Panduranga ( Phan Rang) cũng có khi đặt ở Vihapura( ởNha Trang) Sau khi vua cuối cùng ở vương triều Gangaraja là Vikrantavarma mất,triều đình Chămpa chọn Indrvaman(II) lên kế vị, mở ra thời kì vương triều Indrvapura

ở phía Bắc Sau khi lên ngôi Indrvaman cho xây dựng kinh đô lộng lẫy ở Đồng Dương( Thăng Bình – Quảng Nam) Vương triều này tồn tại từ năm 875 đến năm 982 Trước

sự lớn mạnh của nhà nước Đại Cồ Việt ở phía Bắc và sự thống nhất nhà nước ChânLạp ở phía Nam, các vua của vương triều này khội phục lại quan hê với Trung Quốc

và tìm cách quấy phá Đại Cồ Việt

Như vậy thời gian tồn tại của các vương triều Gangaraja ( cuối thế kỉ II đến đầuthế kỉ VIII); vương triều Indrvapura ( giữa thế kỉ thứ IX); vương triều Indrvapura( giữa thế kỉ IX đến cuối thế kỉ X) có thể nói đó là thời hình thành và cực thịnh củanhà nước Chămpa- Từ thế kỉ X trở đi là thời kì của vương triều Vijaya – một vươngtriều của sự rối ren, phân liệt và dần dần suy vong

Trang 18

Trong thời gian tồn tại với tư cách là một vương quốc, nhân dân Chămpa đã xâydựng đươck cho mình một nền văn hóa có bản sắc riêng Nền văn hóa ấy bắt nguồn từnền văn hóa Sa Huỳnh ( văn hóa Tiền Chămpa)- một nền văn hóa mang đậm sắc tháibiển Và từ khi văn hóa Sa Huỳnh phát triển của nhà nước Lâm Ấp - Chămpa là quátrình dung hợp, tích hợp văn hóa Chămpa bản địa với ảnh hưởng rất lớn của văn hóaẤn Độ đến mức có người gọi đó là nền văn hóa Chăm- Hin đu hay thời kì Ấn Độ hóanền văn hóa Chămpa Từ thể chế vương quyền và tổ chức xã hội người Chăm đến tôngiáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ hội, chữ viết văn học, điêu khắc, kiến trúc, âmnhậc, múa đều ảnh hưởng của nền văn hóa Ấn Độ, tất nhiên văn hóa Chămpa là vănhóa mở in đậm sự dung hợp, sự tích hợp trên cơ sở “ bản địa hóa” cho thích nghi vớinền văn hóa Chămpa – một thời kì phát triển rực rỡ để rồi lụi tàn đàn đi từ từ thế kỉthứ XI.

Nhìn chung văn hóa Chămpa hình thành cùng với sự hình thành vương quốcChămpa, nó phát triển và suy vong cùng với sự phát triển và suy von cua vương triềuChămpa Tuy vậy, do tính đặc thù của văn hóa quy định nên trong sự hình thành vàphát triển của văn hóa Chăm pa không hoàn toàn trùng khớp với sự hình thành, pháttriển và suy vong của nền chính trị Chămpa.Vương quốc Chămpa suy tàn nhưngnhững giá trị văn hóa của nó vẫn còn sống và rực sáng mãi cho đến tận ngày nay

2.2 Giới thiệu nền văn hóa Chămpa

Văn hóa Chămpa – một bộ phận của nền văn hóa Việt Nam thống nhất – mộtmảng màu khá lớn và đắc sắc trong bức tranh văn hóa cổ truyền đa sắc của nền vănhóa đa dân tộc, là nét son chói lợi với nhiều giá trị văn hóa đạt tới đỉnh cao nhân loại –

Di sản văn hóa thế giới Văn hóa Chăm pa do người Chăm sáng tạo ra, là sản phẩmcủa cả một quá trình dung hợp và tiếp biến văn hóa Sa Huỳnh và Ấn Độ tạo thành

Văn hóa Chămpa là tổng thể những sản phẩm vật chất và tinh thần mang giá trịlịch sử văn hóa, khoa học, thẩm mĩ với biết bao điều bí ẩn, càng nghiên cứu , chiêmngưỡng, càng thấy độc đáo, càng thấy thú vị say mê

Trang 19

2.1 Văn hóa vật thể Chămpa.

Nét đặc trưng của dii sản văn hóa vật thể Chămpa là một trong những di tíchlịch sử hoàng tráng, huyền diệu với những phong cách nghệ thuật độc đáo, những divật, cổ vật, bảo vật mang tầm cỡ quốc gia quốc tế

Di sản văn hóa vật thể Chămpa để lại cho nền văn hóa dân tộc ta và nhân loạiđược thể hiện tập trung nhất ở đền tháo, thành quách, các tác phẩm điêu khắc đá, cáctác phẩm trong nghệ thuật kiến trúc va điêu khắc gạch Những giá trị đạt tới đỉnh cao

và rực rỡ từ thế kỉ IV đến thế kỉ XIII, có thể được xem như là nền văn hóa HyLa củaViệt Nam- một nền văn hóa “ một đi không bao giờ trở lại”

Các sản phẩm vật chất mang giá trị lịch sử- văn hóa , khoa học, thẩm mĩ thểhiện tập trung ở đền tháp, thành quách trong nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc gạchcũng như các tác phẩm điêu khắc đá của dân tộc Chămpa thể hiện ở nhiều phong cáchkhác nhau từ tháp cổ Chămpa ở Đồng Dương ( Quảng Nam) đến Cung Sơn tỉnh PhúYên ( miền Bắc tỉnh Kauthara xưa của Chămpa) gần gũi một cách lak kỳ với truyềnthống nghệ thuật Amravati của Ấn Độ đến phong cách Mỹ Sơn với những bệ thờ trangtrí bằng đá khối ghép lại phụ vào bệ chính của tượng hờ - trong cái tổng thể được xem

la nét độc đáo riêng biệt của nền kiến trúc và điêu khắc Chămpa từ cảm hứng nghệthuật Ấn Độ - Ajanta, Badami và Ellora Thực ra việc xác định đến phong cách vàđịnh các mốc niên đại cho nghệ thuật kiến trúc Chămpa đã có nhiều cách sắp xếp phânloại khác nhau nhưng hầu hết các ý kiến đều thống nhất một khung niên đại giới hạncủa nó

Từ thế kỉ thứ VII đến thế kỉ XV có thể sắp xếp theo tiến trình lịch sử bao gồm:Phong cách Trà Kiệu sớm ( thế kỉ VII); phong cách An Mĩ ( Tam Kì – Quảng Nam )đầu thế kỉ thứ VIII; phong cách Hòa Lai gần Phan Rang – Ninh Thuận ( nửa đầu thế kỉIX) phong cách Đồng Dương, Thăng Bình, Quảng Nam ( nửa cuối thế kỉ IX) ; phong

Trang 20

cách Khương Mĩ ( Quảng Nam) ( đầu thế kỉ X); phong cách Trà Kiệu muộn ( của thế

kỉ X); phong cách Tháp Mẫn ( Quảng Ngãi, Bình Định – thế kỉ XII – XIV), phongcách Yang Mun _ Gialai, Kontum ( cuối thế kỉ XIV – đầu thế kỉ XV) Yang Prong –tháp Chăm duy nhất tại Đăklăk

Tuy mỗi phong cách tiêu biểu cho một khung niên đại nhất định thế hệ quá trìnhhình thành phát triển rực rỡ và lụi tàn, song có điểm chung thống nhất phong cáchChămpa với những giá trị đặc trưng: bí ẩn nhưng huyền diệu, chân thực nhưng hùng

vĩ, tâm linh nhưng lại rất đời thường, ảnh hưởng của Ấn Độ giáo nghệ thuật Đvarvati (miền trung Thái Lan) nhưng lại được bản địa hóa với những nét riêng độc đáo

Giá trị văn hóa vật thể Chămpa còn thể hiện tập trung ở các cổ vật của văn hóaMỹ Sơn Với chừng 30 minh văn trong các bia đá mà khoảng một nửa số này đá nàykhông thể hàn gắn vá chắp lại được Có 16 văn bia còn giữ được nhưng qua đó đã chochúng ta một kho tư liệu vô cùng phong phú trên các lĩnh vực về kinh tế, chính trị, vănhóa, phong tục của vương quốc Chămpa trong những giai đoạn từ thế kỉ IV đến thế kỉXII Qua những áng minh văn trên via đá đã cho chúng ta biết tên nước gọi là Chămoa, tên vương triều đầu tiên, cung cấp cho hiện tại thờ tự phổ hệ vương triều thứ nhất củanước Bhavapura ( nước Chân Lạp); những thời kì sóng gio vinh quang nghiệt nhã mộtthời ở bên trong và bên ngoài vương quốc Chămpa Qua bia đá Mỹ Sơn đã khắc họalại lịch sử về cuộc chiến tranh kéo dài hơn 100 năm giữa Chămpa và Campuchia, vềcác quy định và nghĩa vụ phục vụ đền, quan niệm về đạo đức, xã hội cũng như tiêuchí người cầm quyền…những áng minh văn ở Mỹ Sơn được viết một cách thành thạobằng chữ Sanskrit và chữ Chăm cổ ngày càng điêu luyện, giàu hình ảnh và cũng giàuđiển tích văn hóa Hindu Di sản văn hóa Mỹ Sơn, mặc cho những biến động của lịch

sử, ,mặc cho những tàn phá của thời gian và chiến tranh, nó vẫn giữ nguyên giá trịvĩnh hằng của nó và Mỹ Sơn không chỉ là tài sản vô giá của Việt Nam và nó đã trở

Trang 21

thành di sản văn hóa chung của nhân loại – một di sản đậm đà bản sắc dân tộcChămpa.

2.2 Văn hóa phi vật thể

Di sản văn hóa phi vật thể Chămpa là sự bản địa hóa trên cơ sở hội tụ nhiều tínngưỡng, tôn giá, nghệ thuật, phong tục, lễ hôi…Ấn Độ và các dân tộc Đông Nam Ávới những sắc thái riêng độc đáo đậm đà

Di sản văn hóa phi vật thể Chămpa là những sản phẩm tinh thần mang giá trịlịch sử văn hóa, khoa học, nghệ thuật Chămpa được lưu truyền bằng miệng, truyềnnghề, trình diễn Nó bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, điêu khắc, kiếntrúc, âm nhạc, bí quyết về nghề thủ công truyền thông, tri thức dân gian, luật tục, lốisống, nếp sống, lễ hội, văn hóa ẩm thức, trang phục Chămpa

Tín ngưỡng – tôn giáo

Có thể nói tín ngưỡng của người Chăm phong phú đa dạng, nó là một bộ phậncấu thành nền văn hóa Chăm Dù cuộc sống hiện đại có thay đổi khá nhiều song hiệnnay trong đời sống người Chăm vẫn tồn tại hình thức tô tem giáo thể hiện qua các tụcthờ các loại cây, thờ dòng suối, dòng biển Tín ngưỡng ấy được thể hiện đậm nét trongcác lễ nghi liên quan đến vòng đời người như lễ cúng đứa trẻ mới sinh, đám cưới, đámtang, lễ nhập kut…; lễ liên quan đến cúng tê nông nghiệp như cúng thần lúa ( YangSri), lễ xuống cày, lễ đắp đập, khai mương Cùng với các lễ nghi đó người Chăm tônthờ các vị thần núi, thần sông, thần sấm sét, thần mặt trời, thần đất, thần sóng biển vàmột số lễ liên quan đến nghệ thuật như lễ múa lớn: lễ múa đầu năm, lễ mùa ban ngày

Tín ngưỡng dân gian Chăm vốn bắt nguồn từ nên văn hóa Nam Á với những nétđặc trưng của một nền sản xuất nông nghiệp lúa nước Từ rất xa xưa người Chăm đã

có nhiều hình thức tín ngưỡng nguyên thủy liên quan đến nông nghiệp như: tínngưỡng vật tổ, tín ngưỡng đa thần, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên,các lễ nghi nông nghiệp và các ma thuật Tín ngưỡng dân gian người Chăm hiện nay

Trang 22

là sự tiếp nối và kế thừa sâu sắc các hình thức tín ngưỡng nguyên thủy nói trên vàđược bảo lưu khá đầy đủ trong cộng đòng người Chăm Bà la môn Tín ngưỡng ấytrong lịch sử phát triển đã có những gắn bó mật thiết với các tôn giáo và hệ quả của nóchính là sự biến đổi của Bà la môn và Hồi giáo khi du nhập vào cộng đồng xã hộingười Chăm Và cũng chính sự hiện diện của tôn giáo du nhập từ bên ngoại vào cộngđồng xã hội người Chăm đã phân hóa thành ba cộng đồng tôn giáo Cộng đồng Bà lamôn, Cộng đồng người Chăm Bà ni và Cộng đòng người Chăm Islam với mức độthâm nhập ít nhiều của tín ngưỡng dân gian nói trên

Tín ngưỡng người Chăm không tách rời tôn giáo Chăm Người Chăm không kìthị tôn giáo mà ngược lại cái xuyên suốt toàn bộ lịch sử Chămpa là sự tiếp nhận, ảnhhưởng, dung hòa tôn giáo khác nhau – một nết đặc trưng trong đời sống của cả cộngđồng dân tộc Việt Nam Người Chăm tiếp nhận tất cả : “ đức hiếu dinh, từ bi của Phậtgiáo, tình thương của Vishnu giáo và cả quyền lực Sira giáo” và sau này còn dung hợptrong tiếp nhận cả Thượng đế Alla của Hồi giáo nữa

Lễ hội

Theo thống kê chưa đầy đủ người Chăm ở miền Trung( mà chủ yếu là tập trung

ở Ninh Thuận, Bình Thuận) có tất cả 75 nghi lễ, hội hè và 117 vị thần linh khác nhau

mà cho đến tận bây giờ vẫn còn nhu cầu cúng tế Trong số ấy có khoảng 21 lễ hội đặcsắc liên quan đến cộng đồng, làng Palei và tộc họ - gia đình Đó là những lễ hội liênquan đến chu kì cây lúa, ( lễ hội nông nghiệp) như lễ đựng chòi cày, lễ cúng ruộng lúclúa đẻ nhánh, lễ cúng lúa làm đòng, lễ thu hoạch lúa…

Có thể nói lễ hội Chăm rất phong phú đa dạng, tùy theo thời gian, không gian,đối tượng thờ cúng mà lễ hội Chăm có những cách thức khác nhau với những sắc tháiriêng của nó Chẳng hạn hệ thống lễ hội liên quan đến chu kì sản xuất lúa không gắnliền với đền tháp mà chỉ tổ chức cúng lễ ở bờ ruộng, mỏm núi, bờ sông…với đốitượng là thần núi, thần sông, thần biển, thần lúa

Trang 23

Lễ hội Chăm không chỉ là nơi lưu giữ một di sản văn hóa vật thể hoành trángnhư đền tháo, tượng thờ, bi kí, mà còn là nơi lưu giữ những di sản văn hóa phi vật thể

thông qua trang phục truyền thống Chăm, văn hóa ẩm thực Chăm, sinh hoạt tín

ngưỡng tôn giáo, nơi bảo tồn lưu giữ kho tàng văn chương Chăm, nghệ thuật điêu khắc, các bí quyết về các ngành thủ công truyền thống; nó là một di sản văn hóa đồ

sộ, là sức mạnh của cộng đồng đã tạo nên thuần phong mỹ tục từ cổ xưa đến hiện đại,

nó chính là gương mặt của dân tộc Chăm, là tấm gương phản chiếu sinh hoạt cộngđồng, là tinh hoa văn hóa của họ

3 Phân tích một số hiện vật đặc sắc của văn hóa Chăm

3.1 Đài thờ Linga và Yoni

Trong tất cả các hiện vật được trưng bày ở bảo tàng điêu khắc Chăm ( ĐàNẵng ), có thể nói ấn tượng đầu tiên với tôi là bộ đài thờ Linga và Yoni được trưngbày ở phòng Trà Kiệu Đây chính là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nghệthuật điêu khắc Chăm Nhìn bề ngoài đài thờ rất đơn giản , gồm hai phần chính : phầncột hình trụ bên trên gọi là Linga và phần bệ hình vuông có rãnh dẫn nước đặt bêndưới gọi là Yoni Đài thờ này được làm từ đá sa thạch, có niên đại khoảng thế kỉ VII –VIII, được tìm thấy tại Trà Kiệu (Quảng Nam – cách thành phố Đà Nẵng 50km vềhướng tây nam) Bộ Linga –Yoni này có kích thước tương đối : Linga ( 82cm x 27cm

x 27cm) , Yoni (69cm x (69+24) x 14cm)

Nếu chỉ tìm hiểu đến đây thì chúng ta chưa thể thấy được nét độc đáo , đặc sắc của đàithờ này Nhìn kĩ một chút ta thấy Linga không phải là một khối trụ đều từ trên xuốngdưới mà lại được chia làm ba phần tượng trưng cho ý niệm tam vị nhất thể Phần dướihình vuông tượng trưng cho thần sáng tạo Brahma (Brahmabhaga), phần giữa hình bátgiác tượng trưng cho thần bảo tồn Visnu (Vishnubhaga) và phần trên cùng hình trụtròn tượng trưng cho thần hủy diệt Shiva (Rudrabhaga) Ý niệm này trùng hợp với ýniệm sinh trưởng lão của mỗi đời người Đỉnh Linga được trang trí bằng những hoavăn hình ngọn nến có những tia sáng , cách điệu chung quanh tượng trưng cho lửa ,

Ngày đăng: 30/06/2017, 10:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w