1. Trang chủ
  2. » Tất cả

niên luận Vũ Thị Hương Quỳnh

39 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 162,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc thường xuyên phân tích khả năng thanh toán sẽ giúp nhà quản lý doanh nghiệp thấy rõ thực trạng tình hình thanh toán của doanh nghiệp mình, lường trước được những rủi ro xảy đến tro

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

NIÊN LUẬN NÂNG CAO KHẢ NĂNG THANH TOÁN CỦA CÔNG TY

CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH NHÀ KHANG ĐIỀN

Giáo viên hướng dẫn : ThS Trươg Thị Hoài ThơSinh viên thực hiện : Vũ Thị Hương Quỳnh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành bản nghiêncứu này, em đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu củagiảng viên Với lòng biêt ơn sâu sắc em xin đươc bày tỏ lời cảm

ơn chân thành tới Thạc sĩ Trương Thị Hoài Thơ, khoa Tài chínhNgân hàng, trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN; cô đã hết lònggiúp đỡ, dạy bảo, động viên và cho em những lời khuyên hữuích trong suốt quá trình học tập và hoàn thành bài

Trang 3

Em cũng gửi lời lời cảm ơn tới những nhân viên và cáccông ty đã tạo nên những nguồn tài liệu có thể chia sẻ được,những số liệu, bảng tin, bài báo được sử dụng trong bài nghiêncứu dưới đây

kinh doanh nhà Khang Điền

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 4

Bảng 1: Bảng các cổ đông lớn của CTCP Đầu tư và Kinh doanh nhà Khang Điền

Bảng 2: Khả năng thanh toán hiện hành của KDH trong giai đoạn 2014-2016

Bảng 3: Khả năng thanh toán nhanh của KDH giai đoạn 2016

2014-Bảng 4: Hệ số nợ trên tổng tài sản của KDH trong gia đoạn

Bảng 11: Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trên thu nhập

thuần của KDH trong giai đoạn 2014-2016

Bảng 12: Bảng chỉ số khả năng sinh lời trên tổng tài sản của KDH trong giai đoạn 2014-2016

Bảng 13: Bảng chỉ số khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu của KDH trong giai đoạn 2014-2016

1. Lí do chọn đề tài

Hiện nay, chúng ta đang chứng kiến sự dịch chuyển cơ cấu kinh

tế nước nhà từ một nền kinh tế dựa vào nông nghiệp là chủ yếusang một nền kinh tế có tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ cao, dựa trên nền tảng của kinh tế tri thức và xu hướng gắn với nền kinh tế toàn cầu Chính sự dịch chuyển này đã tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi cho nhiều ngành kinh tế phát triển Tuy vậy,

Trang 5

điều đó cũng làm phát sinh nhiều vấn đề phức tạp, đặt ra cho các doanh nghiệp những yêu cầu và thách thức mới, đòi hỏi cácdoanh nghiệp phải tự vận động, vươn lên để vượt qua những thử thách, tránh nguy cơ bị đào thải bởi quy luật cạnh tranh khắc nghiệt của cơ chế thị trường

Trong bối cảnh kinh tế như thế, các doanh nghiệp muốn đứng vững trên thương trường cần phải nhanh chóng đổi mới, trong

đó đổi mới về quản lý tài chính là một trong các vấn đề được quan tâm hàng đầu và có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam Bởi lẽ, để hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả thì nhà quản lý cần phải nhanh chóng nắm bắt những tín hiệu của thị trường, xác định đúng nhu cầu về vốn, tìm kiếm và huy động nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu kịp thời, sử dụng vốn hợp lý, đạt hiệu quả cao

nhất Muốn vậy, các doanh nghiệp cần nắm những nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng tác động của từng nhân tố đến tìnhhình tài chính doanh nghiệp Điều này chỉ có thể thực hiện đượctrên cơ sở phân tích tài chính Tuy vậy, trong khả năng hạn hẹp của mình, em chỉ xin phép được trình bày một phần nhỏ nhưng cũng chiếm vai trò khá quan trọng trong hoạt động phân tích tài chính Đó là phân tích khả năng thanh toán của doanh

nghiệp

Việc thường xuyên phân tích khả năng thanh toán sẽ giúp nhà quản lý doanh nghiệp thấy rõ thực trạng tình hình thanh toán của doanh nghiệp mình, lường trước được những rủi ro xảy đến trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó có thể làmcăn cứ để hoạch định phương án hành động phù hợp cho tương lai và đồng thời đề xuất những giải pháp hữu hiệu để ổn định vàtăng cường tình hình tài chính giúp nâng cao chất lượng doanh nghiệp

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, em quyết địnhlựa chọn đề tài: “NÂNG CAO KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI CÔNG

TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH NHÀ KHANG ĐIỀN” làm

đề tài niên luận của mình

2. Câu hỏi nghiên cứu

Trang 6

Thực trạng khả năng thanh toán của công ty cổ phần đầu tư và kinh doanh nhà Khang Điền như thế nào?

Các biện pháp nâng cao khả năng thanh toán của công ty cổ phần đầu tư và kinh doanh nhà Khang Điền?

3. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Bài nghiên cứu được thể hiện rõ 2 mục tiêu sau:

Thứ nhất là tập trung nghiên cứu khả năng thanh toán của

doanh nghiệp để thấy rõ thực trạng, tình hình thanh toán của doanh nghiệp từ đó chỉ ra những điểm mạnh và điểm yếu

Thứ hai, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp và kiến nghị giúp cải thiện tình hình tài chính và giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn

4. Phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp thu thập tài liệu

Thu thập số liệu hiện tại của công ty thông qua các báo cáo tài chính của công ty, các sổ sách chứng từ khác của công ty, các báo cáo tài chính này đã được kiểm toán thông qua Ngoài ra, còn cập nhật thông tin từ bên ngoài qua sách, báo, internet,…

4.2. Phương pháp phân tích, xử lí số liệu

Phương pháp nghiên cứu được vận dụng trong đề tài chủ yếu là phương pháp so sánh và tổng hợp số liệu thực tế thu thập được

từ các báo cáo tài chính của công ty Các số liệu trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp phân tích tỷ số, phương pháp liên hệ,…

• Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong phân tích tài chính của một doanh nghiệp Đây là phương pháp đánh giá một chỉ tiêu phân tích dựa trên một chỉ tiêu gốc Phương pháp so sánh có ưu điểm so với các phương pháp khác khi nó cho phép tách biệt những nét chung, nét riêng của hiện tượng so sánh, trên cơ sở đó đánh giá được các mặt tốt xấu,

Trang 7

hiệu quả hay chưa hiệu quả để từ đó đưa ra các giải pháp tối ưutrong từng trường hợp cụ thể Phương pháp này còn giúp người

sử dụng có thể xác định hướng phát triển và mức độ biến động của đối tượng Khi thực hiện phương pháp so sánh cần tuân thủ

3 nguyên tắc cơ bản sau:

 Lựa chọn tiêu chuẩn để so sánh: lựa chọn một tiêu chuẩn

so sánh phù hợp với mục tiêu cần so sánh Khi so sánh các

khoản mục trong báo cáo tài chính doanh nghiệp, cần phải quan tâm cả về không gian và thời gian Một số tiêu chuẩn

thường được lựa chọn để so sánh như:

- Chỉ tiêu kế hoạch của một kỳ kinh doanh

- Chỉ tiêu của doanh nghiệp tiêu biểu trong ngành

- Các chỉ tiêu kinh tế phải có cùng đơn vị đo lường

- Tùy theo mục đích phân tích mà sử dụng các chỉ tiêu so sánh thích hợp

 Phương pháp so sánh: có 2 phương pháp là so sánh tuyệt đối (so sánh ngang) và so sánh tương đối (so sánh dọc)

- So sánh tuyệt đối: là hiệu số của hai chỉ tiêu so sánh (chỉ tiêu kỳ phân tích so với chỉ tiêu kỳ gốc)

- So sánh tương đối: tỷ lệ phần trăm của kỳ phân tích so với

kỳ gốc hoặc tỷ lệ của phần chênh lệch tuyệt đối so với chỉ tiêu

kỳ gốc (phản ánh tốc độ tăng trưởng)

Trang 8

• Phương pháp tỷ lệ

Đây là phương pháp dựa trên các ý nghĩa chuẩn mực tỷ lệ của các đại lượng tài chính trong quan hệ tài chính Phương pháp này đòi hỏi phải xác định được các tiêu chuẩn, định mức để nhận xét, từ đó so sánh với các giá trị tham chiếu để đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp một cách chính xác nhất

5. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Công ty Cổ phần Đầu tư và Kinh doanh nhà Khang Điền là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bất động sản Tuy nhiên, đề tài của em chỉ tập trung nghiên cứu

về tình hình tài chính mà cụ thể ở đây là khả năng thanh toán của toàn công ty

Phạm vi nghiên cứu: đề tài được thực hiện đối với Công ty Cổ phần Đầu tư và Kinh doanh nhà Khang Điền trong giai đoạn 3 năm 2014-2016

6. Cấu trúc nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, cấu trúc bài nghiên cứu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận về khả năng thanh toán của doanh

nghiệp

Chương 2: Thực trạng về khả năng thanh toán tại công ty cổ phần đầu tư và kinh doanh nhà Khang Điền

Chương 3: Giải pháp

Trang 9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Khả năng tạo tiền của doanh nghiệp và phân tích khả

năng thanh toán trong doanh nghiệp

1.1.1. Khái niệm về khả năng thanh toán và phân tích khả năng

thanh toán

Khả năng thanh toán là một thuật ngữ dùng để chỉ khả năng thực hiện các khoản phải thu, khoản phải trả của một tổ chức kinh tế, của ngân hàng, của ngân sách nhà nước trong một thời

kì nhất định Với mỗi đối tượng cụ thể, nó lại có một cách định nghĩa khác nhau Đối với doanh nghiệp khả năng thanh toán là khả năng của một doanh nghiệp có thể hoàn trả các khoản nợ đến hạn Khi một doanh nghiệp, công ty mất khả năng thanh toán, toà án tuyên bố phá sản, vỡ nợ

Phân tích khả năng thanh toán là việc đánh giá khả năng

chuyển tài sản thành tiền và khả năng tạo tiền nhằm thực hiện nghĩa vụ đối với các chủ nợ khi đến hạn chủ nợ của doanh

nghiệp có thể là ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn, các trái chủ(mua trái phiếu do doanh nghiệp phát hành) hoặc các chủ

nợ liên quan tới các hoạt động kinh doanh hàng ngày của

doanh nghiệp(khách hàng, nhà cung cấp vật tư, người lao động,

Trang 10

nhà nước…) chính vì lẽ đó, các chủ nợ là những đối tượng đầu tiên quan tâm tới khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

Phân tích khả năng thanh toán cũng rất có ích đối với các chủ

sở hữu khả năng thanh toán kém là dấu hiệu cho việc mất

quyền kiểm soát hoặc thất thoát vốn đầu tư trong tương lai Đốivới các công ty tư nhân hoặc các công ty hợp danh, chủ sở hữu chịu trách nhiệm vô hạn đối với hoạt động của đơn vị thì khả năng thanh toán kém còn đe dọa ảnh hưởng tới tài sản của cá nhân các chủ sở hữu

Do khả năng thanh toán quan trọng đối với các chủ nợ và chủ

sở hữu nên cũng rất quan trọng đối với nhà quản lí Nhà quản lí được trao nhiệm vụ điều hành của doanh nghiệp, làm cho doah nghiệp tăng trưởng nhưng phải đảm bảo khả năng thanh toán tốt

1.1.2. Sự cần thiết trong việc phân tích khả năng thanh toán

Phân tích tài chính là quá trình tìm hiểu các kết quả của sự

quản lý và điều hành tài chính ở doanh nghiệp được phản ánh trên các báo cáo tài chính đồng thời đánh giá những gì đã làm được, dự kiến những gì sẽ xảy ra, trên cơ sở đó kiến nghị nhữngbiện pháp để tận dụng triệt để những điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu

Phân tích tình hình, khả năng thanh toán là đánh giá tính hợp lý

về sự biến động các khoản phải thu và phải trả giúp ta có

những nhận định chính xác hơn về thực trạng tài chính của doanh nghiệp Từ đó tìm ra những nguyên nhân của mọi sự ngừng trệ trong các khoản thanh toán hoặc có thể khai thác được khả năng tiềm tàng giúp doanh nghiệp làm chủ tình hình tài chính, nó có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Hoạt động tài chính mà cụ thể ở đây là tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp có mối liên hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành, tồn tại và phát triển của

doanh nghiệp Do đó, tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 11

đều có ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp Ngược lại, khả năng thanh toán của doanh nghiệp cao hay thấp đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh Vì thế, cần phải thường xuyên, kịp thời đánh giá, kiểm tra tình hình tài chính của doanh nghiệp, khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Qua việc phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp, mớigóp phần đánh giá chính xác tình hình sử dụng vốn, nguồn vốn,vạch rõ khả năng tiềm tàng về vốn của doanh nghiệp Trên cơ

sở đó đưa ra những quyết định quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giúp doanh nghiệp củng cố tốt hơn tronghoạt động tài chính của mình

Phân tích khả năng thanh toán là một bộ phận trong phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, nó là công cụ không thể thiếu, phục vụ cho công tác quản lý của cơ quan cấp trên, cơ quan tài chính, ngân hàng như: đánh giá tình hình thực hiện cácchế độ, chính sách về tài chính của Nhà nước, xem xét việc cho vay vốn

1.2. Các chỉ số đánh giá tình hình và khả năng thanh toán của

nợ ngắn hạn Mặt khác, trong toàn bộ tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, khả năng chuyển hóa thành tiền của các bộ

phận là khác nhau Nhìn chung, trong các tài sản ngắn hạn thì hàng tồn kho có khả năng chuyển hóa thành tiền kém nhất

Trang 12

Ngoài ra, tỷ số này càng cao chứng tỏ công ty càng có nhiều khả năng sẽ hoàn trả được hết các khoản nợ Tỷ số thanh toán hiện hành nhỏ hơn 1 cho thấy công ty đang ở trong tình trạng tài chính tiêu cực, có khả năng không trả được các khoản nợ khiđáo hạn Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là công ty sẽ phá sản bởi vì có rất nhiều cách để huy động thêm vốn Mặt khác, nếu tỷ số này quá cao cũng không phải là một dấu hiệu tốt bởi

vì nó cho thấy doanh nghiệp đang sử dụng tài sản chưa được hiệu quả

(2) Chỉ số khả năng thanh toán nhanh (Quick Ratio)

Hệ số khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp đo lường khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp bằng việc chuyển đổi các tài sản ngắn hạn (không kể hàng tồn kho) thành tiền Hệ số này được tính như sau

Chỉ số khả năng thanh toán nhanh =

Chỉ số khả năng thanh toán nhanh cho biết liệu công ty có đủ các tài sản ngắn hạn để trả cho các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán hàng tồn kho hay không Tỷ số này phản ánh chính xác hơn tỷ số thanh toán hiện hành Một công ty có

tỷ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1 sẽ khó có khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn và phải được xem xét cẩn thận Ngoài

ra, nếu tỷ số này nhỏ hơn hẳn so với tỷ số thanh toán hiện hànhthì điều đó có nghĩa là tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp phụ thuộc quá nhiều vào hàng tồn kho Các cửa hàng bán lẻ là

những ví dụ điển hình của trường hợp này

có khả năng trả nợ cao hơn Ngược lại, cổ đông muốn có tỷ số

nợ cao vì như vậy làm gia tăng khả năng sinh lợi cho cổ đông Tuy nhiên muốn biết tỷ số này cao hay thấp cần phải so sánh với tỷ số nợ của bình quân ngành

Trang 13

Tỷ số này cho biết bao nhiêu phần trăm tài sản của doanh

nghiệp là từ đi vay Qua đây biết được khả năng tự chủ tài chínhcủa doanh nghiệp Tỷ số này mà quá nhỏ, chứng tỏ doanh

nghiệp vay ít Điều này có thể hàm ý doanh nghiệp có khả năng

tự chủ tài chính cao Song nó cũng có thể hàm ý doanh nghiệp chưa biết khai thác đòn bẩy tài chính, tận dụng nguồn vốn bằnghình thức đi vay, Ngược lại, chỉ số này mà quá cao hàm ý doanhnghiệp không có thức lực tài chính mà chủ yếu đi vay để có vốnkinh doanh Điều này cũng hàm ý mức độ rủi ro của doanh

nghiệp cao hơn

Khi dùng tỷ số này để đánh giá cần so sánh cần so sánh với tỷ

Chỉ tiêu này càng cao thể hiện khả năng bù đắp chi phí lãi vay càng tốt nếu DN có khả năng thanh toán lãi vay tốt và ổn định qua các kì, các nhà cung cấp tín dụng sẽ sẵn sang tiếp tục cungcấp vốn cho DN khi số gốc vay nợ đến hạn thanh toán

(5) Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (Profit Margin)

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu =

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thể hiện khả năng sinh lời trêndoanh thu của doanh nghiêp Ngoài ra nó còn phản ánh kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; cho thấy cứ một đồng doanh thu thì sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Nếu tỷ suất lợi nhuận càng cao thì chứng tỏ hoạt động kinh

Trang 14

doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả tốt, chi phí cho hoạt

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hợp lệ và ngược lại Nếu đem so sánh tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của

doanh nghiệp với ngành mà cho thấy thấp hơn điều đó chứng

tỏ doanh nghiệp đang bán với giá thấp hơn, hoặc giá thành sản phẩm của doanh nghiệp cao hơn (có chi phí sản xuất kinh

doanh cao hơn) so với các doanh nghiệp khác cùng ngành Một doanh nghiệp có tỉ suất lợi nhuận cao thể hiện lợi thế cạnh

tranh trong việc kiểm soát chi phí so với các doanh nghiệp

Đây là chỉ số cho thấy hiệu quả của một công ty trong việc sử dụng lượng tiền tạo ra từ hoạt động kinh doanh để chi trả cho các nghĩa vụ nợ của mình Ngoài ra, chỉ số này còn có thể đo lường khả năng thanh toán bằng tiền mặt của doanh nghiệp trong ngắn hạn Sử dụng dòng tiền trong mối tương quan với thu nhập đôi khi sẽ cho ta những thông tin xác thực hơn về khả năng thanh toán nợ của công ty, đơn giản là vì thông thường các hóa đơn được thanh toán bằng tiền mặt

(2) Hệ số khả năng thanh toán nợ từ lượng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh

Hệ số khả năng thanh toán nợ =

Tương tự như hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn ở trên,

nợ phải trả trong công thức sử dụng là nợ phải trả bình quân (3) Hệ số khả năng trả lãi (Cash flow-interest coverage)

Hệ số khả năng trả lãi=

Trang 15

Hệ số này cho thấy tình hình thực tế doanh nghiệp có khả năng trả lãi vay hay không? Nếu doanh nghiệp có vốn vay nhiều thì thì hệ số này có giá trị thấp và ngược lại

(4) Biên lợi nhuận dòng tiền hoạt động (Cash- flow margin)Biên lợi nhuận dòng tiền hoạt động =

Biên lợi nhuận dòng tiền hoạt động là thước đo tiền của một công ty phát sinh từ hoạt động chính của nó trên mỗi đồng

doanh thu Dòng tiền hoạt động kinh doanh có thể được tìm thấy trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ của công ty , và doanh thu có thể được tìm thấy trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Biên lợi nhuận dòng tiền hoạt động cao có thể chỉ ra rằng một công ty có hiệu quả trong việc chuyển đổi doanh thu sang tiền mặt và cũng có thể là một dấu hiệu cho thấy chất lượng thu nhập cao

(5) Chỉ số dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trên thu nhập thuần( CFO to Net Income)

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trên thu nhập thuần =

Dòng tiền từ hoạt động đến tỷ suất thu nhập thuần cho thấy tỷ

lệ phần trăm thu nhập ròng của một công ty có sẵn như là tiền mặt để đầu tư và tài trợ các hoạt động đang diễn ra Sự suy giảm tỷ lệ này theo thời gian có thể cho thấy công ty đang gặp phải vấn đề về dòng tiền mặt

Chỉ số này cho biết tỉ lệ thu nhập phát sinh từ tiền sau đó được

sử dụng cho các hoạt động đầu tư mới hoặc trả nợ tài chính Khi

tỉ lệ này khác 1, cần phải tìm ra những nguồn gây ra sự khác nhau đó, liệu tỉ lệ này có thay đổi theo thời gian và nguyên nhân của sự thay đổi, những sự biến động của các khoản phải thu, hàng hoá và các khoản phải trả là bình thường không và cólời giải thích hợp lí cho những thay đổi này không

1.3. Sự cần thiết của các chỉ số dòng tiền trong phân tích khả

năng thanh toán

Trang 16

Việc phân tích dòng tiền là cơ sở để phát hiện các yếu kém ảnh hưởng đến tài chính doanh nghiệp Biết rõ được doanh nghiệp đang ở trong tình trạng nào, khó khăn ra sao, tình hình phát triển trong thời gian tới Bên cạnh đó, việc phân tích này giúp doanh nghiệp có thể nhận ra các khoản nợ xấu, nợ phải thu; đánh giá được khả năng thanh toán và xác định được một cách chính xác đâu là nguồn tiền trả nợ các khoản nợ ngắn hạn cũngnhư các khoản nợ dài hạn khi đến hạn trả, chi phí nào của

doanh nghiệp liên quan đến tiến, các chi phí nào không liên quan đến tiền

Báo cáo dòng tiền cho thấy các hoạt động đầu tư đã được tài trợ từ bên ngoài (ví dụ vay mượn) hay nội bộ (ví dụ như quản lý vốn lưu động, hoặc tạo ra lợi nhuận) Ngoài ra, một báo cáo dòng tiền mặt hỗ trợ trong việc đánh giá khả năng của một công ty để tạo ra tiền mặt tích cực trong tương lai

Các nhà cho vay và chủ nợ đã bắt đầu sử dụng các chỉ số dòng tiền vì nó cung cấp thêm thông tin về khả năng của một công

ty để hoàn thành nghĩa vụ thanh toán So với tỷ lệ vốn lưu

động, chẳng hạn như tỷ lệ khả năng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán hiện tại, là một đặc điểm của bảng cân đối kế toán truyền thống, các chỉ số dòng tiền thực tế hơn Tỷ số trongbảng cân đối kế toán chỉ có thể cung cấp thời điểm cụ thể,

trong khi đó báo cáo dòng tiền mặt đại diện cho hoạt động

trong một khoảng thời gian liên tục Nói cách khác, bảng cân đối có tính chất tĩnh trong khi báo cáo dòng tiền mặt là một hình ảnh chuyển động về hiệu suất Hơn nữa, thêm vào thực tế

là các chỉ số dòng tiền so sánh dòng tiền đó với những nghĩa vụngắn hạn

1.4. Mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và khả năng sinh

lợi của doanh nghiệp

Khả năng sinh lời là một trong những yếu tố tác động tới khả năng thanh toán của doanh nghiệp Có nhiều nghiên cứu và đánh giá khác nhau về mối quan hệ giữa khả năng thanh toán

và khả năng sinh lợi Tuy nhiên, ta có thể chia thành 2 trường phái như sau:

Trang 17

1.4.1. Theo lý thuyết đánh đổi (trade-off theory)

Theo lí thuyết đánh đổi, công ty nên giữ tỷ lệ nợ đúng mức và luôn tồn tại một cấu trúc vốn tối ưu nhằm tối đa hóa giá trị

doanh nghiệp Một lí do lớn khiến các doanh nghiệp không thể tài trợ hoàn toàn bằng nợ vay là vì bên cạnh việc sở hữu lợi ích

lá chắn thuế từ chi phí lãi vay, việc sử dụng tài trợ bằng nợ

cũng phát sinh nhiều chi phí, điển hình nhất là các chi phí kiệt quệ tài chính bao gồm cả chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp của việc phá sản có nguyên nhân từ nợ và chi phí đại diện giữa chủ sở hữu và chủ nợ Đó là một tỉ lệ đòn bẩy tooiswu cân bằnggiữa chi phí và lợi ích của nợ, đảm bảo hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro kinh doanh mà vaamc giúp doanh nghiệp tận dụng được hiệu quả nguồn vốn nợ

Với mỗi phần trăm nợ tăng thêm, trong khi lợi ích lá chắn thuế tăng thì chi phí kiệt quệ tài chính cũng gia tăng Sẽ đến một lúcnào đó, khi mà với mỗi một tỉ lệ nợ tăng thêm, lợi ích từ lá chắn thuế không cao hơn chi phí kiệt quệ tài chính thì việc vay nợ không còn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp Chính vì điều này các công ty luôn tìm cách tối ưu hóa tổng giá trị doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc cân bằng này để xá định cơ cấu nợ và vốn chủ sở hữu

Như vậy, theo lí thuyết đánh đổi khi doanh nghiệp duy trì khả năng thanh toán cao thì đánh đổi lại lợi nhuận đạt được sẽ thấp nguyên nhân là do khi doan nghiệp duy trì tài sản ngắn hạn caothi khả năng sinh lời thấp do chi phí hoạt động cao, hơn nữa vớiviệc duy trì nợ thấp cũng khiến doanh nghiệp chịu chi phí tài chính cao hơn, mặt khác lại không sử dụng được đòn bẩy tài chính cũng như khoản tiết kiệm từ chi phí lãi vay Ngược lại khi doanh nghiệp duy trì khả năng thanh toán ngắn hạn thấp thì đánh đổi với rủi ro tài chính cao, khả năng sinh lời cũng cao.1.4.2. Theo giả thuyết của Hirigoyen

Theo Hirigoyen thì sẽ có mối quan hệ tác động hai chiều giữa khả năng thanh toán và khả năng sinh lời Một doanh nghiệp cókhả năng thanh toán thấp sẽ có thể có lợi nhuận cao và mọt

Trang 18

doanh nghiệp cps lợi nhuận thấp khó có thể đạt được mức khả năng thanh toán cao.

Một doanh nghiệp có khả năng thanh toán thấp và khả năng sinh lợi cao khi vay nợ sẽ làm gia tăng áp lực tài chính Điều này làm tăng chi phí tài chính mà doanh nghiệp phải gánh chịu,

vì vậy họ không còn được hưởng những lợi thế nguồn vốn có chiphí rẻ nữa Khi các doanh nghiệp ra tăng vay nợ thì rủi ro tài chính tăng, điều này khiến cho chi phí lãi vay gánh chịu cao hơn Chính vì vây, những doanh nghiệp này buộc phải gia tăng nguồn vốn tín dụng thương mại, với việc sử dụng nhiều nguồn vốn tín dụng thương mại giá cả đầu vào sẽ đắt đỏ hơn và kéo theo việc gia tăng chi phí hoạt động của công ty Như vậy, có thể thấy rằng khi duy trì khả năng thanh toán thấp có thể dẫn đến tình trạng tài chính ngày càng tồi tệ và rủi ro phá sản ở mức cao Mặt khác một doanh nghiepj có khả năng tthanh toán thấp kết hợp với khả năng sinh lời cao có thể không tạo ra đủ tiền để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động, đầu tư tài sản cố định mới hay thanh toán các khoản nợ khi đến hạn, do đó dẫn đến mất khả năng thanh toán Chính vì vậy Hirigoyen cho rằng khả năng thanh toán và khả năng sinh lời là hai điều kiện cần và đủ

hỗ trợ cho nhau để đảm bảo sự tồn tại, phát triển của một

doanh nghiệp trong dài hạn cụ thể:

(1) Khả năng sinh lời đảm bảo sự phát triển của doanh nghiệptuy nhiên khả năng sinh lời phải đảm bảo duy trì được khả năng thanh toán của doanh nghiệp

(2) Khả năng thanh toán cao sẽ làm giảm tổng rủi ro của

doanh nghiệp theo nghĩa là vốn lưu động ròng tăng giúp làm giảm nguy cơ phá sản, tuy nhiên khả năng thanh toáncao, mức độ an toàn lớn sẽ làm giảm khả năng sinh lời củadoanh nghiệp

(3) Khả năng thanh toán và khả năng sinh lời là hai điều kiện cần cân nhắc của bất kì một doanh nghiệp nào khi xây dựng chiến lược phát triển Một doanh nghiệp đang trong thời kì phát triển sẽ có sự cải tiền trong hoạt động tài

chính, tác động đến chu kì kinh doanh từ đó ảnh hưởng đến khả năng thanh toán

Trang 19

1.4.3. Các chỉ số đại diện cho khả năng sinh lời

Để đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp người ta

thường sử dụng 2 chỉ số

(1) Khả năng sinh lời trên tổng tài sản (ROA)

Chỉ số này đo lường hiệu quả hoạt động của công ty mà không quan tâm đến cấu trúc tài chính

Do đó, ROE là một chỉ tiêu được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm, thường xuyên được sử dụng làm cơ sở đánh giá khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, giúp các nhà đầu tư tiềm năng ra quyết định trong hoạt động đầu tư vào cổ phiếu của doanh nghiệp

Ngày đăng: 29/06/2017, 16:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w