1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VŨ THỊ HƯỜNG ĐÁNH GIÁ sự hài LÒNG của cựu SINH VIÊN về HOẠT ĐỘNG đào tạo tại TRƯỜNG CAO ĐẲNG dược TRUNG ƯƠNG hải DƯƠNG LUẬN văn THẠC sĩ dược học

101 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Sự Hài Lòng Của Cựu Sinh Viên Về Hoạt Động Đào Tạo Tại Trường Cao Đẳng Dược Trung Ương Hải Dương
Tác giả Vũ Thị Hường
Người hướng dẫn TS. Trần Bá Kiên
Trường học Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương
Chuyên ngành Dược học
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 870,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN (11)
    • 1.1. Sự hài lòng của khách hàng (11)
      • 1.1.1. Khái niệm về sự hài lòng (11)
      • 1.1.2. Một số mô hình sự hài lòng của khách hàng (12)
    • 1.2. Chất lượng dịch vụ và chất lượng đào tạo (14)
      • 1.2.1. Chất lượng dịch vụ (14)
      • 1.2.2. Chất lượng đào tạo (15)
      • 1.2.3. Một số mô hình chất lượng dịch vụ (16)
    • 1.3. Mối liên quan giữa chất lượng đào tạo và sự hài lòng của người học (20)
    • 1.4. Đào tạo Cao đẳng Dược tại một số nước trên thế giới và tại Việt Nam (21)
      • 1.4.1. Đào tạo Cao đẳng Dược tại một số nước trên thế giới (21)
      • 1.4.2. Đào tạo Cao đẳng Dược tại Việt Nam (23)
      • 1.4.3. Đào tạo Cao đẳng Dược tại Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương (24)
      • 1.4.4. Vài nét về đối tượng nghiên cứu (25)
    • 1.5. Thực trạng nghiên cứu sự hài lòng của sinh viên với hoạt động đào tạo (26)
      • 1.5.1. Nghiên cứu trên thế giới (26)
      • 1.5.2. Nghiên cứu tại Việt Nam (28)
    • 1.6. Đề xuất mô hình nghiên cứu (32)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (33)
    • 2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu (33)
      • 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu (33)
      • 2.1.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (33)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (33)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (33)
      • 2.2.2. Biến số nghiên cứu (34)
      • 2.2.3. Mẫu nghiên cứu (36)
      • 2.2.4. Phương pháp thu thập dữ liệu (37)
      • 2.2.5. Xử lý và phân tích dữ liệu (38)
    • 2.3. Tính tin cậy và tính giá trị của nghiên cứu (40)
    • 2.4. Vấn đề liên quan đến đạo đức nghiên cứu (40)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (41)
    • 3.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu (41)
    • 3.2. Kết quả xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của cựu sinh viên về hoạt động đào tạo tại Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương (42)
      • 3.2.1. Kiểm định độ tin cậy của thang đo (42)
      • 3.2.2. Phân tích nhân tố khám phá EFA (45)
      • 3.2.3. Phân tích hồi quy đa biến (47)
    • 3.3. Kết quả phân tích sự hài lòng của cựu sinh viên về hoạt động đào tạo tại Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương (50)
      • 3.3.1. Mô tả mức độ hài lòng của cựu sinh viên với các nhân tố ảnh hưởng (50)
        • 3.3.1.1. Nhân tố Đội ngũ giảng viên (50)
        • 3.3.1.2. Nhân tố Chương trình đào tạo (52)
        • 3.3.1.3. Nhân tố Cơ sở vật chất và hoạt động hướng nghiệp (53)
        • 3.3.1.4. Nhân tố Quy trình, hoạt động hỗ trợ (54)
        • 3.3.1.5. Đánh giá chung về hoạt động đào tạo (55)
      • 3.3.2. Phân tích sự khác biệt giữa nhóm cựu sinh viên có việc làm và nhóm cựu (56)
        • 3.3.2.1. Mối liên quan giữa tình trạng việc làm và đặc điểm cá nhân (56)
        • 3.3.2.2. Kiểm định sự khác biệt về mức độ hài lòng với hoạt động đào tạo giữa nhóm cựu sinh viên có việc làm và nhóm cựu sinh viên chưa có việc làm (58)
    • 3.4. Kết quả phỏng vấn sâu cựu sinh viên về việc đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường (61)
  • CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN (63)
    • 4.1. Bàn luận về các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của cựu sinh viên về hoạt động đào tạo tại Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương (63)
    • 4.2. Bàn luận về sự hài lòng của cựu sinh viên với hoạt động đào tạo tại Trường (65)
      • 4.1.1. Nhân tố “Đội ngũ giảng viên” (65)
      • 4.1.2. Nhân tố “Chương trình đào tạo” (68)
      • 4.1.3. Nhân tố “Cơ sở vật chất và hoạt động hướng nghiệp” (70)
      • 4.1.4. Nhân tố “Quy trình, hoạt động hỗ trợ người học” (72)
    • 4.3. Bàn luận về sự khác biệt giữa nhóm cựu sinh viên có việc làm và nhóm cựu (73)
      • 4.3.1. Mối liên quan giữa tình trạng việc làm với giới tính và xếp loại tốt nghiệp (74)
      • 4.3.2. Sự khác biệt về mức độ hài lòng giữa nhóm cựu sinh viên có việc làm và nhóm cựu sinh viên chưa có việc làm (76)
    • 4.4. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo (78)

Nội dung

Hiểu được tầm quan trọng của hoạt động đánh giá sự hài lòng của người học trong công tác đảm bảo chất lượng, những năm gần đây, nhà trường đã thực hiện một số nghiên cứu nhằm đánh giá sự

TỔNG QUAN

Sự hài lòng của khách hàng

1.1.1 Khái niệm về sự hài lòng

Có nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng của khách hàng và còn nhiều tranh luận về khái niệm này Lý thuyết phổ biến được dùng để xem xét sự hài lòng của khách hàng là lý thuyết "Kỳ vọng – Xác nhận", được Oliver (1980) phát triển và được dùng để nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng của dịch vụ hoặc sản phẩm của một tổ chức Lý thuyết đó cho hai quá trình nhỏ tác động độc lập đến sự hài lòng: kỳ vọng về dịch vụ trước khi mua và cảm nhận về dịch vụ sau khi đã trải nghiệm.

Brown và Huber (1992) cho rằng sự hài lòng của khách hàng là trạng thái mà các nhu cầu, mong muốn và kỳ vọng đối với sản phẩm và gói dịch vụ được đáp ứng đầy đủ hoặc vượt quá Điều này dẫn tới mua hàng lặp lại, tăng sự trung thành và tạo ra giá trị của lời truyền miệng một cách tích cực [24].

Theo Hansemark và Albinsson (2004), sự hài lòng của khách hàng được xem như thái độ tổng thể của khách hàng đối với một nhà cung cấp dịch vụ, hoặc là cảm xúc phản ứng trước sự khác biệt giữa những gì khách hàng dự đoán trước và những gì họ nhận được sau khi sử dụng dịch vụ, khi đáp ứng các nhu cầu, mục tiêu hay mong muốn của họ Nói cách khác, mức độ hài lòng phụ thuộc vào mức độ khớp giữa kỳ vọng và kết quả thực tế mà khách hàng trải nghiệm Khái niệm này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự cân bằng giữa mong đợi và hiệu suất thực tế và cho thấy sự hài lòng có ảnh hưởng đến hành vi mua hàng, mức độ trung thành và sự gắn bó của khách hàng với nhà cung cấp [34].

Theo Kotler và Keller (2006), sự hài lòng là trạng thái cảm xúc phát sinh từ việc so sánh nhận thức về hiệu suất của một sản phẩm với những mong đợi của người tiêu dùng Nói cách khác, mức độ hài lòng phụ thuộc vào sự chênh lệch giữa kỳ vọng và trải nghiệm thực tế: sản phẩm đáp ứng hoặc vượt kỳ vọng sẽ mang lại sự hài lòng, còn khi hiệu suất không đạt mong đợi, sự thất vọng sẽ xuất hiện Hiểu được quá trình này giúp doanh nghiệp quản lý kỳ vọng và cải thiện chất lượng sản phẩm để tăng sự hài lòng và sự trung thành của khách hàng.

Những định nghĩa về sự hài lòng cho thấy đây là sự so sánh giữa lợi ích thực tế cảm nhận được và những kỳ vọng ban đầu Khách hàng có thể rơi vào một trong ba mức độ thỏa mãn: nếu kết quả thực tế kém hơn kỳ vọng, khách hàng sẽ không hài lòng; nếu kết quả thực tế đúng với kỳ vọng, khách hàng sẽ hài lòng; và nếu kết quả vượt quá mong đợi, khách hàng sẽ rất hài lòng [13].

1.1.2 Một số mô hình sự hài lòng của khách hàng

Chỉ số hài lòng của khách hàng (Customer Satisfaction Index – CSI) được ứng dụng nhằm đo lường mức độ hài lòng của khách hàng đối với các ngành nghề và doanh nghiệp ở nhiều quốc gia phát triển trên thế giới CSI bao gồm các nhân tố (biến), mỗi nhân tố được cấu thành từ nhiều chỉ tiêu cụ thể (indicators, items) đặc trưng cho sản phẩm hoặc dịch vụ Sự hài lòng của khách hàng được định nghĩa là một đánh giá tổng thể về việc sử dụng dịch vụ hoặc các hoạt động sau bán hàng của doanh nghiệp, và đây là điểm cốt lõi của mô hình CSI [30]

1.1.2.1 Mô hình chỉ số hài lòng của Mỹ

Trong mô hình chỉ số hài lòng của Mỹ (ACSI), giá trị cảm nhận được hình thành từ chất lượng cảm nhận và sự mong đợi của khách hàng, và sự mong đợi tác động trực tiếp lên chất lượng cảm nhận Khi mong đợi càng cao, tiêu chuẩn về chất lượng cảm nhận đối với sản phẩm sẽ càng cao; ngược lại cũng vậy Do đó, yêu cầu về chất lượng sản phẩm và dịch vụ với khách hàng phải được đảm bảo và thỏa mãn trên cơ sở sự hài lòng của họ Sự hài lòng của khách hàng được hình thành dựa trên chất lượng cảm nhận, sự mong đợi và giá trị cảm nhận; nếu chất lượng và giá trị cảm nhận vượt lên sự mong đợi sẽ tạo nên lòng trung thành, còn ngược lại sẽ là phàn nàn hoặc than phiền về sản phẩm mà họ tiêu dùng.

Hình 1.1 Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ

(American Customer Satisfaction Index – ACSI)

Sự hài lòng của khách hàng (SI) value)

1.1.2.2 Mô hình chỉ số hài lòng của Châu Âu

Mô hình chỉ số hài lòng châu Âu (ECSI) có một số khác biệt so với mô hình chỉ số hài lòng của Mỹ (ACSI): hình ảnh của sản phẩm và thương hiệu tác động trực tiếp đến sự mong đợi của khách hàng; do đó, sự hài lòng của khách hàng là sự tác động tổng hòa của 4 nhân tố hình ảnh, giá trị cảm nhận, chất lượng cảm nhận đối với cả sản phẩm hữu hình và vô hình Thông thường, chỉ số ACSI thường áp dụng cho lĩnh vực công trong khi chỉ số ECSI thường ứng dụng đo lường các sản phẩm, các ngành (Hình 1.2) [21]

Hình 1.2 Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng các quốc gia EU

(European Customer Satisfaction Index – ECSI)

Điểm mạnh nổi bật của cách tiếp cận CSI là dịch chuyển ngay tức khắc kinh nghiệm tiêu dùng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố cấu thành sự hài lòng và sự trung thành của khách hàng Do đó, mục tiêu hàng đầu của phương pháp CSI là giải thích sự trung thành của khách hàng đối với một sản phẩm, một doanh nghiệp hoặc một quốc gia thông qua chỉ số hài lòng khách hàng, chịu tác động trực tiếp hoặc gián tiếp bởi hình ảnh, kỳ vọng, chất lượng cảm nhận và giá trị cảm nhận đối với sản phẩm và dịch vụ đó.

Sự hài lòng của khách hàng (SI)

Chất lượng cảm nhận về sản phẩm

Chất lượng cảm nhận về dịch vụ

Chất lượng dịch vụ và chất lượng đào tạo

Chất lượng dịch vụ là phạm trù rộng và phức tạp, phản ánh sự tổng hợp của các yếu tố kinh tế, kỹ thuật và xã hội Do tính phức tạp đó, hiện nay có nhiều khái niệm về chất lượng và tùy theo hướng tiếp cận mà khái niệm này được hiểu theo các cách khác nhau, mỗi cách hiểu đều có cơ sở khoa học nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ thực tế cụ thể Dưới đây là một vài quan điểm về chất lượng dịch vụ.

Theo ISO 8402 (1999), chất lượng là tập hợp các đặc tính của một đối tượng được cho là tạo điều kiện cho đối tượng đó thỏa mãn các yêu cầu đã được nêu ra hoặc tiềm ẩn Do đó chất lượng dịch vụ có thể hiểu là sự hài lòng của khách hàng được đo bằng hiệu số giữa chất lượng mong đợi và chất lượng đạt được Nếu chất lượng mong đợi thấp hơn chất lượng đạt được thì chất lượng dịch vụ được xem là tuyệt hảo; ngược lại, nếu chất lượng mong đợi lớn hơn chất lượng đạt được thì chất lượng dịch vụ không được đảm bảo; và khi hai giá trị này bằng nhau thì chất lượng dịch vụ được đảm bảo.

Chất lượng dịch vụ, theo Parasuraman và cộng sự (1985; 1988), là sự khác biệt giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ Nói cách khác, chất lượng dịch vụ có thể hiểu là mức độ thỏa mãn của khách hàng được đo bằng hiệu số giữa chất lượng mong đợi và chất lượng đạt được Quan niệm này cho thấy chất lượng dịch vụ phản ánh mức độ đáp ứng mong đợi của khách hàng và là thước đo quan trọng để cải thiện trải nghiệm khách hàng và hiệu quả cung cấp dịch vụ.

Theo Feigenbaum (1991), chất lượng là quyết định của khách hàng dựa trên trải nghiệm thực tế với sản phẩm hoặc dịch vụ, được đo lường thông qua những yêu cầu của khách hàng — có thể được nêu ra hoặc ẩn, có ý thức hoặc chỉ là cảm nhận, mang tính chủ quan hoặc mang tính chuyên môn, và luôn đại diện cho mục tiêu cạnh tranh trong một thị trường cạnh tranh [29].

Qua các định nghĩa nêu trên, có thể nhận thấy chất lượng dịch vụ là mức độ đáp ứng nhu cầu và mong đợi của khách hàng, đây là xu thế nổi bật được các chuyên gia chất lượng nhấn mạnh trong giai đoạn hiện nay Theo quan điểm này, chất lượng dịch vụ được xác định bởi các đặc điểm phản ánh sự phù hợp giữa kỳ vọng của khách hàng và trải nghiệm thực tế, từ đó đảm bảo sự hài lòng và tin tưởng của khách hàng.

Chất lượng được định nghĩa là sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm hoặc dịch vụ, thể hiện qua khả năng đáp ứng kỳ vọng và yêu cầu của họ Ngược lại, nếu sản phẩm hoặc dịch vụ không đáp ứng được những nhu cầu, mong đợi hoặc trải nghiệm của khách hàng, chất lượng được xem là kém.

Chất lượng được đánh giá dựa trên mức độ thỏa mãn nhu cầu của người dùng Tuy nhiên, nhu cầu luôn biến động theo thời gian, không gian và điều kiện sử dụng, nên chất lượng cũng dao động tùy theo hoàn cảnh Vì vậy, để quản trị chất lượng hiệu quả, cần theo dõi liên tục sự thay đổi của nhu cầu và điều chỉnh sản phẩm hoặc dịch vụ cho phù hợp với từng ngữ cảnh sử dụng.

Nhu cầu của khách hàng có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định và tiêu chuẩn, giúp xác định các tiêu chí đánh giá chất lượng và kỳ vọng của thị trường Tuy nhiên, vẫn còn những nhu cầu mà khách hàng chỉ cảm nhận được trong suốt quá trình sử dụng và sau khi kết thúc trải nghiệm Việc lắng nghe những nhu cầu đó và điều chỉnh sản phẩm hoặc dịch vụ sẽ tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng, đáp ứng mong đợi và nâng cao hiệu quả chiến lược kinh doanh.

Chất lượng đào tạo là khái niệm mang tính tương đối, được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy từng cách tiếp cận vấn đề Ở mỗi bối cảnh và vị trí, người ta đánh giá chất lượng từ những khía cạnh riêng biệt Theo Vroeijenstijn (2002), khái niệm chất lượng trong giáo dục được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau, cho thấy tính đa diện và sự khác biệt giữa các chuẩn đánh giá.

Khi chính phủ đánh giá chất lượng giáo dục, họ ưu tiên phân tích tỉ lệ đậu rớt, số sinh viên bỏ học và thời gian hoàn thành chương trình Theo quan điểm này, chất lượng được thể hiện ở việc có càng nhiều sinh viên hoàn thành chương trình đúng hạn, đạt tiêu chuẩn quốc tế và với chi phí thấp nhất có thể.

Trong nhận thức về chất lượng giáo dục, người đánh giá chú trọng tới ba trụ cột chính là kiến thức, kỹ năng và đạo đức được hình thành suốt quá trình học tập Thành phẩm của quá trình này chính là những cử nhân và kỹ sư có trình độ chuyên môn vững vàng, kỹ năng làm việc và phẩm chất nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động Do đó, chất lượng giáo dục được đo bằng khả năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn, sự chuẩn mực trong hành xử nghề nghiệp và sự phát triển bền vững của người học.

Đội ngũ cán bộ giảng dạy định nghĩa chất lượng đào tạo hàn lâm là sự giáo dục xuất sắc dựa trên ba yếu tố trọng yếu: chuyển giao kiến thức hiệu quả, môi trường học tập tốt và mối quan hệ hài hòa giữa giảng dạy và nghiên cứu Chất lượng được thể hiện qua khả năng truyền đạt kiến thức, sự tương tác tích cực giữa người học và giảng viên, và sự liên kết giữa hoạt động giảng dạy với nghiên cứu nhằm phát triển toàn diện cho người học và thúc đẩy tiến bộ khoa học.

Đối với sinh viên, chất lượng giáo dục gắn liền với sự đóng góp vào sự phát triển cá nhân và sự chuẩn bị cho một vị trí xã hội trong tương lai Giáo dục hiệu quả phải kết nối với mối quan tâm cá nhân của từng sinh viên, giúp họ phát triển kỹ năng, kiến thức và giá trị riêng để tự tin tiến bước vào môi trường nghề nghiệp.

Chất lượng được xác định bởi sự thỏa thuận giữa các bên liên quan về những yêu cầu mong muốn Trong dịch vụ giáo dục, việc xác định và đồng thuận các tiêu chí đánh giá chất lượng cùng với kỳ vọng của người học, phụ huynh và nhà trường là nền tảng để thiết kế chương trình, triển khai và cải thiện dịch vụ Dịch vụ giáo dục phải cố gắng đáp ứng những yêu cầu này bằng cách xây dựng hệ thống quản trị chất lượng, đánh giá thường xuyên và thực hiện cải tiến liên tục, nhằm mang lại trải nghiệm học tập tốt hơn và sự hài lòng của người học và cộng đồng giáo dục.

8 gắng hoàn thành càng nhiều ước muốn càng tốt và điều này phải thể hiện trong những mục đích và mục tiêu đào tạo”.[54]

Chất lượng đào tạo của một trường cao đẳng

Chất lượng đào tạo của một trường cao đẳng, được gọi chung là chất lượng giáo dục nghề nghiệp, là sự đáp ứng đầy đủ các mục tiêu do cơ sở đào tạo đề ra và đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục; đồng thời phù hợp với nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp cho sản xuất và dịch vụ của địa phương và cả nước.

Mối liên quan giữa chất lượng đào tạo và sự hài lòng của người học

Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng luôn là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu bàn luận trong các thập kỷ qua Nhiều doanh nghiệp cho rằng hai khái niệm này trùng khớp và có thể thay thế cho nhau, tuy nhiên nghiên cứu cho thấy chúng là hai khái niệm phân biệt Parasuraman và các cộng sự (1993) cho rằng chất lượng dịch vụ và sự hài lòng tồn tại một số khác biệt, trong đó khác biệt cơ bản liên quan đến vấn đề nhân quả Zeithaml và Bitner (2000) cho rằng sự hài lòng của khách hàng là một khái niệm tổng quát thể hiện mức độ thỏa mãn khi tiêu dùng một dịch vụ, còn chất lượng dịch vụ là một khái niệm được đo lường theo mức độ đáp ứng kỳ vọng của khách hàng về các khía cạnh của dịch vụ.

Khía cạnh phi học thuật

Nghiên cứu số 13 tập trung vào các thành phần cụ thể của dịch vụ và cho thấy sự hài lòng của khách hàng chịu tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau Các yếu tố này bao gồm chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ, mức giá, yếu tố tình huống và yếu tố cá nhân, cho thấy mức độ hài lòng phụ thuộc vào sự kết hợp giữa sản phẩm, dịch vụ và bối cảnh người dùng.

Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng, dù là hai khái niệm khác nhau, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong nghiên cứu về dịch vụ Các nghiên cứu trước đây cho thấy chất lượng dịch vụ là nguyên nhân dẫn đến sự thỏa mãn của khách hàng Sự hài lòng có tính dự báo và thể hiện mong đợi, trong khi chất lượng dịch vụ được xem như một chuẩn lý tưởng.

Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng có mối quan hệ đồng biến, nghĩa là khi chất lượng dịch vụ được cải thiện thì sự hài lòng của khách hàng cũng tăng lên Chất lượng dịch vụ chính là điều kiện tiên quyết để thỏa mãn khách hàng Do đó, việc nâng cao chất lượng dịch vụ dựa trên nhu cầu của khách hàng luôn được coi là yếu tố hàng đầu mà các tổ chức, doanh nghiệp cần chú trọng nhằm đáp ứng kỳ vọng khách hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Trong giáo dục đại học và cao đẳng, chất lượng dịch vụ có mối quan hệ chặt chẽ với sự hài lòng của sinh viên và cựu sinh viên; chất lượng đào tạo không chỉ tạo động lực cho sinh viên gắn bó và thiết lập mối quan hệ lâu dài với trường mà còn được xem là một chỉ số đánh giá chất lượng trong quản lý giáo dục hiện nay; vì vậy, đánh giá sự hài lòng của cựu sinh viên với chất lượng đào tạo nên được thực hiện định kỳ và thường xuyên bởi các cơ sở giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và tăng cường lợi thế cạnh tranh bền vững; để đánh giá đúng sự hài lòng của người học, nhà nghiên cứu và cơ sở giáo dục cần xác định các nhân tố thuộc chất lượng đào tạo có ảnh hưởng đến sự hài lòng này.

Đào tạo Cao đẳng Dược tại một số nước trên thế giới và tại Việt Nam

1.4.1 Đào tạo Cao đẳng Dược tại một số nước trên thế giới

Hiện nay trên thế giới có hai loại hình đào tạo về Dược dưới trình độ đại học: Pharmacy Technicians và Pharmacy assistants Với mỗi loại hình đào tạo, vị trí công việc sau khi tốt nghiệp về cơ bản là giống nhau, tuy chương trình đào tạo và thời gian đào tạo có sự khác biệt nhất định giữa các quốc gia.

Một số quốc gia có đào tạo Pharmacy Technicians là: Anh, Mỹ, Canada, Đức, Colombia, Nigeria, Zimbabwe, Tanzania, Nigeria, Singapore, Malaysia,…[59]

Ở Anh, Pharmacy Technician phải hoàn thành một chương trình đào tạo được công nhận với đào tạo nghề đến SVQ/NVQ cấp độ 3 về Dịch vụ Dược theo khuôn khổ hoạt động tại Anh, Wales và Bắc Ireland, đồng thời tham gia một chương trình kiến thức học thuật nền tảng như Dịch vụ Dược BTEC hoặc Chứng chỉ Quốc gia (NC) Họ cũng cần có thời gian làm việc với tư cách là Pharmacy Technician thực tập trước khi nhận bằng cuối cùng và phải đăng ký bắt buộc trước khi bắt đầu làm Pharmacy Technician Thời gian đào tạo tại chỗ thường được thực hiện đồng thời với khóa học và kéo dài khoảng 2 năm Trong NHS, các Pharmacy Technician làm việc dưới sự giám sát trực tiếp của Dược sĩ cấp cao hơn và làm việc chủ yếu ở hai lĩnh vực là nhà thuốc bệnh viện và nhà thuốc cộng đồng; một số cũng làm việc trong các phòng khám của bác sĩ và trong các quỹ ủy thác chăm sóc chính.

Ở Mỹ, không có cơ quan quản lý cấp liên bang được ủy quyền quản lý việc đào tạo Pharmacy Technician Mỗi tiểu bang có Hội đồng Dược riêng và quy định cấp giấy chứng nhận hành nghề cho Pharmacy Technicians tại tiểu bang đó Các yêu cầu cấp chứng nhận rất khác nhau giữa các tiểu bang: một số tiểu bang yêu cầu đào tạo từ trường được hội đồng phê duyệt hoặc chứng nhận của PTCB (Pharmacy Technician Certification Board), có thể bao gồm đào tạo tại trường, đào tạo tại chỗ hoặc thậm chí không yêu cầu gì cả Tuy nhiên vẫn có hai kỳ thi quốc gia để cấp chứng nhận hành nghề cho Pharmacy Technicians.

Năm 2020, PTCB đã ban hành kế hoạch yêu cầu ASHP chứng nhận chương trình đào tạo dược sĩ kỹ thuật (Pharmacy Technician) Tại Mỹ, dược sĩ kỹ thuật làm việc dưới sự giám sát của dược sĩ trong các môi trường như nhà thuốc bán lẻ ở cộng đồng, bệnh viện, các nhà sản xuất dược phẩm, công ty bảo hiểm y tế, các cơ quan y tế của chính phủ hoặc tại các cơ sở đào tạo.

Tại Canada, hầu hết (62%) Pharmacy Technicians được đào tạo từ trường cao đẳng nghề hoặc cao đẳng cộng đồng, một số (16%) có trình độ trung học và

15 không được đào tạo chính quy về dược, trong khi có khoảng 20% có bằng đại học

Chỉ khoảng 2% số người được đào tạo và làm việc ở nước ngoài với tư cách dược sĩ (pharmacists) hoặc Pharmacy Technicians Sự đa dạng về đào tạo kỹ thuật và trình độ học vấn phản ánh phần nào sự phong phú của các chương trình đào tạo Pharmacy Technicians hiện có ở các tỉnh và vùng lãnh thổ khác nhau của Canada.

Tại một số nước Đông Nam Á như Malaysia hiện có 21 cơ sở đào tạo

Pharmacy Assistant được công nhận bởi Cơ quan Trình độ Malaysia (Malaysia Qualification Agency - MQA) Yêu cầu đầu vào của các trường là vượt qua kỳ thi SPM (Sijil Pelajaran Malaysia) hoặc tương đương được Chính phủ Malaysia công nhận, với tối thiểu ba môn đạt điểm C, trong đó có một môn khoa học (Sinh học/Vật lý/Hóa học/Khoa học đại cương) và hai môn học khác, hoặc đáp ứng các điều kiện khác tùy từng cơ sở đào tạo Khóa học kéo dài 3 năm (6 học kỳ), trong đó 4 học kỳ học tại trường và 2 học kỳ cuối thực hành tại bệnh viện.

Tại Singapore, Republic Polytechnic và một số trường đại học cung cấp chương trình Cao đẳng Dược kéo dài 3 năm, đào tạo sinh viên sâu về nghiên cứu và phát triển thuốc, dược lâm sàng, xem xét thuốc và tư vấn cho bệnh nhân, đồng thời trang bị kỹ năng bán và tiếp thị dược phẩm Sinh viên có thể chọn chuyên ngành Công nghiệp Dược, Kinh doanh Dược hoặc Thực hành Dược Sau khi tốt nghiệp, họ có thể tham gia nghiên cứu lâm sàng, làm việc tại các công ty dược phẩm, bệnh viện và nhà thuốc bán lẻ, và tư vấn về sử dụng thuốc cũng như hỗ trợ các hoạt động của nhà thuốc.

1.4.2 Đào tạo Cao đẳng Dược tại Việt Nam

Ở Việt Nam, đào tạo Cao đẳng Dược bắt đầu từ năm 2007 Tính đến nay, có gần 100 trường công lập và ngoài công lập tham gia đào tạo ngành Dược ở trình độ cao đẳng với số lượng chỉ tiêu tuyển sinh mỗi năm lớn Một khóa học Cao đẳng Dược chính quy tại Việt Nam có thời gian đào tạo 3 năm, khối lượng kiến thức tối thiểu là 2.500 giờ (tương đương 90 tín chỉ).

Sau khi tốt nghiệp người học có năng lực đáp ứng các yêu cầu tại các vị trí việc làm của ngành, nghề bao gồm:

- Kiểm nghiệm thuốc - mỹ phẩm - thực phẩm;

- Thực hiện công tác kho dược và vật tư y tế;

- Thủ kho dược và vật tư y tế;

- Thực hiện công tác dược tại cơ sở y tế.[3]

Hiện nay, chương trình đào tạo nhân lực Dược ở cả trình độ đại học và cao đẳng đang được khởi tạo và hoàn thiện dựa trên chuẩn năng lực, đồng thời lấy người học làm trung tâm của hoạt động đào tạo Trong khuôn khổ này, đánh giá chất lượng đào tạo thông qua sự hài lòng của người học được xem là một tiêu chí quan trọng để xây dựng và điều chỉnh chuẩn năng lực Việc khảo sát và đánh giá sự hài lòng của người học sau khi tốt nghiệp với các hoạt động đào tạo cũng được quy định là một trong những tiêu chí của hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, bao gồm tất cả các trường Cao đẳng Dược.

1.4.3 Đào tạo Cao đẳng Dược tại Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải

Trường Cao đẳng Dược Trung ương - Hải Dương được thành lập theo Quyết định số 3689/QĐ-BGDĐT ngày 12/7/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Dược - Bộ Y tế (thành lập ngày 03/11/1965) Đây là cơ sở đào tạo khóa cao đẳng dược đầu tiên trên cả nước; đến nay trường đã đào tạo 12 khóa Cao đẳng dược chính quy với hơn 20.000 cán bộ Dược trình độ Cao đẳng cho ngành Y tế Việt Nam và nước bạn Lào, Campuchia Trường bắt đầu đào tạo theo hình thức tín chỉ từ Khóa Cao đẳng chính quy thứ 5.

Vào tháng 11/2017, trường được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội lựa chọn làm trường trọng điểm nghề quốc tế về ngành Dược ở cấp quốc gia và cấp quốc tế Sự công nhận này khẳng định vị thế và chất lượng đào tạo của trường trong lĩnh vực Dược, đồng thời mở ra cơ hội hợp tác giáo dục và nghiên cứu với các đối tác nước ngoài Với danh hiệu trọng điểm nghề quốc tế, trường tăng cường chương trình đào tạo, nâng chuẩn giảng viên và mở rộng liên kết đào tạo nhằm mang lại cơ hội học tập và việc làm toàn cầu cho sinh viên.

Trường đóng vai trò tư vấn và hỗ trợ cho phần lớn các trường Cao đẳng Y tế từ Đà Nẵng ra ngoài trong lĩnh vực đào tạo Dược sĩ Trung cấp và Dược sĩ Cao đẳng, bao gồm xây dựng và triển khai chương trình đào tạo, tài liệu và giáo trình, quản lý labo thí nghiệm và huấn luyện đội ngũ giảng viên Với trọng trách này, nhà trường luôn đặt mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo lên hàng đầu nhằm tạo ra nguồn nhân lực chất lượng, phù hợp với nhu cầu của xã hội.

Trong những năm gần đây, Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương đã tiến hành một số nghiên cứu nhằm đánh giá sự hài lòng của sinh viên đối với chất lượng đào tạo Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chỉ xem xét chất lượng đào tạo từ góc nhìn của sinh viên năm cuối — những người đã trải qua toàn bộ khóa học nhưng chưa có kinh nghiệm làm việc thực tế trong nghề nghiệp.

Những kết quả nghiên cứu trước đây chưa phản ánh đầy đủ mức độ phù hợp giữa chất lượng đào tạo của cơ sở với nhu cầu nghề nghiệp thực tế Theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục nghề nghiệp, việc thu thập ý kiến phản hồi từ cựu sinh viên và học sinh là hoạt động thiết yếu để minh chứng cho việc nâng cao chất lượng đào tạo Vì vậy, đề tài “Phân tích mức độ hài lòng của sinh viên tốt nghiệp Cao đẳng chính quy Khóa 10 về hoạt động đào tạo của Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương” được thực hiện nhằm đánh giá chất lượng đào tạo dưới góc nhìn của sinh viên sau khi tốt nghiệp và đề xuất các giải pháp điều chỉnh để đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội hiện nay [4], [14].

1.4.4 Vài nét về đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là SVTN Cao đẳng chính quy Khóa 10 Đây là khóa sinh viên nhập học vào tháng 08/2017 và đủ điều kiện xét tốt nghiệp vào tháng 09/2020 Theo báo cáo tổng kết của Phòng Đào tạo Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương năm học 2019-2020, tổng số sinh viên Cao đẳng chính quy Khóa 10 đủ điều kiện xét tốt nghiệp vào tháng 09/2020 là 455 sinh viên trên tổng số

Thực trạng nghiên cứu sự hài lòng của sinh viên với hoạt động đào tạo

1.5.1 Nghiên cứu trên thế giới

Chất lượng giáo dục là vấn đề được quan tâm trên toàn cầu, và trong quản lý giáo dục sự hài lòng của sinh viên và cựu sinh viên được xem là một chỉ số nổi bật quyết định chất lượng đào tạo Vì vậy, các nghiên cứu đánh giá sự hài lòng của người học với chất lượng đào tạo đã được thực hiện từ rất sớm, cung cấp bằng chứng và dữ liệu để cải thiện chương trình học cũng như quá trình quản trị giáo dục.

Nghiên cứu của Wiranto và cộng sự (2021) được thực hiện trên các cựu sinh viên của Chương trình Quản lý Giáo dục, Trường Đại học Tổng thống, Indonesia Những cựu sinh viên này hiện đang làm một công việc nhất định Tổng cộng có 36 cựu sinh viên đã tham gia vào nghiên cứu Công cụ thu thập dữ liệu được các nhà nghiên cứu sử dụng ở dạng thang điểm với 27 biến với các nhân tố ảnh hưởng là: (i)

Cơ sở vật chất; (ii) sự chuyên nghiệp của giảng viên; (iii) Chương trình đào tạo đã được chứng minh là đáng tin cậy và hợp lệ Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết cựu sinh viên có mức độ hài lòng cao; trong đó yếu tố tính chuyên nghiệp của giảng viên chiếm tới 36,10% mức độ hài lòng của cựu sinh viên [55].

Ở Malaysia, Jamari và cộng sự (2021) đã tiến hành một nghiên cứu khảo sát nhằm đánh giá mức độ hài lòng của cựu sinh viên với chương trình đào tạo tại Trường Cao đẳng Bách khoa Công nghệ (Politeknik Metro Johor Bahru – PMJB) Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là đo lường mức độ hài lòng của cựu sinh viên với bốn yếu tố: nội dung của chương trình đào tạo, dịch vụ hướng nghiệp, đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất Phương pháp nghiên cứu sử dụng thang đo Likert 5 cấp (1 = Rất không đồng ý, 5 = Hoàn toàn đồng ý) và khảo sát trên toàn bộ 205 cựu sinh viên tốt nghiệp vào tháng 12 năm 2019 thông qua email và trang web của các lớp học cựu sinh viên.

Nghiên cứu tại Jordan của Ahmad Sharabati và cộng sự (2019) trên 399 cựu sinh viên tốt nghiệp Đại học Trung Đông nhằm khám phá ảnh hưởng của các yếu tố chất lượng dịch vụ đào tạo đối với sự hài lòng của người học đã tốt nghiệp Kết quả cho thấy bốn khía cạnh chất lượng đào tạo là: (i) nhân viên giảng dạy, (ii) tổ chức hành chính, (iii) điều kiện lớp học và (iv) dịch vụ thư viện có mối quan hệ với sự hài lòng của cựu sinh viên Nghiên cứu cũng cho thấy chất lượng dịch vụ là động lực chính tạo lợi thế cạnh tranh bền vững cho các trường đại học, vì vậy các yếu tố của chất lượng dịch vụ nên được tích hợp vào kế hoạch, chiến lược và hoạt động hàng ngày của các trường đại học.

Tại châu Phi, Kara và cộng sự (2016) đã thực hiện một nghiên cứu về chất lượng dịch vụ giáo dục và sự hài lòng của sinh viên tại các trường đại học công lập ở Kenya, và họ xác định 10 khía cạnh của chất lượng dịch vụ giáo dục có thể ảnh hưởng đến sự hài lòng của người học, bao gồm (i) giảng viên với tính chuyên nghiệp, chất lượng phương pháp giảng dạy, độ tin cậy của đánh giá và lợi ích học tập đạt được; (ii) cơ sở vật chất và hạ tầng, như phương tiện giảng dạy, khả năng truy cập Internet, khả năng tiếp cận các mô-đun học tập, chất lượng khuôn viên trường và các dịch vụ thư viện; và (iii) dịch vụ sinh viên, với chất lượng dịch vụ hành chính và phúc lợi dành cho sinh viên Theo các tác giả, các khóa học do trường đại học cung cấp phải đảm bảo nhu cầu tương lai của sinh viên tốt nghiệp.

20 thị trường, chương trình giảng dạy phải được xem xét lại định kỳ để đáp ứng kinh nghiệm học tập của sinh viên.[42]

Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Liên (2015) thực hiện khảo sát trên sinh viên Việt Nam du học tại Trung Quốc bằng bộ câu hỏi và cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên là: (i) phương pháp giảng dạy; (ii) giáo trình phù hợp; (iii) kỹ năng của giảng viên; (iv) cơ sở vật chất phục vụ môn công nghệ thông tin [46].

Jain và cộng sự (2013) nghiên cứu các nhân tố (i) Chất lượng đầu vào; (ii)

Phân tích cho thấy các yếu tố liên quan đến chất lượng đào tạo gồm cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, hỗ trợ học tập, tương tác với doanh nghiệp và quy trình phi học thuật Kết quả cho thấy ba nhân tố có ý nghĩa thống kê là chương trình đào tạo, hỗ trợ học tập và chất lượng tương tác với doanh nghiệp, cho thấy tầm quan trọng của nội dung đào tạo và sự hỗ trợ người học cũng như quan hệ với doanh nghiệp đối với chất lượng đào tạo [41].

Nghiên cứu của Gamage và cộng sự (2008), dựa trên thang đo SERVPERF, cho thấy mức độ hài lòng của sinh viên bị ảnh hưởng bởi một tập hợp các nhân tố chính: giảng viên, chương trình đào tạo, danh tiếng của trường, chi phí, cơ sở vật chất và dịch vụ hỗ trợ người học Các yếu tố này có thể tác động lẫn nhau và cùng định hình mức độ hài lòng của sinh viên đối với chất lượng giáo dục mà trường cung cấp.

1.5.2 Nghiên cứu tại Việt Nam

Ở Việt Nam, như ở nhiều nơi trên thế giới, đảm bảo chất lượng đào tạo luôn được Nhà nước và các cơ sở giáo dục đặc biệt quan tâm Đánh giá chất lượng đào tạo dưới góc nhìn của người học dần trở thành hoạt động thường niên trong công tác đảm bảo chất lượng của các trường Do đó, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các ngành kinh tế và thương mại.

Phan Ngọc Thùy Như (2020) tiến hành nghiên cứu về sự hài lòng của cựu sinh viên từ xa thuộc khối ngành Kinh tế đối với chất lượng dịch vụ đào tạo của Trường Đại học Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của chất lượng dịch vụ đào tạo từ xa trong trải nghiệm học tập và sự hài lòng của người học, đồng thời phân tích các yếu tố góp phần như hệ thống giảng dạy, tài liệu học tập và sự hỗ trợ từ phía nhà trường Kết quả cho thấy mức độ hài lòng của cựu sinh viên từ xa phụ thuộc vào tính hiệu quả của các dịch vụ giáo dục từ xa và khả năng đáp ứng nhu cầu học tập của khối ngành Kinh tế Các đề xuất nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo từ xa được nêu ra để cải thiện sự hài lòng, tăng cường hiệu quả giảng dạy và nâng cao uy tín của trường đại học đối với đào tạo từ xa ngành Kinh tế Nghiên cứu đóng góp cho diễn đàn quản trị giáo dục và là tài liệu tham khảo cho các chương trình đào tạo từ xa trong khối ngành Kinh tế tại Việt Nam.

Mở Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra hai nhân tố chính ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên, đó là (i) chương trình đào tạo và (ii) hệ thống hỗ trợ học tập Nhóm các yếu tố liên quan đến giảng viên và cơ sở vật chất không được đưa vào phân tích do đặc thù đào tạo từ xa chủ yếu diễn ra tại các đơn vị liên kết với trường.

Phạm Thị Liên (2016) thực hiện một nghiên cứu về chất lượng dịch vụ đào tạo và sự hài lòng của người học với trường hợp Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Nghiên cứu làm rõ ảnh hưởng của các yếu tố chất lượng dịch vụ như cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên và hỗ trợ người học đối với mức độ hài lòng của sinh viên Kết quả cho thấy mối quan hệ tích cực giữa chất lượng dịch vụ đào tạo và sự hài lòng của người học, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và cải thiện trải nghiệm học tập tại trường Bài viết đóng góp cho lĩnh vực quản trị chất lượng giáo dục đại học bằng cách cung cấp bằng chứng thực nghiệm từ một trường đại học thuộc Đại học Quốc gia.

Nghiên cứu tiến hành khảo sát 160 sinh viên nhằm đánh giá sự hài lòng đối với bốn nhân tố: (i) cơ sở vật chất; (ii) chương trình đào tạo; (iii) giảng viên; (iv) khả năng phục vụ Kết quả phân tích cho thấy mức độ hài lòng chịu tác động từ ba nhân tố: chương trình đào tạo (Beta = 0,346), cơ sở vật chất (Beta = 0,330) và khả năng phục vụ (Beta = 0,244) Trong khi giảng viên được sinh viên đánh giá cao, phân tích hồi quy cho thấy nhân tố này không có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến sự hài lòng của sinh viên.

Võ Thị Quý và cộng sự (2015) đã tiến hành một nghiên cứu nhằm kiểm định thang đo chất lượng đào tạo bậc đại học từ góc độ của sinh viên tại Trường Đại học Kinh tế Nghiên cứu tập trung đánh giá tính hợp lệ và độ tin cậy của thang đo nhằm phản ánh chính xác chất lượng đào tạo từ quan điểm của người học.

Đề xuất mô hình nghiên cứu

Qua quá trình tổng quan tài liệu, các nhân tố như chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, quy trình và hoạt động hỗ trợ được nhiều nghiên cứu dùng để đánh giá mức độ hài lòng của người học đối với chất lượng đào tạo Dựa trên kết quả nghiên cứu và tình hình thực tiễn hoạt động đào tạo tại Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương, tác giả đề xuất mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của CSV về hoạt động đào tạo tại trường, gồm bốn yếu tố chính: (i) chương trình đào tạo; (ii) đội ngũ giảng viên; (iii) cơ sở vật chất; (iv) quy trình và các hoạt động hỗ trợ.

Hình 2.5 Mô hình giả thuyết nghiên cứu

Sự hài lòng của cựu sinh viên Đội ngũ giảng viên

Quy trình, hoạt động hỗ trợ

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

- SVTN Cao đẳng chính quy Khóa 10 Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương

- Sinh viên Cao đẳng chính quy Khóa 10 đủ điều kiện tốt nghiệp vào tháng 09/2020

- Sinh viên Cao đẳng chính quy Khóa 10 đủ điều kiện tốt nghiệp vào tháng 09/2020 từ chối tham gia vào nghiên cứu

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương

Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định tính và phương pháp định lượng

Nghiên cứu định tính bằng phương pháp tổng quan tài liệu giúp khám phá và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của CSV với hoạt động đào tạo tại Trường Qua tổng quan tài liệu, các nhân tố được hệ thống hóa thành cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm để hình thành mô hình giả thuyết nghiên cứu và xác định các biến cần khảo sát Từ đó, nghiên cứu xây dựng bộ công cụ khảo sát phù hợp nhằm đo lường mức độ tác động của từng nhân tố lên sự hài lòng và thiết kế khung phân tích cho quá trình nghiên cứu Kết quả là một mô hình nghiên cứu toàn diện và bộ công cụ khảo sát tin cậy, chuẩn bị cho bước thu thập dữ liệu và kiểm tra các giả thuyết.

Nghiên cứu định lượng nhằm kiểm định lại mô hình giả thuyết và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của CSV với hoạt động đào tạo, đồng thời đo lường mức độ hài lòng của CSV về chất lượng và hiệu quả của hoạt động đào tạo tại Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương.

Nghiên cứu định tính bằng phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc được thực hiện trên đối tượng CSV nhằm thu thập thông tin bổ sung, giúp khẳng định thêm kết quả của phương pháp định lượng và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương Dữ liệu từ phỏng vấn tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, bao gồm nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, đội ngũ giảng viên, đánh giá học tập và điều kiện cơ sở vật chất, từ đó bổ sung cho kết quả khảo sát lượng và định hướng cải tiến thực tiễn Các đề xuất được trình bày dựa trên bằng chứng từ phỏng vấn nhằm nâng cao sự thích nghi của chương trình đào tạo với yêu cầu của sinh viên, doanh nghiệp và chuẩn đầu ra, góp phần tăng cường chất lượng đào tạo của trường.

Bảng 2.2 Các biến số nghiên cứu

TT Tên biến Khái niệm Giá trị

A Các biến về nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của CSV

1 CT Ảnh hưởng của nhân tố Chương trình đào tạo đến sự hài lòng của CSV

2 GV Ảnh hưởng của nhân tố Đội ngũ giảng viên đến sự hài lòng của CSV

3 CS Ảnh hưởng của nhân tố Cơ sở vật chất đến sự hài lòng của CSV

4 QT Ảnh hưởng của nhân tố Quy trình, hoạt động hỗ trợ đến sự hài lòng của CSV

B Các biến đánh giá mức độ hài lòng của CSV về hoạt động đào tạo

1 CT1 Mục tiêu đào tạo rõ ràng, phù hợp với yêu cầu công việc

Phỏng vấn bằng bộ câu hỏi

2 CT2 Trình tự các môn học sắp xếp hợp lý

3 CT3 Khối lượng kiến thức phù hợp so với thời gian học tập

4 CT4 Tỷ lệ phân bố giữa lý thuyết và thực hành hợp lý

5 CT5 Nội dung kiểm tra, đánh giá phù hợp với mục tiêu, nội dung môn học

6 GV1 Giảng viên có kiến thức chuyên môn sâu rộng, cập nhật đáp ứng nhu cầu hiểu biết của sinh viên

7 GV2 Giảng viên áp dụng hiệu quả các phương pháp dạy học hiện đại

8 GV3 Giảng viên nhiệt tình, tận tâm, sẵn sàng giúp đỡ sinh viên

9 GV4 Đảm bảo giờ lên lớp và thực hiện đúng nội dung và kế hoạch giảng dạy

10 GV5 Giảng viên kết hợp giáo dục nhân cách, đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên

11 GV6 Giảng viên thực hiện kiểm tra đánh giá công bằng và minh bạch

Phỏng vấn bằng bộ câu hỏi

12 CS1 Giảng đường sạch, rộng, đủ trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập

13 CS2 Phòng thực hành rộng và sạch, có đủ trang thiết bị, máy móc, hóa chất sử dụng được

14 CS3 Thư viện sạch sẽ, có đủ chỗ ngồi, và nguồn tư liệu phong phú

15 CS4 Nhà trường có sân thể thao, hội trường phục vụ cho các nhu cầu thể thao và văn nghệ của sinh viên

16 CS5 Kí túc xá rộng, sạch, đảm bảo đủ chỗ cho sinh viên có nhu cầu

17 QT1 Thủ tục hành chính đơn giản, tạo thuận lợi cho sinh viên

18 QT2 Cán bộ, nhân viên văn phòng hỗ trợ nhanh chóng, thái độ đúng mực, tôn trọng sinh viên

19 QT3 Các hoạt động Đoàn và Hội hữu ích và có tác động tích cực đến sinh viên

20 QT4 Hoạt động thực tế tốt nghiệp phù hợp, bổ ích, giúp sinh viên định hướng lựa chọn công việc

Hoạt động tư vấn hướng nghiệp, hội thảo với các doanh nghiệp bổ ích, tạo nhiều cơ hội việc làm cho sinh viên

22 HLC Đánh giá chung của cựu sinh viên về hoạt động đào tạo tại trường

C Các biến về thông tin cá nhân

1 Giới tính Giới tính của CSV

Phỏng vấn bằng bộ câu hỏi

Xếp loại tốt nghiệp của CSV

Tình trạng việc làm phù hợp với chuyên ngành đào tạo của CSV

Phỏng vấn bằng bộ câu hỏi

Vị trí việc làm phù hợp với chuyên ngành đào tạo của CSV tại cơ quan/ doanh nghiệp

5 Nhân viên pha chế, sản xuất

 Mẫu cho Pre-test: 20 SVTN Cao đẳng chính quy Khóa 10

Mẫu cho nghiên cứu định lượng: Đề tài thực hiện khảo sát trên toàn bộ 455 CSV Khóa 10 Kết quả sau quá trình thu thập cho 287 phiếu, trong đó có 5 phiếu không đạt yêu cầu do không đúng đối tượng nghiên cứu là CSV Khóa 10 Như vậy cỡ mẫu hợp lệ là 282 phiếu Cỡ mẫu này đáp ứng cỡ mẫu tối thiểu theo Hair và cộng sự (1998) dành cho phân tích khám phá EFA, là gấp 5 lần tổng số biến quan sát, và đáp ứng cỡ mẫu cho phân tích hồi quy đa biến theo Green (2013), là 50 + 8*m (m: số biến độc lập tham gia hồi quy) [32], [33]

 Mẫu cho nghiên cứu định tính:

- Phỏng vấn sâu bán cấu trúc theo bộ câu hỏi thiết kế sẵn trên 14 SVTN Cao đẳng chính quy Khóa 10 (Phụ lục 3)

Phương pháp chọn mẫu được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện kết hợp phân tầng theo vị trí việc làm và tình trạng việc làm Dựa vào kết quả khảo sát định lượng, lựa chọn 10 CSV có việc làm phù hợp với chuyên ngành đào tạo theo năm vị trí việc làm phổ biến, gồm 2 nhân viên kinh doanh, 2 nhân viên bán lẻ, 2 nhân viên kho cấp phát, 2 nhân viên pha chế sản xuất và 2 nhân viên kiểm nghiệm.

4 CSV chưa có việc làm phù hợp với chuyên ngành đào tạo (2 CSV có việc làm nhưng không phù hợp với chuyên ngành và 02 CSV chưa có việc làm)

2.2.4 Phương pháp thu thập dữ liệu

Xây dựng bộ công cụ:

Bộ công cụ dự thảo (Phụ lục 1) được xây dựng dựa trên cơ sở tham khảo các bộ công cụ từ một số nghiên cứu đánh giá sự hài lòng của SV/CSV với chất lượng đào tạo Các nguồn tham khảo bao gồm [1], [8], [9], [13], [15], [40], [42], [52], [55], nhằm bảo đảm tính khách quan và phù hợp với tiêu chí đánh giá.

Bộ công cụ dự thảo ban đầu gồm 24 câu hỏi (chưa tính câu hỏi phần thông tin chung) được thử nghiệm phỏng vấn trước (pre-test) trên 20 CSV, tiến hành phỏng vấn trực tiếp qua điện thoại để xác định thời gian hoàn thành một phiếu khảo sát và ghi nhận ý kiến về những câu hỏi, từ ngữ còn chưa rõ nghĩa; sau đó, bộ công cụ được chỉnh sửa cho phù hợp, loại bỏ hai câu hỏi trùng lặp và chỉnh sửa một số câu chữ cho ngắn gọn, dễ hiểu Như vậy, bộ công cụ chính thức để tiến hành khảo sát gồm 4 câu hỏi về thông tin chung (Giới tính, Xếp loại tốt nghiệp, Tình trạng việc làm, Vị trí việc làm) và 22 câu hỏi đo lường trên thang đo Likert 5 điểm (1: Rất không hài lòng; 2: Không hài lòng; 3: Không có ý kiến gì; 4: Hài lòng; 5: Rất hài lòng).

Khảo sát định lượng được thực hiện nhằm đảm bảo việc thu thập số liệu thuận lợi và đáp ứng đủ cỡ mẫu cho phân tích Nghiên cứu thực hiện khảo sát trực tuyến qua Google Form theo hai giai đoạn: giai đoạn đầu gửi phiếu tới CSV khóa 10 qua trang Facebook của lớp CSV trong 04 tuần từ tháng 11/2021 đến tháng 12/2021, thu về 118 phiếu Do số lượng phiếu thu về còn thấp, nghiên cứu tiếp tục khảo sát CSV bằng hình thức phỏng vấn qua điện thoại và Zalo trong 04 tuần từ tháng 12/2021 đến tháng 01/2022, kết quả cuối cùng thu được 282 phiếu đủ điều kiện để đưa vào phân tích.

Phỏng vấn sâu với CSV được thực hiện bằng hình thức phỏng vấn trực tiếp qua điện thoại, dựa trên bộ câu hỏi có sẵn (Phụ lục 3) để đảm bảo tính nhất quán và đầy đủ dữ liệu Mỗi cuộc phỏng vấn sẽ được ghi âm và ghi chép lại với sự đồng ý của CSV, nhằm đảm bảo tính xác thực của thông tin thu thập được Thời lượng của từng cuộc phỏng vấn kéo dài theo diễn biến cuộc trò chuyện và được sắp xếp phù hợp với lịch của CSV.

30 khoảng 30 – 40 phút Phỏng vấn sâu được thực hiện trong 01 tuần, từ ngày 14/02/2022 đến 20/02/2022

2.2.5 Xử lý và phân tích dữ liệu

Sau khi thu thập phiếu khảo sát, tiến hành kiểm tra lại thông tin trên từng phiếu và loại bỏ các phiếu không hợp lệ Toàn bộ dữ liệu thu được được kiểm tra kỹ lưỡng để đảm bảo tính đầy đủ và chính xác, tránh mất dữ liệu Dữ liệu sau đó được mã hóa và đưa vào xử lý bằng hai phần mềm Microsoft Excel.

2007 và SPSS Statistic 22.0 Bao gồm:

Trong Bước 1: Thống kê mô tả, mẫu thu thập được sẽ được tiến hành phân tích nhằm mô tả tổng quan các đặc điểm của mẫu, với các biến được phân loại theo giới tính, xếp loại tốt nghiệp, tình trạng việc làm và vị trí việc làm.

Trong Bước 2, đánh giá độ tin cậy của thang đo được thực hiện bằng hai chỉ số chính: Cronbach’s Alpha và hệ số tương quan biến tổng Cronbach’s Alpha cho biết mức độ nhất quán nội dung của các câu hỏi trong thang đo, còn hệ số tương quan biến tổng cho thấy mức độ liên kết giữa từng mục và tổng điểm thang đo Tiêu chuẩn đánh giá độ tin cậy thang đo phụ thuộc vào ngữ cảnh nghiên cứu, nhưng các ngưỡng phổ biến là Cronbach’s Alpha từ 0.70 trở lên được xem là chấp nhận được, từ 0.80 trở lên là tốt, và từ 0.90 trở lên cho thấy độ tin cậy rất cao; đồng thời, hệ số tương quan biến tổng của mỗi mục nên tối thiểu khoảng 0.30 để đảm bảo mỗi item đóng góp đáng kể cho thang đo Nếu Cronbach’s Alpha thấp hoặc nhiều item có tương quan biến tổng thấp, cần xem xét chỉnh sửa hoặc loại bỏ một số item nhằm cải thiện độ tin cậy của thang đo.

Mức ý nghĩa của hệ số Cronbach’s Alpha cho thang đo được diễn giải như sau: giá trị Cronbach’s Alpha (CA) từ 0,8–1 cho thấy thang đo có độ tin cậy tốt; CA từ 0,7–0,8 cho thấy thang đo ở mức sử dụng được; CA từ 0,6 trở lên có thể được xem là đủ dùng khi khái niệm đang đo lường là mới Theo các chuẩn mực được đề cập trong [16], [47].

Để đảm bảo tính nhất quán của thang đo, hệ số tương quan biến-tổng phải lớn hơn 0,3 Hệ số này cho biết mức độ liên hệ của một biến với giá trị trung bình của các biến khác trong cùng thang đo; khi hệ số càng cao, mức độ tương quan giữa biến đó và các biến trong nhóm càng mạnh Ngược lại, các biến có hệ số tương quan biến-tổng nhỏ hơn 0,3 được xem là biến rác và sẽ bị loại khỏi thang đo.

Bước 3: Phân tích nhân tố khám phá (EFA) được dùng để thu nhỏ số lượng biến ban đầu thành tập hợp các biến cần thiết cho nghiên cứu và để xác định mối quan hệ giữa các biến với nhau Trong phân tích nhân tố, phương pháp đi kèm phép xoay thường được sử dụng nhằm tối ưu hóa tải trọng và diễn giải yếu tố Phân tích nhân tố phải thỏa mãn 5 điều kiện.

(1) Hệ số Kaiser – Meyer – Olkin (KMO): 0,5 ≤ KMO < 1 và mức ý nghĩa của Kiểm định Bartlett: Sig ≤ 0,05 [16]

(2) Thang đo được chấp nhận khi tổng phương sai trích ≥ 50% [20]

(3) Hệ số Eigenvalue > 1 [33] Số lượng nhân tố được xác định dựa trên chỉ số đại diện cho phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố

(4) Hệ số tải nhân tố (Factor Loadings) của các biến ≥ 0,5 để tạo giá trị hội tụ

(5) Chênh lệch hệ số tải nhân tố của một biến quan sát giữa các nhân tố ≥ 0,3 để tạo giá trị phân biệt giữa các nhân tố [16], [39]

Dựa vào kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA để đặt lại tên các nhân tố và điều chỉnh lại mô hình nghiên cứu

Tính tin cậy và tính giá trị của nghiên cứu

Độ tin cậy và tính giá trị là hai yếu tố cốt lõi của mọi nghiên cứu vì chúng phản ánh tính nhất quán và chất lượng của dữ liệu thu thập được Đối với các nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, sự quan trọng của độ tin cậy và tính giá trị càng được tăng lên, giúp dữ liệu có tính trung thực và xác định Tính giá trị cho thấy mức độ đúng đắn và hợp lệ của dữ liệu nghiên cứu, trong khi độ lặp lại và tính ổn định của dữ liệu được thể hiện qua độ tin cậy.

Toàn bộ quá trình nghiên cứu, từ công tác chuẩn bị và lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp đến quá trình tiến hành, quản lý dữ liệu và phân tích số liệu, được xem xét nghiêm túc và thực hiện cẩn thận để bảo đảm tính chính xác, độ tin cậy và chất lượng của kết quả nghiên cứu.

- Quá trình xây dựng bộ công cụ: thực hiện nghiên cứu thử nghiệm pre-test nhằm đảm bảo bộ công cụ ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu

Thu thập dữ liệu được thực hiện bằng cách gửi phiếu khảo sát thông qua phần mềm Google Form, nhằm tiếp cận người tham gia một cách nhanh chóng và dễ dàng Để bảo đảm tính khách quan trong quá trình khảo sát, phiếu khảo sát được thu thập mà không có sự tác động từ nhà nghiên cứu, qua đó nâng cao độ tin cậy và tính trung thực của dữ liệu thu được.

Xử lý số liệu được thực hiện bằng quy trình chuẩn nhằm đảm bảo chất lượng dữ liệu trước khi nhập vào phần mềm: dữ liệu được kiểm tra thông tin một cách kỹ lưỡng, tiến hành làm sạch dữ liệu và loại bỏ những phiếu không đạt yêu cầu, từ đó nâng cao độ chính xác và tính đáng tin cậy của phân tích và báo cáo kết quả.

- Quá trình xử lý số liệu: tính tin cậy và tính giá trị được khẳng định bằng hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA.

Vấn đề liên quan đến đạo đức nghiên cứu

Đối tượng tham gia nghiên cứu được giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu và đồng ý tham gia một cách tự nguyện Toàn bộ dữ liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu sẽ được mã hóa và bảo mật, đảm bảo tính riêng tư và bí mật cho đối tượng tham gia.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

BÀN LUẬN

Ngày đăng: 19/08/2022, 00:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thị Ánh và Đào Thị Hồng Vân (2013), Khảo sát sự hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo tại trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Đề tài nghiên cứu khoa học, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát sự hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo tại trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Bùi Thị Ánh và Đào Thị Hồng Vân
Năm: 2013
5. Phạm Thế Châu (2018), Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo tại Khoa Ngoại ngữ, Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP.HCM, Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo tại Khoa Ngoại ngữ, Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP.HCM
Tác giả: Phạm Thế Châu
Năm: 2018
6. Nguyễn Thị Diễm Hằng và Ngô Mỹ Trân (2019), "Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tìm việc làm của cựu sinh viên Khoa Kinh tế - Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học An Giang", Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 55, tr. 58-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tìm việc làm của cựu sinh viên Khoa Kinh tế - Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học An Giang
Tác giả: Nguyễn Thị Diễm Hằng và Ngô Mỹ Trân
Năm: 2019
7. Huỳnh Trường Huy và La Nguyễn Thùy Dung (2011), "Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn nơi làm việc: Trường hợp sinh viên Đại học Cần Thơ", Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 17b, tr. 130-139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn nơi làm việc: Trường hợp sinh viên Đại học Cần Thơ
Tác giả: Huỳnh Trường Huy và La Nguyễn Thùy Dung
Năm: 2011
8. Phạm Thị Liên (2016), "Chất lượng dịch vụ đào tạo và sự hài lòng của người học Trường hợp Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội", Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, 32(4), tr. 81-89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng dịch vụ đào tạo và sự hài lòng của người học Trường hợp Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Phạm Thị Liên
Năm: 2016
9. Phan Ngọc Thùy Như (2020), "Sự hài lòng của cựu sinh viên Từ xa khối ngành Kinh tế về chất lượng dịch vụ đào tạo của Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh", Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh.15(4), tr. 66-78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hài lòng của cựu sinh viên Từ xa khối ngành Kinh tế về chất lượng dịch vụ đào tạo của Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Phan Ngọc Thùy Như
Năm: 2020
11. Quốc hội (2014), Luật số 74/2014/QH13 về việc ban hành "Luật Giáo dục nghề nghiệp", ban hành ngày 27/01/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục nghề nghiệp
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2014
12. Võ Thị Quý, Phạm Xuân Lan và Đàm Trí Cường (2015), "Kiểm định thang đo chất lượng đào tạo bậc đại học trên góc độ sinh viên - Một nghiên cứu tại TP. HCM", Tạp chí Khoa học trường Đại học Mở TP.HCM, 10(2), tr. 185- 198 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm định thang đo chất lượng đào tạo bậc đại học trên góc độ sinh viên - Một nghiên cứu tại TP. HCM
Tác giả: Võ Thị Quý, Phạm Xuân Lan và Đàm Trí Cường
Năm: 2015
13. Trần Quang Tuấn (2014), Đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng tới sự hài lòng của học viên cao học tại Trường Đại học Dược Hà Nội giai đoạn 2012-2014, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng tới sự hài lòng của học viên cao học tại Trường Đại học Dược Hà Nội giai đoạn 2012-2014
Tác giả: Trần Quang Tuấn
Năm: 2014
14. Trần Quang Tuấn và Trần Bá Kiên (2016), Phân tích sự hài lòng của sinh viên cao đẳng dược chính quy năm cuối tại Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương năm học 2014- 2015, Kỷ yếu Hội nghị khoa học – công nghệ tuổi trẻ các trường đại học, cao đẳng y – dược Việt Nam lần thứ XVIII, Đà Nẵng, tr. 706-709 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội nghị khoa học – công nghệ tuổi trẻ các trường đại học, cao đẳng y – dược Việt Nam lần thứ XVIII
Tác giả: Trần Quang Tuấn và Trần Bá Kiên
Năm: 2016
15. Dương Ánh Tuyết (2017), Xây dựng và chuẩn hóa bộ công cụ đánh giá sự hài lòng của sinh viên với hoạt động đào tạo tại Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương, Luận văn Thạc sĩ Dược học, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và chuẩn hóa bộ công cụ đánh giá sự hài lòng của sinh viên với hoạt động đào tạo tại Trường Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương
Tác giả: Dương Ánh Tuyết
Năm: 2017
16. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc; (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Tác giả: Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2008
17. Võ Văn Việt (2017), "Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng về chất lượng dịch vụ đào tạo : Một nghiên cứu từ cựu sinh viên Trường Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh", Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh. 14(4), tr. 171-182 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng về chất lượng dịch vụ đào tạo : Một nghiên cứu từ cựu sinh viên Trường Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Võ Văn Việt
Năm: 2017
18. Abdullah, F. (2005), "HEdPERF versus SERVPERF: The Quest for Ideal Measuring Instrument of Service Quality in Higher Education Sector.", Quality Assurance in Education, 13, tr. 305-328 Sách, tạp chí
Tiêu đề: HEdPERF versus SERVPERF: The Quest for Ideal Measuring Instrument of Service Quality in Higher Education Sector
Tác giả: Abdullah, F
Năm: 2005
19. Anderson, C. (2010), "Presenting and Evaluating Quality Research", American Journal of Pharmacy Education, 74(8), tr. 141 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Presenting and Evaluating Quality Research
Tác giả: Anderson, C
Năm: 2010
20. Anderson, G. (1988), "An Update Paradigm for Scale Development Incorporing Unidimensionality and Its Asessments", Journal of Marketing Research, 25, tr. 186-192 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Update Paradigm for Scale Development Incorporing Unidimensionality and Its Asessments
Tác giả: Anderson, G
Năm: 1988
21. Askariazad, M.H. và Babakhani, N. (2015), "An application of European Customer Satisfaction Index (ECSI) in business to business (B2B) context", Journal of Business &amp; Industrial Marketing, 30(1), tr. 17-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An application of European Customer Satisfaction Index (ECSI) in business to business (B2B) context
Tác giả: Askariazad, M.H. và Babakhani, N
Năm: 2015
22. Belash, O. và cộng sự (2015), "Research on University Education Quality Assurance: Methodology and Results of Stakeholders’ Satisfaction Monitoring", Procedia - Social and Behavioral Sciences. 214, tr. 344-358 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Research on University Education Quality Assurance: Methodology and Results of Stakeholders’ Satisfaction Monitoring
Tác giả: Belash, O. và cộng sự
Năm: 2015
23. Brad, M.K. và cộng sự (2002), " Performance-only Measures of Service Quality: A Replication and Extension", Journal of Business Research. 55, tr.17-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Performance-only Measures of Service Quality: A Replication and Extension
Tác giả: Brad, M.K. và cộng sự
Năm: 2002
24. Brown, K.A. và Huber, V.L. (1992), "Lowering floors and raising ceilings: A longitudinal assessment of the effects of an earnings-at-risk plan on pay satisfaction", Personnel Psychology. 45(2), tr. 279-311 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lowering floors and raising ceilings: A longitudinal assessment of the effects of an earnings-at-risk plan on pay satisfaction
Tác giả: Brown, K.A. và Huber, V.L
Năm: 1992

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w