1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Ống tủy chữ S

11 397 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh nghiệm lâm sàng và giảng dạy của các tác giả cho thấy các cách tiếp cận khác nhau, và chúng ta có thể sử dụng chúng để có thể điều trị thành công các răng có ống tủy có nhiều độ con

Trang 1

phuong thao

Người chia sẻ: Bàn Chải Đánh Răng

Biên dịch: Phương Thảo

https://www.facebook.com/groups/thuvienrhm/

BÁO CÁO CA LÂM SÀNG ỐNG TỦY HÌNH S: LOẠT CA LẤM SÀNG THỰC HIỆN BỞI BỐN

CHUYÊN GIA TRÊN THẾ GIỚI

Ricardo Machado 1 , Antonis Chaniottis, 2 Jorge Vera, 3 Carlos Saucedo, 4 Luiz

Pascoal Vansan, 1 và Emmanuel João Nogueira Leal Silva 5

1 Trường đại học São paulo, Ribeirão preto, Brazil

2 Thực nghiệm hạn chế nội nha tư nhân, Kalithea, Hy Lạp

3 Trường đại học Tlaxcala, Puebla, Mexico

4 Thực nghiệm hạn chế nội nha tư nhân, Monterrey, Mexico

5 Đại học Grand Rio, Rio de Janero, Brazil

Các tương tác xin gởi về RicarrdoMachado; ricardo.machado.endo@gmail.com

Received 18 February 2014; Revised 21 June 2014; Accepted 21 June 2014; Published 16 July 2014

Academic Editor: Juan Jos’e Segura-Egea

Copyright c 2014 Ricardo Machado et al This is an open access article distributed under the Creative Commons

Attribution License, which permits unrestricted use, distribution, and reproduction in any medium, provided the

original work is properly cited

Phát hiện được các biến thể về giải phẫu của các răng cần điều trị là một thử

thách thật sự cho các nhà lâm sàng Hinh thái cong quá mức thường là biến thể

quan trọng hay gặp nhất và dễ dẫn tới sự cố gãy dụng cụ khi thao tác Trong các

điều kiện lâm sàng, hai độ cong khác nhau có thể ở trên cùng một ống tủy Loại

hình thể này được gọi là ống tủy dạng S, và đây là một tình huống khá thử thách

Bài báo này miêu tả các trường hợp lâm sàng và giảng dạy khác nhau khi bốn

chuyên gia trên thế giới đối diện với tình huống này và cách họ tiếp cận để điều trị

các ống tủy dạng S Lý thuyết nội nha về các trường hợp này khá mờ nhạt và đây

cũng là một thử thách về khoa học cũng như nghệ thuật nha khoa Kinh nghiệm

lâm sàng và giảng dạy của các tác giả cho thấy các cách tiếp cận khác nhau, và

chúng ta có thể sử dụng chúng để có thể điều trị thành công các răng có ống tủy có

nhiều độ cong khác nhau Ở đây chúng tôi cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc

tích lũy các kiến thức về hình thái ống tủy cũng như các biến thể của chúng

1.GIỚI THIỆU

Hệ thống ống tủy thẳng đơn giản là một ngoại lệ và không phải là quy tắc áp

dụng ở bộ răng người Tự nhiên thường tạo ra các hệ thống ống tủy cong với các

mức độ phức tạp khác nhau và các mức độ cong ở các mặt phẳng khác nhau [1]

Khi gặp phải các hệ thống ống tủy dạng này, việc làm sạch và tạo hình ống tủy

thường gặp khó khăn [1-3] Nhiều nghiên cứu mới đây nhấn mạnh sự phức tạp của

hệ thống ống tủy [4-6], chúng tạo ra những khó khăn thực sự cho công việc điều trị

Trang 2

nội nha Ống tủy cong nhiều hướng trong không gian là một ví dụ tiêu biểu cho các

thử thách lâm sàng [1, 7, 8] và sửa soạn “ lý tưởng” cho các răng này thường khá

khó khăn [9, 10]

Mục đích của bài báo này là miêu tả 4 ca ống tủy hình S với các cách tiếp cận khác

nhau qua bàn tay của bốn chuyên gia và trong các điều kiện lâm sàng khác nhau

2.TƯỜNG THUẬT CA LÂM SÀNG

2.1 Ca 1 Một bệnh nhân nam 40 tuổi đã tới phòng khám của một trong bốn tác giả

(Jorge Vera) với cơn đau nặng mỗi khi có kích thích lạnh ở cung răng hàm trên bên

trái Bệnh nhân không có tiền sử gì đặc biệt Tất cả các răng trong vùng liên quan

đáp ứng ở giới hạn bình thường với các thử nghiệm nhiệt trừ răng hàm nhỏ hàm

trên bên trái Đo túi lợi có kết quả 3mm ở tất cả các răng trong vùng Phim chụp

trước xử trí cho thấy có lỗ sâu mặt xa trên răng hàm nhỏ thứ hai bên trái và ống tủy

dạng S với hai độ cong khác nhau Sau khi tổng hợp các dữ liệu, tác giả đưa ra

chẩn đoán là viêm tủy không hồi phục (hình 1a)

Sau khi thực hiện gây tê thấm (Articaine 1:100000 epinephrine), tác giả đặt đê và

tạo đường vào với mũi khoan số 2 (KG Sorensen Zenith Dental Aps, Agerskov-

Denamark), trâm K 08 và 10 (Dentsply Maillerfer, Ballaigues, Switzerland) được

sử dụng đầu tiên với Gel bôi trơn Slick (SybronEndo, Orange County, CA) để

thăm dò chiều dài làm việc Đầu tiên các trâm chỉ đi được một khoảng rất ngắn, do

đồng hồ với mỗi trâm sử dụng, tác giả sử dụng các trâm K số 15, 20, 25, 30

(Denstply Maillefer, Ballaigues, Switzerland) với áp lực nhẹ xuống phía chóp Sau

khi sử dụng các trâm có kích thước lớn, dung dịch 5,25% NaOCl được bơm đầy

trong ống tủy, sau đó với trâm 10K và máy định vị chóp Elements Diagnostic

Apex Locator (SybronEndo, Orange County, CA) và phim chụp, ta xác nhận lại

chiều dài làm việc (Hình 1b) Trâm K số 10 và 15 thao tác ở chiều dài làm việc,

sau đó sử dụng trâm xoắn (twisted files) số 25/10 và 25/8 thao tác ở phần cổ và 1/3

giữa ống tủy với phương pháp bước xuống 1/3 chóp được sửa soạn với các dụng

cụ TF số 25/6, 30/6, 35/6 Dung dịch NaOCl 5,25% bơm rửa ống tủy sau mỗi dụng

cụ và ta luôn kiểm tra với trâm K số 10 trong suốt quá trình làm sạch và tạo hình

ống tủy Dụng cụ bơm rửa siêu âm bị động với đầu siêu âm Irrisafe (Satelec,

Merignac, France) được sử dụng với thời gian 1 phút trong ống tủy bơm đầy

NaOCl 5,25%; ống tủy sau đó được bơm rửa bằng EDTA 17%, thấm khô, và trám

bít bằng gutta percha và Kerr Pulp Canal Sealer (Kerr Corporation, Orange, CA)

sử dụng phương pháp lèn sóng liên tục [12] với máy Elements Obturation Device

(SybronEndo, Orange County, CA) Chuyển động về phía dưới được thực hiện để

trám bít 4mm chóp của ống tủy và gutta percha được bơm vào ống tủy với dụng cụ

bơm gutta (Hình 1c)

Trang 3

phuong thao

2.2 Ca 2 Một bệnh nhân nữ 60 tuổi tới phòng khám của một trong các tác giả

(Antonis Chaniottis) để đánh giá và điều trị (nếu được) răng hàm nhỏ thứ hai hàm

trên bên trái Răng này có phản ứng với sờ và gõ Thử nhiệm nhiệt và điện âm tính

Thông qua thăm khám và chụp phim ban đầu, tác giả quan sát thấy tổn thương cận

chóp kết hợp với chóp răng liên quan có giải phẫu dạng S (Hình 2a) Sau khi tổng

hợp các dữ liệu, tác giả chẩn đoán đây là một trường hợp viêm quanh cuống

Sau khi gây tê thấm (Articaine 1:100000 epinephrine), tác giả đặt đê Đường vào

răng được thực hiện bằng mũi Endo Acces số 2 Dentsply Maillerfer, Ballaigues,

Switzerland) Sau đó ta tiếp tục sử dụng mũi Endo Z để hoàn thiện xoang

(Dentsply Maillefer, Ballaigues, Switzerland) Loại bỏ các cản trở phía cổ răng của

ống tủy bằng trâm máy Protaper SX (Dentsply Maillefer, Ballaigues, Switzerland)

Chiều dài giải phẫu dạng S được xác định trên phim (hình 2b) Để tiếp cận dạng

ống tủy này, đầu tiên ta sử dụng các trâm cầm tay K số 06, 08 và 10 (Dentsply

Maillerfer, Ballaigues, Switzerland) Chiều dài làm việc được xác định bằng máy

định vị chóp Root ZX apex locator (J.Morita Inc., Kyoto, Japan) và xác nhận lại

bằng phim chụp (Hình 2b) Thăm dò bằng cách đưa chậm các trâm K tới chiều dài

làm việc và thao tác đè nhẹ vào thành ống tủy Việc này sẽ giúp tạo ra một đường

vào dụng cụ trơn tru dọc theo độ cong chữ S với ít dụng cụ nhất trong quá trình tạo

hình

Sau khi qua công đoạn với các dụng cụ bằng tay, trâm máy số 1 và số 2 Pathfinder

(Dentsply Maillerfer, Ballaigues, Switzerland) được sử dụng tới chiều dài làm việc,

sau đó là các trâm Grace số 10/4 và 10/6 (FKG Dentaire, La Chaux-de-Fonds,

Switzerland) tới chiều dài làm việc Ta không mở rộng độ cong S của ống tủy

Dùng NaOCl 6% bơm rửa sau mỗi dụng cụ Việc tắc ống tủy được dự phòng bằng

Trang 4

cách uốn cong các trâm K 08 đưa vào và thông ống tủy giữa mỗi lần sử dụng trâm

máy

Bơm rửa tích cực sau khi hoàn thành tạo hình ống tủy bằng trâm K số 15 siêu âm

(Satelec Acteon Group, Meringnac Cedex, France) Sau đó ống tủy được bơm rửa

bằng EDTA 17% trong 2 phút và cuối cùng là bơm rửa bằng nước tiệt trùng Sau

khi thấm khô bằng côn giấy 20, ống tủy được trám bít bằng Kỹ thuật Lèn sóng liên

tục (Continuos Wave of Condensation Technique)[12]

Hai côn gutta percha nhỏ được đo ở đường kính 20 và nhúng vào AH Plus Sealer

(Dentsply Detrey, Konstanz, Germany) và đưa vào tới chiều dài làm việc Dùng

mũi siêu nhỏ của Element Obturation Unit (SybronEndo, Orange County, CA)

được lèn bằng cây Dovgan plugger số 35 (G.Hartzell&Son, Concord, CA) Trám

lùi bằng cách sử dụng máy Extruder Element Unit (SybronEndo, Orange County,

CA) thông qua mũi 25 để bơm gutta nóng chảy tốc độ cao (hình 2c)

2a Phim chụp

cho thấy thấu

vùng cận chóp

đầu tiên quang ở

2b Phim chụp xác định

ngay lập

2.3 Ca 3 Một bệnh nhân nữ 32 tuổi tới phòng khám của một trong các tác giả

(Ricardo Machado) với cơn đau khủng khiếp khi có kích thích lạnh ở cung hàm

trên bàn trái Tiền sử bệnh nhân không có gì đặc biệt Tất cả các răng trong vùng

đều đáp ứng trong khoảng bình thường với các thử nghiệm nhiệt và điện trừ răng

hàm nhỏ thứ nhất hàm trên cho thấy một đáp ứng quá mức Dùng sonde nha chu

cho thấy các răng có túi lợi 3mm Phim chụp trước xử trí cho thấy có lỗ sâu chung

Trang 5

Biên dịch: Phương Thảo Page 5

phuong thao

quanh chụp răng và ống tủy dạng S (Hình 3a) Sau khi tổng hợp các dữ liệu, tác giả

chẩn đoán đây là một viêm tủy không hồi phục

Sau khi gây tê thấm (Articaine 1:100000 epinephrine), tác giả đặt đê Đường vào

được mở bằng mũi 1016 HL (Dentsply Maillerfer, Ballaigues, Switzerland) và

hoàn thiện bằng mũi Endo Z (Dentsply Maillerfer, Ballaigues, Switzerland) Loại

bỏ các cản trở bằng trâm máy Protaper SX, S1 và S2 10 (Dentsply Maillerfer,

Ballaigues, Switzerland)

Tiếp cận vùng S bằng trâm K số 10 (Dentsply Maillerfer, Ballaigues, Switzerland)

Chiều dài làm việc được xác định bằng máy định vị chóp Elements Diagnostic

Apex Locator (SybronEndo, Orange, CA, EUA) Thăm dò bằng cách đưa chậm các

trâm K tới chiều dài làm việc và thao tác đè nhẹ vào thành ống tủy Việc này sẽ

giúp tạo ra một đường vào dụng cụ trơn tru dọc theo độ cong chữ S với ít dụng cụ

nhất trong quá trình tạo hình

Sau đó, dùng kỹ thuật bước xuống [13] với các profile từ số 04 tới 30 (Dentsply

Maillerfer, Ballaigues, Switzerland) Bơm rửa bằng NaOCl 2.5% sau mỗi dụng cụ

được sử dụng Để trách tắc ống tủy, giữa các mũi file máy sử dụng, ta cân dùng

trâm K 10 (Dentsply Maillerfer, Ballaigues, Switzerland) để thông ống tủy Sau đó

ống tủy được bơm rửa bằng EDTA 17% trong 3 phút và thấm khô bằng côn giấy

30 , trám bít bằng Kỹ thuật lai Tagger [14]

Hai côn gutta chính (Profile.04- Dentsply Maillerfer, Ballaigues, Switzerland)

được đặt vào ống tủy rồi chụp phim kiểm soát Các cây côn được phủ AH Plus

Sealer (Dentsply DeTrey, Konstanz, Germany) và đặt tới chiều dài làm việc với sự

giúp đỡ của cây lèn số 30 (Dentsply Maillerfer, Ballaigues, Switzerland) Tiếp đó,

đặt 3 côn phụ Dùng lây lèn McSpadden 40/0.2 ở 2/3 ống tủy Răng được trám tạm

bằng Cavit (ESPE, Seefeld Oberb, Germany) và bệnh nhân được đặt hẹn quay lại

để hàn vĩnh viễn (hình 3b và 3c)

thẳng)

3c Phim chụp cuối (Nhìn

phía gần)

Trang 6

Biên dịch: Phương Thảo Page 6

2.4 Ca 4 Một bệnh nhân nam 37 tuổi tới phòng khám của một trong các tác giả

(Carlos Saucedo) để điều trị nội nha cho răng hàm nhỏ thứ hai hàm trên bên phải

Điều trị đã được tiến hành bởi một phòng nội nha khác trước đó nhưng chưa hoàn

thành Do đường vào đã mở nên thử nghiệm nhiệt không có giá trị Các răng bên

cạnh không có dấu hiệu đáng chú ý nào Độ sâu túi lợi khoảng 3 Phim chụp ban

đầu cho thấy đường vào ống tủy đã mở và ta có dạng ống tủy chữ S (hình 4a)

Sau khi gây tê thấm (Articain 1: 100000 epinephrine), tác giả đặt đê Tháo trám

tạm bằng mũi 1016 HL (Dentsply Maillerfer, Ballaigues, Switzerland) và hoàn

thiện xoang bằng mũi Endo Z (Dentsply Maillerfer, Ballaigues, Switzerland) Do

chỉ một ống tủy được tìm thấy ở phía ngoài, ta mở rộng đường vào về phía khẩu

cái để tìm ống tủy trong Đầu tiên tác giả tiếp cận ống tủy với trâm K C+ số 06

(Dentsply Maillerfer, Ballaigues, Switzerland) 3-4mm cách chóp Bơm rửa bằng

EDTA 17% và loại bỏ cản trở 2/3 trên bằng Hệ thống TF (SybronEndo,

Orange,CA, EUA) bắt đầu bằng cây 25/10 tới 3-4mm cách lỗ tủy và sau đó là cây

25/08 đi 5-7mm độ sâu Tiếp đó, dùng máy định vị chóp Mini Apex Locator

(SybronEndo, Orange, CA, EUA) để tiếp cận chiều dài làm việc và xác nhận lại

bằng phim chụp (hình 4b)

Sau khi đạt tới chiều dài làm việc với trâm K C+ 10 (Dentsply Maillerfer,

Ballaigues, Switzerland) tác giả sử dụng hệ thống Hyflex CM (Coltene-

Whalendent, Allstetten, Switzerland) kết thúc với dụng cụ 30/04 Luôn luôn tránh

tắc ống tủy bằng cách thông nhiều lần bằng cây trâm K số 10 (Dentsply Maillerfer,

Ballaigues, Switzerland) sau mỗi dụng cụ quay kết hợp với NaOCl 5% bơm rửa

với hệ thống Endovac (SybronEndo,Orange, CA, EUA) Ống tủy được bơm đầy

dung dich EDTA 17% trong 2 phút và thấm khô bằng côn giấy 20, sau đó trám bít

bằng kỹ thuật lèn sóng liên tục [12] Dùng côn chính Hyflex 30/04 (Colten

Whaledent, Allstetten,Switzerland) tới chiều dài làm việc (hình 4c) Dùng cây

plugger 25/06 của máy System B (SybronEndo, Orange, CA, EUA) cách chiều dài

làm việc 5mm Côn được phủ bằng Pulp Canal Sealer EEWT (SybronEndo,

Orange, CA, EUA) và gutta được lèn nóng bằng cây Plugger Buchanan số 2

bằng máy System B Cordless Xi măng thủy tinh (Fuji X GC Asia Dental Ptv Ltd,

City Madhapur, Hyderabad, India) được dùng để trám kín thân răng và bệnh nhân

được hẹn để trám vĩnh viễn (hình 4d)

Trang 7

Biên dịch: Phương Thảo Page 7

phuong thao

4a Phim ban đầu cho thấy đã mở đường

vào buồng tủy

4b Xác định chiều dài làm việc

4c Phim chụp với côn chính trong ống

tủy

4d Phim chụp cuối cùng

Trang 8

Biên dịch: Phương Thảo Page 8

3.BÀN LUẬN

Sự phức tạp giải phẫu và ống tủy cong hai lần đã được đề cập trong nhiều nghiên

cứu [15-17] Các hệ thống ống tủy phức tạp không được làm sạch và trám bít một

cách phù hợp là nguồn gốc của các cơn đau kéo dài, không bảo đảm thành công dài

hạn cho điều trị [18,19]

Việc chẩn đoán và quản lý các dạng cong đôi, hay ống tủy hình S, là một thử thách

nội nha Thăm khám cẩn thận và phân tích phim chụp ban đầu giúp ích rất nhiều

cho tình huống lâm sàng này [20-22] Dựa trên các tài liệu nha khoa và các mô tả

nhiều ca lâm sàng như trên, ta có thể thấy rằng việc hiểu rõ giải phẫu chân răng là

không thể thiếu để điều trị nội nha thành công Các nhà lâm sàng khác nhau trong

bài viết này cho thấy các quy trình lâm sàng khác nhau và hữu ích có thể trở thành

các hướng dẫn cho mọi pha điều trị nội nha Quy trình điều trị nội nha đòi hỏi phải

chú ý rất kỹ độ phức tạp của giải phẫu ống tủy và các biến thể giải phẫu này có thể

tìm thấy ở mọi phần của chân răng người chứ không chỉ phần chóp răng [23, 24]

Cẩn thận, kỹ lưỡng và tính toán phương pháp để tránh việc sửa soạn ống tủy thiếu

và thất bại

Có một vấn đề trong y văn rằng các dụng cụ trong các ống tủy có độ cong cao dễ

có nguy cơ gãy vỡ [25-27] Bốn ca lâm sàng có ống tủy cực cong trên đây cho thấy

cách ta tính toán và lên kế hoạch sử dụng dụng cụ thế này để đạt được kết quả

mong muốn Các tác giả của bài báo này mô tả các cách làm sạch và tạo hình khác

nhau cũng như các kỹ thuật trám bít bằng gutta percha nóng khác nhau

Nhìn chung, nội nha là một lĩnh vực khá phức tạp và là một môn học khó Các

nghiên cứu đã chỉ ra nhiều điều trị nội nha không đạt được thực hiện bởi các sinh

viên cao học [28-31] Bài báo này cung cấp các gợi ý lâm sàng hữu ích bởi bốn nhà

lâm sàng có kinh nghiệm ở những nơi có văn hóa và địa lý khác nhau trong việc

thực hành điều trị nội nha Kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng của họ sẽ giúp cho

các bác sĩ có thể thành công hơn trong điều trị các ca nội nha khó

4.KẾT LUẬN

Điều trị nội nha là một thách thức về khoa học và nghệ thuật Kinh nghiệm lâm

sàng và giảng dạy của các tác giả cho thấy các cách tiếp cận khác nhau mà ta có

thể sử dụng để điều trị các chân răng cong nhiều độ Nguyên tắc kỹ thuật của điều

trị nội nha đòi hỏi sự tiếp cận, ôn tập và quyết định chắc chắn

5.MÂU THUẪN LỢI ÍCH

Jorge Vera, trong quá khứ đã nhận được phần thưởng vinh danh của SybroEndo

Các tác giả khác thông báo không có bất kỳ mâu thuẫn lợi ích nào liên quan tới các

quảng cáo trong bài viết này

Trang 9

Biên dịch: Phương Thảo Page 9

phuong thao

6 TÀI LIỆU THAM KHẢO

dimensional study of canal curvatures in the mesial

vol 18, no 6, pp 294–300, 1992

[2] L Tronstad, Clinical Endodontics: A Textbook,

Trieme Medical Publishers, New York, NY, USA, 2nd

edition, 2003

[3] J K Lee, B H Ha, J H Choi, S M Heo, and H

analysis of root canal curvature in maxillary firstmolars

Endodontics, vol 32, no 10, pp 941–945, 2006

[4] M Yamada, Y Ide, S Matsunaga, H Kato, and K

mesiobuccal root canal of Japanese maxillary first

molar usingMicro-CT.,” The Bulletin of Tokyo Dental

College, vol 52, no 2, pp 77–84, 2011

[5] L Meder-Cowherd, A E Williamson, W T

Johnson, D.Vasilescu, R Walton, and F Qian, “Apical

morphology of the palatal roots of maxillary molars by

Endodontics, vol 37,no 8, pp 1162–1165, 2011

[6] M H Villas-Bˆoas, N Bernardineli, B C

of the internal anatomy of mesial root canals of

no 12, pp 1682–1686, 2011

teeth,” Journal of Netherlands Dental Association, vol

3, pp 704–725, 1921

Journal of Endodontics, vol 23, no 6, pp 358–362,

1997

shaping abilities of 4 nickel-titanium rotary instruments

in simulated root canals,” Oral Surgery,OralMedicine,

Oral Pathology, Oral Radiology, and Endodontics, vol

95, no 2, pp 228–233, 2003

nickel-titanium K3 instruments compared with stainless steel hand K- Flexofile

International Endodontic Journal, vol 36, no 3, pp 199–207, 2003

[11] J B Roane, C L Sabala, and M G Duncanson Jr., “The

“balanced force” concept for instrumentation of curved canals,”

Journal of Endodontics, vol 11, no 5, pp 203–211,

1985

condensation technique,”

Endodontic Practice, vol 1, no 4, pp 7–18, 1998 [13]

the crowndown pressureless technique,” Journal of Endodontics, vol

10,

no 10, pp 491–498, 1984

[14] M Tagger, A Tamse, A Katz, and B H Korzen,

“Evaluation of the apical seal produced by a hybrid root canal filling method,

compaction,”

Journal of Endodontics, vol 10, no 7, pp 299–303,

1984

[15] B Willershausen, H Tekyatan, A Kasaj, and B

B Marroqu’ın,

“Roentgenographic in vitro investigation of frequency and

Journal

Trang 10

Biên dịch: Phương Thảo Page 10

of Endodontics, vol 32, no 4, pp 307–311, 2006

[16] L Awawdeh, H Abdullah, and A Al-Qudah,

“Root form and canal morphology of jordanian

maxillary first premolars,” Journal of Endodontics, vol

34, no 8, pp 956–961, 2008

canal morphology of maxillary first premolars in a

Chinese subpopulation evaluated using cone-beam

Journal, vol 45, no 11, pp 996–1003, 2012

endodontic retreatments: an analysis based on clinical

no 12, pp 834–836, 2002

[19] F Paqu’e, D Ganahl, and O A Peters, “Effects

of root canal preparation on apical geometry

assessed by micro-computed tomography,” Journal of

Endodontics, vol 35, no 7, pp 1056– 1059, 2009

[20] E C Sponchiado Jr., H A A Qader Ismail, M

R Lima Braga, F K de Carvalho, and C A C Garcia

Sim˜oes, “Maxillary central incisor with two root

32, no 10, pp 1002–1004, 2006

[21] G S Sachdeva, S Ballal, V Gopikrishna, and D

mandibular second premolar with four roots and four

root canals with aid of spiral computed tomography: a

case report,” Journal of Endodontics, vol 34, no

1, pp 104–107, 2008

[22] R P Matherne, C Angelopoulos, J C Kulild,

and D Tira, “Use of cone-beamcomputed tomography

Endodontics, vol 34,no 1, pp 87–89, 2008

“Anatomical variation of mandibular second molar and

Journal of Morphology and Embryology, vol 53, no 2,

pp 413–416, 2012

roots in maxillary molar teeth: a review and

endodontic considerations,” Australian Dental Journal, vol 57, no 2, pp 123–131, 2012

[25] T.Bartha,M Kalwitzki, C L‥ost, andR.Weiger,

“Extended apical enlargement with hand files versus

Oral Pathology, Oral Radiology and Endodontology,

vol 102, no 5, pp 692–697, 2006

evaluation of three root canal instrumentation

Journal of Endodontics, vol 34, no 12, pp 1545

1548, 2008

[27] F C Setzer, T Kwon, and B Karabucak,

“Comparison of apical transportation between two

vol.36, no 7, pp 1226–1229, 2010

[28] M T Pettiette, Z.Metzger, C Phillips, andM

therapy performed by dental students with stainless- steel K-files and nickel-titanium hand files,” Journal of

Endodontics, vol 25, no 4, pp 230–234, 1999

[29] M T Pettiette, E O Delano, and M Trope,

“Evaluation of success rate of endodontic treatment performed by students with stainless-steel k-files and

vol 27, no 2, pp 124–127, 2001

[30] H Balto, S Al Khalifah, S AlMugairin, M Al

fillings performed by undergraduate students in Saudi

Arabia,” International Endodontic

Journal, vol 43, no 4, pp 292–300, 2010

[31] M G Khabbaz, E Protogerou, and E Douka,

“Radiographic quality of root fillings performed by undergraduate students,”

International Endodontic Journal, vol 43, no 6, pp

499–508,2010

Tài liệu đã được sự đồng ý của người biên dịchđể đăng lên nhóm Thư Viện Răng Hàm Mặt.Xin chân thành cám ơn

Ngày đăng: 26/06/2017, 21:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w