a Tuyên bố mất tích mất một phần tư cách chủ thể Điều kiện: Điều 78 BLDS 2005 quy định: “Khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo,
Trang 1BÀI 2
CHỦ THỂ CỦA LUẬT DÂN SỰ -
CÁ NHÂN
Trang 2CHỦ THỂ CỦA LUẬT DÂN SỰ - CÁ NHÂN
I NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CÁ NHÂN
II NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CỦA CÁ NHÂN
III GIÁM HỘ
IV NƠI CƯ TRÚ CỦA CÁ NHÂN
Trang 3I NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ CỦA CÁ
4 Bắt đầu và chấm dứt năng lực pháp luật
dân sự của cá nhân
5 Tuyên bố mất tích, tuyên bố đã chết
Trang 41 Khái niệm năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
Tại Khoản 1 Đ 14 BLDS 2005 quy định: “Năng lực pháp
luật dân sự của cá nhân là khả năng cá nhân có quyền
dân sự và nghĩa vụ dân sự”.
Trang 52 Đặc điểm của năng lực pháp luật của cá nhân
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được Nhà nước ghi nhận trong các văn bản pháp luật mà nội dung của
nó phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội; vào hình thái kinh tế - xã hội tại một thời điểm lịch sử
nhất định
Mọi cá nhân đều bình đẳng về năng lực pháp luật, tại
Khoản 2 Đ 14 quy định: “Mọi cá nhân đều có năng lực
pháp luật dân sự như nhau”.
Trang 62 Đặc điểm của năng lực pháp luật của cá nhân
(tt.)Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân do Nhà nước
quy định cho tất cả các cá nhân, nhưng Nhà nước cũng không cho phép cá nhân tự hạn chế năng lực pháp luật
của chính họ và của cá nhân khác Tại Đ 16 BLDS 2005
quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không
bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật quy định” Có
Trang 73 Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
Tại Đ 15 BLDS 2005 quy định:
“Cá nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự sau đây:
1 Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân
thân gắn liền với tài sản;
2 Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối
với tài sản;
3 Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát
sinh từ quan hệ đó”.
Trang 84 Bắt đầu và chấm dứt năng lực pháp luật dân sự
của cá nhân
Tại Khoản 3 Đ 14 BLDS 2005 quy định: “Năng lực pháp
luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và
Một nguyên tắc được quán triệt trong luật La-tinh và
cũng được chấp nhận trong luật thực định Việt Nam: trẻ thành thai coi như sinh ra mỗi khi sự suy đoán có lợi cho
trẻ ấy Điều 635 BLDS 2005 ghi nhận: Người sinh ra và
còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết
Trang 95 Tuyên bố mất tích, tuyên bố đã chết
a) Tuyên bố mất tích (mất một phần tư cách chủ thể)
b) Tuyên bố là đã chết
Trang 11a) Tuyên bố mất tích (mất một phần tư cách chủ
thể)
Điều kiện:
Điều 78 BLDS 2005 quy định: “Khi một người biệt tích
hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của
người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích”.
Các biện pháp thông báo, tìm kiếm người mất tích thực
hiện theo quy định tại các điều 327, 328, 331 BLTTDS
2004.
Trang 12a) Tuyên bố mất tích (mất một phần tư cách chủ
thể)Hậu quả:
Tạm thời đình chỉ tư cách chủ thể của người bị tuyên bố mất tích
Về phương diện tài sản: tài sản của người bị tuyên bố mất tích được quản lý theo quyết định của Tòa án căn
Trang 13a) Tuyên bố mất tích (mất một phần tư cách chủ
thể)
Hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích:
Việc tuyên bố một người là mất tích chỉ tạm thời dừng
năng lực chủ thể của người đó Việc tạm dừng này có
thể thay đổi theo một trong hai hướng: phục hồi năng lực
chủ thể hoặc chấm dứt tư cách chủ thể Tại Khoản 1 Đ
80 BLDS quy định: “Khi một người bị tuyên bố mất tích
trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì theo yêu cầu của người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định
tuyên bố một người mất tích”.
Người bị tuyên bố là mất tích trở về được nhận lại tài sản
do người đang quản lý tài sản chuyển giao sau khi đã
thanh toán chi phí quản lý (Khoản 2, Đ 80)
Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố
là mất tích đã được ly hôn thì dù người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là còn sống, quyết
định ly hôn vẫn có hiệu lực (Khoản 3, Đ 80)
Trang 15b) Tuyên bố là đã chết
Điều kiện
Theo quy định tại Đ 81 BLDS, trong bốn trường hợp
sau, Tòa án có thể tuyên bố một người là đã chết:
Sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tưc xác thực là còn sống
Biệt tích trong chiến tranh sau 5 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tưc xác thực là còn sống
Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau một năm, kể
từ ngày tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Biệt tích 5 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực
là còn sống
Trang 16b) Tuyên bố là đã chết
Hậu quả pháp lý:
Về quan hệ nhân thân: Khi quyết định của Tòa án tuyên
bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan
hệ hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết
(Khoản 1, Đ 82 BLDS).
Về quan hệ tài sản: tài sản của người đã chết được giải quyết như đối với người đã chết theo quy định pháp luật
về thừa kế (Khoản 2, Đ 82 BLDS)
Trang 17b) Tuyên bố là đã chết
Hủy bỏ quyết định tuyên bố đã chết:
Tại Đ 83, Khoản 1 BLDS có quy định: “Khi một người bị
tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là
người đó còn sống thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố là đã chết”.
Về quan hệ nhân thân của người bị tuyên bố là đã chết được khôi phục khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố là đã chết trừ trường hợp vợ hoặc chồng
của người đó đã kết hôn với người khác (Khoản 2, Đ
Trang 18II NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CỦA CÁ NHÂN
1 Khái niệm năng lực hành vi dân sự
2 Mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Trang 191 Khái niệm năng lực hành vi dân sự
Tại Đ 17 BLDS 2005 quy định: “Năng lực hành vi dân sự
của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Trang 202 Mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân
a) Năng lực hành vi đầy đủ
b) Năng lực hành vi một phần
c) Không có năng lực hành vi
d) Mất năng lực hành vi và hạn chế năng lực hành vi
Trang 22b) Năng lực hành vi một phần
Người có năng lực hành vi một phần (không đầy đủ) là những người chỉ có thể xác lập, thực hiện quyền, nghĩa
vụ dân sự và trách nhiệm trong một giới hạn nhất định
do pháp luật dân sự quy định
Tại Đ 20 BLDS quy định:
“1 Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi xác lập,
thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện
theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác.
2 Trong trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà
không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Trang 23c) Không có năng lực hành vi
Điều 21 BLDS quy định: “Người chưa đủ sáu tuổi không
có năng lực hành vi Giao dịch dân sự của người chưa
đủ 6 tuổi phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện”.
Trang 24chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu
của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân
sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định
2 Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất
năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của
chính người đó hoặc của người có quyền và lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy quyết
định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
3 Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành
vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.
Trang 25d) Mất năng lực hành vi và hạn chế năng lực
hành vi (tt.)
Tại Đ 23 BLDS quy định:
1 Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác
dẫn đến phá tán tài sản gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
2 Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện do Tòa án quyết định Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự
đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhỏ phục vụ sinh hoạt hàng ngày.
3 Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính
người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan, cơ
quan tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ
quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Trang 26III GIÁM HỘ
1 Khái niệm
2 Người được giám hộ
3 Người giám hộ
4 Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ
5 Giám sát việc giám hộ
6 Thay đổi người giám hộ và chấm dứt việc giám hộ
Trang 271 Khái niệm
• Tại Khoản 1, Đ 58 quy định: “Giám hộ là việc cá nhân,
tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi chung
là người được giám hộ)”.
Trang 282 Người được giám hộ
Được quy định tại Khoản 2, Đ 58:
a) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác
định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực
hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ
không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa
thành niên đó và nếu cha mẹ có yêu cầu;
b) Người mất năng lực hành vi dân sự
Trang 292 Người được giám hộ (tt.)
Những người được giám hộ có thể phân chia thành các nhóm sau:
Những người bắt buộc phải có người giám hộ: người mất năng lực hành vi dân sự, người chưa đủ 15 tuổi
không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ
Người giám hộ theo yêu cầu của cha, mẹ khi cha mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa
thành niên
Những người từ 15 đến dưới 18 tuổi không bắt buộc
phải có người giám hộ nếu họ phát triển bình thường về thể chất
Trang 303 Người giám hộ
• Cá nhân có đủ các điều kiện để trở thành người giám hộ: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có tư cách đạo đức tốt, không phải là người đang bị truy cứu trách
nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xóa án tích về các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác; có điều kiện cần thiết bảo đảm thực hiện việc giám hộ
(Đ 60 BLDS).
Trang 313 Người giám hộ (tt.)
Tồn tại hai hình thức giám hộ:
Giám hộ đương nhiên: là hình thức giám hộ do pháp luật quy định, người giám hộ đương nhiên chỉ có thể là cá
nhân Pháp luật dân sự lại phân chia thành giám hộ
đương nhiên của người chưa thành niên (Đ 61) và giám
hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự
(Đ 62).
Giám hộ cử: cá nhân, tổ chức đều có thể trở thành
người giám hộ được cử (Đ 63)
Về nguyên tắc, một người có thể giám hộ cho nhiều
người, nhưng một người chỉ có thể được một người
giám hộ, trừ trường hợp là giám hộ là cha, mẹ hoặc ông,
bà theo quy định tại Khoản 2 Đ 61 hoặc Khoản 3 Đ 62
(Khoản 4 Đ 58).
Trang 324 Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ
a) Nghĩa vụ của người giám hộ: được quy định tại Đ 65,
66,67 BLDS 2005.
b) Quyền của người giám hộ:
Người giám hộ có các quyền được quy định tại Đ 67
BLDS, ngoài ra, có thể có các quyền khác được quy
định trong văn bản cử người giám hộ ( Đ 64).
Mục đích của việc giám hộ là là chăm sóc, chữa bệnh
và bảo vệ quyền lợi cho người được giám hộ Vì vậy, người giám hộ có quyền sử dụng tài sản, định đoạt tài sản của người được giám hộ cho những hoạt động cần
thiết thường ngày của người được giám hộ (Đ 69) ;
được thanh toán các chi phí cần thiết cho việc quản lý tài sản; dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường thiệt hại do các hành vi của người được giám
hộ gây ra Ngoài ra, còn đại diện cho người được giám
hộ trong việc xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự
Trang 335 Giám sát việc giám hộ
Quy định tại Đ 59 BLDS 2005:
¾ “Người thân thích của người được giám hộ có trách
nhiệm cử người đại diện làm người giám sát việc giám
hộ để theo dõi, đôn đốc, kiểm tra người giám hộ trong việc thực hiện giám hộ, xem xét, giải quyết kịp thời
những đề nghị, kiến nghị của người giám hộ liên quan đến việc giám hộ” (Khoản 1).
¾ Trong trường hợp không có người thân thích của
người được giám hộ hoặc những người thân thích
không cử được người giám sát thì Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người giám hộ cử người giám sát (Khoản 2)
Trang 34IV NƠI CƯ TRÚ CỦA CÁ NHÂN
Quyền tự do đi lại và cư trú trên lãnh thổ Việt Nam là
một quyền quan trọng được ghi nhận tại Điều 68 của
Trang 35IV NƠI CƯ TRÚ CỦA CÁ NHÂN (tt.)
Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý hoặc pháp luật có quy định Vợ chồng có thể có nơi cư trú khác
nhau nếu có thỏa thuận (Đ 53, 54, 55 BLDS).
Một số người do hoàn cảnh đặc biệt về nghề nghiệp
có thể không có nơi ở nhất định, Đ 56, 57 xác định nơi
cư trú của quân nhân và nơi cư trú của người làm nghề lưu động