1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÀI tập lớn hợp ĐỒNG HĐTM hoàn thiện

5 300 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 34,98 KB
File đính kèm BÀI TẬP LỚN HỢP ĐỒNG HĐTM.rar (31 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhượng quyền thương mại ( NQTM) là phương thức kinh doanh đã được hình thành và phát triển từ lâu ở các nước Châu Âu. Ở Việt Nam, tuy mới manh nha vào nước ta nhưng NQTM cũng đã và đang phát huy được vai trò tích cực của nó trong nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên, khi tìm hiểu ta có thể nhận thấy có những điểm bất cập trong pháp luật điều chỉnh HĐNQTM hiện nay. Vì vậy, trong phạm vi bài viết này, tôi chọn đề tài: Một số ý kiến hoàn thiện pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ.

Nhượng quyền thương mại ( NQTM) là phương thức kinh doanh đã được hình thành và phát triển từ lâu ở các nước Châu Âu Ở Việt Nam, tuy mới manh nha vào nước ta nhưng NQTM cũng đã và đang phát huy được vai trò tích cực của nó trong nền kinh tế đất nước Tuy nhiên, khi tìm hiểu ta có thể nhận thấy có những điểm bất cập trong pháp luật điều

chỉnh HĐNQTM hiện nay Vì vậy, trong phạm vi bài viết này, tôi chọn đề tài: Một số ý kiến

hoàn thiện pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

I Khái quát chung đề hợp đồng nhượng quyền thương mại.( HĐNQTM)

1.1 Khái niệm:

Pháp luật Việt Nam đã có những quy định về NQTM cụ thể Điều 284 Luật Thương Mại

2005, tuy nhiên một thiếu xót không thể không kể tới đó là, Luật Thương mại và các văn bản pháp luật có liên quan về NQTM chưa có bất kì một quy định cụ thể định nghĩa thế nào là HĐNQTM Tuy nhiên, dựa trên cơ sở các quy định hiện hành của pháp luật và bản chất pháp

lí của HĐNQTM ta có thể định nghĩa như sau: “HĐNQTM là sự thỏa thuận của các bên

trong quan hệ NQTM làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ của các bên trong hoạt động nhượng quyền Theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại và bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành boạt động kinh doanh.” 1

1.2 Đặc điểm của hợp đồng nhượng quyền thương mại.

Thứ nhất, HĐNQTM là hợp đồng được thiết lập giữa các thương nhân Sở dĩ như vậy vì

hoạt động NQTM là một hoạt động có tính phức tạp cao, đầu tư nhiều vốn, chứa đựng rủi ro cao đối với cả hai bên chủ thể tham gia vào hợp đồng và hơn cả đòi hỏi chủ thể đó phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện cả đề khả năng kinh doanh lẫn tiềm lực tài chính Do đó, yêu cầu là thương nhân hoàn toàn phù hợp vì họ là những chủ thể kinh doanh chuyên nghiệp

Thứ hai, đối tượng của HĐNQTM là “quyền thương mại” được quy định cụ thể tại

Khoản 6, Điều 3, Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31-3-2006.

Thứ ba, Nội dung của HĐNQTM gắn liền với việc chuyển giao, khai thác, sử dụng và bảo

hộ quyền thương mại

Thứ tư, HĐNQTM là một loại hợp đồng theo mẫu Bởi lẽ, thông thường bên nhận quyền

trong hợp đồng thường ở vị trí khá phụ thuộc và bên nhượng quyền vì bên nhượng quyền là chủ sở hữu của quyền thương mại, do đó bên nhận quyền khi kí kết hợp đồng này thường rất thụ động trong việc tìm kiếm thông tin, tài liệu cho việc đàm phán, thỏa thuận các điều khoản trong hợp đồng với bên nhượng quyền, mặt khác để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong toàn hệ thống nhượng quyền nên bên nhượng quyền thường áp dụng một mẫu chung cho tất cả các bên nhận quyền trong hệ thống

1 Trích: T.S Nguyễn Thị Dung( chủ biên) Kiến thức pháp lí và kĩ năng cơ bản trong đam phán, soạn thảo và kí kết hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, NXB

Trang 2

Thứ năm, HĐNQTM thượng được thể hiện dưới hình thức văn bản Điều này là hợp lí bởi

tính phức tạp cũng như tính rủi ro cao của quan hệ NQTM,đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong hợp đồng khi có tranh chấp xảy ra

II Một số ý kiến hoàn thiện pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại.

2.1 Quy định về đối tượng của HĐNQTM ( Quyền thương mại).

Trước hết, pháp luật Viêt nam quy định quyền thương mại theo tính chất liệt kê, được cụ

thể hóa tại khoản 6, Điều 3, Nghị định 35/2006/ NĐ-CP Theo đó “ Quyền thương mại được

hiểu là một, một số hoặc toàn bộ các quyền sau: Quyền được bên nhượng quyền cho phép

và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành hoạt động kinh doanh cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ theo một hệ thống do bên nhượng quyền quy định ”

Như vậy, một điểm bất cập hiện nay trong hệ thống pháp luật hiện nay của Việt Nam đó là các quy định pháp luật thường mang tính chất liệt kê từng trường hợp, và nhược điểm của nó

đó là dễ bỏ xót những trường hợp mà pháp luật không thể dự liệu hết được Do đó, theo cách

hiểu quyền thương mại quy định như vậy là đang đứng trên góc độ bảo hộ với từng yếu tố

riêng lẻ, trong khi về bản chất của “ quyền thương mại” không chỉ là nhãn hiệu hàng hóa,

nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, bí mật kinh doanh mà còn là sự kết hợp mang tính chất nhận biết thương nhân, tạo nên một “gói quyền thương mại” Trước hết, ta phải xác định rằng mục đích của hoạt động NQTM là nhân rộng mô hình kinh doanh đã thành công ra thị trường, đặc biệt là thị trường nước ngoài Chính vì vậy, đối tượng của HĐNQTM cần phải đảm bảo được tính đồng nhất về các yếu tố liên quan tới quy trình kinh doanh như: Chất lượng hàng hóa, dịch vụ, phương thức phục vụ, hoạt động PR, đồng phục và thái độ phục vụ của nhân viên Tạo nên tính đồng nhất trong các mắt xích của hệ thống NQTM

Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, chưa bảo hộ đúng bản chất của NQTM Chưa bảo hộ toàn bộ “ gói quyền” mà chỉ bảo hộ từng yếu tố riêng lẻ trong nội

dung của gói quyền đó, ví dụ như nhãn hiệu hàng hóa, hình ảnh, bí mật kinh doanh được

bảo hộ một cách riêng lẻ theo quy định của luật sở hữu trí tuệ Thậm trí có nhiều yếu tố cũng

thuộc gói quyền đó nhưng chưa được bảo hộ Ví dụ như: Các thức trang trí cửa hàng, bố trí

nội thất, không gian kiến trúc theo phong cách riêng của bên nhượng quyền quy định Chính “ lỗ hổng” này đã tạo cơ hội cho các thương nhân khác lách luật, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của các bên trong HĐNQTM Điển hình phải nói tới đó là vụ tranh chấp thương hiệu giữa phở 24h và phở 5 sao đặt ra cho các nhà làm luật nước ta câu hỏi Vậy không gian kiến trúc có cần được bảo hộ hay không? Đậy chỉ là một ví dụ điển hình cho những thiếu sót trong quy định của pháp luật nước ta trong hoạt động NQTM Do đó, để bảo vệ quyền lợi của các thương nhân trong trường hợp này Pháp luật nước ta nên sửa đổi theo hướng:

Thứ nhất, Pháp luật sở hữu trí tuệ cần có những quy định nhằm bảo hộ một cách toàn diện

“ quyền thương mại” của bên nhượng quyền trong hoạt động nhượng quyền thương mại, hay nói cách khác, quyền thương mại với những yếu tố cấu thành của nó phải như tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa phải được bảo hộ một cách thống nhất, đồng bộ và có sự liên kết các yếu tố

Trang 3

Thứ hai, cũng cần có thêm những quy định nhằm bảo hộ sự sáng tạo đặc biệt của bên

nhượng quyền khi nhượng quyền cho bên nhận quyền cần được bảo hộ, như cách thức tổ chức kinh doanh, thái độ phục vụ, sologan, hay không gian kiến trúc đặc biệt

Thứ ba, đối với các chủ thể của HĐNQTM để đảm bảo quyền và lợi ích của mình không

bị xâm phạm, trước khi được luật hóa, khi soạn thảo kí kết hợp đồng , bên nhượng quyền cần xác định rõ đối tượng chuyển giao trong hợp đồng dưới dạng gói quyền thương mại và bất kì một sự xâm phạm nào dù là yếu tố nhỏ nhất trong đó đều bị coi là hành vi xâm phạm “ quyền thương mại” đã được chuyển giao

2.2 Quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng.

Luật Thương mại 2005 hiện nay chưa có quy định chi tiết về hoạt động nhượng quyền thương mại, các quy định chỉ mang tính chất tổng quát, chưa chi tiết Theo đó:

Thứ nhất, quy định về quyền kiểm tra, giám sát của bên nhượng quyền, chưa có quy định

về quyền kiểm tra, giám sát bao gồm những quyền gì? Và kiểm tra, giám sát tới đâu? Mức

độ như thế nào để tránh cho bên nhượng quyền lợi dụng quyền của mình tham gia sâu và hoạt động của bên nhận quyền trên danh nghĩa nhằm đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống nhượng quyền Do đó, để đảm bảo cho hệ thống NQTM được vận hành một cách đồng bộ mặt khác đảm bảo cho bên nhận quyền không bị bên nhượng quyền can thiệp quá sâu và hoạt động của mình Pháp luật cần có quy định cụ thể về những nội dung, hạng mục mà bên nhượng quyền được quyền giám sát, kiểm tra

Thứ hai, các quy định về trợ giúp kĩ thuật đã được đề cập trong một số quy định như

khoản 1, điều 287, khoản 1, Điều 288 Luật Thương mại nhưng những quy định này chỉ mang tính định hướng chung, chưa được cụ thể hóa một cách chi tiết Vẫn chưa có bất cứ một quy định nào chỉ rõ giới hạn cụ thể thể trong trợ giúp kĩ thuật là gì? Việc trợ giúp kĩ thuật bao gồm những gì? Mục đích chính của việc hỗ trợ kĩ thuật là gì? Vẫn chưa được cụ thể trong luật Điều này dẫn tới một thực tế đó là bên nhượng quyền lạm dụng việc cung cấp

kĩ thuật để can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh mà mất quyền tự chủ, độc lập của bên nhận quyền đồng thời việc hỗ trợ kĩ thuật cũng không phát huy đúng hiệu quả của nó trong quan hệ NQTM Mặc dù hiện nay trong bộ luật dân sự cũng có quy định tại khoản 3, Điều

407 về một số điều khoản hợp đồng sẽ bị vô hiệu, và bên nhượng quyền cũng nhận thức rõ điều đó Tuy nhiên điều này lại chưa được cụ thể hóa trong Luật thương mại Văn bản pháp luật trực tiếp điều chỉnh quan hệ NQTM lại chưa có quy định chi tiết

Thứ ba, Luật thương mại quy định nghĩa vụ của bên nhận quyền là đầu tư cơ sở vật chất,

tài chính để tiếp nhận các quyền, bí quyết kinh doanh mà bên nhượng quyền chuyển giao Tuy nhiên đã phân tích ở trên ta thấy rằng, trong thực tế bên nhận quyền thường là bên “ yếu thế” hơn so với bên nhượng quyền, việc tìm hiểu về đối tác của mình về các phương diện như năng lực tài chính trong khi bên nhận quyền để gia nhập vào hệ thống nhượng quyền

họ phải trả một khoản phí rất lớn, do vậy họ cần phải tìm hiểu kĩ các thông tin trước khi kí hợp đồng nhưng việc tìm hiểu này là không hề dễ dàng và nó thuộc vào dạng thông tin mật

Do đó độ rủi ro đối với bên nhận quyền là rất lớn Mặt khác, bên nhượng quyền cũng có

Trang 4

khả năng gặp rủi ro, bởi lẽ về mặt pháp lí, bên nhận quyền không có cơ sở phải thực hiện nghĩa vụ mà nếu không hoàn thành nghĩa vụ đó thì quyền lợi của mình bị ảnh hưởng Do đó, bên nhượng quyền cũng cần phải tìm hiểu đối tác có khả năng tài chính và năng lực kinh doanh hay không trước khi kí kết hợp đồng Nhưng nếu bên nhận quyền cung cấp thông tin không đúng sự thật, không chính xác thì đôi khi bên nhượng quyền cũng phải chấp nhận những rủi ro nhất định Bởi vậy, pháp luật nước ta cần có những quy định cụ thể chi tiết nghĩa vụ công bố thông tin của bên nhận quyền cũng như những chế tài, trách nhiệm vật chất áp dụng cho bên nhận quyền nếu cung cấp thông tin sai sự thật Mặt khác cũng cần có các quy định bên nhượng quyền cũng cần cung cấp thông tin có tính tham khảo cho bên đối tác của mình tìm hiểu và nắm rõ tình hình

Thứ tư, quy định về nghĩa vụ bảo mật trong và sau khi kết thúc HĐNQTM Để hạn chế

xâm phạm bí mật kinh doanh của bên nhận quyền cũng như bên thứ ba, Khoản 4, Điều 289 Luật Thương mại 2005 đã có quy định về bên nhận quyền có nghĩa vụ “ Giữ bí mật về bí quyết kinh doanh đã được nhượng quyền, kể cả sau khi HĐNQTM kết thúc hoặc chấm dứt Tuy nhiên những quy định này chỉ mang tính chất chung chung, để đảm bảo tính cạnh tranh, bên nhượng quyền cần có những thỏa thuân rõ ràng nhằm hạn chế tối đa bí mật kinh doanh

bị tiết lộ ra bên ngoài, đồng thời, pháp luật cũng cần có những quy định về chế tài ra sao? Bồi thượng thiệt hại như thế nào khi bên nhận quyền tiết lộ thông tin mật, bí mật kinh doanh được bên nhượng quyền chuyển giao theo gói quyền thương mại Có như vậy quyền của bên nhượng quyền mới được bảo đảm

2.3 Quy định về thời hạn và chấm dứt HĐNQTM.

Cũng như các loại hợp đồng khác, HĐNQTM cũng có thời hạn và hậu quả pháp lí nhất định Tuy nhiên, pháp luật nước ta cần phải hoàn thiện một số trường hợp chấm dứt HĐNQTM và trách nhiệm ràng buộc của các bên khi hợp đồng chấm dứt Cụ thể:

Thứ nhất, “trong số các quy định về trường hợp chấm dứt HĐNQTM chưa dự tính tới

trường hợp bên nhượng quyền là cá nhân chết mà không có người thừa kết quyền và nghĩa

vụ, là tổ chức bị phá sản, giải thể theo quy định của pháp luật, ở đây nếu rơi vào một trong các trường hợp như vậy, bên nhượng quyền không còn tồn tại, trong khi bên nhận quyền trong hợp đồng vẫn tiến hành hoạt động kinh doanh như bình thường thì lúc này, việc kinh doanh có buộc phải ngừng lại và chuyển sang một hình thức kinh doanh khác hay không, và

Thứ hai, đó là khi chấm dứt HĐNQTM, cần có các quy định ràng buộc hay các chế tài

hợp lí, trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi bên nhận quyền tiết lộ các bí mật kinh doanh, thông tin mật trong quá trình HĐNQTM còn hiệu lực nhằm đảm bảo quyền lợi của bên nhượng quyền khi hợp đồng chấm dứt

Thứ ba, nên bổ sung các quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của bên

nhượng quyền khi bên nhận quyền không thanh toán phí nhượng quyền trong một thời hạn

2 Luận văn ThS ngành: Luật Quốc tế: Nguyễn Thị Vân: “Hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế” Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Hà nội, 2011.

Trang 5

nhất định thì bên nhượng quyền được đơn phương chấm dứt hợp đồng và chế tài đối với hai bên trong những trường hợp vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho bên kia

2.4 Những thoả thuận liên quan đến hạn chế cạnh tranh trong quan hệ nhượng quyền thương mại

Theo Luật Cạnh tranh 2004 về thoả thuận hạn chế cạnh tranh ta thấy:

“Thứ nhất, thoả thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị

trường hoặc phát triển kinh doanh bằng cách thống nhất về việc từ chối mua hàng hoặc bán hàng có các bên thứ ba, dù bên thứ ba có đầy đủ khả năng có cung ứng nguyên nhiên vật liệu với giá rẻ, chất lượng đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu của hệ thống nhượng quyền nhưng vẫn không thể trở thành người cung cấp hàng hoá cho các bên nhận quyền nếu như nhận thấy việc mua, bán hàng hoá với bên thứ ba có khả năng gây ra những thiệt hại đối với “quyền thương mại” mà các bên nhượng quyền đang khai thác dưới vỏ bọc là đảm bảo yêu cầu về tính đồng bộ của hệ thống NQTM,

Thứ hai, thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng

dịch vụ thông qua việc kí HĐNQTM độc quyền ở trong một phạm vi, khu vực địa lí nhất định, một thị trường xác định, bên nhượng quyền chỉ được nhượng quyền thương mại của mình cho một bên nhận quyền duy nhất Bên nhận quyền có thể tự do khai thác “quyền thương mại” được nhượng một cách an toàn và ổn định do đã hạn chế được các đối thủ cạnh tranh tiềm năng tham gia vào thị trường Trong khi đó, sự độc lập của mỗi cơ sở, cửa hàng trong hệ thống lại làm cho các cơ sở này có khả năng phải cạnh tranh với nhau để có thể giành giật được khách hàng Tuy nhiên, những điều khoản cấm cạnh tranh trong hệ thống lại làm cho chủ sở hữu các cơ sở nhượng quyền này sẽ không được phép sáng tạo ra những lợi thếcạnh tranh cho riêng mình, ví dụ như cung ứng hàng hoá với số lượng nhiều hơn trên một đơn vị tiền tệ hoặc giảm giá bán của hàng hoá, dịch vụ Nhưng những hành vi

KẾT THÚC VẤN ĐỀ

Nhượng quyền thương mại mới phát triển ở Việt nam, các quy định của pháp luật về NQTM còn khá tổng quát, đòi hỏi các nhà làm luật cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về nhượng quyền thương mại nói chung và hợp đồng nhượng quyền thương mại nói riêng Những thiếu sót và chưa thống nhất của pháp luật về HĐNQTM trong mối quan hệ với pháp luật chuyên ngành gồm pháp luật sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh tranh cần hoàn thiện hơn nữa

3 Th.S Vũ Đặng Hải Yến, mối quan hệ giữa hoạt động nhượng quyền thương mại và các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, Tạp chí

Ngày đăng: 21/06/2017, 00:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w