1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Khái quát về công ty cổ phần và một số vấn đề về huy động vốn trong công ty cổ phần

32 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 91,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật hiện hành của Việt Nam không đưa ra định nghĩa cụ thể về công ty cổ phần mà chỉ đưa ra những dấu hiệu để nhận biết công ty cổ phần.Khoản 1 Điều 77 Luật doanh ngiệp 2005 có quy

Trang 1

Khái quát về công ty cổ phần và một số vấn đề về huy động vốn trong công ty cổphần:

1.Khái quát về công ty cổ phần:

Với tính chất như một hiện tượng kinh tế - xã hội, Công ty cổ phần nói riêng cũngnhư các loại hình công ty nói riêng đã trở thành một thực thể pháp lí Trong khoa họcpháp lí, hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau lại có các định nghĩa khácnhau về công ty cổ phần Pháp luật hiện hành của Việt Nam không đưa ra định nghĩa

cụ thể về công ty cổ phần mà chỉ đưa ra những dấu hiệu để nhận biết công ty cổ phần.Khoản 1 Điều 77 Luật doanh ngiệp 2005 có quy định rõ:

"Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:

a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;

b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạnchế số lượng tối đa;

c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanhnghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừtrường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này"

2.Khái niệm về vốn và cấu trúc vốn của công ty cổ phần:

Vốn của doanh nghiệp nói chung là giá trị được tính bằng tiền của những tài sảnthuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng của hợp pháp của doanh nghiệp, được doanhnghiệp sử dụng trong kinh doanh Có thể nói vốn là nhân tố cơ bản không thể thiếucủa tất cả các doanh nghiệp Cũng như các chủ thể kinh doanh khác, để tiến hành cáchoạt động kinh doanh, công ty cổ phần phải có vốn Là loại hình công ty đối vốn điểnhình nên vấn đề vốn của công ty cổ phần là vấn đề hết sức phức tạp Vốn của công ty

cổ phần có thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ, dựa trên những tiêu chí khác nhau.Căn cứ vào nguồn gốc hình thành vốn, vốn của công ty cổ phần được chia thành: vốnchủ sở hữu (vốn tự có) và vốn tín dụng (vốn vay)

Vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn thuộc sở hữu của công ty, được hình thành từ nguồnđóng góp của cổ đông và vốn do công ty cổ phần tự bổ sung từ lợi nhuận của công

ty

Trang 2

Vốn tín dụng: là nguồn vốn hình thành từ việc đi vay dưới các hình thức khác nhau:vay ngân hàng, vay của các tổ chức, cá nhân khác hoặc vay bằng cách phát hành tráiphiếu

Điều quan trọng là công ty cổ phần phải có một tỉ lệ vốn vay trên vốn cổ phần hợp lí

để phản ánh thế mạnh tài chính của công ty, vừa tạo niềm tin cho các đối tác củamình

II.Huy động vốn trong công ty cổ phần:

Các chủ thể kinh doanh thường muốn có nguồn vốn lớn để mở rộng quy mô sản xuấtkinh doanh Công ty thường có hai cách để huy động vốn: tăng vốn chủ sở hữu vàtăng vốn vay

Theo Luật doanh nghiệp 2005, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh "khôngđược quyền phát hành bất kì loại chứng khoán nào" (Khoản 3 Điều 130 và Khoản 2Điều 141) Khả năng huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn có nhiều thuậnlợi hơn nhưng cũng "không được phát hành cổ phần" (Khoản 3 Điều 38) Công ty cổphần khẳng định sự lí tưởng hơn trong mô hình kinh doanh của mình bằng quyềnphát hành chứng khoán được quy định trong Khoản 3 Điều 77 Luật doanh nghiệp2005: "Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn".Trong các loại chứng khoán ấy, cổ phiếu là công cụ riêng của công ty cổ phần, nóđem đến ưu thế rất lớn cho công ty cổ phần nhờ khả năng thu hút vốn dễ dàng: có thểhuy động được một nguồn vốn lớn do mở rộng đối tượng huy động; có thể giảm chiphí huy động vốn do tiếp cận trực tiếp với người đầu tư;

Trang 3

chuyển nhượng cổ phiếu Tính chuyển nhượng cổ phiếu mang lại cho nền kinh tế sựvận động nhanh chóng của vốn đầu tư mà không phá vỡ tính ổn định của tài sản công

ty Việc chuyển vốn đươi hình thức này rất dễ dàng và thuận lợi thông qua thị trườngchứng khoán

Mặt khác, cổ phần có mệnh giá nhỏ kết hợp với tính thanh khoản và chuyển nhượng

đã khuyến khích mọi tầng lớp dân chúng đầu tư

Những đặc điểm cơ bản đó đã góp phần đưa công ty cổ phần trở thành một hình thức

tổ chức kinh doanh có khả năng huy động một số lượng vốn lớn ngầm chảy trong cáctầng lớp dân cư, khả năng tích tụ và tập trung vốn với quy mô khổng lồ, có thể coi làlớn nhất trong các loại hình doanh nghiệp hiện nay

III Một số hình thức huy động vốn của công ty cổ phần

1.Phát hành cổ phiếu (Vốn chủ sở hữu hay vốn tự có):

a Khái niệm cổ phần, cổ phiếu:

* Cổ phần:

Thuật ngữ cổ phần được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới và gắn liền với công ty cổphần Pháp luật của các quốc gia khác nhau đều quy định cho phép công ty cổ phầnphát hành nhiều loại cổ phần khác nhau Luật doanh nghiệp Việt Nam quy định rất rõràng và cụ thể các loại cổ phần mà công ty cổ phần được phép phát hành, đó là: cổphần phổ thông và cổ phần ưu đãi

Cổ phần phổ thông (còn gọi là cổ phần thường) là nền tảng của công ty cổ phần Cổphần phổ thông tạo cho người sở hữu những quyền và lợi ích cơ bản khi đầu tư vàocông ty cổ phần Đặc trưng của cổ phần phổ thông là gắn với quyền bỏ phiếu và đượcxác lập theo nguyên tắc "mỗi cổ phần một lá phiếu" Cổ phần phổ thông không thểchuyển thành cổ phần ưu đãi Khoản 1 Điều 78 Luật doanh nghiệp 2005 quy định cổphần phổ thông là loại cổ phần bắt buộc phải có khi thành lập công ty cổ phần

Cổ phần phổ thông có hai loại: cổ phần phổ thông của cổ đông phổ thông và cổ phầnphổ thông của cổ đông sáng lập

Cổ phần phổ thông của cổ đông phổ thông là loại cổ phần thông dụng nhất Người sởhữu cổ phần này được hưởng đầy đủ quyền và lợi ích của một cổ đông Nghĩa vụ của

Trang 4

cổ đông phổ thông cũng được pháp luật quy định chặt chẽ trong Điều 80 Luật doanhnghiệp 2005:

"Nghĩa vụ của cổ đông phổ thông:

1 Thanh toán đủ số cổ phần cam kết mua trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngàycông ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; chịu trách nhiệm về cáckhoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công

2 Tuân thủ Điều lệ và Quy chế quản lý nội bộ công ty

3 Chấp hành quyết định của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị

4 Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty

5 Cổ đông phổ thông phải chịu trách nhiệm cá nhân khi nhân danh công ty dưới mọihình thức để thực hiện một trong các hành vi sau đây:

Khi đầu tư bằng mua cổ phần phổ thông, cổ đông phổ thông phải chịu rủi ro cao, họ

sẽ không nhận được lợi tức nếu công ty thua lỗ Nhưng bù lại, tính tự do chuyểnnhượng, mua bán trên thị trường của loại cổ phần này đem đến lợi thế trong việc tậptrung và huy động vốn rất lớn

Với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập, Khoản 1 Điều 84 Luật doanh nghiệp

2005 có quy định: "Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20%tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ số cổ phần đã

Trang 5

đăng ký mua trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh" Khác với cổ phần phổ thông của cổ đông phổ thông, tính

tự do chuyển nhượng của cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập bị hạn chế

Ngoài cổ phần phổ thông là cổ phần bắt buộc, công ty cổ phần có quyền lựa chọn vàphát hành các loại cổ phần ưu đãi tùy thuộc vào các điều kiện cụ thể của mỗi công tynhằm thiết lập cơ cấu vốn linh hoạt phù hợp với yêu cầu phát triển của mình Thôngthường, cổ phần ưu đãi được công ty sử dụng để tăng vốn khi tỉ trọng nợ đã quá caolàm giảm vị thế tín dụng của công ty Khoản 2 Điều 78 Luật doanh nghiệp 2005 quyđịnh: "Công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là

cổ đông ưu đãi

Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây:

a) Cổ phần ưu đãi biểu quyết;

b) Cổ phần ưu đãi cổ tức;

c) Cổ phần ưu đãi hoàn lại;

d) Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định"

Cổ phần ưu đãi biểu quyết là "cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổphần phổ thông Số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệcông ty quy định" (Khoản 1 Điều 81) Theo Khoản 3 Điều 78 Luật doanh nghiệp

2005 thì: "Chỉ có tổ chức được Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập được quyềnnắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ cóhiệu lực trong ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổithành cổ phần phổ thông"

Cổ phần ưu đãi cổ tức là "cổ phần được trả cổ tức cao hơn so với mức cổ tức của cổphần phổ thông hoặc mức ổn định hàng năm" (Khoản 1 Điều 82) Cổ tức được chiahàng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng Cổ tức cố định không phụ thuộc vàokết quả kinh doanh của công ty Dưới góc độ này ta thấy cổ phần ưu đãi cổ tức mangđặc tính của một trái khoán Loại cổ phần này có sức hút đông đảo các nhà đầu tư chỉquan tâm đến lợi nhuận

Trang 6

Cổ phần ưu đãi hoàn lại là "cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp bất cứ khi nàotheo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổphần ưu đãi hoàn lại" (Khoản 1 Điều 83) Khả năng rút vốn dễ dàng, linh động khi cónhu cầu là động lực cơ bản thúc đẩy các nhà đầu tư sở hữu loại cổ phần này

Điều lệ công ty quy định cụ thể hoặc Đại hội đồng cổ đông quyết định người đượcquyền mua hai loại cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi hoàn lại

* Cổ phiếu:

Cổ phiếu là một loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hành chứng nhận việc gópvốn vào công ty của các cổ đông Cổ phiếu chính là bằng chứng chứng minh quyền

sở hữu cổ phần của cổ đông công ty

Khoản 1 Điều 85 Luật doanh nghiệp 2005 quy định:

"Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhậnquyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó Cổ phiếu có thể ghi tên hoặckhông ghi tên Cổ phiếu phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty;

b) Số và ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;

c) Số lượng cổ phần và loại cổ phần;

d) Mệnh giá mỗi cổ phần và tổng mệnh giá số cổ phần ghi trên cổ phiếu;

đ) Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếuhoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của cổ đông là cá nhân; tên, địa chỉ thườngtrú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh của cổ đông là tổchức đối với cổ phiếu có ghi tên;

e) Tóm tắt về thủ tục chuyển nhượng cổ phần;

g) Chữ ký mẫu của người đại diện theo pháp luật và dấu của công ty;

h) Số đăng ký tại sổ đăng ký cổ đông của công ty và ngày phát hành cổ phiếu;

i) Các nội dung khác theo quy định tại các điều 81, 82 và 83 của Luật này đối với cổphiếu của cổ phần ưu đãi"

Đối với các loại cổ phiếu ưu đãi thì phải có thêm các điều kiện ưu đãi Trường hợp cổphiếu bị mất, rách, bị cháy hay bị tiêu hủy dưới hình thức khác thì cổ đông được công

ty cấp lại cổ phiếu theo đề nghị của cổ đông đó Đối với cổ phiếu có giá trị danh

Trang 7

nghĩa trên 10 triệu đồng Việt Nam, trước khi tiếp nhận đề nghị cấp cổ phiếu mới,người đại diện theo pháp luật của công ty có thể yêu cầu chủ sở hữu cổ phiếu đăngthông báo về việc cổ phiếu bị mất, bị cháy hoặc bị tiêu hủy dưới hinh thức khác Quyđịnh như vậy sẽ bảo vệ được quyền lợi của cả nhà đầu tư và công ty với tư cách làmột tổ chức phát hành

b.Phát hành cổ phiếu:

Phát hành cổ phiếu là việc chào bán cổ phần của công ty cổ phần cho người đầu tưnhằm đáp ứng yêu cầu về vốn của công ty Kết quả của việc chào bán cổ phần sẽ đảmbảo huy động vốn điều lệ trong quá trình thành lập công ty hoặc sẽ làm tăng vốn điều

lệ của công ty trong trường hợp công ty đang hoạt động

Việc phát hành cổ phiếu có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông hiện cótrong công ty hay có thể dẫn đến thay đổi vị thế của từng cổ đông Do vậy, việc quyếtđịnh loại cổ phần, tổng số cổ phần của từng loại được chào bán sẽ do Đại hội đồng cổđông quyết định còn Hội đồng quản trị quyết định thời điểm, phương thức và giáchào bán cổ phần trong số cổ phần được quyền chào bán

Về giá chào bán cổ phần, Luật doanh nghiệp 2005 quy định rất chặt chẽ, đảm bảoquyền lợi cho đa số cổ đông Ngoài quy định về "giá không được thấp hơn giá thịtrường tại thời điểm chào bán" như tại Luật doanh nghiệp 1999, Luật doanh nghiệp

2005 còn bổ sung "hoặc giá trị được ghi trong sổ sách của cổ phần tại thời điểm gầnnhất" và ngoại trừ các trường hợp sau:

Cổ phần chào bán lần đầu tiên cho những người không phải là cổ đông sáng lập;

- Cổ phần chào bán cho tất cả các cổ đông theo tỉ lệ cổ phần hiện có của họ ở côngty;

- Cổ phần chào bán cho người môi giới hoặc người bảo lãnh Trong trường hợp này,

số chiết khấu hoặc tỉ lệ chiết khấu cụ thể phải được sự chấp thuận của số cổ đông đạidiện cho ít nhất 75% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết;

Điều lệ công ty có thể quy định thêm các trường hợp khác và mức chiết khấu trongcác trường hợp đó

Giá thị trường của cổ phần là giá giao dịch trên thị trường chứng khoán hoặc giá domột tổ chức định giá chuyên nghiệp xác định Trên thực tế ở nước ta hiện nay, đa số

Trang 8

công chúng đều chưa hiểu hết về việc bán đấu giá qua thị trường chứng khoán Do

đó, để thu hút đầu tư, các công ty cổ phần đã kinh doanh hiệu quả và ổn định nên ápdụng phương pháp bán theo giá cố định Giá cố định là giá bình quân gia quyền đượcxác định từ kết quả bán đấu giá Bán theo giá này vẫn đảm bảo được nguyên tắc bán

cổ phần theo giá thị trường và không hề có ưu đãi cho các nhà đầu tư

Người mua cổ phần trở thành cổ đông của công ty kể từ thời điểm cổ phần đượcthanh toán đủ và những thông tin về người mua được ghi đúng, ghi đủ vào sổ đăng kí

cổ đông Sau khi cổ phần được bán, công ty phải phát hành và trao cổ phiếu chongười mua Pháp luật ràng buộc trách nhiệm của những người quản lí công ty khi cósai sót trong nội dung và hình thức cổ phiếu nhằm bảo vệ tối đa lợi ích của người sởhữu cổ phiếu đó: "Trường hợp có sai sót trong nội dung và hình thức cổ phiếu docông ty phát hành thì quyền và lợi ích của người sở hữu nó không bị ảnh hưởng Chủtịch Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty phải liên đới chịutrách nhiệm về thiệt hại do những sai sót đó gây ra đối với công ty" (Khoản 2 Điều 85Luật doanh nghiệp 2005) Công ty có thể bán cổ phần mà không trao cổ phiếu.Trường hợp này, các thông tin về cổ đông được ghi vào sổ đăng kí cổ đông là đủ đểchứng thực quyền sở hữu cổ phần của cổ đông

"Cổ phần, trái phiếu của công ty cổ phần có thể được mua bằng tiền Việt Nam, ngoại

tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, côngnghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác quy định tại Điều lệ công ty và phải đượcthanh toán đủ một lần" (Theo Điều 89 Luật doanh nghiệp 2005)

c Quy định của pháp luật về phát hành cổ phiếu:

Phát hành cổ phiếu có thể diễn ra nhiều lần Có thể chia thành các trường hợp: pháthành cổ phiếu lần đầu để huy động vốn thành lập công ty và phát hành cổ phiếu trongquá trình hoạt động của công ty

- Phát hành cổ phiếu lần đầu tiên khi thành lập công ty:

Khi thành lập, công ty cổ phần phải huy động vốn góp của các cổ đông Pháp luậtquy định các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng kí mua ít nhất 20% tổng số cổphần phổ thông được quyền chào bán Trong trường hợp các cổ đông sáng lập khôngđăng kí mua hết số cổ phần được quyền chào bán thì số cổ phần còn lại phải được

Trang 9

chào và bán hết trong thười hạn 3 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhậnkinh doanh Vì vậy, tối thiểu các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ 20% số cổphiếu dự tính phát hành, số cổ phiếu còn lại sẽ được phát hành để huy động đủ số vốnđiều lệ Các cổ đông sáng lập phải thực hiện nguyên tắc nhất trí về số lượng cổ phần,loại cổ phần dự kiến chào bán

"a) Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phảilàm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại

cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ; b) Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiệnbằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản

Biên bản giao nhận phải ghi rõ tên và địa chỉ trụ sở chính của công ty; họ, tên, địa chỉthường trú, số Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợppháp khác, số quyết định thành lập hoặc đăng ký của người góp vốn; loại tài sản và

số đơn vị tài sản góp vốn; tổng giá trị tài sản góp vốn và tỷ lệ của tổng giá trị tài sản

đó trong vốn điều lệ của công ty; ngày giao nhận; chữ ký của người góp vốn hoặc đạidiện theo uỷ quyền của người góp vốn và người đại diện theo pháp luật của công ty; c) Cổ phần hoặc phần vốn góp bằng tài sản không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự

do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đốivới tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty"

5

Trang 10

- Phát hành cổ phiếu trong quá trình hoạt động của công ty:

Trong quá trình hoạt động, cổ phiếu cũng trở thành một trong những phương tiện đểhuy động vốn rất hiệu quả Việc phát hành thêm cổ phiếu sẽ làm tăng độ tín nhiệmcho công ty Cổ phần là lớp nệm bảo vệ cho các chủ nợ, nhờ vậy khả năng vay nợđược mở rộng Hơn nữa, vốn chủ sở hữu tăng tạo ra một lá chắn chống lại sự phá sảncủa công ty Thực chất việc phát hành cổ phiếu trong trường hợp này là việc công tychào bán cổ phần để huy động vốn

Theo pháp luật Việt Nam, phát hành cổ phiếu có thể thực hiện bằng hai phươngthức:

+) Phát hành riêng lẻ: là hình thức phát hành trong đó cổ phiếu có thể được bán chophạm vi một số người nhất định với số lượng hạn chế, thông thường bán cho nhữngngười trong công ty

Luật doanh nghiệp 2005 lần đầu tiên đưa ra quy định về việc công ty phát hành thêm

cổ phần phổ thông và chào bán cổ phần đó cho tất cả các cổ đông theo tỉ lệ cổ phầnhiện có tại công ty:

"a) Công ty phải thông báo bằng văn bản đến các cổ đông theo phương thức bảo đảmđến được địa chỉ thường trú của họ Thông báo phải được đăng báo trong ba số liêntiếp trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày thông báo

b) Thông báo phải có họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Giấy chứng minh nhândân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của cổ đông là cá nhân; tên,địa chỉ thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh của

cổ đông là tổ chức; số cổ phần và tỷ lệ cổ phần hiện có của cổ đông tại công ty; tổng

số cổ phần dự kiến phát hành và số cổ phần cổ đông được quyền mua; giá chào bán

cổ phần; thời hạn đăng ký mua; họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật củacông ty Thời hạn xác định trong thông báo phải hợp lý đủ để cổ đông đăng ký muađược cổ phần Kèm theo thông báo phải có mẫu phiếu đăng ký mua do công ty pháthành;

of 19

Tweet

6

Trang 11

Thư điện tửc) Cổ đông có quyền chuyển quyền ưu tiên mua cổ phần của mình chongười khác;

d) Nếu phiếu đăng ký mua cổ phần không được gửi về công ty đúng hạn như thôngbáo thì cổ đông có liên quan coi như đã không nhận quyền ưu tiên mua Trường hợp

số lượng cổ phần dự định phát hành không được cổ đông và người nhận chuyểnquyền ưu tiên mua đăng ký mua hết thì số cổ phần dự kiến phát hành còn lại sẽ doHội đồng quản trị quản lý Hội đồng quản trị có thể phân phối số cổ phần đó cho cổđông của công ty hoặc người khác theo cách thức hợp lý với điều kiện không thuậnlợi hơn so với những điều kiện đã chào bán cho các cổ đông, trừ trường hợp Đại hộiđồng cổ đông có chấp thuận khác hoặc cổ phần được bán qua trung tâm giao dịchchứng khoán" (Khoản 2 Điều 87)

Quy định này thực sự có một bước phát triển hơn so với Luật doanh nghiệp trước đó.Tuy nhiên trình tự thủ tục, điều kiện, chào bán cổ phiếu riêng lẻ Luật doanh nghiệp

2005 không trực tiếp quy định mà do Chính phủ sẽ có hướng dẫn cụ thể

+) Phát hành cổ phiếu ra công chúng: là phương thức phát hành trong đó cổ phiếuđược bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn nhà đầu tư với khối lượng cổphiếu phát hành đạt được một tỉ lệ quy định nhất định và phải dành một tỉ lệ nhấtđịnh cho các nhà đầu tư nhỏ

Theo Khoản 6 Điều 87 Luật doanh nghiệp, điều kiện, phương thức và thủ tục chàobán cổ phần ra công chúng thực hiện theo quy định của Luật chứng khoán Ngoài ra,công ty còn phải thực hiện chế độ báo cáo, công bố thông tin và chịu sự giám sát chặtchẽ theo quy định của pháp luật Điều đó xuất phát từ lí do để cổ phiếu hay trái phiếucủa công ty phát hành ra không phải là sản phẩm của trò lừa đảo hoặc của chủ thể có

dự án đầu tư kém hiệu quả, gây lãng phí cho nền kinh tế, đồng thời để bảo vệ lợi íchcho nhà đầu tư

Việc phát hành cổ phiếu ra công chúng là việc tạo hàng hóa để giao dịch trên sở giaodịch chứng khoán (thị trường tập trung) Phát hành cổ phiếu ra công chúng được chialàm 2 trường hợp: Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng là việc phát hành trong

đó cổ phiếu của công ty lần đầu tiên được bán cho công chúng đầu tư Phát hànhthêm cổ phiếu là việc phát hành cổ phiếu bổ sung cho công chúng đầu tư

Trang 12

Công ty cổ phần muốn phát hành cổ phiếu ra công chúng phải đáp ứng các yêu cầu

về vốn, thời gian hoạt động, đội ngũ quản lí, hiệu quả sản xuất kinh doanh và tính khảthi của dự án sản xuất trong tương lai được quy định rõ trong Khoản 1 Điều 12 Luậtchứng khoán 2006:

"Điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng bao gồm:

a) Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười

tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;

Sau khi công ty cổ phần đã hội đủ các điều kiện trên thì công ty lập hồ sơ gửi Ủy banchứng khoán Nhà nước để xin được cấp giấy phép phát hành Khoản 1 Điều 13 Luậtchứng khoán 2006 quy định:

"Hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng gồm có:

a) Giấy đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng;

b) Bản cáo bạch;

c) Điều lệ của tổ chức phát hành;

d) Quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án phát hành và phương

án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán cổ phiếu ra công chúng;

7

Trang 13

đ) Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có)"

Điều đáng chú ý nhất trong hồ sơ xin phép phát hành là bản cáo bạch Theo Khoản 1

và Điểm a Khoản 3 Điều 15 Luật chứng khoán 2006 thì nội dung bản cáo bạch gồm:

- Thông tin tóm tắt về tổ chức phát hành bao gồm mô hình tổ chức bộ máy, hoạt độngkinh doanh, tài sản, tình hình tài chính, Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viênhoặc Chủ sở hữu công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Giám đốc hoặc PhóTổng giám đốc và cơ cấu cổ đông (nếu có);

- Thông tin về đợt chào bán và chứng khoán chào bán bao gồm điều kiện chào bán,các yếu tố rủi ro, dự kiến kế hoạch lợi nhuận và cổ tức của năm gần nhất sau khi pháthành chứng khoán, phương án phát hành và phương án sử dụng tiền thu được từ đợtchào bán;

- Báo cáo tài chính của tổ chức phát hành trong hai năm gần nhất theo quy định tạiĐiều 16 của Luật này;

- Các thông tin khác quy định trong mẫu Bản cáo bạch

- Đối với việc chào bán cổ phiếu ra công chúng, Bản cáo bạch phải có chữ ký củaChủ tịch Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốchoặc Tổng giám đốc, Giám đốc tài chính hoặc Kế toán trưởng của tổ chức phát hành

và người đại diện theo pháp luật của tổ chức bảo lãnh phát hành hoặc tổ chức bảolãnh phát hành chính (nếu có) Trường hợp ký thay phải có giấy uỷ quyền

Trong thời gian Ủy ban chứng khoán Nhà nước xem xét cấp giấy phép phát hành,công ty cổ phần và các đối tượng liên quan chỉ được sử dụng trung thực và chính xáccác thông tin trong bản cáo bạch đã gủi Ủy ban chứng khoán Nhà nước để thăm dòthị trường Tổ chức phát hành không được trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện các hoạtđộng mang tính quảng cáo, chào mời công chúng đầu tư mua cổ phiếu và phân phối

cổ phiếu ra công chúng dưới bất cứ hình thức nào

Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, trong thời hạn 30 ngày, Uỷ ban Chứng khoán Nhànước xem xét và cấp Giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công chúng Trườnghợp từ chối, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do(Khoản 1 Điều 20 Luật chứng khoán 2006)

Trang 14

Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày Giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra côngchúng có hiệu lực, tổ chức phát hành phải công bố Bản thông báo phát hành trên một

tờ báo điện tử hoặc báo viết trong ba số liên tiếp (Khoản 3 Điều 20 Luật chứng khoán2006)

2.Tổ chức phát hành, tổ chức bảo lãnh phát hành hoặc tổ chức đại lý phải phân phốichứng khoán công bằng, công khai và bảo đảm thời hạn đăng ký mua chứng khoáncho nhà đầu tư tối thiểu là hai mươi ngày; thời hạn này phải được ghi trong Bảnthông báo phát hành

Trường hợp số lượng chứng khoán đăng ký mua vượt quá số lượng chứng khoánđược phép phát hành thì tổ chức phát hành hoặc tổ chức bảo lãnh phát hành phải phânphối hết số chứng khoán được phép phát hành cho nhà đầu tư tương ứng với tỷ lệđăng ký mua của từng nhà đầu tư

3.Tiền mua chứng khoán phải được chuyển vào tài khoản phong toả mở tại ngânhàng cho đến khi hoàn tất đợt chào bán và báo cáo Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước 4.Tổ chức phát hành phải hoàn thành việc phân phối chứng khoán trong thời hạn chínmươi ngày, kể từ ngày Giấy chứng nhận chào bán chứng khoán ra công chúng cóhiệu lực Trường hợp tổ chức phát hành không thể hoàn thành việc phân phối chứngkhoán ra công chúng trong thời hạn này, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước xem xét giahạn việc phân phối chứng khoán nhưng tối đa không quá ba mươi ngày Trường hợp8

Trang 15

đăng ký chào bán chứng khoán cho nhiều đợt thì khoảng cách giữa đợt chào bán sauvới đợt chào bán trước không quá mười hai tháng

5 Tổ chức phát hành hoặc tổ chức bảo lãnh phát hành phải báo cáo kết quả đợt chàobán cho Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày kếtthúc đợt chào bán, kèm theo bản xác nhận của ngân hàng nơi mở tài khoản phong toả

về số tiền thu được trong đợt chào bán

6.Tổ chức phát hành, tổ chức bảo lãnh phát hành hoặc tổ chức đại lý phải chuyểngiao chứng khoán hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu chứng khoán cho người muatrong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày kết thúc đợt chào bán"

Trước khi hoàn thành việc phân phối cổ phiếu ra công chúng, trong những trườnghợp cụ thê, công ty phát hành có thể bị đình chỉ đợt phát hành (Điều 22 Luật chứngkhoán)

Trong trường hợp đó, người đầu tư có quyền hủy bỏ việc mua cổ phiếu hoặc trả lại cổphiếu đã mua và công ty phát hành và các tổ chức liên quan phải hoàn trả tiền cho cácnhà đầu tư trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu

Ngoài ra, công ty phát hành bị thu hồi giấy phép phát hành trong những trường hợpsau:

-Tổ chức phát hành tự nguyện xin rút giấy phép phát hành

-Tổ chức phát hành không khắc phục được những trường hợp bị đình chỉ giấy phépphát hành

-Tổ chức phát hành vi phạm pháp luật, vi phạm cá quy định về chứng khoán và thịtrường chứng khoán gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhà đầu tư

-Khi có kiến nghị thu hồi Giấy phép phát hành của cơ quan pháp luật

Trường hợp giấy phép phát hành bị thu hồi, người đầu tư có quyền hủy bỏ việc đăng

kí mua cổ phiếu hoặc trả lại cổ phiếu đã mua

2 Huy động vốn thông qua các hình thức tín dụng:

a Phát hành trái phiếu:

* Trái phiếu:

Theo Khoản 3 Điều 77 Luật doanh nghiệp 2005, công ty cổ phần có quyền phát hànhchứng khoán các loại để huy động vốn Cùng với số cổ phiếu là công cụ huy động

Trang 16

vốn chủ sở hữu, công ty cổ phần có thể sử dụng trái phiếu để vay vốn trung hạn vàdài hạn, đáp ứng cho nhu cầu về vốn kinh doanh có lúc vượt ngoài khả năng tài chínhcủa các cổ đông

Theo Khoản 3 Điều 6 Luật chứng khoán 2006: "Trái phiếu là loại chứng khoán xácnhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổchức phát hành"

Như vậy, khác với cổ phiếu (là chứng từ xác nhận cổ phần trong công ty), trái phiếuchỉ xác nhận quyền của người sở hữu trái phiếu được trả nợ gốc và lãi suất ấn địnhtrong trái phiếu Quan hệ giữa người sở hữu trái phiếu với công ty là quan hệ giữachủ nợ với con nợ Với tư cách là một loại chứng chỉ xác nhận lợi ích tài sản, tráiphiếu là phần thứ hai trong cơ cấu vốn của công ty có liên quan đến việc hình thànhthị trường chứng khoán

Trái phiếu của công ty phát hành có đặc điểm:

-Trái phiếu có thời gian đáo hạn Khi đến thời điểm đáo hạn, người chủ sở hữu tráiphiếu được hoàn trái

-Trái phiếu có lợi tức cố định, tiền lãi phải trả cho chủ sở hữu không phụ thuộc vàomức lợi nhuận của công ty Có nghĩa là kết quả sản xuất kinh doanh của công tykhông ảnh hưởng đến lợi ích của người sở hữu trái phiếu

-Người sở hữu trái phiếu không có quyền tham gia biểu quyết các vấn đề của công ty.-Trái phiếu đem lại cho người chủ sở hữu quyền ưu tiên về phân chia lợi nhuận cũngnhư quyền ưu tiên về phân chia tài sản khi công ty giải thể hoặc phá sản

-Trái phiếu có thể tự do chuyển nhượng trên thị trường chứng khoán

Khác với các hình thức vay nợ khác, trái phiếu có khả năng trao đổi Chủ sở hữu tráiphiếu cho công ty phát hành vay vốn bằng mua trái phiếu, có quyền giữ lại hoặc bán

đi bất cứ lúc nào (trên thụ trường thứ cấp) mà không phải chờ đến kì thanh toán Còntrong trường hợp khi ngân hàng cho vay một khoản tiền thì ngân hàng phải ghi vàotrong sổ sách và lưu giữ cho tới khi khoản nợ đó được thanh toán, do đó có mối quan

hệ ràng buộc hơn giữa người đi vay và người cho vay Bằng cách này, trái phiếu tạođiều kiện cho công ty phát hành có thể vay dài hạn trong khi người sở hữu trái phiếu

Ngày đăng: 03/12/2016, 23:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w