1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài 28

29 185 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài 28
Tác giả Nguyễn Hoàng Tuấn, Trần Nhã Quân
Trường học Trường THCS Chu Văn An
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Giáo án điện tử
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 2,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

-Tiêu biểu: Truyện Kiều của Nguyễn Du , Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc, thơ của Hồ Xuân Hương , Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát , Nguyễn Văn Siêu,… I.Văn học -Cuối thế kỉ XVII

Trang 1

Trường THCS CHU VĂN AN - QI

Giáo án điện tử :

Thực hiện: HS NGUYỄN HOÀNG TUẤN

TRẦN NHÃ QUÂN

Trang 2

Bài 28

Trang 3

I VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT

Trang 4

-Tiêu biểu: Truyện Kiều của Nguyễn Du ,

Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc, thơ của Hồ Xuân Hương , Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát ,

Nguyễn Văn Siêu,…

I.Văn học

-Cuối thế kỉ XVIII, nền văn học

dân gian phát triển rực rỡ, đặc

biệt là nền văn học chữ Nôm.

Trang 5

-Tiêu biểu: Truyện Kiều của Nguyễn Du ,

Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc, thơ của Hồ Xuân Hương , Bà Huyện

Thanh Quan, Cao Bá Quát ,

Nguyễn Văn Siêu,…

I.Văn học

-Cuối thế kỉ XVIII, nền văn học

dân gian phát triển rực rỡ, đặc

biệt là nền văn học chữ Nôm.

Trang 6

-Tiêu biểu: chùa Tây Phương (Thạch Thất, Hà Tây),

đình làng Đình Bảng( Từ Sơn, Bắc Ninh), lăng tẩm các vua Nguyễn ở Huế, Khuê Văn Các ở Văn Miếu ( Hà Nội),Cố Đô Huế,

II Nghệ thuật

a) Nghệ thuật dân gian

b) Kiến trúc

-Phát triển phong phú

-Nghệ thuật sân khấu tuồng chèo, các điệu quan họ, trống quân phổ biến khắp nơi, nhất là vào dịp hội làng

-Hàng loạt tranh dân gian xuất hiện, nổi tiếng nhất:

Trang 7

-Tiêu biểu: chùa Tây Phương (Thạch Thất, Hà Tây),

đình làng Đình Bảng( Từ Sơn, Bắc Ninh), lăng tẩm các

vua Nguyễn ở Huế, Khuê Văn Các ở Văn Miếu ( Hà Nội),Cố Đô Huế,

II Nghệ thuật

a) Nghệ thuật dân gian

b) Kiến trúc

-Phát triển phong phú

-Nghệ thuật sân khấu tuồng chèo, các điệu quan họ, trống quân phổ biến khắp nơi, nhất là vào dịp hội làng

-Hàng loạt tranh dân gian xuất hiện, nổi tiếng nhất:

Tranh Đông Hồ.

Trang 9

 Húng dừa  Đánh ghen

Trang 10

 Em bé và trâu

 Múa rồng

Trang 11

Chọi cá

Đám cưới chuột

Trang 12

Bà Triệu

Trang 13

Nguyễn Du tên tự là Tố Nh ,tên hiệu ư là Thanh Hiên, biệt hiệu là Hồng Sơn lạp Nguyễn Du sinh ngày 23

tháng 11 năm Ất Dậu, tức ngày 3/1/1866 ở kinh thành Thăng Long trong một gia đình quý tộc lớn Thân sinh ơng là Hồng Giáp Nguyễn Nghiễm (1708 – 1775), làm quan đến tham tụng (tể tướng) tước Xuân quận cơng

triều Lê Mẹ ơng là bà Trần Thị Tần, quê Kinh Bắc, đẹp nổi tiếng Nguyễn Du là một nhà thơ kiệt xuất của đất nước Ông để lại cho đời nhiều tác phẩm trong đó có : Thanh Hiên thi tập, Nam Trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục, và đặc biệt là Đoạn trường tân thanh (truyện Kiều)

Nguyễn Du

Trang 14

Mảng vui rượu sớm cờ trưa,

Đào đà phai thắm sen vừa nẩy xanh.Trướng hồ vắng vẻ đêm thanh,

E tình nàng mới bày tình riêng chung:Phận bồ từ vẹn chữ tòng,

Đổi thay nhạn yến đã hòng đầy niên.Tin nhà ngày một vắng tin,

Mặn tình cát lũy lạt tình tào khang

Trang 15

Hồ Xuân Hương ( ? - ?) lai lịch chưa rõ ràng Nhiều sách nói bà là con Hồ Phi Diễn

( 1704-?) , quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Ông thân sinh ra bắc dạy học, lấy vợ lẽ là người Bắc Ninh, sinh ra Hồ Xuân Hương Gia đình Hồ Xuân Hương từng sống ở phường Khán Xuân gần Hồ Tây của

Hà Nội Hồ Xuân Hương còn được mệnh danh là bà Chúa Thơ Nôm.

Trang 16

Tự tình

Vất vất vơ vơ cũng nực cườiCăm căm cúi cúi có hơn aiNay còn chị chị anh anh đóMai đã ông ông mụ mụ rồiĐói đói no no lo hết kiếpKhôn khôn dại dại khéo trò đờiChi bằng láo láo lơ lơ vậy

Ngủ ngủ ăn ăn nói chuyện chơi

Trang 17

 Chùa Tây Phương (Thạch Thất, Hà Tây),

Trang 18

Chuøa tọa lạc trên núi Tây Phương (xưa gọi là núi Câu

Lậu) cao chừng 50m, thuộc xã Thạch Xá, huyện Thạch

Thất, tỉnh Hà Tây Chùa cách Hà Nội 37 km về hướng

Tây Chùa thuộc hệ phái Bắc tông Chùa đã được trùng tu nhiều lần vào các thế kỷ XVII, XVIII Năm 1632, chùa xây dựng thượng điện 3 gian và hậu cung cùng hành lang 20 gian Khoảng những năm 1657 – 1682, Tây Đô Vương

Trịnh Tạc cho xây lại chùa mới.Đến năm 1794, dưới thời Tây Sơn, chùa được đại tu hoàn toàn, lấy tên là chùa Tây Phương.

Năm 1893, nhà sư Thích Thanh Ngọc trụ trì đã tổ chức

trùng tu chùa, tạc tượng Quan Âm trăm tay, Thiện Tài, Long Nữ, Bát bộ Kim Cang, Thập bát La Hán Chùa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

Trang 19

Khuê Văn

Các

Trang 20

Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, sống ở thế kỉ XIX, chưa rõ năm sinh năm mất, quê ở làng Nghi Tàm thuộc Huyện Tây Hồ, Hà Nội Chồng bà làm tri huyện Thanh Quan Bà là một trong số nữ

sĩ tài danh hiếm có trong thời đại ngày xưa, hiện còn để lại sáu bài thơ Đường luật.

Trang 21

Tạo hĩa gây chi cuộc hí trường?

Đến nay thấm thốt mấy tinh sương Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Nền cũ lâu đài bĩng tịch dương

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt Nước cịn cau mặt với tang thương Nghìn năm gương cũ soi kim cổ Cảnh đấy người đây luống đoạn trường

Thơ của Bà Huyện Thanh Quan

Thăng Long Thành Hồi Cổ

Trang 22

Cao Bá Quát (1809 -1855) tự Chu Thần sinh tại Phú

Thị, Gia Lâm, Hà Nội, mất giữa trận tiền Quốc Oai

trong cuộc khởi nghĩa chống triều đình thời Tự Đức

Tự Đức tru di ba họ Cao Bá Quát, thu hồi tiêu hủy văn chương ông Nhưng ông được lòng dân bảo vệ: một

rừng truyền thuyết ca ngợi tài thơ, lòng dũng cảm, trí thông minh và tinh thần thương dân yêu nước của ông Tác phẩm của ông còn được lưu đến nay là 1353 bài thơ,

21 bài văn xuôi, một số bài ca trù và khá nhiều câu đối.

Tiểu sử Cao Bá Quát

Trang 23

Tài mai

Thí hương mai tử trịch sơn gian

Nhất ác thanh tư kí bích loan

Kí thủ lai thời xuân sắc hảo

Dữ nhân công tác họa đồ khan

Trồng mai

Đầu non nắm hạt mai gieo Giống thanh gởi chốn núi đèo xanh tươi Nữa mai xuân điểm bầu trời

Bức tranh tuyệt tác cho đời ngắm chung

Trang 24

Nguyễn Văn Siêu(1795-1872), tự là Tốn Ban, hiệu Phương Đình,

người làng Kim Lũ, Thanh Trì, Hà Nội Năm 26 tuổi đỗ Á nguyên, nhưng không ra làm quan mà ở nhà đọc sách, đây cũng là thời gian ông kết giao với Cao Bá Quát Năm 1839 ông cùng Cao vào Huế dự thi Hội đỗ Phó Bảng, sau đó được bổ làm ở toà hàn lâm Năm 1839 chuyển qua làm chủ sự bộ Lễ Sau khi vua Minh Mệnh chết, Thiệu Trị lên nối ngôi đã dùng ông vào nội các làm Thừa Chỉ, kiên thị giảng

cho các hoàng tử Đương thời Nguyễn Văn Siêu viết nhiều sách gồm:

Địa dư chí, Chư sử khảo thích, Chư kinh khảo ước, Tứ thư bị giảng, Vạn lý tập, Phương Đình thi tập, Phương đình văn loại v.v Bộ Địa

Dư Chí của ông là một tác phẩm có giá trị, nội dung thâu tóm khá

nhiều hiểu biết về địa lý, lịch sử từ trước đến đương thời Tuy nhiên mỗi khi nhắc đến Nguyễn Văn Siêu người ta thường nói đến tài thơ siêu phàm của ông mà người đương thời đã từng ngợi ca là Thần

Siêu.

Nguyễn Văn Siêu

Trang 25

Dịch thơ

Đặng Trần Côn

Xông pha gió bãi trăng ngàn Tên reo đầu ngựa giáo dan mặt thành Aùng công danh trăm đường rộn rã

Những nhọc nhằn nào đã nghĩ ngơi Nỗi lòng biết tỏ cùng ai

Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân mây

Đoàn Thị Điểm

Trang 26

Cung oán ngâm khúc

Nguyễn Gia Thiều

Khóc vì nỗi thiết tha sự thế

Ai bày trò bãi bể nương dâu

Trắng răng đến thuở bạc đầu

Tử, sinh, kinh, cụ làm nau mấy lần

Trang 27

Vòng thành ngoài là Kinh thành, xây kiểu Vô băng , dạng gần hình vuông, mỗi cạnh 2235 m, chu vi gần 9000 m Tường thành xây

ốp bằng gạch hộp dày khoảng trên 2 m và cao khoảng 6,50 m Vòng thành giữa gọi là Hoàng cung hay Đại nội hình chữ nhật Vòng thành trong cùng là Tử Cấm thành Tường xây cao 3,1m, dày 0,72 m và có 7 cửa.

Thành Huế

Trang 28

Cám ơn quí thầy cô và các bạn đã quan tâm theo dõi

Xin chân thành cám ơn mọi đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn

Chúc quí thầy cô và tất cả các bạn dồi dào sức khoẻ và đạt kết quả cao nhất trong kì thi

HKII

Ngày đăng: 05/07/2013, 01:25

Xem thêm

w