1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN GHẸ RANG ME 2018

21 266 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 2,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm gần đây do nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩutăng, nên cùng với nghề khai thác ghẹ tự nhiên, nghề nuôi ghẹ đã phát triển ở nhiềuđịa phương trong cả nước, tuy nhiên nguồn

Trang 1

MỤC LỤC

LIỆU……….4

1.1 Đặc điểm giống loài 4

1.2 Phân loại ghẹ 4

1.3 Điều kiện sinh trưởng và phát triển 6

1.4 Đặc điểm sinh lí 7

II KỸ THUẬT ĐÁNH BẮT VÀ NUÔI TRỒNG……… 8

2.1 Tìm năng phát triển nuôi trồng và đánh bắt ghẹ tại Việt Nam 8

2.2 Kỹ thuật khai thác ghẹ bằng phương pháp đòn bẫy 8

2.2.1 Trang bị và kỹ thuật khai thác 10

2.2.2 Phương pháp khai thác 10

2.2.3 Khắc phục sự cố thường gặp 10

III QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ……….12

3.1 Sơ đồ 12

3.2 Thuyết minh quy trình 12

3.3 Thiết bị sử dụng 13

3.4 Sơ đồ quy trình bảo quản ghẹ 15

IV PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM TỪ NGUYÊN LIỆU………17

V TÀI LIỆU THAM KHẢO……….19

Trang 2

Danh mục hình bảng:

Hình 1.2 Các loại ghẹ điển hình 5

Hình 2.2 Cấu tạo bẫy ghẹ hình trụ .9

Hình 3.2 Các biến đổi của nguyên liệu sau khi chết .13

Hình 3.1 Sơ đồ sản xuất “ghẹ rang me đóng hộp” 12

Hình 3.4 Sơ đồ bảo quản ghẹ theo phương pháp cấp đông 16

Hình 3.3.1 Thiết bị dò kim loại 14

Hình 3.3.2 Kho đông lạnh 15

Hình 3.3.3 Máy ghép nắp tự động 15

Bảng 1.2 Đặc điểm giống loài 6

Bảng 1.4 Thành phần dinh dưỡng trong 100g thực phẩm ăn được 7

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Đất nước Việt Nam có lợi thế là bờ biển dài, nhiều sông ngòi nên việc khaithác và nuôi trồng thuỷ sản đã mở ra triển vọng lớn về việc cung cấp thủy hải sản chonhu cầu đời sống nhân dân, cho xuất khẩu và phục vụ cho ngành chăn nuôi gia súc

Bàn về vấn đề khai thác hải sản ,có thể thấy rằng việc khai thác của nước tacòn có nhiều hạn chế ,chưa xứng đáng với tiềm năng thuỷ sản dồi dào mà thiên nhiênban tặng Tuy nhiên ngành thuỷ sản cũng đã có được những thành tựu đáng kể Toànngành đã có 93500 tàu thuyền gồm tàu thuyền lắp máy: 62000 chiếc với tổng côngsuất 1.250.000 mã lực và 2700 chiếc đóng mới trong năm 1994, tàu đánh bắt xa bờ

100 chiếc với tổng công suất 50000 mã lực, 31500 tàu đánh bắt thủ công Từ năm

1994 đến nay đội ngũ tàu thuyền đánh bắt đã có những điều chỉnh và cải biến rõ rệt,chủ yếu tập trung đẩy mạnh phát triển đội tàu có khả năng đánh bắt xa bờ, hạn chếviệc đóng tàu có công suất nhỏ nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản ven biển,

tổ chức lại hệ thống khai thác hải sản trong cả nước Đánh bắt xa bờ là xu thế pháttriển của thuỷ sản để tăng nhanh sản lượng, đây cũng là chiến lược của ngành nhằmnâng cao khả năng tận dụng triệt để ưu thế về chủng loại

Biển Việt Nam có trên 2.000 loài cá, trong đó khoảng 130 loài cá có giá trịkinh tế Bên cạnh cá biển còn nhiều nguồn lợi tự nhiên như trên 1.600 loài giáp xác,sản lượng cho phép khai thác 50 - 60 nghìn tấn/năm, có giá trị cao là tôm biển, tômhùm và tôm mũ ni, cua, ghẹ; khoảng 2.500 loài động vật thân mềm, trong đó có ýnghĩa kinh tế cao nhất là mực và bạch tuộc (cho phép khai thác 60 - 70 nghìntấn/năm); hằng năm có thể khai thác từ 45 á 50 nghìn tấn rong biển có giá trị kinh tếnhư rong câu, rong mơ v.v Bên cạnh đó, còn rất nhiều loài đặc sản quí như bào ngư,đồi mồi, chim biển và có thể khai thác vây cá, bóng cá, ngọc trai, v.v Bị chi phối bởiđặc thù của vùng biển nhiệt đới, nguồn lợi thuỷ sản nước ta có thành phần loài đadạng, kích thước cá thể nhỏ, tốc độ tái tạo nguồn lợi cao Chế độ gió mùa tạo nên sựthay đổi căn bản điều kiện hải dương học, làm cho sự phân bố của cá cũng thay đổi rõràng, sống phân tán với quy mô đàn nhỏ Tỷ lệ đàn cá nhỏ có kích thước dưới 5 x 20mchiếm tới 82% số đàn cá, các đàn vừa (10 x 20m) chiếm 15%, các đàn lớn (20 x 50mtrở lên) chỉ chiếm 0,7% và các đàn rất lớn (20 x 500m) chỉ chiếm 0,1% tổng số đàn

cá Số đàn cá mang đặc điểm sinh thái vùng gần bờ chiếm 68%, các đàn mang tính đạidương chỉ chiếm 32% Phân bố trữ lượng và khả năng khai thác cá đáy tập trung chủyếu ở vùng biển có độ sâu dưới 50m (56,2%), tiếp đó là vùng sâu từ 51 - 100m(23,4%)

Nhóm chọn ghẹ làm đề tài “GHẸ RANG ME” vì đây là một trong những sảnphẩm có tìm năng phát triển mạnh trong tương lai Vì ghẹ có một nguồn nguyên liệudồi dào với trữ lượng nuôi trồng và đánh bắt lớn, chất lượng ghẹ ở nước ta đạt chấtlượng khá cao

Trang 4

I TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN LIỆU

1.1 Đặc điểm giống loài

Ghẹ là đối tượng hải sản quý, có giá trị thương mại cao và là mặt hàng xuấtkhẩu quan trọng của Việt Nam Ghẹ được phân bố ở khắp các vùng biển đến độ sâu

50 – 100m và cửa song, đáy cát bùn từ Bắc vào Nam, nguồn lợi khá phong phú Banđêm ghẹ sống sát đáy, ngày bơi lên Ghẹ là loài rất nhạy cảm với những thay đổi thờitiết Qua khai thác thử nghiệm đánh giá nguồn lợi ghẹ theo Dự án đánh giá của nguồnlợi sinh vật biển Việt Nam (ALMRV) từ tháng 8/1996 đến tháng 2/1997, năng suấtkhai thác ghẹ bằng lưới giã cào ở độ sâu 20-50m đạt khoảng 0,3-1,3 kg/giờ, ở độ sâu50-100m đạt khoảng 1,3-2,9 kg/giờ Ở vùng biển phía Nam năng suất có thể tới 6,9kg/giờ kéo lưới Những năm gần đây do nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩutăng, nên cùng với nghề khai thác ghẹ tự nhiên, nghề nuôi ghẹ đã phát triển ở nhiềuđịa phương trong cả nước, tuy nhiên nguồn con giống chủ yếu vẫn còn phụ thuộc vàokhai thác tự nhiên Từ năm 1998, để giải quyết vấn đề con giống cho nghề nuôi cua,ghẹ của Việt Nam, đã có đề tài “Sản xuất giống và nuôi thương phẩm ghẹ xanh

(Portunus Pelagicus)” do Trung Tâm Nghiên cứu Thuỷ sản III (nay là Viện Nghiên

cứu nuôi trồng thủy sản III) thực hiện, đã đạt được một số kết quả quan trọng, tạo cơ

sở để mở rộng nghề nuôi ghẹ ở Việt Nam

1.2 Phân loại ghẹ

Một số loại ghẹ có giá trị xuất khẩu chính của Việt Nam

(1) Ghẹ Đốm, ghẹ Cát

Tên tiếng Anh: Gazami crab

Tên khoa học: Portunus trituberculatus (Mier,

1876)

- Phân bố: Vịnh Bắc Bộ, ven biển miền Trung

- Mùa vụ khai thác: Tháng 5 – 3 năm sau

- Ngư cụ khai thác: Lưới kéo

- Kích thước khai thác: 7,5 – 14 cm

- Khả năng nuôi: Có thể nuôi

- Dạng sản phẩm: Sống, tươi, đông lạnh

(a)

Trang 5

(2) Ghẹ Ba chấm, ghẹ Ba mắt

Tên tiếng Anh: Three spots swimming crab

Tên khoa học: Portunus sanguinolentus

(Herbst, 1796)

- Phân bố: Vịnh Bắc Bộ và ven biển miền Trung

- Mùa vụ khai thác: Tháng 7 – 3 năm sau

- Ngư cụ khai thác: Lưới ghẹ hoặc lưói kéo, lồng

Ghẹ xanh (tên khoa học là Portunus pelagicus), là một loài cua lớn tìm thấy ở

các cửa sông của Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương (phần duyên hải Châu Á) cũngnhư vùng duyên hải trung đông của Địa Trung Hải Loài ghẹ này phân bố rộng ở miềnđông Châu Phi, Đông Nam Á, Nhật Bản, Australia, New Zealand, còn ở Việt Namghẹ xanh xuất hiện phổ biến ở khắp các vùng biển Việt Nam Nó được buôn bán dướidạng ghẹ mai cứng hoặc mai mềm, được coi là có giá trị cao do chất lượng thịt ngọtmang lại

Trang 6

- Đặc điểm hình thái : Ghẹ thường có vỏ màu xanh, có

các chấm trắng Cỡ khai thác ở trong vịnh/đầm, trung

bình là 80-120 g/con; Cỡ khai thác ngoài biển khoảng

150 -250g/con

- Phân bố: Khắp vùng biển Việt Nam

- Mùa vụ khai thác: tháng 5 – 2 năm sau

- Ngư cụ khai thác: Lưới ghẹ, lưới kéo, câu, lồng bẫy

- Hình thức nuôi: chủ yếu nuôi quảng canh cải tiến trong các đầm nước lợ và nuôi ghépvới các đối tượng khác trên lồng bè ở vịnh Hạ Long và vịnh Cát Bà

- Ghẹ đực có vỏ màu lam sáng với các đốm trắng và các càng dài đặc trưng, trong khighẹ cái có màu nâu/lục xỉn màu hơn và mai thuôn tròn hơn Mai của chúng có thể rộngtới 20 cm

– Ghẹ xanh xuất hiện khá phổ biến ở khắp các vùng biển của Việt Nam Ghẹ xanh ưathích sống ở vùng nước có độ mặn 25-31‰ và thường sống ở độ sâu từ 4 đến 10m nước

ở những vùng biển có đáy là cát, cát bùn và cát bùn có san hô chết

Trang 7

Phân loại theo kích cỡ ghẹ:

 Ghẹ xanh biển loại I: (Size 3-4 con/kg); (Size 5 con/kg)

 Ghẹ xanh biển loại II (Size 6-8 con/kg)

 Ghẹ xanh biển loại III (Size 8-10 con/kg)

1.3 Điều kiện sinh trưởng và phát triển:

Ghẹ xanh thích sống ở vùng nước có độ mặn 25-31‰ và thường sống ở độ sâu

từ 4 đến 10m nước ở những vùng có đáy là cát, cát bùn và có san hô chết

Phần lớn thời gian chúng ẩn nấp dưới cát hay bùn, cụ thể là trong thời gian banngày và mùa đông, cùng với tộc độ lớn nhanh, nuôi dễ dàng, mắn đẻ và khả năng khángchịu cả nitrat lẫn amoniac, (cụ thể là NH3, là dạng có độc tính cao hơn dạng ion NH4 ,

do nó dễ dàng khuyếch tán qua màng mang), đã làm cho loài này là tương đối lý tưởngtrong nuôi trồng thủy sản Chúng đi kiếm ăn khi thủy triều lên Thức ăn của chúng khá

đa dạng, từ các động vật hai mảnh vỏ, cá và ít hơn là các loại tảo lớn

Chúng bơi lội rất tốt, chủ yếu là do các cặp chân dẹp tựa như các mái chèo Tuynhiên, ngược lại với loài cua bể xanh (Scylla serrata) trong cùng họ Portunidae, chúngkhông thể sống một thời gian dài mà không có nước

1.4 Đặc điểm sinh lí

Chu trình vòng đời của nó phụ thuộc vào các cửa sông do ấu trùng và ghẹ non sửdụng các môi trường nước lợ cửa sông để sinh sống và phát triển Trước khi trứng nở,ghẹ cái di chuyển tới các môi trường sống nông cạn ven cửa sông, đẻ trứng và ấu trùngmới nở (ấu trùng giai đoạn I) sẽ tiến về các cửa sông Trong khoảng thời gian nàychúng ăn các loại phiêu sinh vật nhỏ và phát triển từ giai đoạn ấu trùng I (zoea I) tới ấutrùng giai đoạn IV (khoảng 8 ngày) và sau đó thành giai đoạn ấu trùng cuối cùng(megalopa), kéo dài khoảng 4-6 ngày Giai đoạn ấu trùng này có đặc trưng là có cáccàng to để bắt mồi Giai đoạn từ dạng megalopa biến hóa thành dạng cua/ghẹ thì chúngvẫn tiếp tục sống tại cửa sông, do môi trường vẫn phù hợp để kiếm ăn và trú ẩn Tuynhiên, các chứng cứ cho thấy ghẹ non không thể chịu được độ mặn thấp trong một thờigian dài, có lẽ là do khả năng điều chỉnh siêu thẩm thấu quá yếu của nó Điều này có thểgiúp giải thích sự di cư hàng loạt của chúng từ cửa sông ra biển trong mùa mưa

Mùa vụ sinh sản của ghẹ xanh kéo dài quanh năm, nhưng ở Miền Trung thờigian ghẹ ôm trứng chủ yếu là tháng 2-5 Sau khi nở ấu trùng ghẹ xanh phải qua nhiềulần lột vỏ và trở thành ghẹ giống đến mùa sinh sản ghẹ xanh kết thành đàn ra biển, nơi

có độ mặn 30-34‰ để đẻ trứng

Thành phần dinh dưỡng trong ghẹ biển rất phong phú, hàm lượng protein caohơn nhiều so với thịt heo hay cá Ngoài ra canxi, photpho, sắt và các vitamin A, B1, B2,

Trang 8

C… cũng chiếm ở mức cao Ghẹ còn chứa một lượng lớn calcium, magnesium và axít

béo omega 3, rất tốt cho tim, mạch

Một số nghiên cứu dinh dưỡng còn ghi nhận ghẹ giúp làm giảm cholesterol xấu

và triglycerides trong máu Thịt ghẹ có vị ngọt, mặn, không độc, có tác dụng thanh

nhiệt, sinh huyết, tán ứ, giảm đau, bổ xương tuỷ nên rất tốt cho cơ thể đang phát triển ở

trẻ nhỏ và tình trạng suy yếu ở người cao tuổi Tuy nhiên vì ghẹ có chứa nhiều sodium

và purines nên không thích hợp với người cao huyết áp và bị gout Những người bị cảm

gió, sốt, mắc bệnh dạ dày, tiêu chảy cũng không nên ăn

Trong thịt ghẹ có nhiều chất vitamin, đặc biệt là có đầy đủ các nhóm vitamin B,

các khoáng chất như chất sắt, kali, canxi, đồng Hơn thế, trong các loại hải sản, ghẹ lại

chứa lượng thủy ngân ít hơn các các loại cá ngừ, cá biển

Bảng 1.4 Thành phần dinh dưỡng trong 100g thực phẩm ăn được

II KỸ THUẬT ĐÁNH BẮT VÀ NUÔI TRỒNG

- Mùa vụ khai thác: tháng 5 – 2 năm sau

- Dụng cụ khai thác:lưới ghẹ, lưới kéo, câu, lồng bẫy

- Kích thước khai thác: 6,5 – 9 cm

- Khả năng nuôi: ghẹ xanh được nuôi nhiều bằng giống tự nhiên ở khu vực phía Bắc

như Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định Hiện nay đã có thể sản xuất được giống ghẹ

nhân tạo, góp phần thúc đẩy nghề nuôi ghẹ phục vụ xuất khẩu Hình thức nuôi chủ yếu

nuôi quảng canh cải tiến trong các đầm nước lợ và nuôi ghép vơi các đối tượng khác

trên lồng bè

2.1 Tìm năng phát triển nuôi trồng và đánh bắt ghẹ tại Việt Nam

- Việt Nam có hơn 3000km bờ biển cùng với đặc điểm khí hậu nhiệt đới nóng ẩm đã tạo

điều kiện cho các loài thủy sản sinh trưởng và phát triển Có nhiều rạng san hô tại thềm

lục địa, độ mặn nước biển phù hợp 30-35% rất thuận lợi để ghẹ phát triển

Trang 9

- Tại các ngư trường lớn thì nước biển có độ mặn phù hợp để ghẹ sinh trưởng và pháttriển Đặc biệt là ghẹ xanh phát triển mạnh mẻ ở ngư trường Cà Mau - Kiên Giang Ghẹ

ở đây được các chuyên gia đánh giá là chất lượng tốt nhất

- Sản lượng ghẹ: qua các năm tại Kiên Giang

+ 2009: 10900 tấn/năm

+ 2013: 7750 tấn/năm

+2014: 6200 tấn/năm

 Sản lượng ghẹ giảm qua từng năm là do việc khai tác quá mức và do những biến đổi

về môi trường sống của ghẹ làm cho sản lượng khai thác súc giảm Vậy nên việc khaithác ghẹ cùng một số thủy hải sản khác cần phải có chiến lược khai thác hợp lí kết hợpvừa khai thác ghẹ thiên nhiên, nuôi trồng ghẹ nước lợ và phải kết hợp bảo vệ môitrường để cải thiện môi trường sống cho ghẹ phát triển

2.2 Kỹ thuật khai thác ghẹ bằng phương pháp lồng bẫy:

- Thiết kế lồng: Lồng bẫy ghẹ được thiết kế có nhiều hình dạng khác nhau: hình trụ,hình tròn và hình elip Khung được làm bằng sắt, tre hoặc mây và bên ngoài được baobởi lưới PE hoặc sợi inox Hình dạng hom lồng và số cửa hom được bố trí tùy theo từngkiểu lồng

+ Lồng bẫy hình trụ: Có đường kính 550 - 600 mm, chiều cao 200 - 250 mm, khung

làm bằng thép tròn, đường kính 4 - 8 mm, bên ngoài bọc một lớp nhựa Mặt trên và mặtdưới hình tròn, thành lồng có 6 thanh, chia lồng thành 6 khoảng bằng nhau, xung quanhlồng được bọc lưới hoặc sợi đan inox Lồng được bố trí 3 cửa hom ở thành lồng

Trong lồng có hộp đựng mồi và được treo tại sợi dây nối từ 2 thanh nằm ngangcủa mặt trên và mặt dưới Khi khai thác các lồng được liên kết với nhau bằng một sợidây chính, khoảng cách mỗi lồng 20 - 25 m

Trang 10

Hình 2.2 Cấu tạo bẫy ghẹ hình trụ

+ Lồng bẫy hình hộp chữ nhật: Khung chính được làm bằng sắt, đường kính 3 mm,

khung xung quanh được làm bằng sắt, đường kính 2 mm Lồng có chiều cao 250 mm,dài 500 mm, rộng 400 mm Lồng được thiết kế 1 cửa hom Hom được làm bằng lưới,hình phễu Trên mặt lồng có cửa đẩy để lấy sản phẩm và có thể mở ra đóng vào

Có thể thiết kế lồng bẫy bằng sắt có đường kính 3 mm, chiều dài 550 mm, cao 200 mm,

mở ra và gập vào dễ dàng, cấu tạo 2 cửa hom, toàn bộ lồng được bao bởi lưới PE

+ Lồng bẫy hình trụ, elip: Lồng bẫy gồm khung, các hom, cửa bẫy ghẹ và túi đựng

mồi Khung được làm từ vòng sắt bọc nhựa, đường kính 4 mm và 3 thanh nhựa bọc lưới

PE Hai thanh phía dưới liên kết cố định với 2 vòng sắt, thanh trên chỉ liên kết một đầucòn đầu kia có thể mở ra lắp vào giúp cho việc sếp lồng thuận lợi Mỗi lồng gồm có 3hom, hom chính ở đầu trên của lồng và 2 hom cửa phụ ở thành lồng Cửa lấy ghẹ làphần bọc lồng được kéo dài có dây buộc Ngoài ra, lồng bẫy ghẹ còn được thiết kế hìnhdạng nửa elip, hình cầu Khung được làm bằng sắt, đường kính 3 mm, bên ngoài bọclưới PE

2.2.1 Trang bị và kỹ thuật khai thác

Tàu thuyền sử dụng để khai thác nghề lồng bẫy ghẹ có công suất 33 - 300 CV

Sử dụng máy tời để thu dây giềng chính Số lượng người phụ thuộc vào số lượng ngườitrên tàu và cỡ tàu, thường 200 - 1.000 chiếc Mồi dùng để đánh bắt ghẹ là các loại cám

có mùi thơm, cá nhỏ và được bỏ vào trong hộp

Trang 11

2.2.2 Phương pháp khai thác: Lồng được chở ra ngư trường, chuẩn bị hộp mồi

để bỏ vào lồng, sau đó xếp lồng vào vị trí thao tác

+ Thả lồng: Quá trình thả lồng được tiến hành từ lúc chuẩn bị lồng đến khi thả hết lồng

xuống nước Trong khi thả, đồng thời liên kết các lồng với dây giềng chính, lồng đượcthả tuần tự cho đến hết Số người thao tác trên tàu thường là 7 người, hoạt động thao tácnhư sau: Người thứ 1, 2: chuẩn bị lồng và đặt lồng trên băng chuyền Người thứ 3,chuyển lồng đến vị trí người số 4, người này xếp dây liên kết vào để người thứ 5 đẩylồng xuống nước theo máng trượt Người tiếp theo chuẩn bị dây đầu khuyết cho ngườicòn lại, người này liên kết móc kẹp vào vòng khuyết của dây giềng chính

+ Thu lồng: Quá trình thu lồng sử dụng tời kéo dây giềng chính Trong quá trình thu

lồng lấy ghẹ đồng thời thay mồi để chuẩn bị mẻ sau Khi đó, 1 người điều chỉnh ròngrọc hướng vào và tháp dây kẹp lồng, một người tháo dây rút giềng và ghỡ ghẹ, 2 ngườilấy hộp mồi cũ thay cho hộp mồi mới Người tiếp theo thắt dây rút miệng và móc vàothành lồng Những người còn lại xếp lồng theo thứ tự trên boong thao tác, đứng tời giâygiềng chính, xếp đầu khuyết vào cọc sắt

Ghẹ sau khi được lấy ra khỏi lồng, buộc ghẹ nhanh, thả vào thùng nhựa bảo quảntạm thời để phân loại ghẹ sau đó đưa ghẹ vào hầm thông thủy bảo quản chính thức

2.2.3 Khắc phục sự cố thường gặp

Dây phao cờ bị quấn vào chân vịt: Khi sự cố xảy ra, thuyền trưởng phải dừngtàu, các thủy thủ gỡ dây phao cờ ra khỏi chân vịt tàu Để khắc phục tình trạng này, khithu phao cờ các thủy thủ phải phối hợp chặt chẽ với nhau; thuyền trưởng điều động tàu

di chuyển chậm đến bên trái của phao cờ; thủy thủ làm nhiệm vụ thu phao cờ phải chínhxác trong thao tác ném móc để thu phao cờ

Lồng bị quấn với nhau khi thả: Khi gặp sự cố này, thuyền trưởng nhanh chóngdừng tàu và thủy thủ làm nhiệm vụ thả lồng phải buông dây chính để các lồng bị quấnvới nhau tự rơi xuống biển, nhanh chóng gỡ các lồng còn bị quấn trên boong (nếu vẫncòn) và tiếp tục thả lồng Các lồng còn bị quấn sẽ được gỡ trong quá trình thu lồng Đểkhắc phục tình trạng này, các thủy thủ làm nhiệm vụ thả lồng phải luôn tập trung trongthao tác lấy lồng ra khỏi vị trị để thả, lấy lồng theo đúng thứ tự đã được sắp xếp

3.1 Sơ đồ: sản xuất “ghẹ rang me đóng hộp”

Tiếp nhận bảo quản

Ngày đăng: 17/06/2017, 04:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w