1. Trang chủ
  2. » Tất cả

ĐỀ-CƯƠNG-SINH-LÝ-II_2016

32 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 584,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích qui luật chi phối cảm giác của cảm giác xúc giác trên vỏ não đối bên, lộn ngược, phân vùng  Receptor xúc giác - Tác nhân kích thích: sự va chạm, áp suất, rung động được tiếp

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG SINH LÝ II – 2016

PHẦN I:

Câu 1: Trình bày cách phân loại RCT, phân tích đặc tính đáp ứng với kích thích đặc hiệu của RCT và cho ví dụ?

Receptor- bộ phận nhận cảm cảm giác có thể là một phân tử, một tế bào, một đám

tế bào, một tập hợp nhiều tế bào tạo thành một cơ quan

 Có nhiều cách phân loại RCT:

+ Theo tính chất giải phẫu

Tận cùng thần kinh tự do: đuôi gai trần VD: Cảm giác đau, nhiệt, xúc giác, ngứa, nhột

Tận cùng thần kinh có vỏ bọc mô liên kết VD: Xúc giác tinh tế

Tế bào, nhiều tế bào: tạo synap với neuron 1 VD: Thị giác, thính giác, vị giác, khứu giác

+ Theo vị trí

Receptor ngoài VD: Thị giác, vị giác, xúc giác, đau, nhiệt

Receptor trong VD: Nhận kích thích áp suất, đau tạng

Receptor bản thể VD: Vị trí cơ thể, cân bằng, chiều dài và sức căng cơ, vị trí các khớp

+ Theo nguồn kích thích VD: Cơ học, nhiệt, ánh sáng, hoá học, áp suất thẩm thấu + Theo tốc độ thích nghi

Chậm : Trương lực, tư thế VD: Duy trì điện thế khi vẫn còn kích thích

Nhanh: Khứu giác, vị giác VD: Giảm điện thế khi vẫn còn kích thích

+ Theo cảm giác mà nó tiếp nhận

 Đặc tính đáp ứng với kích thích đặc hiệu của RCT:

- Mỗi RCT chỉ đáp ứng với một kích thích đặc hiệu tới nó VD: RCT với nóng chỉ đáp ứng với nhiệt độ cao mà không đáp ứng với ánh sáng hoặc áp suất

- Tính đặc hiệu của cảm giác không chỉ liên quan đến tính đặc hiệu của kích thích mà còn liên quan đến tổ chức của hệ thống cảm giác, mỗi cảm giác đi theo con đường riêng và tận cùng ở những nơi xác định trong hệ TK Như vậy, cảm giác mang tính hệ thống chứ không phải chỉ ở mức độ tế bào Tính hệ thống thể hiện ở chỗ mục địch của nó là “dịch” các tín hiệu nhận được theo

“bản giải mã” được di truyền hay học tập được

- Theo tính hệ quả thì tác nhân kích thích là đặc hiệu không phải chỉ vì nó tác động lên RCT đặc hiệu với nó mà còn do nó không được RCT nào khác tiếp nhận Có một số tác nhân được gọi là tác nhân kích thích chung

VD: dòng điện kích thích lên tất cả các mô, tất cả các RCT do đó gây nên tất cả mọi cảm giác mà các loại RCT tiếp nhận

Trang 2

- Tuy nhiên, quy luật này không có giá trị tuyệt đối vì các đầu thần kinh tự do đều là nơi xuất phát của các cảm giác rất khác nhau và RCT cũng có thể đáp ứng với các kích thích không đặc hiệu với nó

VD: Ấn lên RCT lạnh gây cảm giác lạnh chứ không gây cảm giác về áp suất, ấn lên nhãn cầu gây cảm giác “nổ đom đóm mắt”

Các ví dụ trên cho thấy tác nhân cơ học, áp suất là tác nhân ít đặc hiệu

- Lý do khiến cho RCT đặc hiệu với kích thích là do ngưỡng kích thích của nó với kích thích tương ứng thấp

Câu 2: Trình bày cách phân loại RCT, phân tích tính thích nghi của RCT và cho

ví dụ?

Receptor- bộ phận nhận cảm cảm giác có thể là một phân tử, một tế bào, một đám

tế bào, một tập hợp nhiều tế bào tạo thành một cơ quan

 Có nhiều cách phân loại RCT:

+ Theo tính chất giải phẫu

Tận cùng thần kinh tự do: đuôi gai trần VD: Cảm giác đau, nhiệt, xúc giác, ngứa, nhột

Tận cùng thần kinh có vỏ bọc mô liên kết VD: Xúc giác tinh tế

Tế bào, nhiều tế bào: tạo synap với neuron 1 VD: Thị giác, thính giác, vị giác, khứu giác

+ Theo vị trí

Receptor ngoài VD: Thị giác, vị giác, xúc giác, đau, nhiệt

Receptor trong VD: Nhận kích thích áp suất, đau tạng

Receptor bản thể VD: Vị trí cơ thể, cân bằng, chiều dài và sức căng cơ, vị trí các khớp

+ Theo nguồn kích thích VD: Cơ học, nhiệt, ánh sáng, hoá học, áp suất thẩm thấu + Theo tốc độ thích nghi

Chậm : Trương lực, tư thế VD: Duy trì điện thế khi vẫn còn kích thích

Nhanh: Khứu giác, vị giác VD: Giảm điện thế khi vẫn còn kích thích

+ Theo cảm giác mà nó tiếp nhận

 Tính thích nghi của RCT:

- RCT có khả năng thích nghi một phần hoặc toàn phần đối với kích thích Với kích thích cảm giác liên tục, thoạt tiên RCT phát xung với tần số rất cao, sau đó phát xung chậm dần rồi cuối cùng có nhiều RCT không đáp ứng nữa

- Khả năng thích nghi tùy thuộc vào loại RCT:

+ Thích nghi rất nhanh: các tiểu thể Pacini

+ Thích nghi chậm: các RCT ở khớp và suốt cơ

+ Thích nghi sau 2 ngày: các RCT với áp suất ở ĐM cảnh và ở ĐM chủ

Trang 3

+ Không thích nghi: các RCT đau và RCT hóa học ở các tạng

- Thời gian tồn tại thích nghi của các RCT cũng khác nhau

VD: Vài phần trăm ở tiểu thể Pacini, trên một giây ở RCT chân lông…

- RCT thích nghi nhờ 2 cơ chế:

+ Thay đổi cấu trúc RCT VD: Khi thích nghi với nhìn sáng – tối, các tế bào nón và tế bào que trên võng mạc thay đổi nồng độ các chất nhạy cảm với ánh sáng ở bên trong tế bào; ở các tiểu thể Pacini thì kích thích làm biến dạng chất lỏng bên trong dẫn đến thay đổi áp suất nén vào sợi trung tâm của tiểu thể và gây ra điện thế RCT…

+ Phần đầu của sợi TK trở nên thích nghi, có thể do bất hoạt các kênh ở

màng Cơ chế này chậm hơn

Người ta cho rằng có cả 2 cơ chế trên tham gia vào đặc tính thích nghi của RCT

Câu 3: Trình bày RCT, đường dẫn truyền, trung tâm của cảm giác xúc giác Phân tích qui luật chi phối cảm giác của cảm giác xúc giác trên vỏ não (đối bên, lộn ngược, phân vùng)

 Receptor xúc giác

- Tác nhân kích thích: sự va chạm, áp suất, rung động được tiếp nhận bởi các receptor xúc giác

- Có nhiều loại receptor tiếp nhận cảm giác xúc giác Những receptor này phân

bố không đều và có khả năng thích nghi khác nhau - Các receptor xúc giác có liên quan với các receptor nhiệt và receptor đau

 Dẫn truyền cảm giác xúc giác

Từ receptor vào tủy sống

- Các xung động từ receptor theo các sợi cảm giác thuộc loại A có myelin và không myelin; hoặc sợi C không myelin

- Cảm giác xúc giác quan trọng giúp cho cơ thể xác định chính xác và nhanh chóng vị trí, cường độ và thay đổi cường độ kích thích được truyền nhanh

- Các cảm giác thô (ví dụ, về áp suất lên toàn thân, xúc giác thô sơ, ngứa) được dẫn truyền chậm

Từ tủy sống lên não

Thông tin xúc giác lên não theo một trong hai con đường:

* Bó gai - đồi thị sau (bó cung giữa): Dẫn truyền cảm giác xúc giác tinh tế, cảm giác rung, va chạm trên da, cảm giác về vị trí, cảm giác tinh tế về áp suất

- Sợi trục nơron thứ nhất đi lên theo cột trắng sau, tận cùng tại nhân thon

và nhân chêm ở hành não, tại đây nơron 1 làm synap với nơron 2

Trang 4

- Nơron thứ hai bắt chéo sang bên kia rồi tận cùng ở phức hợp bụng nền của đồi thị Tại đây nơron 2 làm synap với nơron 3

- Nơron thứ ba đi lên vùng cảm giác thân thể S-I của vỏ não Một ít sợi tới phần thấp ở mỗi bên thùy đỉnh (vùng cảm giác thân thể S-II)

* Bó gai - đồi thị sau có tính định hướng cao, các sợi trục được sắp xếp từ tủy lên đồi thị theo nơi xuất phát tương ứng

* Bó gai - đồi thị trước và bên:

- Sợi trục nơron thứ nhất vào sừng sau tủy

- Nơron thứ hai bắt chéo trong tủy, theo cột trắng trước – bên đi lên và tận cùng ở đồi thị, ở hành não, bó này chập vào bó gai - đồi thị sau Bó gồm các sợi có myelin, đường kính nhỏ, truyền xung động chậm không định hướng thật rõ nên cho cảm giác không chính xác bằng bó cung giữa Bó này dẫn truyền cảm giác xúc giác thô sơ, cảm giác về nhiệt độ, cảm giác đau, cảm giác về áp suất

 Trung tâm nhận cảm cảm giác xúc giác ở vỏ não

- Trung tâm nhận cảm giác xúc giác là vùng S-I và S-II của vỏ não cảm giác thuộc thùy đỉnh, nằm ngay phía sau rãnh trung tâm

- Nếu tổn thương rộng vùng S-I thì bệnh nhân không cảm nhận được sự thay đổi

áp suất lên cơ thể, không đánh giá đúng trọng lượng của vật, không nhận biết được hình dạng và tính chất bề mặt của vật Bệnh nhân vẫn nhận cảm được nóng – lạnh và đau nhưng không nhận cảm chính xác được về tính chất, cường

độ và nhất là vị trí của hai cảm giác này

- Vai trò của vùng S-II chưa rõ Vùng này nhận các sợi từ đồi thị, từ vùng S-I, từ nửa người bên kia và từ các vùng thị giác, thính giác tới

 Phân tích qui luật đối bên, lộn ngược, phân vùng của cảm giác xúc giác trên vỏ não:

- Qui luật đối bên: do cả 2 bó gai - đồi thị sau và gai đồi thị trước - bên đều bắt chéo nên cảm giác của nửa người bên phải được đưa về đồi thị và vỏ não bên trái và ngược lại Hay nói cách khác vỏ não phải nhận biết cảm giác nửa người bên trái và ngược lại

- Qui luật phân vùng: diện tích tích hình chiếu của một phần tỷ lệ với số lượng receptor có trên phần đó, tức là tỷ lệ thuận với số cảm giác và mức độ phân biệt tinh tế về cảm giác của phần đó

- Qui luật lộn ngược: trên vùng cảm giác của vỏ não, hình chiếu của các phần cơ thể lộn ngược (hình chiếu của đầu nằm ở phần thấp, phía ngoài còn phần của chi dưới lại nằm ở cao, phía giữa

Trang 5

Câu 4: Trình bày receptor, đường dẫn truyền, trung tâm của cảm giác nóng lạnh Phân tích cơ chế biện pháp hạ sốt cho BN bằng phương pháp chườm và dùng thuốc tác động lên trung tâm điều nhiệt?

 Receptor nhiệt:

- Tác nhân kích thích: Nhiệt độ

- Có 2 loại receptor nhiệt là receptor nóng và receptor lạnh Các receptor nằm

ở lớp nông của da, cách xa nhau, mỗi RCT nhận cảm ở một vùng có đường kính khoảng 1mm

- Số điểm cảm nhận lạnh nhiều gấp 3-10 lần số điểm nhận nóng

- Sự phân bố của receptor khác nhau ở mỗi vùng (Vùng môi: 15 – 25 RCT lạnh/cm2, ở ngón tay: 3 – 5RCT/cm2, ở thân: < 1RCT/cm2, sự phân bố RCT nóng cũng tương tự)

- Receptor nóng nằm sâu hơn so với receptor lạnh

- Receptor nóng phát xung khi đặt các đầu kim nóng lên, ngừng hoạt động ở nhiệt độ <20-25oC Hoạt động mạnh nhất ở khoảng 38-43oC Giới hạn cao nhất

là 45-47oC

- Người ta cho rằng khi bị kích thích, chuyển hóa của các receptor nhiệt tăng nhiều (cứ thay đổi 10oC làm tốc độ chuyển hóa tăng gấp 2) và sự thay đổi chuyển hoá làm cho các RCT hưng phấn

 Receptor lạnh:

- Hưng phấn khi đặt đầu kim lạnh lên

- Receptor lạnh hoạt động mạnh nhất ở 24-25oC Ngừng hoạt động ở 30-40oC

- Các sợi vào tủy theo rễ sau

- Trong tủy, các sợi đi lên hay đi xuống vài đốt tủy trong bó Lissauer rồi tận ở sừng sau

- Từ sừng sau, nơron thứ 2 bắt chéo sang tới bó gai đồi thị ở bên đối diện trước (bó xúc giác) và theo bó này lên tận tại chất lưới của thân não và ở phức hợp bụng nền của đồi thị

Trang 6

cơ thể người bệnh (khoảng 3 – 4 độ), RCT nóng đang chịu sức nhiệt của BN đang ở nhiệt độ cao hơn nó  RCT nóng không bị ảnh hưởng

Chườm ấm làm cho mạch máu dưới da giãn  tăng tuần hoàn máu đến ngoại

vi  tăng dẫn nhiệt từ trung tâm ra ngoại vi và thải nhiệt ra ngoài  BN có cảm giác dễ chịu, hạ sốt

- Khi thấy bệnh nhân sốt mà da căng đỏ thì nên chườm mát vì khi đó mạch máu dưới da đang giãn Khi chườm mát  kích thích RCT lạnh (RCT nóng bị ức chế), xung động được dẫn truyền theo sợi A có bao myelin và một số ít theo sợi

C lên vùng nhận cảm cảm giác lạnh ở vỏ não  cho BN có cảm giác mát, dễ chịu Đồng thời, xung động được truyền đến trung tâm chống nóng ở nửa trước VDĐ  hạ sốt

- Dùng thuốc hạ sốt  tác động lên nửa trước vùng dưới đồi (kích thích trung tâm chống nóng)  hạ sốt

Câu 5: Trình bày receptor, đường dẫn truyền, trung tâm của cảm giác đau Ứng dụng giải thích các biện pháp giảm đau trên lâm sàng?

Cảm giác đau là 1 cảm giác đặc biệt, khác với các cảm giác khác Cảm giác này thông báo cho não biết kích thích có hại cho cơ thể và cần có các cơ chế sinh lí và tâm

lý để loại trừ kích thích đó Cảm giác đau là một cảm giác phức tạp “Đau là một trải

nghiệm khó chịu về cảm giác cũng như cảm xúc do tổn thương có thực ở mô hoặc được cho là có tổn thương như thế gây ra”

Trang 7

Chúng được phân bố rộng rãi trên lớp nông ở da, niêm mạc và các mô bên trong như màng xương, thành động mạch, mặt khớp, màng não, lá thành bao quanh các tạng, đường dẫn mật

+ Các mô ở sâu có ít receptor đau nhưng nếu các mô này bị tổn thương rộng hoặc mạn tính thì vẫn có cảm giác đau do hiện tượng cộng kích thích

- Các loại receptor:

+ Các kích thích lên receptor đau là kích thích cơ học, hóa học và nhiệt + Hầu hết các receptor đau tiếp nhận mọi loại kích thích nhưng có những RCT nhạy cảm hơn với một kích thích nhất định

+ Các RCT đau còn chịu tác động của nhiệt độ quá cao hay quá thấp + Nói chung, các RCT đau nhận kích thích hóa học và nhiệt nhận các cảm giác đau cấp, còn mọi loại RCT đau đều nhận cảm giác đau mạn tính

 Nếu chỉ ức chế sợi Aδ thì mất cảm giác đau cấp

Nếu chỉ ức chế sợi C bằng thuốc tê tại chỗ thì mất cảm giác đau chậm

- Trong tủy, các sợi này đi lên hoặc xuống từ 1-3 đốt tủy và tận ở chất xám sừng sau

- Nơron 2 bắt chéo sang cột trắng trước-bên đối diện và lên não theo nhiều đường :

+ Bó tủy sống – đồi thị

+ Bó tủy sống – cấu tạo lưới, tận cùng ở hành não, cầu não, não giữa ở cả hai bên Từ cấu tạo lưới nằm ở các vùng này, có nhiều noron đi tới các nhân của đồi thị và một số vùng ở nền não, một số sợi đi lên hoạt hóa vỏ não

- Nơron 3 từ đồi thị lên nhiều vùng ở nền não và vùng cảm giác đau ở vỏ não

 Trung tâm:

- Đường dẫn truyền cảm giác đau tận cùng ở cấu trúc lưới của thân não, trung tâm dưới vỏ như nhân lá trong của đồi thị và vùng S-I, S-II, vùng đỉnh, vùng trán của vỏ não

- Cấu trúc lưới và trung tâm dưới vỏ vừa có chức năng nhận thức đau vừa tạo ra các phản ứng tâm lý khi đau

- Vỏ não có chức năng phân tích đau rất tinh vi, phân biệt vị trí, đánh giá mức độ đau

 Ứng dụng:

 Để giảm đau, có thể có các biện pháp như sau :

Trang 8

- Loại bỏ tác nhân gây kích thích VD : đá bóng bị chuột rút  cơ co rút chặt lại, chèn ép mạch máu  thiếu máu ở mô  dùng thuốc giãn cơ  giảm đau

- Bất hoạt các RCT VD : săm lông mày, dùng thuốc tê bôi lên Do các thuốc tê tổng hợp làm giảm tính thấm của màng tế bào với Na+, ngăn cản Na+ đi vào tế bào  tế bào không khử cực được  không hình thành điện thế RCT  không xuất hiện điện thế hoạt động  không dẫn truyền xung động đến trung tâm cảm giác đau

- Ức chế đường dẫn truyền VD: dùng thuốc tê đề giảm đau do thuốc tê làm giảm tần số phóng xung tác của các sợi cảm giác

- Ức chế trung tâm phân tích VD : BN được gây tê tủy sống trong sinh đẻ

- Ức chế trung tâm đau ở vỏ não VD : BN dùng thuốc ngủ  ức chế tất cả các phần của vỏ não, trong đó có trung tâm cảm giác đau (ở 4 vị trí)  giảm đau khi BN ngủ được

 Cơ chế của ức chế đường dẫn truyền (ức chế xung động từ RCT truyền vào hoặc xung động từ nơron này sang nơron kia) :

- Bất hoạt màng trước xinap : ngăn cản giải phóng các chất truyền đạt thần kinh

- Bất hoạt màng sau xinap : bất hoạt vị trí gắn đặc hiệu (RCT) trên màng sau xinap  các chất truyền đạt thần kinh dù được giải phóng nhưng ko được gắn lên các RCT  xung động không được dẫn truyền

- Cơ chế giảm đau bằng phương pháp xoa bóp:

+ Giảm tiết prostaglantin E2 ức chế RCT nhận cảm cảm giác đau  giảm đau + Tín hiệu đau đi cùng tín hiệu xúc giác, có các sợi thần kinh đi song song  tín hiệu này ức chế tín hiệu kia xoa bóp làm kích thích xúc giác vs cường độ mạnh  giảm đau

Câu 6: Trình bày receptor, đường dẫn truyền, trung tâm của cảm giác vị giác Ứng dụng phân tích vị trí tổn thương có thể có gây ảnh hưởng đến chức năng vị giác của BN trên lâm sàng?

Cảm giác vị giác cùng với khứu giác giúp phân biệt, lựa chọn thức ăn

 Receptor vị giác:

- Tác nhân kích thích: các phân tử hóa học trong thức ăn

- Trên lưỡi có 4 loại gai, 3 loại gai có nụ vị giác, 1 loại có các receptor cơ học Receptor vị giác là các nụ vị giác nằm trên các gai vị giác ở lưỡi

- Các nụ vị giác phân bố không đồng đều:

Một số lớn nằm ở các gai chỗ V lưỡi, một số ít hơn nằm ở các gai có hình nấm trên diện phẳng trước lưỡi, một số nằm ở các gai dọc 2 bên lưỡi Ngoài

ra, có một số nụ vị giác nằm rải rác ở vòm hầu, trụ màn hầu thậm chí ở gần đầu thực quản

Trang 9

- Người trưởng thành có khoảng 10000 nụ vị giác, trẻ nhỏ có ít hơn Từ 46 tuổi trở lên các nụ vị giác thoái hóa nhanh chóng làm cho khả năng phân biệt vị giác kém đi

- Các tế bào vị giác có chu kỳ sống khoảng vài ngày Các tế bào mới được phát sinh từ những tế bào đệm Sự tiếp xúc với nổn đi tới làm tế bào biểu

mô biến thành tế bào vị giác Nếu cắt đứt liên hệ thần kinh thì các tế bào vị giác mất đi

- Mỗi nụ vị giác có từ 40-60 tế bào vị giác là các tế bào biểu mô bị biến đổi

và các tế bào chống đỡ Mỗi nụ vị giác có 1 lỗ nhỏ; các phân tử hóa học của thức ăn qua lỗ này và đi vào trong nụ vị giác Các receptor nằm ở các vi nhung mao của tế bào vị giác hướng về những lỗ nhỏ

- Các nụ vị giác của 2/3 trước lưỡi nhận các sợi từ dây V, 1/3 sau lưỡi nhận các sợi của dây TK IX, các nụ ở hầu nhận của dây X

- Receptor vị giác có tính đặc hiệu nhất định

 Đường dẫn truyền:

- Điện thế HĐ được dẫn truyền theo các dây V, IX, X về nhân đơn độc

- Từ nhân này, Nơron 2 tới nhân bụng sau-giữa của đồi thị đối bên

- Từ đồi thị, nơron 3 đi tới vỏ não

- Mặt khác, từ nhân đơn độc, các xung động được truyền thẳng tới nhân nước bọt trên và nhân nước bọt dưới kích thích tiết nước bọt

 Trung tâm: vùng nhận cảm vị giác trên vỏ não nằm ở gần vùng cảm giác lưỡi trên vùng SI

 Ứng dụng:

Cảm giác vị giác đáp ứng khả năng phân biệt mùi vị, giúp lựa chọn thức ăn

Để thực hiện được chức năng này cần có cung phản xạ toàn vẹn, đầy đủ 3 thành phần, gồm : RCT, đường dẫn tuyền và trung tâm nhận cảm Nếu tổn thương 1 trong 3 thành phần nêu trên sẽ dẫn đến chứng mất vị giác

Các vị trí có thể gây ảnh hưởng đến chức năng vị giác :

- Tổn thương RCT : Bình thường, RCT vị giác là các nụ vị giác, nằm trên các gai

vị giác ở lưỡi, một số nằm ở màn hầu, trụ màn hầu, thậm chí gần thực quản Một số trường hợp do viêm nhiễm (candida, viêm lợi, viêm tuyến nước bọt, herpes simplex ), nhiệt độ thức ăn quá cao hoặc do các chất hóa học, xạ trị ở khoang miệng có thể làm tổn thương tới các nụ vị giác  mất vị giác

- Tổn thương đường dẫn truyền : Xung động được truyền từ RCT qua các dây thần kinh V, IX, X lên trung tâm nhận cảm vị giác, trong đó :

+ Dây V chi phối cảm giác vị giác 2/3 trước lưỡi

+ Dây IX chi phối cảm giác vị giác 1/3 sau lưỡi

+ Dây X chi phôi cảm giác vị giác ở hầu

Trang 10

==>Khi 1 trong 3 dây này tổn thương (hội chứng dây tam thoa, liệt dây thần kinh mặt, chấn thương sọ não, phẩu thuật tai giữa làm tổn thương dây thần kinh thừng nhĩ, bệnh loạn thần kinh dinh dưỡng gia đình, bệnh xơ cứng rải rác )  mất vị giác.

- Tổn thương trung tâm nhận cảm cảm giác vị giác ở vỏ não : vùng nhận cảm vị giác trên vỏ não nằm ở gần vùng cảm giác lưỡi, trên vùng SI Khi có 1 tác nhân nào đó gây tổn thương vùng nhận cảm cảm giác vị giác (do khối u chèn ép, tai biến não, )  mất vị giác Ngoài ra, khi BN bị tâm thần phân liệt, chấn thương

sọ não cũng gây mất vị giác

Câu 7: Trình bày receptor, đường dẫn truyền, trung tâm của cảm giác khứu giác Ứng dụng phân tích vị trí tổn thương có thể gây ảnh hưởng đến chức năng khứu giác của BN trên LS?

Khứu giác cho biết cảm giác về mùi

 Receptor khứu giác:

- Tác nhân kích thích: các phân tử mùi

- Là các tế bào lưỡng cực có nguồn gốc từ hệ TK trung ương

- Phía mặt trong các tế bào trông ra lớp niêm dịch có các nút; mỗi nút có 6 –

12 sợi lông khứu có đường kính khoảng 8 micromet và dài chừng 200

micromet Các sợi lông nằm trong lớp niêm dịch bao phủ mặt trong khoang mũi và tạo thành một lớp phủ dày Chính các sợi lông này là nơi tiếp nhận kích thích hóa học Rải rác giữa các tế bào khứu có các tuyến Bowmann bài tiết niêm dịch trên bề mặt của niêm mạc khứu Màng của sợi lông có nhiều phân tử protein xuyên suốt chiều dày của màng Các phân tử protein này có khả năng

gắn vào các phân tử mang mùi và khi gắn sẽ làm kích thích RCT khứu giác

 Đường dẫn truyền và trung tâm:

- Từ receptor vào hành khứu:

+ Hành khức là phần mô não phình ra ở trước nền não, nằm trên xương sàng + Các sợi thần kinh mảnh xuất phát từ niêm mạc khứu xuyên qua các lỗ xương sàng vào hành khứu Sợi trục của các tế bào khứu rất ngắn, tận cùng ở các tiểu cầu trong hành khứu Mỗi hành khứu có hàng ngàn tiểu cầu, là nơi tận cùng của khoảng 25 000 sợi trục từ tb khứu Tiểu cầu cũng là nơi tận cùng của các đuôi gai của khoảng 25 tế bào mũ ni có kích thước lớn và khoảng 60 tế bào nấm có kích thước nhỏ hơn, nằm phía trên tiểu cầu sợi trục của những tế bào này theo đường khứu vào hệ thần kinh Có thể là những tiểu cầu khác nhau đáp ứng với các mùi khác nhau

Các tb mũ ni và các tb búi phát xung liên tục giống tb khứu Kích thích mùi làm tăng hoặc giảm số xung cơ bản của các tế bào này, qua đó truyền cảm giác mùi về thần kinh

- Dẫn truyền từ hành khứu về não:

Trang 11

Tín hiệu khứu giác được truyền từ hành khứu về não ở chỗ giữa não giữa và đại não Tại đó, tín hiệu được chia làm 2 đường: 1 đường tới vùng khứu giữa (đường cổ nhất), 1 đường tới vùng khứu bên (đường cũ và đường mới)

+ Đường dẫn truyền cổ và vùng khứu giữa: vùng khứu giác gồm cnhóm

nhân nằm ở giữa nền não trước, phía trên vùng dưới đồi Nhân vách liên quan chặt chẽ với vùng dưới đồi và các phần khác của hệ viền Vùng này đáp ứng sơ đẳng với khứu giác

+ Đường dẫn truyền cũ và vùng khứu giác bên: vùng khứu giác bên có các

đường dẫn tới hầu hết các phần của hệ viền, đặc biệt là hồi hải mã là nơi có vai trò quan trọng nhất đối với quá trình học tập Đối với khứu giác, hồi hải

mã có lẽ có vai trò trong việc hình thành “ưa” hay “không ưa” một thức ăn nào đấy

+ Đường dẫn truyền mới: đi qua nhân lưng giữa của đồi thị đến vùng sau

bên của vỏ não vùng trán trước Vùng này có chức năng phân tích mùi 1 cách có ý thức

Tóm lại có môt hệ thống rất cổ chịu trách nhiệm về các phản xạ cơ bản với khứu giác, một hệ thống cũ chịu trách nhiệm kiểm soat tự động việc tiếp nhận hay tránh thức ăn nhờ trái nghiệm trong cuộc sống và có một hệ thống mới có tác dụng giúp cho việc nhận cảm mùi một cách có ý thức

Từ các trung tâm nhận cảm khứu giác lại có những sợi đi ngược trở lại về hành khứu, tận cùng tại các tế bào hạt ở trung tâm hành khứu Từ các tế bào hạt lại có các sợi đi tới ức chế các tế bào mũ ni và tế bào nấm Người ta cho rằng vòng feedback âm này có tác dụng giúp cho việc phân biệt một cách nhạy cảm và tinh tế

 Ứng dụng:

Cảm giác khứu giác cho biết cảm giác về mùi

Để có cảm giác khức giác cần có 1 cung phản xạ toàn vẹn, đầy đủ 3 thành phần gồm : RCT khứu giác, đường dẫn tuyền và vùng nhận cảm cảm giác khứu giác ở vỏ não

Các vị trí có thể gây tổn thương đến chức năng khứu giác gồm :

- Tổn thương bao Bowmann  dịch không được bài tiết  phân tử mùi không được hòa tan trong dịch  RCT khứu giác không được kích thích ( không xảy

ra hiện tượng khử cực màng RCT)

- Tổn thương tại các RCT :

RCT là các tế bào lưỡng cực có nguồn gốc từ thần kinh trung ương, nằm ở niêm mạc khứu (2 bên vách mũi) Vì 1 lí do nào đó (viêm mũi dị ứng, lệch vách mũi)

Trang 12

 các vi khuẩn, chất hóa học làm tổn thương RCT  RCT ko đảm nhiệm được chức năng của mình  ảnh hưởng đến khả năng ngửi

- Tổn thương đường dẫn truyền : Xung động được truyền theo dây I về vỏ não

Vì 1 lí do nào đó làm tổn thương dây I  xung động không được dẫn truyền

không ngửi được Tổn thương này có thể là do viêm dây I do độc tố của virus hoặc viêm mũi (các vi khuẩn vàm tổn thương dây I)

- Tổn thương tại trung tâm : Có 3 vị trí tổn thương ảnh hưởng đến khả năng ngửi + Vùng khứu giữa : các nhóm nhân nằm ở vùng nền não trước, trên vùng dưới đồi

+ Vùng khứu bên : quan trọng nhất là hồi hải mã

+ Vùng sau bên của vỏ não vùng trán trước

Nguyên nhân : do u chèn ép, chấn thương sọ não, sử dụng thuốc ngủ, thuốc gây mê,

Câu 8: Receptor, đường dẫn truyền, trung tâm, đặc điểm của cảm giác thị giác Phân tích tình trạng mất thị trường do tổn thương thị giác?

+ Vitamin A có sẵn trong tế bào nón và tế bào que là một con đường để tái tạo retinal 11 cis qua việc tái tạo retinol 11 trans Khi các tế bào võng thừa retinal thì sẽ được chuyển thành vitamin A Khi tế bào thiếu retinal thì vitamin A sẽ được chuyển thành retinal

+ Thiếu vitamin A sẽ dẫn đến thiếu retinal và gây bệnh quáng gà, gây khô giác mạc, làm giác mạc dễ bị tổn thương, dẫn đến mù lòa

Tế bào nón:

+ Nhạy cảm với ánh sáng màu có cường độ mạnh, giúp nhìn rõ các đường nét và màu sắc của vật

Trang 13

+ Chất nhận cảm màu trong tế bào nón là phức hợp của retinal và các photopsin + Có 3 loại photopsin khác nhau ứng với 3 bước sóng của 3 màu lam, lục và đỏ + Trong mỗi tế bào nón có chứa một loại photopsin nên mỗi tế bào nón chỉ nhạy cảm tối đa với một màu nhất định

+ Ba màu lam, lục, đỏ là 3 màu cơ bản, từ đó có thể tạo ra tất cả mọi màu bằng cách pha trộn chúng theo những tỉ lệ khác nhau Đấy chính là cơ sở của cơ chế nhìn màu Não sẽ dựa vào tỉ lệ các tế bào nón bị kích thích mà cho nhận định

về màu sắc và sắc độ của màu Ở người trong trường hợp bị mù màu là do thiếu một hay hai loại tế bào nón khiến cho không cảm nhận được màu tương ứng với bước sóng đặc hiệu của tế bào nón bị thiếu

- Hưng phấn ở receptor thị giác:

+ Khác với các loại receptor cảm giác khác, ở các tế bào nón và các tế bào que, khi bị kích thích thì các tế bào này lại sảy ra hiện tượng ưu phân cực (mặt trong màng càng âm hơn so với mặt ngoài do số ion natri đi vào ít hơn số ion natri đi ra)

+ Hiện tượng ưu phân cực xảy ra nhanh và tồn tại lâu nên cảm giác nhìn thấy vật tồn tại lâu hơn thời gian ảnh của vật tồn tại trên võng mạc Sự biến đổi điện thế

ở các receptor thị giác tỉ lệ thuận với logarit cường độ ánh sáng Điều này cho phép mắt có khả năng phân biệt độ sáng hơn kém nhau hàng nghìn lần Sự thay đổi điện thế ở các tế bào nón và tế bào que sinh ra dòng điện chạy trong bào tương từ điểm bị kích thích tới Synap (chứ không phải sự lan truyền của điện thế hoạt động vì quá trình không sinh ra điện thế hoạt động)

 Dẫn truyền cảm giác thị giác:

- Dẫn truyền tín hiệu trong võng mạc: Tín hiệu từ các tế bào nón và các tế bào

que được truyền tới các loại tế bào khác nhau ở các lớp của võng mạc (tế bào ngang, tế bào lưỡng cực, tế bào amacrin, tế bào hạch) Chất truyền đạt thần kinh ở tế bào nón là glutamat, tế bào ngang là GABA Các tế bào hạch khi bị kích thích sinh ra điện thế hoạt động Các sợi thần kinh thị giác xuất phát từ các

tế bào hạch dẫn truyền điện thế hoạt động này tới não

- Dẫn truyền tín hiệu trong hệ thần kinh trung ương: theo 2 con đường là đi

thẳng và bắt chéo Các tín hiệu rời khỏi võng mạc theo dây thần kinh thị giác, tới giao thoa thị giác thì tất cả các sợi phía thái dương của võng mạc bắt chéo sang bên đối diện và họp với các sợi phía gốc mũi (không bắt chéo) của võng mạc bên kia để tạo nên dải thị giác Các sợi của dải thị giác đi tới nhân gối sau bên Từ nhân này, các sợi đi theo tia thị giác tới vỏ não sơ cấp nằm ở thùy chẩm Do đó, trường nhìn bị mất ở các bệnh nhân bị tổn thương đường dẫn truyền thị giác phụ thuộc vào vị trí tổn thương

 Trung tâm nhận cảm thị giác trên vỏ não:

Trên vỏ não có các vùng nhận cảm thị giác sau:

Trang 14

- Vùng thị giác sơ cấp nằm ở thùy chẩm (vùng 17 trên bản đồ não của Brodman) nhận biết về độ tương phản, màu và chiều sâu Tổn thương vùng này làm mất cảm giác thị giác có ý thức nhưng vẫn còn được đáp ứng vô thức đối với thay đổi cường độ ánh sáng, chuyển động của ánh sáng như nhắm mắt, quay đầu, tránh nguồn sáng mạnh…

- Vùng thị giác thứ cấp (còn được gọi là vùng thị giác liên hợp) nằm ở phía trên, trước và dưới vùng thị giác sơ cấp (vùng 18 trên bản đồ của Brodman) Vùng này nhận các tín hiệu từ vùng 17 và có chức năng phân tích ý nghĩa của cảm giác thị giác (hình thể, hình dạng 3 chiều, chuyển động của vật, chi tiết và màu sắc của vật…) và các tính chất đó giúp nhận thức được vật là vật gì và ý nghĩa của nó Vùng thị giác thứ cấp có liên quan đến việc nhận biết chữ viết, đọc

Vỏ não còn tham gia chi phối cử động của các cặp cơ vận nhãn thông qua các dây thần kinh sọ II, IV, VI

- Ánh sáng từ tế bào nón, tế bào que được truyền tới các tế bào khác ở các lớp của võng mạc Tế bào hạch sinh điện thế hoạt động  xung động dẫn truyền theo bó lên thẳng (thị trường gốc mũi) hoặc theo bó chéo thị (thị trường thái dương) tới vùng nhận cảm thị giác ở vỏ não Tùy theo vị trí tổn thương mà dẫn đến các tình trạng mất thị trường khác nhau như sau:

+ Tổn thương tại vị trí A : mắt trái mất hoàn toàn thị trường, mắt phải bình

 Thị trường gốc mũi được dẫn truyền theo bó lên thẳng đến vỏ não đối bên do

đó không qua giao thoa thị giác  ko bị ảnh hưởng

+ Tổn thương tại vị trí C : mất thị trường thái dương phải và thị trường gốc mũi trái Vì : Đã đi qua vị trí bắt chéo nên tổn thương bên trái sẽ gây mất thị trường gốc mũi trái và thị trường thái dương phải

Trang 15

Câu 9: Receptor, đường dẫn truyền, trung tâm của cảm giác thính giác Ứng dụng phân tích vị trí tổn thương có thể gây ảnh hưởng đến chức năng nghe của

tế bào

+ Sóng âm làm rung cửa sổ bầu dục, làm màng này dao động và làm cho chất dịch chuyển động trong thang tiền đình và thang giữa theo cả hai chiều theo sự dao động của sóng âm Dịch chuyển động làm các tế bào nhận cảm chuyển động theo Mỗi tần số âm được nhận cảm ở một chỗ trên màng ốc tai:

 Âm có tần số cao được nhận cảm ở gần cửa sổ bầu dục

 Âm có tần số thấp được nhận cảm ở phần đỉnh của ốc tai

Màng đáy rung làm các sợi lông của các tế bào rung và va đụng vào màng mái, dịch trong ốc tai chảy qua lại và đè lên trên các sợi lông, làm các tế bào lông bị kích thích

+ RCT bị khử cực bởi dòng kali đi vào tế bào Khi các tế bào lông nghiêng về thang tiền đình thì các kênh kali mở ra và tế bào bị khử cực; khi nghiêng về hướng ngược lại thì các kênh kali đóng lại và tế bào bị ưu phân cực

 Dẫn truyền cảm giác thính giác:

Các sợi trục xuất phát từ cơ quan corti tới các nhân ốc tai trước và sau ở hành não Từ các nhân này, noron thứ 2 bắt chéo sang bên kia, qua thể thang tới nhân trám trên Từ nhân trám trên, tín hiệu được tiếp tục truyền qua các chặng rồi cuối cùng tận cùng ở vùng thính giác ở vỏ não Đường truyền thính giác có những đặc điểm đáng chú ý:

 Tín hiệu từ mỗi tai truyền về cả hai bán cầu đại não Tuy nhiên về bán cầu đối bên nhiều hơn một chút so với bán cầu cùng bên

 Đường dẫn truyền có tính định hướng cao

 Trên đường đi lên não, đường dẫn truyền thính giác cho các nhánh bên tới hệ thống lưới kích thích của thân não Từ hệ này có các sợi lan tỏa đi lên vỏ não, xuống tủy sống và kích thích toàn bộ hệ thống thần kinh trung ương khi có kích thích mạnh Ngoài ra còn có nhánh bên tới tiểu não và kích thích tiểu não khí

có sóng âm mạnh

 Trung tâm nhận cảm cảm giác thính giác:

Vùng nghe trên vỏ não chủ yếu nằm ở hồi thái dương trên

Trang 16

- Vùng nghe sơ cấp: là vùng nhận tín hiệu từ thể gối giữa tới, tổn thương vùng này thì không nhận cảm được âm thanh mặc dù cơ quan nghe bình thường

- Vùng nghe liên hợp: nhận các thông tin từ vùng nghe sơ cấp và từ các vùng của đồi thị, gần thể gối giữa Tổn thương vùng này vẫn nhận cảm được âm thanh nhưng không nhận thức được tính chất, ý nghĩa của âm

- Từ các vùng nghe của vỏ não có các đường đi xuống ốc tai, ức chế cơ quan corti, có tác dụng hướng sự chú ý vào các âm nhất định nào đấy mà bỏ qua các

 Tổn thương RCT: RCT là cơ quan Corti thuộc tai trong Tổn thương tai trong,

ốc tai hay hệ thống ống bán khuyên, nội dịch, ngoại dịch,…hoặc do vi khuẩn sinh ra độc tố  tổn thương RCT

 Tổn thương đường dẫn truyền: âm thanh được truyền đi theo dây TK tiền đình

- ốc tai, ở người già dây TK và các mạch máu nuôi dưỡng bị xơ hóa cùng với

sự đặc dần của các ống xương dẫn đến dây TK bị chèn ép, ngày một thoái hóa dần, hoặc do viêm dây TK do độc, viêm màng não,…

- Tổn thương trung tâm: trung tâm nhận cảm CG thính giác nằm ở hồi thái

dương trên, vì một lý do nào đó như khối u chèn ép, chấn thương sọ não hoặc dùng thuốc gây tê gây mê… tổn thương hồi thái dương trêngây mất khả năng nghe

 Ngoài các trường hợp tổn thương 3 thành phần của cung phản xa, chức năng nghe cũng có thể bị mất khi :

+ BN bị thủng màng nhĩ  không nghe được trừ những âm thanh có cường độ rất lớn

+ BN bị viêm tai giữa do các viêm nhiễm gây tổn thương chuỗi xương con  gây mất chức năng nghe

+ Một số dị tật bẩm sinh như chiết hẹp hay không có ống tai ngoài, bị dị dạng hay không có vành tai, vành tai dị dạng  khả năng nghe kém

+ Vệ sinh tai ngoài kém, không lấy ráy tai tạo thành nút ráy tai bịt kín 1 phần hay hoàn toàn ống tai dẫn đến điếc dẫn truyền

Câu 10: Receptor, đường dẫn truyền, trung tâm của cảm giác sâu Phân tích dấu hiệu của mất cảm giác sâu trong hội chứng Brown-Sequard (tủy sống bị cắt đứt 1 bên)?

Ngày đăng: 12/06/2017, 11:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w