Lý Thái Tổ đã viết trong chiếu rời đô rằng thành Đại La” ởtrung tâm bờ cõi đất nước được cái thế “rồng cuộn hổ ngồi”,vị trí ở bốn phương đông ,tây,nam,bắc,ở đó địa thế rộng mà bằng phẳng
Trang 1BÀI THUYẾT MINH HÀ NỘI-ĐẦM LONG
HÀ NỘI
Thưa các cô chú ,anh chị,xe của đoàn ta đang di chuyển trong thành phố Hà Nội.Trải qua rất nhiều những biến cố thăng trầm của lịch sử ,hơn 1000 năm,thủ đô ta mới mang tên là Hà Nội.Vậy cái tên Hà Nội có từ bao giờ? Và ý nghĩa của cái tên Hà Nội là gì ? Cháu xin được giải thích cùng các cô chú và anh chi.
Ban đầu Hà Nội có tên là “ Thăng Long”mang ý nghĩa “rồng vàng bay lên”.Theo truyềnthuyết kể lại rằng khi vua Lý Thái Tổ rời đô từ Hoa Lư về thành Đai La,ông đã nhìn thấyhình ảnh con rồng bay lên Lý Thái Tổ đã viết trong chiếu rời đô rằng thành Đại La” ởtrung tâm bờ cõi đất nước được cái thế “rồng cuộn hổ ngồi”,vị trí ở bốn phương đông ,tây,nam,bắc,ở đó địa thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa,dân cư khôngkhổ sở vì ngập lụt,muôn vật phong phú tốt tươi.Xem khắp nước Việt ta – chỗ ấy là caohơn cả, thật là chỗ hội hợp của bốn phương,là nơi đô thành bậc nhất của đế vương muônđời”
Cái tên Thăng Long được giữ làm tên gọi cho kinh thành trong suốt triều đại nhà Lý vànhà Trần sau này.Chỉ đến năm 1400, Hồ Qúy Ly lên ngôi vua,lập ra nhà Hồ mới quyếtđịnh đổi tên Thăng Long thành Đông Đô.Khi Giặc Minh sang xâm lược nước ta đã đổitên thành Đông Quan.Những giai đoạn sau này, kinh thành Thăng Long xưa mất vị thếkinh thành mà chỉ là Bắc thành,cho đến khi khởi nghãi Lam Sơn thắng lợi,Lê Lợi lênngôi vua , thành “Thăng Long” xưa lấy lại vị trí kinh thành , được đặt tên là thành ĐôngKinh
Cái tên Hà Nội được ra đời trong thời kì vua Gia Long ,năm Minh Mạng thứ 12, nhàvua
đã tiến hành một cuộc cải cách hành chính lớn, xóa bỏ Bắc thành và lập ra 29 tỉnh trựcthuộc Trung ương trong đó có tỉnh Hà Nội bao gồm 4 phủ và 15 huyện hợp thành.Vớidiện tích như trên,tỉnh Hà Nội xưa nằm trọn trong phạm vi bao quanh của hai con sông
là sông Hồng, và sông Đáy.Cái tên Hà Nội có nghĩa là”thành phố nằm trong sông”
Thời kì thực dân Pháp Xâm lược, toàn quyền Đông Dương đổi tên tỉnh Hà Nội thànhthành phố Hà Nội và thành phố Hà Nội chính thức được chọn làm thủ đô là sau cáchmạng tháng tám thành công,chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập tại quảngTrường Ba Đình khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa
Diện tích tự nhiên của Hà Nội tính đến ngày 1/8/2008 khi Toàn bộ tỉnh Hà Tây cũ và 3 xáTiến Xuân, Yên Bình,Yên Chung( huyện Lương Sơn-Hòa Bình), Mê Linh( Vĩnh Phúc)xác nhập vào Hà Nội là 334.470,02ha (3.344,7002km2) và dân số là 6.232.940 người
Thưa các cô chú và anh chị, xe của đoàn ta đang di chuyển vào đại lộ Thăng Long.
ĐẠI LỘ THĂNG LONG:
Đại lộ Thăng long là đại lộ được nâng cấp từ trục cao tốc Láng Hòa Lạc.Ban đầu Đại lô
có tên là đại lộ nghàn năm , Ngày 14,7,2010 HĐND Hà Nội đã nhất trí đặt tên trục đường
Láng – Hòa Lạc là Đại lộ Thăng Long
Đại lộ dài 28 km, rộng 140 m, gồm 2 dải đường cao tốc quy mô mỗi chiều 3 làn xe; 2 dảiđường đô thị 2 làn xe; dải phân cách giữa; 2 dải đất dự trữ và dải trồng cây xanh, vỉa hè
Trang 2Thiết kế cho xe chạy với vận tốc 70 km/h den 120 km/h Lưu lượng thông xe từ 1.500đến 2.000 xe/ngày.đêm
Đại lộ Thăng Long bắt đầu từ ngã tư giao cắt với đường Phạm Hùng Khuất Duy Tiến Trần Duy Hưng, đi qua qua địa bàn các huyện Từ Liêm, Hoài Đức, Quốc Oai và ThạchThất đến ngã tư giao với Quốc lộ 21A, nối liền trung tâm Thủ đô Hà Nội với các chuỗi
-đô thị vệ tinh Xuân Mai, Miếu Môn, Khu công nghệ cao Hoà Lạc, làng văn hoá các dântộc Việt Nam Dọc tuyến đường cũng sẽ phát triển nhiều khu đô thị mới, khu công nghiệphiện đại Ngoài ra, nó còn là cung đường mở đầu, nối với đường mòn Hồ Chí Minh tạiđiểm xuất phát đầu tiên là Hoà Lạc Láng - Hoà Lạc cũng hoà với các quốc lộ khác trongvùng như QL6, QL32, QL37, QL2… tạo thành mạng giao thông liên kết các vùng kinh
tế, an ninh, quốc phòng quan trọng ở phía Bắc của đất nước
Đây là công trình chào mừng 1000 năm Thăng Long –Hà Nội, đại lộ dài nhất hiện đạinhất nước ta
So với Đại lộ Champs-Élysées thủ đô Pháp (Chiều dài 1910 m, chiều rộng 70 m) thì Đại
lộ Thăng Long rộng gấp đôi, dài gấp 15 lần Chỉ có điều Champs-Élysées bắt đầu và kếtthúc với 2 quảng trường nổi tiếng là Quảng trường Concorde và Quảng trường Étoile.Thiển nghĩ ở hai đầu Đại lộ Thăng Long cũng nên có 2 Quảng trường xứng đáng
Đinh Tiên Hoàng đổi Phong Châu thành châu Quốc Oai Thời thuộc Minh, châu QuốcOai thuộc phủ Giao Châu Sau đó tỉnh Hà Tây cũ được hình thành bởi trấn Sơn Tây vàvùng Sơn Nam Thượng của trấn Sơn Nam, hai trong tứ trấn của kinh đô Thăng Long, HàTây có vị trí như cửa ngõ phía Tây, Đông Nam và Tây Bắc của kinh đô Thăng Long -Đông Đô trong quá khứ và thủ đô Hà Nội ngày nay Trong "Lịch triều hiến chương loạichí" có đoạn viết về Hà Tây: "Trấn Sơn Tây là một khu có hình thế tốt đẹp và chỗ đất cókhí thế hùng hậu Trấn Sơn Nam đất tụ khí anh hoa, tục gọi văn nhã thực là cái bìnhphong, phên chắn của Trung đô và là kho tàng của Nhà Vua "
Đến cuối thế kỳ 15, địa danh Hà Tây mới bắt đầu có những thay đổi liên tục, có khi là xứ,lúc là trấn hoặc tỉnh Đến 1830, triều đình mới cử một vị quan Tổng Đốc cai trị tỉnh HàTây; lúc ấy gồm cả Hưng Hóa và Tuyên Quang
Năm 1831, Pháp thành lập tỉnh Sơn Tây, gồm các phủ Quốc Oai (các huyện Đan Phượng,Thạch Thất), phủ Quảng Oai (các huyện Tiên Phong, Phúc Thọ, Tùng Thiện, Bất Bạt);phủ Vĩnh Tường (các huyện Yên Lãng, Yên Lạc, Bạch Hạc, Phù Ninh, Lập Thạch); phủLâm Thao (các huyện Sơn Vi, Thanh Ba, Hoa Khuê, Hạ Hoa); phủ Đoan Hùng (huyện
Trang 3Hùng Quan, Tây Quan, Sơn Dương, Tam Dương) Năm 1838 tách phủ Đoan Hùng thuộc
về tỉnh Tuyên Quang Năm 1890, trích lập tỉnh Vĩnh Yên Năm 1902, lập tỉnh Phúc Yên.Năm 1903, lập tỉnh Phú Thọ
Tỉnh Hà Đông được lập năm 1888, tỉnh lị ở làng Cầu Đơ, nên tỉnh lúc này gọi là tỉnh Cầu
Đơ, năm 1904, mới đổi tên là Hà Đông Vị trí của tỉnh Hà Đông nằm ở phía Tây sôngNhị Hà (đáng lẽ ra, theo lý đó, tỉnh này phải gọi là Hà Tây mới đúng, nhưng có lẽ nhữngngười đặt tên tỉnh lấy lý do là tỉnh này là đất văn vật như đất Hà Đông bên Trung Quốc).Tỉnh Hà Đông gồm 1 thị xã, tỉnh lị bên dòng sông Nhuệ và 9 huyện: Chương Mỹ, ĐanPhượng, Từ Liêm, Hoài Đức (mới đặt sau 1945) Mỹ Đức, Phú Xuyên, Thanh Trì,Thường Tín, Ứng Hoà
Năm 1963, hợp nhất hai tỉnh Sơn Tây và Hà Đông thành tỉnh Hà Tây, tỉnh lị vẫn ở HàĐông
Năm 1975 lại nhập với tỉnh Hoà Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình, tỉnh lị là Hà Đông
Năm 1977, cắt các huyện Hoài Đức, Đan Phượng, Thạch Thất, Phúc Thọ, Ba Vì và mộtphần huyện Chương Mỹ (phía Bắc đường số 6) nhập vào thành phố Hà Nội, cuối năm
1990, lại trả về tỉnh Hà Tây, lúc này, Hoà Bình cũng đã được tách ra khỏi Hà Sơn Bình.Tháng 12 năm 2006, Thủ tướng chính phủ ký nghị định thành lập thành phố Hà Đôngthuộc tỉnh Hà Tây với diện tích tự nhiên là 4.791,7ha, 228.715 nhân khẩu, có 15 đơn vịhành chính gồm bảy phường và tám xã Tháng 08 năm 2007, Thủ tướng Chính Phủ kýnghị định thành lập thành phố Sơn Tây, thuộc tỉnh Hà Tây, có 15 đơn vị hành chính gồmsáu phường và chín xã
Từ 1 tháng 8 năm 2008, toàn bộ diện tích, dân số của tỉnh Hà Tây được sáp nhập vào Hà Nội
Hà tây xưa kia đươc mệnh danh là “ cửa ngõ của thủ đô” ,Hà Tây vừa đóng vai trò là
“ thành lũy” bảo vệ thủ đô Hà Nội ở phái Tây đồng thời là hậu phương vững chắc cho Hà Nội trong chiến tranh Vị trí cửa ngõ kinh đô nước Việt trong suốt chiều dài lịch sử đã tạo nên một nền văn hoá truyền thống với một kho tàng di tích lịch sử - văn hoá đồ sộ và quý giá, xứng danh là đất tụ khí anh hoa, địa linh nhân kiệt với những con người và địa danh đã đi vào sử sách.Nơi đây còn lưu giữ rât nhiều những ngôi chùa cổ có hàng trăm năm tuối.Cháu xin được giới thiệu đến các cô chú và các anh chị hai ngôi chùa như thế
CHÙA THẦY:
Chùa thầy ( còn có tên là Thiên Phúc Tự) ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội, nơi thờpháp sư Từ Đạo Hạnh với 3 kiếp sống của ông.Ông là tăng, là phật, là vua và được nhândân coi là ông tổ của nghệ thuật múa rối nước Việt Nam
Vì sao ngôi chùa lại có tên là chùa thầy? Một cái tên rất dân dã đúng không ạ?Cháu xin được giải thích cùng các cô chú và anh chị
Sở dĩ ,chùa có tên là chùa thầy do chùa có liên quan đến những truyền thuyết liên quanđến thiền sư Từ Đạo Hạnh.chuyện xưa kể lại rằng :Từ Đạo Hạnh là con của đô sát TừVinh,mẹ là tăng thị Loan quê làng Lãng An ( Vĩnh Thuận)nay thuộc địa phận Láng- HàNội.Cha của Từ Đạo hạnh bị quan tri phủ giết hại.Ngay từ thủa nhỏ,cậu bé họ Từ đã khôingôi tuấn tú và có những hành động khác thường.Lớn lên cậu thi Bách Khoa Liên, đỗ đầunhưng không ra làm quan Vì mối thù của cha nên ông quyết tẫmuaats gia học đạo rồicùng các ngài giác Hải,Không Lộ sang tây hiên,ấn độ cầu pháp.Sau khi học được phépthuật , ông trở về chân núi Sài, ngày đêm tụng tập,Đến khi trả thù cho cha xong,niềm tục
Trang 4lắng trong,ông ở lại nơi đây giảng đạo,dạy học, hái thuốc ggiups dân.Ông còn tổ chứcnhiều trò chơi dân gian như múa rối nước , đánh cờ, đấu vật ,kéo co,bia…Nhân dân yêuquý kính phục gọi Ngài bằng Thầy.Từ đó chùa ngài tu được gọi là chùa thầy,núi Thầyhóa được gọi là núi Thầy,thậm chí tổng ngài ở cũng được gọi là tổng thầy
Chùa thầy ban đầu chỉ là am nhỏ mang tên Hương Hải Am do chính pháp sư từ đạo hạnhđặt tên khi đến tu ở đây Sau đó Lý Nhân Tông đã cho xây dựng lại gồm hai cụm chùa:chùa Cao (Đỉnh Sơn Tự) trên núi và chùa Dưới (tức chùa Cả, tên chữ là Thiên Phúc Tự).Đầu thế kỷ 17, Dĩnh Quận Công cùng hoàng tộc chăm lo việc trùng tu, xây dựngđiện Phật, điện Thánh; sau đó là nhà hậu, nhà bia, gác chuông
Về kiến trúc trước cửa chùa có hồ nước rộng gọi là Long Trì (ao rồng), giữa hồ có nhàthủy đình là nơi biểu diễn rối nước trong những ngày hội Hai bên cầu có hai chiếc cầulợp mái theo kiểu "thượng gia hạ kiều" (trên là nhà dưới là cầu) Bên trái là Nhật TiêuKiều thông ra tam phủ trên một đảo nhỏ giữa ao Rồng Bên phải là Nguyệt Tiêu Kiều bắcqua ao lên núi Toàn khu chính điện của chùa là một khuôn viên hình chữ nhật rộngkhoảng 40m, dài chừng 60m, gồm ba tòa nhà to dài xây song song hình chữ tam, có haidãy hành lang chạy kèm hai bên các đấu hối Nhưng kỳ lạ thay cả ba ngôi bảo điện hìnhchữ tam đồ sộ như thế mà chỉ có 36 lỗ đục, còn gỗ được xếp chồng lên nhau nhưng lại rấtvững chắc Hai bên toà chính điện là gác chuông và gác chính nhô cao lên khỏi hai dãyhành lang Đi tiếp là chùa Thượng, bàn giữa tượng Di Tà tôn ở trên, phía dưới là bệ đátrăm hoa (bách hoa đài) tạc từ thời Trần, trên để hòm sắc lịch triều tôn phong của thiền sư
Từ Đạo Hạnh, phía dưới cùng là tượng thiên sư nhập định trên tòa sen vàng, gian bên tráithờ tượng toàn thân thiền sư bằng gỗ chiên đàn đặt trong khám
Rời chùa chính qua Nguyệt Tiêu Kiều là cổng "Bất nhị pháp môn" để lên núi Đến lưngchừng núi là chùa cao (Hiền Thụy am) với hang thánh hóa là nơi thiền sư Từ Đạo Hạnhgiải thi (trục xác) Leo lên tới đỉnh núi sẽ thấy một khoảng đất bằng phẳng xung quanh cónhiều mô đá châu vào Đó là "chợ trời" Lại theo đường mòn chùa cao đi vòng về phíasau, qua lối rẽ là tới hang Cắc Cớ Từ hang Cắc Cớ lên, men theo sườn núi qua hàng đạigià là đặt chân tới đền Thượng, nơi thờ thánh Văn Xương, nơi hội họp của Đông KinhNghĩa Thục xưa kia Đi tiếp sẽ xuống đến chùa Bối Am, hay còn gọi là một chùa mộtmái Bên cạnh đó là hang Hút Gió, thềm đá Thái Lão, đến kỷ niệm Phan Huy Chú
Quần thể núi Sài gồm 16 quả núi lớn nhỏ (“thập lục sơn”) Núi Thầy được coi là núi mẹ Các núi con có tên như: Long Đẩu, Hoa Pháp, Thìn Sơn, Phượng Hoàng, Sơn Tượng… như một ổ rồng vờn, chầu về rồng mẹ (núi Thầy)
Theo thuyết phong thủy thì chùa Thầy làm giữa hàm con rồng Sân chùa là lưỡi rồng Haicầu Nhật Tiên Kiều và Nguyệt Tiên Kiều hình cong, là hai mí mắt rồng Hai ao con là 2 mắt rồng
Thưa các cô chú và anh chị, Khi nhắc đến Pháp sư Từ Đạo Hạnh chúng ta không thể không nhắc đến hệ thống bốn vị thánh thuộc “Tứ Bất Tử” trong tín ngưỡng dân gian của nước ta.Vậy bốn vị thánh ấy là những ai ạ?
Trong bốn vị trên, ba vị nam thần đầu tiên theo truyền thuyết có từ thời Hùng Vương, và
đã được thờ ở rất nhiều nơi từ rất lâu Riêng Mẫu Liễu Hạnh là phụ nữ duy nhất, mớiđược đưa vào hệ thống thần thánh từ đời Hậu Lê
Trang 5Nhiều giả thiết cho rằng bên cạnh 4 vị thánh kia, Tứ bất tử trong tín ngưỡng dân tộc Việttrước kia còn có 2 vị thánh khác là Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không.Nhưng sau đóThánh mẫu Liễu hạnh dần dần thay thế vị trí của hai vị này
Trong hệ thống các di tích tại chùa Thầy, khi tới đây các cô chú và anh chị không thể
bỏ qua tham quan một hang động đặc biệt , đó là hang Cắc Cớ.Cái tên hang Cắc Cớ
có ý nghĩa gì ạ?
Hẳn các cô chú và anh chị đã nghe đến hai câu thơ
“Gái chưa chồng trông hang Cắc Cớ
Trai chưa vợ nhớ hội chùa thầy”
Theo tương truyền hang Cắc Cớ tương truyền là nơi tuẫn tiết của tướng quân họ LãDương Tự- lã tướng quân , một trong thập nhị sứ quân bị vậy hãm trong hang núi.Bởivậy ,các nhà khảo cổ đã phát hiện ra trong hang Cắc cơ có tồn tại một bể xương cốtlớn.Người ta cũng kể lại rằng xưa kia hang cắc cớ chính là bà mai mát tay cho những cặpnam thanh nữ tú Hang cắc cớ là cái tên dân dã do bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hươngđặt Nữ sĩ Hồ Xuân Hương có một bài thơ nổi tiếng vịnh hang cắc cớ:
“Trời đất sinh ra đá một chòm
Nứt làm đôi mảnh hồng hòm hom
Kế hầm rêu mọc trơ toen hoẻn
Luồng gió thông reo vỗ phập phòm
Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm
Con đường vô ngạn tối om om
Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc
Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm”
Tương truyền Trai gái rất dễ nảy sinh tình cảm khi vào hang cắc cớ bởi đường dẫn vàohang tối tăm, âm u , tĩnh mịch bí hiểm đến rùng rợn khiến như con người như có cảmgiác vào chốn mê cung ma quái.Đây chính là cơ hội cho người con trai thể hiện bản lĩnhcủa mình, che chở , bao bọc , trấn an người con gái.Nhưng xưa kia quan niệm dân giancho rằng “ nam nữ thụ thụ bất thân” bởi vậy chỉ có đến dịp hội chùa Thầy(mùng 5- mùng
7 tháng ba âm lịch hàng năm ) các nam thanh nữ tú mới có dịp tự tình cùng nhau
CHÙA TÂY PHƯƠNG
Chùa Tây Phương một danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Hà Nội, một ngôi chùa mang giá trị nghệ thuật điêu khắc độc đáo và là nơi lưu trữ nhiều pho tượng Phật có giá trị.Chùa có tên chữ là Sùng Phúc tự, nằm trong một khu vực có cảnh trí thanh tao, trên đỉnh đồi Câu Lậu ở xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất
Theo những tài liệu sử cũ còn ghi lại, núi chùa Tây Phương tên cổ gọi là núi Ngưu Lĩnh Theo truyền thuyết phong thủy, thềm núi Ba Vì về phía Nam có dãy núi đất chạy xuống huyện Quốc Oai tựa như đàn trâu, có một quả núi như quay lại đón nước sông Tích phát nguyên từ các dòng suối Ba Vì chảy xuống quả núi đó được gọi Ngưu Lĩnh sơn (núi con Trâu)- chính là núi chùa Tây Phương ngày nay Chính vì thế, chùa Tây Phương hiện nay với kiểu kiến trúc cổ Việt Nam mang dáng dấp “thượng sơn lâu đài, hạ sơn lưu thủy”, là nơi địa linh của non sông đất nước ta
Trang 6Về lịch sử, theo nhiều tài liệu, Chùa Tây Phương được xây dựng từ lâu đời nhưng chùa
do ai làm và làm từ bao giờ thì đến nay chưa xác minh được Theo thời gian và do chiến tranh tàn phá, chùa đã nhiều lần được trùng tu vào các thế kỷ XVI, XVII, XVIII với các dấu mốc được ghi lại cho tới ngày nay Năm 1554, chùa được xây lại trên nền cũ Năm
1632, chùa xây dựng thượng điện 3 gian và hậu cung cùng hành lang 20 gian Năm 1660,Tây Đô Vương Trịnh Tạc cho xây lại chùa mới Đến năm 1794 dưới thời nhà Tây Sơn, chùa lại được đại tu hoàn toàn với tên mới là “Tây Phương Cổ Tự” đồng thời cho đúc một quả chuông nặng 200kg Trong chiến tranh chống Pháp, chùa bị hư hỏng nặng và được các cơ quan chức năng tiến hành trùng tu Khi tiến hành thi công dỡ ba ngôi chùa, người ta phát hiện thấy trên nóc giữa các ngôi chùa có những dòng chữ đục chìm vào gỗ, ghi lại niên đại làm chùa Ở nóc ngôi chùa Thượng ghi: “Năm Giáp Dần quý đông tạo” nghĩa là năm Giáp Dần tháng 12 làm chùa Ở nóc ngôi chùa Trung ghi “Giáp Dần quý đông cát nhật, Canh Tý mạnh thu cát nhật tu lý” nghĩa là năm Giáp Dần tháng 12 ngày tốtlàm chùa, Năm Canh Tý tháng 7 ngày tốt tu sửa chùa Ở nóc ngôi chùa Hạ ghi “Canh Tý trọng thu cát nhật tu lý” nghĩa là năm Canh Tý tháng 8 ngày tốt tu sửa chùa
Từ chân núi để lên tới cổng chùa chính phải qua 239 bậc đá ong Chùa gồm ba nếp nhà song song được xây dựng theo lối kiến trúc kiểu chữ Tam gồm Chùa Hạ, chùa Trung, Chùa Thượng, tạo thành một quần thể uy nghi vững trãi Mái chùa được lợp hai lớp ngói
và trạm trổ tinh tế Tường xây bằng gạch Bát Tràng nung đỏ để trần, kết hợp hài hòa với màu sắc của gỗ đá trong khuôn viên chùa Các hình khối kiến trúc cộng với những đườngnét chạm sắc tinh tế, tỉ mỉ đã tạo cho ngôi chùa thành một tổng thể hài hòa và hoàn mỹ
Chùa Tây Phương còn là nơi tập trung nhiều pho tượng Phật đựơc coi là những kiệt tác hiếm có của nghệ thuật điêu khắc tôn giáo Theo một số tài liệu lịch sử, nguồn gốc ra đời của những pho tượng Phật trong chùa Tây Phương chính là hiện thực cuộc sống nghèo nàn khổ cực và nạn đói mà nhân dân phải chịu ở thế kỷ 18 Chùa có 72 pho tượng được tạc bằng gỗ mít sơn son thếp vàng trong đó 18 pho tượng thuộc nhóm La Hán chính là hình tượng đã được các nghệ nhân điêu khắc mượn sự tích tu hành của các vị đệ tử Phật nhằm mô tả những con người sống trong xã hội đương thời Dưới bàn tay tài hoa của các nghệ nhân dân gian, các pho tượng hiện ra mỗi người một vẻ, một phong cách khác nhau với những đường nét, hình khối,dáng điệu vô cùng sinh động Mỗi pho tượng ở đây có sựhài hòa nội tâm và ngoại hình, mang biểu tượng một nỗi đau khôn nguôi của con người: buồn vui lẫn lộn, suy tưởng, giả say, thiếu ngủ… Nét mặt khắc khổ từ bi, từng nếp nhăn trên vầng trán, từng mạch máu đường gân thớ thịt, khớp xương, đôi môi, con mắt đến trang phục xiêm y đều được bàn tay nghệ nhân khắc họa diệu kỳ Chẳng thế mà thi sĩ Huy Cận, nhân khi về thăm Chùa đã sáng tác nên áng thơ nổi tiếng “Các vị La Hán Chùa Tây Phương”:
“Các vị La Hán chùa Tây Phương
Tôi đến thăm về lòng vấn vương
Há chẳng phải đây là xứ Phật,
Mà sao ai nấy mặt đau thương ?”
Trang 7Hệ thống tượng ở chùa Tây Phương gồm bộ tượng Tam Thế Phật, bộ tượng Di-đà Tam Tôn, tượng Tuyết Sơn, Đức Phật Di lặc, tượng Văn Thù Bồ Tát, tượng Phổ Hiền Bồ Tát, tượng Bát Bộ Kim Cương và 16 pho tượng Tổ Pho tượng Tuyết Sơn thường được du khách đặc biệt chú ý vì đây là pho tượng miêu tả đức Phật thích ca trong thời kì khổ hạnh
“đây vị xương trần chân với tay”, một pho tượng tĩnh lặng chìm trong suy tưởng
Chùa Tây Phương là địa chỉ thăm quan hàng năm của rất nhiều Phật tử và khách vãng lai trên mọi miền Tổ quốc, trong đó đông đảo nhất phải kể tới dịp Hội Xuân Hội chùa Tây Phương bắt đầu từ mồng 6 đến mồng 10 tháng 3 Âm lịch Ca dao xưa còn ghi lại cảnh nô nức đến chùa:
“Nhớ ngày mồng sáu tháng ba,
Ăn cơm với cà đi hội chùa Tây”.
Vào dịp này, người dân Thạch Xá nơi có phương múa rối nước từ lâu đời thường tổ chức biểu diễn để phục vụ khách dự hội Trải qua bao biến đổi của lịch sử, tượng La Hán, KimCương chùa Tây Phương đã để lại trong lòng mỗi du khách những ấn tượng sâu đậm về nền nghệ thuật cổ Việt Nam Với giá trị độc đáo về mặt nghệ thuật kiến trúc và Phật học, chùa Tây Phương đã được Bộ Văn Hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia từnăm 1962
Hà Tây- mảnh đất cửa ngõ của thủ đô ngoài là nơi có rất nhiều những ngôi đền, chùa chứa đựng trong nó những truyền thuyết , thì nơi đây còn là miền đất của trăm nghề.Nơi đây có rất nhiều những làng nghề nổi tiếng như : lụa Vạn Phúc, the lĩnh La Khê, khảm Chuyên Mỹ, sơn mài Duyên Thái, nón Chuông, tiện gỗ Nhị Khê, mộc Chàng Sơn
NÓN LÀNG CHUÔNG:
Chiếc nón xuất hiện ở Việt Nam từ thế kỷ XIII (thời nhà Trần) Từ đó đến nay, nón gắn
bó với người Việt Nam, không phân biệt giới tính và tuổi tác Đặc biệt, nón là người bạn thân thiết của phụ nữ Việt Nam Có lẽ vì thế mà nón được coi là một không những biểu trưng của người Việt Nam
Trong dân gian vẫn còn lưu truyền về sự tích chiếc nón lá, gắn với huyền thoại về người mẹ.Sự tích kể rằng: Ngày xưa có một bà cao lớn, trên đầu đội bốn cái tàu lá tròn như bầu trời được cài với nhau bằng mấy cái que.Bà xuất hiện khi trời đổ mưa như trút , con người không có chỗ trú tân.Bà rất nhân từ, đi đến đâu mưa thuận gió hòa đến đó.Bà chỉ cần xoay mấy tàu lá trên đầu là mây mù thi nhau trốn chạy, con người đi theo bà ,bà dạy cho cách trồng cây để sinh sống.Thế rồi một hôm bà bay về trời.Để tưởng nhớ công lao của bà, con người suy tôn bà là chúa Che và bắt chước bà đi tìm những lá trò tán rộng tết lại với nhau thành hình chiếc nón tròn như bầu trời xanh để đội đầu che mưa nắng
Ở Việt Nam có nhiều loại nón nổi tiếng như nón Lai Chấu của đồng bào Thái, nón sơn Cao Bằng của đồng bào Tày, nhẹ nhàng thanh thoát nhờ lót bằng lá mỏng là nón của các
cô gái Huế , vừa thanh tú, vừa bền của các cô gái Bình Định Nhưng chắc hẳn, ai cũng biết ở vùng đồng bằng Bắc Bộ có một trung tâm làm nón nổi tiếng cả nước và ngày nay cũng vẫn còn là một làng nón lưng danh, đó là nón làng Chuông ( nay thuộc huyện Thanh
Trang 8Oai, Hà Tây ) Ca dao có câu:
Muốn ăn cơm trắng cá mè
Muốn đội nón tốt thì về làng Chuông.
Đã từ bao đời nay, phụ nữ ở làng Chuông đã tự hào truyền cho nhau cái tài khéo léo nổi tiếng khắp vùng, biến những dải lá gồi non xù xì, quăn queo, nhưng cuộn sợi móc, sợi dứa rối mù thành những chiếc nón phẳng phiu duyên dáng Người cao niên trong làng không còn nhớ được nghề nón đã bắt đầu từ cách đây bao nhiêu đời, và ai là vị tổ của cái nghề thủ công quý báu này Nhưng với hoạt động nhộn nhịp và tính chất tinh xảođến điêuluyện của nghề nón làng Chuông, với sự có mặt của nó trong ca dao cổ, có thể phỏng đoán được bề dày lịch sử của nón làng Chuông
Theo các cụ cao tuổi trong làng kể lại thì khoảng gần một thế kỷ trước, làng Chuông chưabiết đến những kiểu nón hình chóp nhọn như hiện nay Thời ấy, làng Chuông chỉ chuyên làm loại nón vành rộng tròn và phẳng như một cái mâm Ở vành ngoài cùng có một đường thành nhô cao lên, chạy suốt vòng quanh làm cho cái nón có hình như một cái chiêng lớn Giữa lòng nón, có đính một cái "khua" hình như một cái đấu, đan bằng giang vừa đủ ôm khít lấy
đầu người đội Những chiếc nón cổ có vành rộng này được làm bằng một thứ lá gồi nhỏ, sắc vàng thường gọi là lá hồ hay lá già Lá hồ được người ta đi lên tận những cánh rừng Việt Bắc đẵn và đóng bè chuyển về Khuôn để đựng lên nón thì mua ở chợ Chuông Còn cái khua đan bằng giang thì đã có bà con làng Lựa ở gần đó chuyên sản xuất rất kheo, lúcnào cũng đủ để bán cho dân làng Chuông đính vào những chiếc nón cổ Thứ nón cồ này theo các cụ kể, chia làm ba loại : nón Mười, nón Nhỡ và nón Đấu
Nón Mười, còn gọi là nón "ba tầm" là loại nón đẹp Nó có vành rộng nhất, sườn nón cũngcao nhất so với nón Nhỡ và nón Đấu Hơn thế nữa, lá để làm nón Mười là những chiếc lá nõn nà được người làng Chuông chọn lựa cẩn thận, bởi đây chính là loại nón hội hè Ở thôn quê, các cô gái trẻ thường đội nón ba tầm đi chơi hội, tua hoa phơ phất bên mái tóc, quai thao thả trễ tràng trước ngực, càng làm tăng vẻ có duyên của những chiếc váy lĩnh mới và những dải thắt lưng nhiễu màu rực rỡ Các cụ bà lên chùa xem đám cũng đội nón
ba tầm Đặc biệt nơi đất kinh kỳ, nón ba tầm của làng Chuông rất được ưa chuộng
Người dân làng Chuông đã trổ hết tài năng khéo léo của mình vào những chiếc nón Mườiđạưc biệt để đáp ứng nhu cầu, sự tinh đời của kẻ chợ Họ chọn những chiếc lá mỏng, sống nhỏ, màu trắng ngà lợp trên những chiếc khuôn riêng, lại khâu kỹ càng bằng một thứ móc trắng và săn như cước
Nón Nhỡ ( được gọi là nón Ngang ) là loại nón nhỏ hơn và giản dị hơn nón Mười, thườngđội đi làm đồng Nón Đấu là loại nón bé nhất và sườn thành cũng thấp nhất
Vào mấy thập kỷ gần đây, theo những nhu cầu mới của trang phục, làng Chuông bỏ dần việc sản xuất nón Mười, nón Nhỡ, nón Đấu, rồi tới đi bỏ hẳn để chuyển sang các loại nónchóp nhọn Nón chóp nhọn của làng Chuông vẫn đội ngày nay có nhiều loại như nón Xuân Kiều, nón Thanh, nón vàng mau, nón vàng mau, nón vàng thưa, nón bài thơ Việc
Trang 9phân loại nón căn cứ theo cỡ khuôn, theo loại lá, loại sợi khâu thắt và theo những yêu cầutrang trí nghệ thuật trong lòng nón, ở cạp nón và giữa những chiếc lá của nón.
Nón làng Chuông cần 16 đến 20 vòng tròn, vót vòng đòi hỏi sự khéo léo, cần mẫn để sao cho chiếc vòng chuốt phải đều và nhẵn, đặc biệt chỗ nối là một nghệ thuật để người ta thấy như một đường liền Để có được cái khuôn đẹp cũng là một nghệ thuật "Đẹp nón nhờ người thắt, đẹp mặt nhờ khuôn", bởi vậy, những chiếc khuôn nón do dân làng Lựa làm ra có một tầm quan trọng to lớn đối với vẻ đẹp của chiếc nón làng Chuông Nhưng, khuôn đẹp mà tay người xếp lá, thắt móc lại vụng thì khuôn đẹp cũng bằng không Do đó,
sự hợp tác gắn bó giữa những bàn tay khéo léo của hai làng thủ công này cứ tiếp diễn từ thế hệ này sang thế hệ khác một cách rất hoà hợp Khuôn tốt giúp cho thợ thủ công làng Chuông vốn đá khéo xếp lá có thể lợp nên những mái phẳng phiu, mượt mà Tiếp đó, là việc khâu chặt lá vào vòng tròn vành, khâu nón bao giờ cũng bắt đầu từ đỉnh nón trở xuống, những vết khâu phải đều tăm tắp, khi gần hết sợi phải nối tiếp bằng sợi khác Cái tài của người làng Chuông là các mối nối sợi đã được dấu rất kín một cách khéo léo, khiến khi nhìn vào chiếc nón chỉ thấy tăm tắp những mắt sợi mịn màng tưởng như chiếc nón đã được khâu bằng một sợi dài Chiếc nón khâu xong ở vòng ngoài cùng bao giờ cũng có một vòng cạp, cạp ở phía trong để giữ độ bền chiếc nón
Đối với những chiếc nón làng Chuông được thửa đặc biệt, lòng nón ở trên đỉnh còn được đính gương sôi, và toàn bộ phía trong chiếc nón được bọc bằng một lượt giấy bóng kính rất mỏng và mịn khâu sát vào nón Trong lúc khâu nón, các cô gái làng Chuông thường tìm cách làm cho chiếc nón của mình có thêm những màu sắc vui mắt
Đơn giản nhất là đem dán vào trong lòng nón những miếng "hoa nón" nhiều màu sắc Tinh tế hơn là họ dùng chỉ màu để "lồng nhôi" Lồng nhôi tức là lấy chỉ hồng khâu giăng mắc ở hai diểm đối diện nhau trong lòng nón, phía gần cạp, để từ đó có thể buộc cái dải lụa vào làm
quai nón, lồng nhôi vừa có ý nghĩa thực dụng lại vừa có ý nghĩa thẩm mỹ kín đáo Công phu nhất, có nghệ thuật nhất và có nhiều ẩn ý nhất là sự trang trí giữa lòng những chiếc nón bài thơ Giữa hai lớp lá mỏng, người làng Chuông gài những hình trổ của dân gian, hình ảnh của quê hương đất nước, và đôi khi mấy câu thơ Tất cả những lời thơ, những hình ảnh đầy thi tứ ấy được gửi gắm một cách khéo léo và tinh tế vào chiếc nón bài thơ,
mà chỉ khi nào soi lên trong ánh sáng thì mới mới có thể cảm nhận, hiểu và gắn bó với
nó Có lẽ vì thế mà chiếc nón bài thơ thường được làm quà tặng, vật kỷ niệm cho nhau
Nó chính là tâm hồn, là tình cảm của người gửi và gợi sự lưu luyến, xao xuyến trong lòngngười nhận
Với người Việt Nam, chiếc nón đã gắn bó mật thiết nên nón đivào bài thơ vào nhạc một cách tự nhiên Nón không chỉ là vật che mưa, bạn, che nắng, nón còn thay quạt lúc trưa
hè, nón làm cơi đừng trầu khi gặp bạn, nón là lá chắn khi bạn bè chòng ghẹo Chẳng những thế mà khách nước ngoài khi kết thúc một chuyến đến Việt Nam hình như ai cũng muốn có một vài cái nón trong hành trang khi về nước
Trải qua bao năm tháng, nghề làm nón ở làng Chuông đã trở thành một nghề thủ công mỹ
Trang 10nghệ cổ truyền Cùng với các vùng làm nón khác, nó đã góp phần vào việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
Nón Làng chuông rất đa dạng về sản phẩm, ngoài sản phẩm nón lá trông thường 0 nón nhọn, làng Chuông còn là nơi sản xuất ra những chiếc nón quai thao.Hành ảnh chiếc nón quai thao với vẻ đẹp độc đáo, quai nón màu hồng, được gắn thêm 2 chùm dây tua chỉ sợi tơ, nhuộm màu vàng đỏ, dành riêng cho thiếu nữ làng quê luôn gắn liền với một nét văn hóa truyền thống rất riêng biệt của người dân xứ Kinh Bắc.Đó là hát quan họ.Chiếc nón như chiếc cầu nối giữa hai miền quê văn hóa, đất trăm nghề
và đất của quan họ.Vậy Quan họ là gì ?
Nguồn gốc của cái tên Quan họ có rất nhiều những cách giải thích khác nhau mà đến nayvẫn chưa có sự thống nhất.Cháu xin được điểm qua một số cách giải thích về nguồn gốccủa những cái tên này Người vùng Quan họ thường giải thích bằng trí nhớ truyền miệngnhững thuyết tồn tại lâu đời ở làng mình
Người vùng Bịu (Hoài Thị, Bịu Sim huyện Tiên Du cũ) và vùng Diềm (Viêm Xá, huyệnYên Phong), vốn là hai nơi kết bạn Quan họ bền vững, lâu dài nhất cho rằng gọi là hátQuan họ vì tiếng hát ấy là tiếng hát giữa hai họ nhà quan kết bạn với nhau Truyền thuyếtgắn tiếng hát với một người có thật trong lịch sử là Trạng Bịu, tức Nguyễn Ðăng Ðạo, đỗtrạng nguyên khoa 1684, người Hoài Thượng, huyện Tiên Du, cho rằng ông có công đặt
ra cách ca hát Quan họ
Người vùng Châm Khê (Bùi Xá, huyện Yên Phong) truyền rằng: lối hát Quan họ là lốihát giữa quan viên họ nhà trai và quan viên họ nhà gái Vậy, tiếng hát của quan viên hai
họ được gọi tắt là hát Quan họ
Người vùng Chè, Quả Cam, Thị Cầu lại gắn tiếng hát Quan họ với những truyềnthuyết Chuyện rằng: Chúa Trịnh Sâm đi du xuân, thấy một người con gái đang cắt cỏtrên núi Chè (có nơi kể là núi Long Khám, có nơi kể là núi Qủa Cảm ) vừa cắt cỏ vừahát:
“Tay cầm bán nguyệt xênh xang Bao nhiêu cây cỏ lai hàng tay ta”
Tiếng hát hay khiến quan quân phải họ lại (dừng lại) để nghe Thấy người đẹp, hát hay,bài hát lại chứa đựng khẩu khí "trị, bình", chúa vời về cung, trở nên bà chúa Dân giancho là tiếng hát kia tạo nên sự may mắn, hạnh phúc nên đua nhau hát, nên tiếng hát lanrộng, ngày càng bầy đặt ra nhiều, trở thành lối hát gọi là hát Quan họ
Trang 11Cũng gần giống truyền thuyết trên nhưng lại gắn với cuộc du xuân cầu duyên, cầu tự của
Lý Thánh Tông qua vùng Cầu Lự, Siêu Loại (Thuận Thành) và cô gái hát ấy là ỷ Lan, sauthành nguyên phi, rồi hoàng hậu, rồi hoàng thái hậu nhà Lý Người vùng Hồi Quan (naythuộc huyện Tiên Sơn) lại kể rằng: Lý Công Uẩn chạy giặc, dân muốn cản quân quangiặc nên ùa ra đường hát làm quan quân phải họ lại, dừng lại, để Lý Công Uẩn chạythoát Tuy chi tết khác nhau, nhưng các truyền thuyết trên đều giải thích Quan họ làtiếng hát làm quan quân phải họ lại, dừng lại
Như vậy, qua truyền thuyết dân gian, ít nhất, tên gọi Quan họ được giải thích bằng 4nghĩa:
• Tiếng hát họ nhà quan
• Tiếng hát quan viên hai họ trong đám cưới
• Tiếng hát hay, làm quan quân họ lại, dừng lại
• Tiếng hát giữa hai làng kết chạ, kết họ, do một vị quan nào đấy tác thành
Thưa các cô chú và anh chị, hình ảnh nón lá ở nước ta luôn gắn liền với hình ảnh của những tà áo dài thiết tha.Và những tà áo dài ấy được may từ lụa của mộ làng nghề rất nổi tiếng Đó là làng lụa Vạn Phúc
LỤA VẠN PHÚC:
Có nhiều truyền thuyết kể lại lịch sử hình thành làng lụa nổi tiếng này Thuyết được nhiều người tương truyền nhất, nói rằng bà tổ làng Lụa Vạn Phúc vốn người Hàng Châu (Trung Quốc) theo chồng chinh chiến Bắc Nam, rồi neo lại làng này Nỗi nhớ quê hương
da diết của bà trút hết vào nghề tầm tang, canh cửi nơi dòng Nhuệ giang êm đềm tha thiết Ngày nối ngày, đời trải đời và nghề dệt trở thành “truyền thống” của làng Vạn Phúc Một số thuyết khác, có nói rằng truyền thuyết nghề dệt lụa ở Vạn Phúc có từ hơn ngàn năm trước, do một vị tổ sư tên Lã Thị Nga, dòng dõi Hùng Vương, truyền dạy Để ghi nhớ công ơn, dân làng tôn bà làm Thành hoàng, tổ sư nghề dệt, thờ tại đình làng Vạn Phúc, lấy ngày 10 tháng Tám âm lịch, ngày sinh của bà và 25 tháng Chạp âm lịch, ngày mất của bà, làm ngày tế lễ và giỗ tổ hàng năm Thêm một thuyết khác nói rằng, cách đây khoảng 1200 năm, bà A Lã Thị Nương, một người con gái ở Cao Bằng nổi tiếng đảm đang và có tay nghề dệt lụa khéo léo về làm dâu làng Vạn Phúc Như vậy, theo các truyềnthuyết thì làng lụa Vạn Phúc có thể ra đời vào khoảng thế kỉ thứ 9 và tồn tại đến nay đã hàng ngàn năm
Trong các loại lụa cổ truyền Vạn Phúc, nổi tiếng nhất có lẽ là lụa Vân, một loại lụa tưởngchừng như đã thất truyền nếu không có sự khôi phục của các nghệ nhân làng nghề, đặc biệt là sự đóng góp của nghệ nhân dân gian Triệu Văn Mão Nét đặc biệt của lụa Vân nói riêng và lụa Vạn Phúc nói chung là ấm áp vào mùa đông và mát mẻ vào mùa hè Hoa văntrang trí trên vải lụa rất đa dạng như mẫu Song hạc, mẫu Thọ Đỉnh, mẫu Tứ Quý khiến
Trang 12cho các bộ trang phục trở nên duyên dáng, sống động Lụa Vạn Phúc đã hai lần được người Pháp mang đi đấu xảo tại Paris và Marseille vào năm 1931, 1938 Lụa ở đây được người Pháp đánh giá là loại sản phẩm tinh xảo của vùng Đông Dương thuộc Pháp, rất được ưa chuộng tại các nước Pháp, Thái Lan, Indonesia Từ 1958 đến 1988, sản phẩm lụa Vạn Phúc hầu hết được xuất sang các nước Đông Âu; từ 1990 xuất khẩu ra nhiều quốc gia trên thế giới.
Trước đây, lụa Vạn Phúc là sản phẩm sang trọng thường dành cho vua chúa, quan lại và những người giàu có Ngày nay, từ chất liệu tơ tằm với công nghệ cổ truyền, người Vạn Phúc đã dệt nên nhiều loại vải lụa có chất lượng cao được khách hàng trong và ngoài nước ưa thích
Mảnh đất Hà Tây xưa ngoài là miền đất trăm nghề, nơi đây còn là miền đất của rất nhiều những danh nhân và anh hùng Trong đó có Nguyễn Trãi với ngôi làng Nhị Khê
LÀNG NHỊ KHÊ:
Làng Nhị Khê cách khoảng 300m, phía Nam cầu Quán Gánh là một ngôi làng rất đặc biệt.Nhị Khê không chỉ nổi tiếng với nghề tiện, cung cấp sản phẩm tinh xảo cho kinh thành và các tỉnh, mà còn là đất văn hiến, khoa bảng với các danh nhân
Nguyễn Phi Khanh,Dương Bá Cung, Lương Văn Can, Lương Ngọc Quyến Và đặc biệt là anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi:
Sử sách đều ghi tổ tiên Nguyễn Trãi vốn ở xã Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, nay là huyệnChí Linh, tỉnh Hải Dương Sau đó, ông nội đưa hai cha con Nguyễn Trãi đến Nhị Khê Nguyễn ứng Long, cha Nguyễn Trãi, mở trường dạy học ở Trại Ổi Yêu mến nơi đất lành,ông lấy hiệu là Nhị Khê, dân làng gọi ông bằng tấm lòng tôn sư trọng đạo: Nhị Khê tiên sinh Mới 6 tuổi, Nguyễn Trãi đã chăm chỉ đọc sách thánh hiền.Và Nhị Khê văn hiến - cáinôi nuôi dưỡng tâm hồn thuở ấu thơ của Nguyễn Trãi, trở thành quê hương thân thuộc với những cánh đồng bãi xanh mướt bên sông Tô như bãi Sếu, đống Hạ, đống Rậm, bờ Ngòi để từ đây, ông theo gương sáng của người thầy, người cha thân yêu mà luyện chí, đem lòng yêu nước thương dân ra phò vua, cứu nước, xây dựng triều Lê với tư tưởng
“Mến người có nhân là dân, mà chở thuyền, lật thuyền cũng là dân” Dâng kế sách củng
cố triều chính, chống bọn gian thần nhũng loạn, ông khuyên vua Lê Thái Tông: “Hòa bình là cái gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc bệ hạ rủ lòng yêu thương muôn dân khiến cho thôn cùng xóm vắng không có một tiếng hờn giận oán sầu, đó tức là cái gốc của nhạc vậy” Và ông ý thức sâu sắc trách nhiệm: “Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”
Chính đức độ, lòng trung chính, yêu nước thương dân sâu sắc và tài năng kiệt xuất của ông đã dẫn đến thảm án Lệ Chi Viên
Truyền thuyết cho rằng , dường như cái án oan “ chu di tam tộc của Nguyễn Trãi đã được báo trước
Truyện kể rằng : Một lần Nguyễn Trãi nằm mơ thấy có một người phụ nữ đến xin cho bà
và mấy người con của bà xin tá túc ít hôm , chờ khi nào khỏi bệnh thì bà sẽ đi ngay.Sánghôm sau, gia nhân trong nhà Nguyễn Trãi dọn cỏ trong vườn nhìn thấy một ổ rắn, sợ nguy hiểm , họ đã giết hết đám rắn con, còn rắn mẹ bị mất khúc đuôi và trốn mất.NguyễnTrãi rất day dứt không yên và ông linh cảm như có một tai họa sắp đến.Vào một buổi tối khi đang ngồi đọc sách – ông thấy có một giọt máu đào rơi xuống trang sách vào đúng chữ “đại”-giọt máu thấm ướt cả ba trang giấy có nghĩa là tam đại( ba đời).Khi Nguyễn
Trang 13Trãi ngước lên nhìn trần nhà thì thấy một con rắn cụt đuôi đang bỏ đi mất.Và quả thực một thảm họa chu di tam tộc đã xảy ra với Nguyễn Trãi và dòng họ của ông
Ngày 27 tháng 7 (âm lịch) năm Nhâm Tuất (1442), vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền Đông, duyệt quan ở thành Chí Linh, Hải Dương Nguyễn Trãi đón vua ngự ở chùa Côn Sơn, nơi ở của Nguyễn Trãi Ngày 4 tháng 8 (âm lịch) vua về đến Lệ Chi Viên thuộc huyện Gia Định (nay thuộc thôn Đại Lai, xã Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh) Cùng đi với vua có Nguyễn Thị Lộ, một người thiếp của Nguyễn Trãi khi ấy đã vào tuổi
40[1] được vua Lê Thái Tông yêu quý vì sắc đẹp, văn chương hay, luôn được vào hầu bên cạnh vua Khi về đến Lệ Chi Viên, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộrồi băng hà, lúcnày ông mới 20 tuổi[.Các quan bí mật đưa về, ngày 6 tháng 8 (âm lịch) mới đến kinh sư, nửa đêm vào đến cung mới phát tang Triều đình đã quy cho Nguyễn Thị Lộ tội giết vua Nguyễn Trãi và gia đình bị án tru di tam tộc và bị giết ngày 16 tháng 8 (âm lịch) năm nàyĐến tháng 7 (âm lịch) năm Giáp Thân (1464), vua Lê Thánh Tông đã rửa oan cho
Nguyễn Trãi, truy tặng ông tước Tán Trù bá và bổ dụng người con còn sống sót của ông
là Nguyễn Anh Vũ
ẨM THỰC HÀ TÂY:
NEM PHÙNG:
Gọi là nem Phùng vì nó được được làm chủ yếu bởi những người ở tổng Phùng thời xưa
mà chủ yếu là bốn làng Đại Phùng, Đoài Khê, Đông Khê, Phượng Trì (cũng giống như nói lụa Hà Đông nhưng chủ yếu vẫn là lụa ở làng Vạn Phúc)
Cây cối tốt tươi loại gì cũng có nhưng mỗi thứ chỉ một chút vì diện tích đất không nhiều, thế nên nguyên liệu làm món nem Phùng cũng rất đơn giản, dễ kiếm: thịt lợn, gạo, lá sung và các thứ gia vị phụ khác Cách làm nem tuy đơn giản nhưng đòi hỏi phải có độ sành nhất định Thịt phải chọn thịt mông sấn hoặc thịt thăn, có nạc, có mỡ, bì phải sạch
sẽ, không có lông
Thịt được thái theo thớ, cắt ra từng miếng nhỏ, nhúng nước sôi cho tai tái, vớt ra lọc bì riêng, thịt nạc riêng, thịt mỡ riêng rồi xắt nhỏ như con trì, trộn với gia vị muối mắm vừa phải Bì lợn lọc hết mỡ và phải luộc hai lần Khi mảnh bì mỏng và trong mới thái nhỏ như sợi miến dài độ hai đến ba phân Lưu ý là phải xắt thật mỏng Không đơn giản nhưng
vì tay quen nên người dân nơi đây làm thoăn thoắt dễ dàng
Trước kia mọi công đoạn hoàn toàn làm bằng tay nhưng hiện một số đã được làm bằng máy Một trong những việc khó khăn nhất vẫn phải hoàn toàn làm thủ công là việc rang thính Đây là công đoạn phức tạp, đóng vai trò quyết định và đòi hỏi bí quyết gia truyền
Gạo tẻ và một chút gạo nếp (nếu được nếp cái hoa vàng thì tốt nhất) được rang đều tay đến khi có màu như cánh gián và phải rang bằng than củi, bởi rang bằng bếp than đá sẽ làm mất đi mùi vị của thính Người rang phải liên tục đảo đều tay và lửa vừa phải cho đủ nhiệt, gọi là om Có vậy thính mới khô đều và có màu nâu sáng, rồi đem vào cối xay nghiền kỹ tới mức mịn tơi có màu trắng đục