đề tài bình đẳng giới dành cho học sinh sinh viên giáo viên TRONG VIỆC THỰC HIỆN VÀ BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI Điều 25. Trách nhiệm của Chính phủ Điều 26. Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới
Trang 11 phần mở đầu
1.1 cơ sở lý luận
Khái niệm bình đẳng giới: là mọi thành viên trong gia đình, trước mắt là vợ và chồng đều có vai trò, trách nhiệm và quyền lợi ngang bằng nhau trong học tập lao động, nghỉ ngơi chăm sóc sức khỏe hưởng thụ văn hóa và tham gia các hoạt động xã hội
Khoản 1 và khoản 3 điều 26 luật hiến pháp 2013 quy định như sau:
• Công dân nam nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới
• Nghiem cấm phân biệt đói xử về giới
Và quy đinh tại luật lao động như sau
điều 4
: Chính sách của Nhà nước về lao động, quy định: “7 Bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới; quy định chế độ lao động và chính sách
xã hội nhằm bảo vệ lao động nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao động chưa thành niên”.
Trong các quyền của người lao động, quan trọng nhất là quyền được làm việc Sự bình đẳng nam nữ đối với quyền được làm việc cũng được thể hiện rất rõ trong Bộ luật Lao động:
Điều 5.
Quyền và nghĩa vụ của người lao động: “1 Người lao động có các quyền sau đây: a) Làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử”;
Điều 153
Trang 2Chính sách của Nhà nước đối với lao động nữ: “1 Bảo đảm quyền làm việc bình đẳng của lao động nữ”; và
Điều 154.
Nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với lao động nữ: “1 Bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác”
Tại bộ luật bình đẳng giới quy định rõ như sau
Điều 1 Phạm vi điều chỉnh
Điều 2 Đối tượng áp dụng
Điều 3 Áp dụng điều ước quốc tế về bình đẳng giới
Điều 4 Mục tiêu bình đẳng giới
Điều 5 Giải thích từ ngữ
Điều 6 Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới
Điều 7 Chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới
Điều 8 Nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới
Điều 9 Cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới
Điều 10 Các hành vi bị nghiêm cấm
Chương II
BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG CÁC LĨNH VỰC
CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VÀ GIA ĐÌNH
Điều 11 Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị
Điều 12 Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế
Điều 13 Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động
Điều 14 Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Điều 15 Bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
Điều 16 Bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao
Điều 17 Bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế
Điều 18 Bình đẳng giới trong gia đình
Chương III
Trang 3CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI
Điều 19 Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới
Điều 20 Bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật
Điều 21 Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Điều 22 Thẩm tra lồng ghép vấn đề bình đẳng giới
Điều 23 Thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới Điều 24 Nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới
Chương IV
TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC, GIA ĐÌNH VÀ CÁ NHÂN TRONG VIỆC THỰC HIỆN VÀ BẢO ĐẢM BÌNH ĐẲNG GIỚI
Điều 25 Trách nhiệm của Chính phủ
Điều 26 Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới
Điều 27 Trách nhiệm của bộ, cơ quan ngang bộ
Điều 28 Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp
.
Điều 29 Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
Điều 30 Trách nhiệm của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Điều 31 Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện bình đẳng giới tại cơ quan, tổ chức mình
Điều 32 Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức khác trong việc thực hiện bình đẳng giới tại cơ quan, tổ chức mình
.
Điều 33 Trách nhiệm của gia đình
Điều 34 Trách nhiệm của công dân
Chương V
THANH TRA, GIÁM SÁTVÀ XỬ LÝ VI PHẠM
PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
Điều 35 Thanh tra việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới
1
Điều 36 Giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới
Trang 4Điều 37 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới
Điều 38 Tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới
Điều 39 Nguyên tắc xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới
Điều 40 Các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế
Điều 41 Các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình
Điều 42 Các hình thức xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới
1.2 cơ sở thực tiễn
Bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới có vị trí như nhau và
có cơ hội như nhau để làm việc và phát triển Nói bình đẳng giới không có nghĩa là chỉ đấu tranh quyền lợi cho phụ nữ mà là đấu tranh cho sự bất bình đẳng của cả hai giới Nhưng trong thời đại ngày nay, nhìn chung sự bất bình đẳng xảy ra đối với phụ nữ là đa
số nên người ta nói nhiều đến việc đòi quyền lợi cho phụ nữ Bình đẳng giới trong gia đình là các thành viên trong gia đình có sự bình đẳng với nhau Cụ thể là mọi công việc trong gia đình đều được các thanh viên, trước hết là vợ và chồng cùng nhau chia xẻ và cùng nhau hưởng thụ thành quả từ những công việc đó mang lại Vợ và chồng cần phải bình đẳng bàn bạc, quyết định và thực hiện mọi công việc Đặc biệt việc nội trợ là hết sức vất vả, tiêu hao nhiều thời gian và sức lực, đo đó không chỉ người phụ nữ làm mà đòi hỏi phải
có sự tham gia, chia sẻ của chồng và của các thành viên khác.
Trong lĩnh vực dân số - sức khỏe sinh sản, vợ chồng phải cùng chia sẻ mọi vấn đề ; không nên hướng đối tượng vận động kế hoạch hóa gia đình chỉ vào phụ nữ, hoặc chủ yếu vào phụ nữ mà làm sao nhãng trách nhiệm của nam giới Vợ và chồng phải có bổn phận như nhau trong việc sử dụng các biện pháp tránh thai, quyết đinh sinh con, số con và khoảng cách sinh, trong đó cần hết sức quan tâm
Trang 5chăm sóc phụ nữ khi mang thai và nuôi con nhỏ Trong gia đình, tuyệt đối không phân biệt đối xử giữa con trai và con gái Con trai
và con gái đều có quyền và trách nhiệm như nhau đối với gia đình
và xã hội Con gái cũng phải bình đẳng như, không cho tham gia các hoạt động xã hội Bạo lực về tình dục như cưỡng ép giao hợp, đòi hỏi quan hệ khi vợ không muốn, buộc vợ đẻ thêm con, ngăn cản vợ thực hiện các biện pháp tránh thai
Phần 2:nguyên nhân và thực trạng
2.1nguyên nhân:
2.1.1 Quan niệm và cách ứng xử của xã hội
Tư tưởng trọng nam khinh nữ còn phổ biến trong xã hội Giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống mai một Tình trạng các sản phẩm văn hóa độc hại không được kiểm soát chặt chẽ, bạo lực gia đình, buôn bán, xâm hại nhân phẩm, sức khỏe, tình dục phụ nữ - trẻ em, vẫn đang là vấn đề nổi cộm.
ảnh hưởng khá rõ rệt của chế độ phụ hệ Nếp gia trưởng vẫn còn giữ vai trò chủ đạo trong các quan hệ gia đình, đặc biệt là ở nông thôn Nói chung đa số phụ nữ giữ một vai trò thứ yếu so với nam giới trong gia đình suốt cuộc đời của họ Thái độ của xã hội muốn phụ nữ đóng một vai trò “thích đáng” trong gia đình gây rất nhiều khó khăn cho việc giải quyết những vấn đề phức tạp như bạo lực đối với phụ nữ, ly hôn và nhu cầu của
Trang 6những người mẹ đơn thân Do chưa có những nghiên cứu sâu về các biến động của hộ gia đình nông thôn, đặc biệt là các hộ gia đình thuộc các dân tộc thiểu số nên những cố gắng nhằm tăng cường bình đẳng giới trong quá trình ra quyết định và củng cố vị thế của
ảnh hưởng của những định hướng giá trị theo lối cổ và rập khuôn Những quan niệm xã hội thiên lệch này lại thường bị tác động thêm bởi những khác biệt về kỹ năng và mức độ tự tin của phụ nữ và nam giới, kết quả là tình trạng chênh lệch kéo dài nhiều năm giữa hai giới trong các cơ hội giáo dục, đào tạo, đề bạt vào các cương vị
Mặc dù phụ nữ thường phải chịu nhiều thiệt thòi hơn nam giới do các chuẩn mực và các khuôn mẫu về giới, song điều này không có nghĩa là nam giới không phải chịu và ảnh hưởng Trên thực tế, thái
độ, cách ứng xử và vai trò của nam giới trong hộ gia đình, trong cộng đồng và xã hội cũng như thiên hướng nghề nghiệp và tình trạng thể chất, tinh thần của họ, tất cả đều bị tác động bởi các
Thay đổi quan niệm và cách ứng xử của xã hội là một quá trình lâu dài và phức tạp, song nó là quá trình mang tính chất nền tảng để tạo ra và duy trì sự thay đổi thái độ của cá nhân, các tổ chức và trong toàn cộng đồng.
2.1.2 Nhận thức các vấn đề về giới còn thấp và chưa đầy đủ Nhận thức giới Cấp Bộ vẫn chưa có tổ chức chuyên trách về giới để giải quyết một cách đầy đủ các vấn đề giới trong quá trình lập kế hoạch tại các đơn vị, thiếu hệ thống giám sát và đánh giá mang tính nhạy cảm giới Trong một cuộc điều tra nhận thức và kiến thức về giới, hầu như tất cả (97%) cán bộ được điều tra đều không biết hoặc biết rất ít về các khái niệm cơ bản về giới Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ hoạt động nhưng chỉ là kiêm nhiệm.
Trang 72.1.3 Đại diện của phụ nữ ở các cấp ra quyết định trong toàn ngành còn rất ít
Công tác cán bộ nữ còn nhiều khó khăn, bất cập Một số chỉ tiêu về
tỷ lệ lãnh đạo nhiều nhiệm kỳ không đạt và có xu hướng giảm Hiện
có quá ít cán bộ chủ chốt là nữ trong toàn ngành nông nghiệp Tính chung tất cả các Cục, Vụ, Viện, Tổng Công ty và các trường trong ngành chỉ có 5,7% cán bộ lãnh đạo là nữ, thường chỉ là cấp phó và tương đương Trên toàn quốc phụ nữ chỉ chiếm 4,5% lãnh đạo các UBND xã; 4,9% lãnh đạo UBND huyện và 6,4% lãnh đạo UBND tỉnh Nhìn tổng thể, tiếng nói của phụ nữ trong việc ra quyết định là yếu
và chưa tương xứng với khối lượng công việc và trách nhiệm mà họ gánh vác Mặc dù các chính sách và các văn bản quy định trong quản lý và phát triển nguồn nhân lực được coi là “bình đẳng” hoặc đôi khi còn được coi là ưu tiên phụ nữ, song trên thực tế vẫn còn biểu hiện tư tưởng trọng nam khinh nữ trong công tác tuyển dụng, quy hoạch và
đề bạt cán bộ, đồng thời một số chính sách như tuổi về hưu, quy định tuổi đề bạt làm hạn chế sự tham gia của phụ nữ ở các cấp ra quyết định Tất cả những điều này đã dẫn đến kết quả là quá it cán
bộ chủ chốt là nữ trong toàn ngành.
Tình trạng quá ít cán bộ là nữ tạo nên một nếp văn hóa của tổ chức
mà từ nhiều phương diện có thể coi là thuận lợi hơn cho nam giới Tình trạng thiếu nhận thức về giới cũng như thiếu các kỹ năng để giải quyết các vấn đề về giới phổ biến ở khắp các đơn vị nên dẫn đến kết quả là các vấn đề giới ít được quan tâm và đề cập đến trong các chiến lược và các dịch vụ công của ngành.
Phụ nữ và nam giới cũng thường có tiếng nói khác nhau trong quá
Trang 8trình ra quyết định ở cấp hộ gia đình và cấp cộng đồng Sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới tồn tại ở những mức độ khác nhau tùy theo vùng, theo nhóm dân tộc và đôi khi nó tồn tại ở các địa phương khác nhau trong cùng một vùng Song trong hầu hết các cộng đồng, các chính sách đem lại lợi ích cho cộng đồng thường được soạn thảo và quyết định bởi lãnh đạo cộng đồng Nói chung phụ nữ có rất
ít đại diện trong các ban lãnh đạo cộng đồng Nhìn tổng thể, tiếng nói của phụ nữ trong việc ra quyết định là yếu tố chưa tương xứng với khối lượng công việc và trách nhiệm mà họ gánh vác Đặc biệt trong các hộ gia đình nghèo ở nông thôn, quan niệm mang tính truyền thống và vai trò giới thường dẫn đến kết quả là người đàn ông chỉ huy cả hộ gia đình và ít khi có các trường hợp ngoại lệ.
2.1.4 Bất bình đẳng trong tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực chủ yếu
Phụ nữ còn chịu nhiều bất lợi trong việc học tập, nâng cao trình độ,
kỹ năng nghề nghiệp trong điều kiện cạnh tranh xã hội ngày càng cao Lực lượng lao động nữ tuy đông về số lượng nhưng tỷ lệ qua đào tạo thấp nên chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập Số lao động
nữ có bằng cấp chuyên môn chỉ đạt 11,1%, tỷ lệ lao động nữ chưa qua đào tạo nghề còn cao (70,9% so với 59,9% lao động nam), đặc biệt là lao động nữ nông thôn, độ tuổi trung niên, phụ nữ dân tộc thiểu số; tỷ lệ lao động nữ làm các công việc giản đơn chiếm tới 42,9% (so với 36,2% lao động nam).
Khoảng cách thu nhập và mức sống giữa các nhóm phụ nữ, các vùng miền còn lớn Đời sống của một bộ phận phụ nữ, đặc biệt nữ công nhân lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, nữ lao động di cư tự do… thực sự khó khăn, vất vả, bấp bênh, việc làm không ổn định, thu nhập thấp, điều kiện sinh hoạt tối thiểu không
Trang 9đảm bảo, đời sống vật chất và tinh thần nghèo nàn xuất hiện tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh; tình trạng nạo phá thai, đặc biệt ở tuổi vị thành niên ở mức báo động; tỷ lệ phụ nữ nhiễm HIV có
xu hướng tăng (từ 19,65% năm 2006 lên 31% năm 2011) Thiếu các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện để phụ nữ có thể vừa làm tốt công việc xã hội vừa thực hiện việc chăm lo gia đình Dịch vụ gia đình và phúc lợi xã hội hỗ trợ gia đình và phụ nữ chưa được quan tâm đúng mức; tình trạng thiếu nhà trẻ, mẫu giáo còn phổ biến ở hầu hết các địa phương và các khu công nghiệp (tỷ lệ trẻ dưới 36 tháng đến trường chỉ đạt 18%) là khó khăn, thách thức lớn đối với các gia đình, đặc biệt là người mẹ.
Mặc dù có những tiến bộ rõ rệt trong việc cải thiện địa vị của đại đa
số dân cư , song vẫn còn những chênh lệch giữa phụ nữ và nam giới trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực chủ yếu Cụ thể là khả năng tiếp cận và kiểm soát đối với đất đai, nguồn nước, tín dụng, các tư liệu sản xuất, các kỹ năng và thông tin Cải thiện khả năng tiếp cận của phụ nữ với các nguồn lực trên có thể đem lại các tiềm năng sản xuất mới, nâng cao hiệu quả quản lý, phân phối đều thu nhập hơn, kết hợp với phát triển nguồn nhân lực, những tác động tích cực này sẽ thúc đẩy tăng trưởng mạnh.
Trong thực tế, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình cũng như sổ địa chính của địa phương chỉ đăng ký tên chủ
hộ là nam giới chiếm đại đa số Chính điều này làm quyền lợi của phụ nữ kém hẳn nam giới, gây bất bình đẳng giới nặng nề Tình trạng này đã gây khó khăn cho phụ nữ nhất là khi họ cần thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn, chia đất khi ly hôn, khi lấy chồng hoặc thừa kế đất khi người chồng qua đời Phần lớn phụ nữ khó đáp ứng được đầy đủ các điều kiện vay vốn tín dụng chính thức vì
họ không phải là chủ hộ và không đứng tên trên giấy chứng nhận
Trang 10quyền sử dụng đất Việc phụ nữ không được hưởng các quyền mà lẽ
ra họ phải được hưởng từ chính sách giao đất đã làm hạn chế phần nào những tác động của chính sách đổi mới này đối với sự tăng
Về mặt tiếp cận các dịch vụ tín dụng: Mặc dù pháp luật và chính sách của Nhà nước đều khẳng định phụ nữ và nam giới phải được bình đẳng trong việc tiếp cận tín dụng, song vẫn có những chênh lệch đáng kể trong việc áp dụng các điều luật và chính sách trong lĩnh vực này Thêm vào đó, phần lớn phụ nữ khó đáp ứng đầy đủ các điều kiện vay vốn tín dụng chính thức vì họ không phải là chủ hộ và không đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
2.1.5 Thiếu năng lực và hệ thống thể chế để hòa nhập giới trong việc lập kế hoạch và xây dựng thể chế
Sự hạn chế về năng lực thể chế hiện nay về hòa nhập giới trong các hoạt động là do thiếu nguồn lực, do các thủ tục thể chế, các chuẩn mực và nếp văn hóa của tổ chức
Các vấn đề về giới chưa được xem xét một cách hệ thống trong quá trình lập kế hoạch và cải cách hành chính cũng như trong một hệ thống báo cáo và các chỉ số thực hiện của các đơn vị Số liệu thống
kê có phân tách nam nữ rất ít khi được thu thập, phân tích và sử dụng để cải tiến hoạt động Năng lực hoạt động vì bình đẳng giới của các đơn vị chỉ giới hạn ở một số thành viên đã được đào tạo về
kỹ năng phân tích và hòa nhập giới Do vậy, nhiều cơ hội để hòa nhập giới vào các kế hoạch hàng năm, quá trình cải cách hành chính đã bị bỏ lỡ.